Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết trùng quang tâm sử của phan bội châu Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết trùng quang tâm sử của phan bội châu Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết trùng quang tâm sử của phan bội châu luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1TRỊNH THỊ THU HẰNG
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT
TRÙNG QUANG TÂM SỬ CỦA PHAN BỘI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 2TRỊNH THỊ THU HẰNG
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT
TRÙNG QUANG TÂM SỬ CỦA PHAN BỘI CHÂU
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS - TS Nguyễn Hữu Sơn
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 3Phan Bội Châu (1867-1940)
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi
Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Thái Nguyên, ngày 23 tháng 8 năm 2012
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Thu Hằng
Trang 5Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoa Ngữ văn, Phòng quản lý và Đào tạo sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên – Đại học Thái Nguyên đã dạy dỗ, tạo điều kiện cho em học tập
Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn PGS TS Nguyễn Hữu Sơn, người trong suốt thời gian qua đã tận tình giúp đỡ và động viên để em hoàn thành luận văn này
Lời cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình đã hỗ trợ, động viên và cùng tôi vượt qua bao khó khăn trong quá trình vừa làm vừa học
Thái Nguyên, ngày 23 tháng 8 năm 2012
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Thu Hằng
Trang 6MỤC LỤC
Trang Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 9
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TÁC GIẢ - TÁC PHẨM VÀ VẬN DỤNG LÍ THUYẾT TỰ SỰ TRONG NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM 9
1.1 Về tác giả - tác phẩm Trùng Quang tâm sử 9
1.1.1 Vấn đề xác định tác giả 9
1.1.2 Về tác giả Phan Bội Châu 10
1.1.3 Vấn đề xác định tên gọi của tác Phẩm 16
1.2 Việc vận dụng lý thuyết tự sự trong nghiên cứu tác phẩm 18
1.2.1 Khái lược về tự sự học 18
1.2.2 Tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử với hướng nghiên cứu tự sự học 21 Chương 2 CÁC PHƯƠNG DIỆN CỦA NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT TRÙNG QUANG TÂM SỬ 25
2.1 Tổ chức điểm nhìn trần thuật 25
2.1.1 Điểm nhìn từ bên ngoài - điểm nhìn chi phối thế giới nghệ thuật Trùng Quang tâm sử 25
2.1.2 Cái nhìn của tác giả về quá khứ và mối quan hệ với hiện tại 28
2.2 Tổ chức nhịp điệu trần thuật 32
2.2.1 Phối hợp các thành phần mang tính động và tĩnh trong trần thuật 32 2.2.2 Tổ chức các yếu tố thời gian 34
2.3 Nghệ thuật kết cấu 38
Trang 7Chương 3 HƯ CẤU – MỘT YẾU TỐ ĐẶC SẮC TRONG CẤU
TRÚC TỰ SỰ CỦA TRÙNG QUANG TÂM SỬ 41
3.1 Hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử 41
3.1.1 Hư cấu nghệ thuật và mối quan hệ với tính chân thực lịch sử 41
3.1.2 Về hai khuynh hướng lịch sử hoá tiểu thuyết và tiểu thuyết hóa lịch sử 48
3.2 Nghệ thuật hư cấu trong tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử 50
3 2.1 Hư cấu nhân vật 50
3.2.2 Hư cấu sự kiện 68
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trùng Quang tâm sử hay còn gọi là Hậu Trần dật sử là cuốn tiểu
thuyết bằng Hán văn của nhà văn, nhà chí sĩ Việt Nam Phan Bội Châu, được viết theo thể chương hồi Tác phẩm phản ánh những biến cố, thăng trầm của một giai đoạn trong suốt chiều dài của tiến trình lịch sử Việt Nam, gắn liền với người anh hùng Trần Quý Khoáng, đã lãnh đạo nhân dân ta đứng lên chống quân Minh xâm lược đời Hậu Trần – thể hiện khát vọng độc lập, tự do, bình đẳng, đồng thời, khẳng định sức mạnh hào hùng, vô địch của truyền thống đoàn kết chống lại ách thống trị của ngoại bang
1.2 cuốn tiểu thuyết ra đời đã có những đóng góp to lớn về nội dung
và nghệ thuật vào nền văn học trung đại Việt Nam nói chung và văn xuôi
Việt Nam nói riêng Trùng Quang tâm sử đã đánh dấu một bước phát triển
và hoàn thiện của thể loại tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam, bằng lối văn mới mẻ, trong sáng Cùng với sự du nhập của văn học phương Tây qua “cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ” (chữ dùng của Hoài Thanh) của xã hội Việt Nam thời kỳ bấy giờ, những thành công của thể loại tiểu thuyết này, đã tạo tiền đề cho sự xuất hiện của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại các giai đoạn tiếp sau
1.3 Trùng Quang tâm sử chứa đựng một hệ thống nghệ thuật đa dạng,
tiêu biểu hơn cả là nghệ thuật tự sự được tác giả thể hiện rất thành công trong quá trình xây dựng tác phẩm
Trùng Quang tâm sử là một tác phẩm đặc sắc của Phan Bội Châu về
nhiều phương diện Nhưng trên thực tế, có rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về tác phẩm này Đặc biệt là phương diện nghệ thuật tự sự của tác phẩm Thiển nghĩ, chỉ có thể hiểu một cách sâu sắc, thấu đáo và toàn diện về cuộc
Trang 9đời, sự nghiệp của Phan Bội Châu và tác phẩm Trùng Quang tâm sử một khi
việc nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề này được chú trọng đúng mức
2 Lịch sử vấn đề
Trùng Quang tâm sử có giá trị nhiều mặt về lịch sử cũng như văn học,
nhưng từ ngày được “sinh ra”, “nó đã ngủ một giấc dài, có hơn nửa thế kỷ” – lời của Đặng Thai Mai [76,217] Trong những năm gần đây, khi mảng tiểu
thuyết lịch sử bắt đầu được các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu, Trùng Quang tâm sử đã và đang thu hút được sự chú ý nhiều hơn Nhưng nhìn
chung, các nhà nghiên cứu chỉ mới đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể như: kết cấu, ngôn ngữ, nhân vật, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật Dovậy, còn nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục được giải quyết Có thể dẫn chứng một vài ví dụ như sau:
Về tác giả của Trùng Quang tâm sử, lúc đầu vẫn còn nhiều nghi ngờ,
nhưng qua nhiều phân tích, khảo cứu các cứ liệu khoa học, cuối cùng Đào
Duy Anh đã đi đến kết luận qua lời “Tựa” trong cuốn Phan Bội Châu toàn tập
(tập 4): “đó là một bản tiểu thuyết do Phan Bội Châu sáng tác” [75,9] Trong hoàn cảnh lịch sử chính trị lúc bấy giờ, dựa vào nội dung cũng như hình thức
thể hiện, có thể khẳng định Phan Bội Châu chính là tác giả của Trùng Quang tâm sử Bởi lẽ, bút pháp của tác phẩm đã không còn giống cách viết của các tiểu thuyết chương hồi ngày trước như Hoàng Lê nhất thống chí, An Nam nhất thống chí… Mặt khác khi đọc tác phẩm này, như Đặng Thai Mai nhận định: “người ta phải nghĩ đến, phải nhớ đến lối văn của Lương Khải Siêu và
các đồng chí của Lương trong các tập “tân thư” Trung Quốc [75,12]
Về thời gian ra đời và bắt đầu được đăng của Trùng Quang tâm sử, trong cuốn Trùng Quang tâm sử (tiểu thuyết), Ngô Văn Bách dịch, Tôn
Quang Phiệt hiệu đính (xuất bản năm 1971), theo Đặng Thai Mai qua bài viết
“Cùng bạn đọc”, tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử: “được đăng từ số 8 (tháng
1 – 1921) đến số 132 (tháng 4 – 1925), ở đầu bài có ghi: “Trùng Quang tâm
Trang 10sử, bG trước, Hiến Hán dịch” [7,8] trên Binh sự tạp chí ở Hàng Châu, Trung
Quốc Nhưng chữ Bg có nghĩa là gì thì chưa có một đáp án chính xác Cũng
có thể đó là một “thủ thuật” để gây nên sự tò mò, chú ý ở người đọc, hoặc để che mắt bọn thực dân Pháp Xét về mặt nghệ thuật, Phan Bội Châu đã có nhiều sáng tạo hơn, tuy nhiên, văn chương của ông ít nhiều vẫn còn ảnh hưởng tiểu thuyết chương hồi cổ điển, đúng như Đặng Thai Mai nhận xét:
“văn tự sự thỉnh thoảng được viền mép với những “mẫu” phong cảnh trong những câu văn, thể biền ngẫu mỗi đoạn vài ba chục chữ, như ta đã từng đọc
trong các truyện Tây du Tam quốc”[7,18] Trong bài viết “Cùng bạn đọc” của cuốn Phan Bội Châu toàn tập (tập 4), Đặng Thai Mai đồng ý với Đào Duy
Anh cho rằng: Nó được viết vào khoảng trước hoặc sau năm 1900 một hoặc hai năm Mặc dù tập “dật sử” chưa thoát khỏi khuôn sáo của văn chương “nhà trường”, có những câu văn biền ngẫu, với nhiều đoạn miêu tả phong cảnh, nhưng tác phẩm đã có những nét mới, ảnh hưởng của văn chương tân thư Có nghĩa là, cụ Phan đã sử dụng ngôn ngữ hiện đại của nước ngoài để bộc lộ tư tưởng, tình cảm của mình
Trong bài nghiên cứu “Về tác phẩm của Phan Bội Châu; Trùng Quang tâm sử hay Hậu Trần dật sử?”, Chương Thâu lại cho rằng ý kiến của Đặng Thai Mai về năm ra đời của Trùng Quang tâm sử là chưa chính xác Đúng như tác giả bài viết nhận xét: “văn cụ hồi này rất nặng nề phong khí của kinh truyện theo lối bát cổ, biền ngẫu lắm điển cố sâu xa, cú, từ đối nhau chan
chát” [75,24-25] Ngoài chủ trương hành động của nghĩa quân Trùng Quang
cũng gần giống với Duy Tân hội nên Chương Thâu khẳng định: “quyển Trùng Quang tâm sử phải viết sau khi có Duy Tân hội” [75,26] Hơn nữa, trong Trùng Quang tâm sử, Phan Bội Châu lại đề cập đến những vấn đề “bình
đẳng”, “dân chủ” và vai trò của người phụ nữ được sánh ngang hàng với nam giới, thậm chí được coi trọng Trong khi đó, Phan Bội Châu trước và sau khi xuất dương vẫn còn mang nặng tư tưởng quân chủ, chưa thoát ra khỏi đạo
Trang 11“trọng thần, hiếu tử” Vì thế, Chương Thâu xác định, cụ Phan viết Trùng Quang tâm sử vào những năm 1917 – 1918, là thời kỳ cụ bắt gặp tư tưởng của
cách mạng tháng 10 Nga lan sang Trung Quốc
Qua đó, có thể thấy rằng, đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về thời
gian ra đời của Trùng Quang tâm sử, nhưng điều đó không ảnh hưởng nhiều
đến những giá trị đích thực mà tác phẩm mang lại cho nền văn học trung đại Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung Mặc dù thuộc thể loại
tiểu thuyết chương hồi, nhưng theo nhận xét của Chương Thâu, Trùng Quang tâm
sử là: “một tác phẩm dày với lối văn mới mẻ, trong sáng, phóng bút…” [8,32]
Về thời gian tìm ra tác phẩm, theo Từ điển Văn học, văn bản Trùng Quang tâm sử lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1957 qua một bản chép tay được Trần Lê Hữu dịch và xuất bản, với tên gọi là Hậu Trần dật sử (pho
sử xót lại của thời Hậu Trần) Trong khi đó, theo lời “Tựa” của cuốn Trùng Quang tâm sử, không trung duyên (tiểu thuyết luận đề) – xuất bản năm 2005:
năm 1954, trong những tài liệu của Trường sư phạm thu được ở Nghệ An sau phong trào phát động quần chúng nhân dân đấu tranh kháng thuế, các nhà nghiên cứu tìm thấy một quyển sách chữ Hán viết tay, không có đề mục gồm
96 trang khổ 21 x 28 cm, tất cả chừng hơn 4 vạn 5 nghìn lời Và theo Đào Duy Anh: “thể theo ý của tác giả nhằm biểu dương những anh hùng vô danh trong cuộc vận động khôi phục nhà Trần, mà lịch sử đã lãng quên chưa chép
hết, chúng tôi nghĩ đặt tên nhan đề cho tập truyện này là Hậu Trần dật sử
…kể ra đã “tạm ổn” và hợp tình, hợp lý rồi Nhưng đó chỉ là vấn đề “tạm” vì
chưa tìm đúng tên húy của nó mà thôi Chính ra tên thật của nó là Trùng Quang tâm sử” [8,27] Như vậy, Hậu Trần dật sử cũng chính là Trùng Quang tâm sử, “tâm sử của trại Trùng Quang hay là tâm sử của đời Trùng Quang Chữ tâm sử vừa có ý nghĩa tiểu thuyết vừa có ý nghĩa lịch sử” [8,27] Bởi, Trùng Quang tâm sử đã thực sự làm sống lại một thời kỳ hào hùng của dân
Trang 12tộc trong lịch sử chống ngoại xâm, đồng thời, góp phần quan trọng tạo nên giá trị sự nghiệp thơ văn của Phan Bội Châu
Trong bài nghiên cứu “Về cuốn Trùng Quang tâm sử”, Đặng Thai Mai
đề cập đến nhiều yếu tố tưởng tượng chiếm vị trí quan trọng trong tác phẩm, cùng với những chi tiết “phản lịch sử" độc đáo, giàu sáng tạo, mục đích giúp độc giả hiểu rằng, khi nói đến giặc Ngô cũng chính là nhằm vào thực dân Pháp cuốn tiểu thuyết như một chứng cứ quan trọng phản ánh hiện thực cuộc sống của nhân dân ta dưới ách áp bức, bóc lột, đàn áp dã man của kẻ thù xâm
lược cuối thế kỷ XIX đầu XX Nhưng theo tác giả bài viết: “Trùng Quang tâm
sử không hề có ý vị một pho lệ sử” [74,217] Khi tổ quốc bị xâm lăng, mọi
người Việt Nam yêu nước đều một lòng một dạ đứng lên đánh đuổi kẻ thù mà không “ngồi rên rỉ” với “tình non nước” trước cảnh “bức địa đồ rách” – nhận định của Đặng Thai Mai [74,217] Ông cho rằng, dù chưa thoát ra khỏi khuôn
sáo của những câu chuyện anh hùng trong Tam quốc chí hay Thủy hử nhưng
cấu tứ của tác phẩm vẫn có những nét độc đáo riêng Câu chuyện diễn ra mang đậm tính Việt Nam: “đều được gọi theo lối Việt Nam chép bằng chữ Nôm: ông Chân, cô Chí, chú Cữu, cu Chìm, anh Phúc” [75,218] Tất cả đều là những anh hùng thảo dã vô danh, đứng bên cạnh nhau, bình đẳng nhau, không
phân biệt nam, nữ Vì thế, tác giả bài nghiên cứu đã đưa ra luận điểm: “Trùng Quang tâm sử là một cuốn tiểu thuyết có ý nghĩa luận đề về cách mạng Việt
Nam Phan Bội Châu là người đầu tiên chú trọng đến địa vị người phụ nữ, đến lực lượng thanh niên trong công cuộc cách mạng dân tộc Cũng là người đầu tiên đã nhận rõ ý nghĩa toàn dân của cách mạng Việt Nam và đã nêu rõ sự cần thiết đoàn kết toàn dân để hoàn thành cách mạng dân tộc” [75,219] Kết thúc bài nghiên cứu, Đặng Thai Mai cho rằng: “công cuộc dẹp giặc để lấy lại nước nhà, khi chúng ta khép tập sách lại, vẫn còn bỏ dở, chưa phải là đã đi tới thắng lợi … và tập sách này cũng không phải là tập tiểu sử của “những anh hùng thất bại”… đúng hơn, đây là câu chuyện của những người “anh hùng vô danh” [75,222]
Trang 13Trên tạp chí văn học số 9 (1999), Bùi Văn Lợi có bài: “Mối quan hệ giữa tính chân thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX” Có thể hiểu vấn đề chính tác giả đề cập ở đây là, trong tiểu thuyết lịch sử, việc sử dụng các yếu tố lịch sử làm cốt yếu nhưng
theo quan điểm của tác giả bài viết: “một trong những đặc điểm quan trọng nhất là người nghệ sĩ phải làm sống lại những tài liệu lịch sử bằng trí tưởng tượng, bằng quyền hư cấu và sáng tạo nghệ thuật của mình” [44,83]
Trên tạp chí văn học số 5 (1979), Nguyễn Phương Chi với bài viết:
“Trùng Quang tâm sử hay là hình ảnh cuộc kháng chiến chống Trung Quốc
xâm lược của quân dân nhà Hậu Trần qua con mắt một sĩ phu chống Pháp” đã
có ý kiến rằng, việc đánh giá tác phẩm Trùng Quang tâm sử không nằm trong
phạm vi hẹp Không phải chỉ là việc thông qua câu chuyện của những nhân vật anh hùng ngày xưa để nói đến những con người ở đầu thế kỷ XX, mà vấn
đề cụ Phan đặt ra trong tác phẩm chứa đựng rất nhiều chi tiết “phản lịch sử” mang dụng ý của tác giả Cũng không chỉ là câu chuyện viết về giặc Ngô nhằm ám chỉ thực dân Pháp Nó phản ánh những vấn đề chung như tác giả
Nguyễn Phương Chi đã nói: “đó là quy luật về sự vùng dậy tất yếu của đất nước và con người Việt Nam mỗi khi bị đô hộ, áp bức Và đấy mới là cái cốt lõi của hiện thực, cái quy định giá trị hiện thực, giá trị lâu dài của tác phẩm”
[14,123] Thông qua số phận của từng nhân vật, hiện thực phát lộ từng mảng
rõ nét hơn, chi tiết hơn về thực trạng đen tối và khắc nghiệt bao trùm xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Trong đó, mỗi số phận được khắc họa vừa cụ thể, vừa có tính chất điển hình, kết hợp hài hòa giữa hiện thực trữ tình và trí tưởng tượng phong phú của tác giả, đem lại giá trị hiện thực chân
chính cho Trùng Quang tâm sử
Theo tác giả bài viết, câu chuyện mà cụ Phan nêu trong tác phẩm cũng
là một bản án đanh thép tố cáo chế độ thực dân đương thời Sợi dây xích màu
đỏ tạo nên mối liên hệ giữa hai thời kỳ cách xa nhau này là những đặc điểm
tương đồng về mặt lịch sử giữa hai thời đại Hiện thực của Trùng Quang tâm sử,
Trang 14theo Nguyễn Phương Chi là: “hiện thực kết tinh đậm đặc về xã hội Việt Nam
bị xâm chiếm, đô hộ từ hàng ngàn năm với những cảnh ngộ, những số phận, những sự đọa đầy luôn luôn được lặp đi lặp lại” [14,125] Nguyễn Phương
Chi còn phát hiện ra những tính cách điển hình trong tác phẩm cũng là những tính cách tiêu biểu của con người Việt Nam khi đối mặt với những kẻ thù xâm lược Đó là những con người anh hùng được Phan Bội Châu khắc họa với tất
cả sự sảng khoái và lòng ngưỡng mộ Nghệ thuật sử dụng kết cấu hướng tâm trong tác phẩm thể hiện rõ ý đồ tác giả là, muốn đưa hoàn cảnh riêng của các nhân vật vào hoàn cảnh chung để nhân vật có điều kiện bộc lộ tính cách ở mức
độ cao nhất cho nên, thế giới nhân vật của Phan Bội Châu vừa phong phú, vừa mang những nét chung nhất của con người Việt Nam yêu nước
Phan Bội Châu đã xây dựng nên một hệ thống những anh hùng thảo dã,
vô danh nhưng không bao giờ mờ nhạt, bị động, xuất hiện xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Là nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát tác phẩm Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, bên cạnh
đó tham khảo bộ Đại Việt sử kí toàn thư để so sánh
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi sử dụng phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp thống kê
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn tham khảo một số bài nghiên cứu của các nhà phê bình nhằm
làm rõ những vấn đề liên quan đến tác giả, tác phẩm Trùng Quang tâm sử
Trang 15Khảo sát những biện pháp nghệ thuật đã được sử dụng trong tác phẩm để thấy được tư tưởng nghệ thuật của tác giả đồng thời khẳng định những thành tựu
mà tác phẩm đã đóng góp cho thể loại tiểu thuyết chương hồi
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề về tác giả - tác phẩm và việc vận dụng lí thuyết tự sự trong nghiên cứu tác phẩm
Chương 2: Các phương diện của nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết
Trùng Quang tâm sử
Chương 3: Hư cấu – Một yếu tố đặc sắc trong cấu trúc tự sự của
Trùng Quang tâm sử
Trang 16NỘI DUNG
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TÁC GIẢ - TÁC PHẨM VÀ VẬN DỤNG
LÍ THUYẾT TỰ SỰ TRONG NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM
1.1 Về tác giả - tác phẩm Trùng Quang tâm sử
1.1.1 Vấn đề xác định tác giả
Theo lời “Tựa” trong cuốn Phan Bội Châu toàn tập (tập 4) Đào Duy
Anh nhận định rằng đây là công trình sáng tác của nhà chí sĩ Phan Bội Châu
Trong tình thế chiến tranh và trong hoàn cảnh học thuật tư tưởng nước
ta lúc bấy giờ, căn cứ vào nội dung tập sách cũng như căn cứ vào hình thức văn chương đây chỉ có thể là do ngòi bút của Phan Sào Nam viết ra Trong long mạch tiểu thuyết lịch sử, bút pháp của tác phẩm đã xa hẳn lối viết của
các tập truyện dài ngày xưa như Hoàng Lê nhất thống chí, hay An Nam nhất thống chí Tác giả tập tiểu thuyết này có phần chắc là đã đọc, đã nghiền ngẫm nhiều lối văn Tân dân tùng bá Và, hồi đó, nếu có một nhà văn Việt Nam có
thể nói là nắm tương đối vững được văn pháp tân thư của Trung Quốc, thì người ấy chính là Phan Bội Châu Rồi nếu như ta theo dõi sân khấu hoạt động các nhân vật của cuốn tiểu thuyết này, từ tỉnh thành Nghệ An, từ Nghi Lộc, Hưng Nguyên, lên Nam Đàn, Thanh Chương, Anh Sơn, xuống Yên Thành, Phủ Diễn, rồi ngược Phủ Qùy, Phủ Tương, và đi đường “thượng đạo” vào đến mạn Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, thì lại càng thấy rõ rằng: bấy nhiêu địa hạt với những thị trấn quen thuộc khác như Chợ Rộ, Chợ Chế, Chợ Rạng, Chợ Dừa, Chi Nê, Chợ Ròn v.v…, cũng là những trạm nghỉ chân của ông đầu sứ San, hay ông Giải San (tức Phan Bội Châu) trên con đường “bôn tẩu quốc sự” vào khoảng 1898 – 1902 Ngay cả vấn đề chiến thuật chiến lược theo sự bố trí trong tập tiểu thuyết này nữa nếu ta đem so sánh với kế hoạch Cách mạng của Phan tiên sinh hồi đó, thì sự phản ánh lại càng rõ rệt
Trang 17hơn nữa Cho nên, giả thuyết của giáo sư Đào Duy Anh đã được xây dựng trên một cơ sở lí luận khá chắc
Người hoài nghi vẫn có thể đặt lại vấn đề Nhưng, cũng như Giáo sư Đào Duy Anh đã nói, ngẫm nghĩ kĩ về ý vị văn chương cũng như về nội dung
tư tưởng của tác phẩm, thì ta chỉ có thể nghĩ đến Phan Bội Châu chứ không có thể tưởng tượng đến một người nào khác Bây giờ nếu như có người cật vấn vẫn hoài nghi về tên tác giả cho rằng phỏng thuyết trên kia chỉ là xây dựng trên ấn tượng thì ta có thể để hai chữ “vô danh” khi nói về tên tác giả Nhưng
xét một cách khái quát ý kiến cho rằng Phan Bội Châu là tác giả của Trùng Quang tâm sử ngày càng được củng cố và đáng tin cậy
1.1.2 Về tác giả Phan Bội Châu
1.1.2 1 Con người
Phan Bội Châu sinh ngày 26 – 12 – 1867 ở làng Sa Lam, xã Đông Liệt huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An Quê chính là Đan Nhiệm cách Sa Lam độ vài cây
số, nằm sát bên bờ tả ngạn sông Lam Ông sinh ra trong một gia đình phong kiến
hạng thấp “lấy nghiên làm ruộng, lấy bút làm cày” Phan Bội Châu được thừa
hưởng nhiều mặt tích cực từ cha mẹ Cụ thân sinh Nguyễn Thị Nhàn là người hiền lành phúc hậu và rất thương người Bà thường dậy cho Phan Bội Châu thuộc lòng một số bài thơ trong Kinh Thi, là người có ảnh hưởng lớn đến nhân cách và con người Phan sau này
Cùng với những yếu tố về gia đình, Phan Bội Châu còn chịu ảnh hưởng nhiều của quê hương xứ Nghệ, nơi có truyền thống anh hùng, truyền thống văn hóa, đã từng sản sinh ra rất nhiều nhân tài cho đất nước
Những yếu tố về gia đình, về quê hương cùng với thiên chức bẩm sinh đặc biệt thông minh nổi tiếng “thần đồng” khiến cho tài năng văn học của cậu bé San
nảy nở và phát triển từ rất sớm Tập “Phan Bội Châu niên biểu” cho biết: Sáu tuổi theo cha đi học có ba ngày đọc thuộc lòng quyển “Tam tự kinh”, bảy tuổi đã hiểu
Trang 18được Kinh truyện và viết “Phan tiên sinh luận ngữ”, tám tuổi đã thông thạo các
kiểu văn cử tử, mười ba tuổi đỗ đầu huyện , mười sáu tuổi đỗ đầu xứ, ba mươi tuổi
đỗ giải Nguyên trường Nghệ An với vinh dự độc nhất vô nhị trong lịch sử khoa cử
Việt Nam: “Bảng một tên lừng lẫy tiếng làng văn ”
Phan Bội Châu ra đời đúng vào năm lục tỉnh Nam kì mất trọn vào tay Pháp
(1867) “tiếng khóc chào đời như đã báo trước cho tôi rằng: mày sẽ phải làm một người dân mất nước” (Phan Bội Châu niên biểu) Lớn lên trong cảnh đất nước bị
giặc chiếm, làng quê bị tàn phá, cả một xã hội đang bị phân hóa kịch liệt chìm ngập dưới ngọn sóng tư bản chủ nghĩa Tình đối với quê hương đất nước, chí căm
hờn đối với “dị tộc xâm lăng” bị kích thích đến tột độ Phan Bội Châu nói mình có
“bầu máu nóng” đó chính là lòng yêu nước và ý chí cứu nước dậy lên từ thuở còn
thơ Thực ra cái bản tính chẳng do trời phú mà do ảnh hưởng của truyền thống dân tộc và quê hương Những tình cảm sôi nổi bồng bột nhưng vô cùng quý giá đó là bước khởi đầu dẫn dắt Phan Bội Châu vào con đường cách mạng Lòng yêu nước
đã khiến Phan Bội Châu từ một nhà nho thành một chiến sĩ yêu nước kiên cường bất khuất, sẵn sàng tiếp thu và làm theo cái mới
1.1.2 2 Cuộc đời
Cuộc đời hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu có thể chia làm ba
thời kì, tương ứng với ba giai đoạn sáng tác của ông:
Trước khi ra nước ngoài
Là thời kì “ẩn nhẫn nấp náu tu dưỡng ngấm ngầm” Thời kì này, Phan Bội
Châu ở nhà dạy học và nuôi cha già Ngoài thời gian dạy học Phan Bội Châu còn
bí mật liên kết với bạn bè, tìm đồng chí đọc tân thư tân văn, binh thư binh pháp Lúc này, Phan Bội Châu viết văn chương cử tử, tuy vậy vẫn bộc lộ hoài bão của một người thanh niên đầy nhiệt huyết với dân với nước, có ý chí bất chấp mọi khó khăn nguy hiểm
Trang 19“Nước non Hồng Lạc còn đây mãi Mặt mũi anh hùng khá chịu ri Giang sơn còn vẽ mặt nam nhi Sinh thời thời thế phải xoay nên thời thế
Phùng xuân hội may ra thì cũng dễ Nắm địa cầu một tí con con
Đạp toang hai cánh càn khôn Đem xuân vẽ lại cho non nước nhà Hai vai gánh vác sơn hà"
(chơi xuân)
Thời kì hoạt động ở nước ngoài (1905 – 1925)
Thời gian này ông tổ chức và phát triển phong trào Đông Du cho học sinh
đi du học ở nước ngoài để làm nòng cốt cách mạng Ông giao thiệp với các nhà chính trị nổi tiếng của cách mạng tư sản Trung Quốc, Nhật…Ông viết văn viết thơ tuyên truyền khích lệ phong trào cách mạng ở trong nước
Thơ Phan Bội Châu thời kì này hào hứng sôi nổi nhất với nhiều tác
phẩm như: Việt Nam vong quốc sử; Việt Nam quốc sử khảo, Hải ngoại huyết thư, Ai cáo Nam kì phụ lão thư, các truyện và đặc biệt là tiểu thuyết “Trùng Quang tâm sử”… tất cả đều được viết bằng chữ Hán, ghi lại nhiều chuyển
biến về tư tưởng của Phan Bội Châu
Năm 1925, trên đường về Quảng Châu Phan Bội Châu bị bắt, kết thúc “Hai mươi năm lẻ” hoạt động tích cực ở nước ngoài Đánh giá tích cực về giai đoạn này Giáo sư Đặng Thai Mai có viết: “Thời kì 1905 – 1925 là quãng đời oanh liệt và vẻ vang trong thân thế nhà chiến sĩ Hai mươi năm ròng rã không một cuộc vận động yêu nước nào mà không thấm nhuần ít nhiều tinh thần của Phan Bội Châu Trong phần tư đầu thế kỉ ba chữ Phan Bội Châu là dấu hiệu cao cả tập hợp mọi lực lượng chống thực dân Pháp ở trong nước và ngoài nước và cũng là thể hiện đẹp
Trang 20đẽ , tiêu biểu cho tinh thần quật cường của cả dân tộc Giữa những ngày tháng đau luôn luôn nhìn thấy trong ba chữ tên đó một tia hy vọng”
Thời kì làm “Ông già Bến Ngự”:
Khi bắt Phan Bội Châu thực dân Pháp có âm mưu thủ tiêu nhưng bị lộ, chúng phải đem ra xử án công khai Ông bị kết án tù khổ sai chung thân Khi án này công bố, cả nước dấy lên phong trào đòi tha Phan Bội Châu Trước sức mạnh của cả dân tộc, thực dân Pháp phải “tha bổng” Chúng bắt ông về cư trú ở Huế Nhân dân xây dựng cho ông một ngôi nhà dưới núi Ngự, bên bờ sông Hương Từ lúc bị bắt giam cho đến khi mất, Phan Bội Châu phải sống trong cảnh của người tù giam lỏng – một cuộc sống khá thê lương, buồn tẻ và hiu quạnh:
Đêm nghe con Vá chào ông Trộm Ngày lắng thằng Nghi kể chuyện tù Những năm tháng cuối đời, dù sống trong hoàn cảnh người tù bị giam lỏng, tấm lòng nhà chí sĩ họ Phan vẫn chất chứa bao nỗi niềm ưu ái, vẫn đặt kì vọng vào đồng bào Trước lúc ra đi Phan Bội Châu vẫn không quên lời nhắn nhủ tâm huyết với thế hệ trẻ:
Nay đương lúc tử thần chờ trước cửa
Có vài lời ghi nhớ về sau Chúc phường hậu tử tiến mau!
(Từ giã bạn bè lần cuối cùng)
Ngày 29 – 10 – 1940 Phan Bội Châu qua đời Đám tang rất vắng vẻ bởi sự kiểm soát ngặt nghèo của bọn thực dân Dẫu vậy, tên tuổi của một nhà chí sĩ yêu nước, một con người hoạt động hăng say chiến đấu vì nước vì dân, một nhà văn nhà thơ lớn của dân tộc vẫn còn sống mãi với thời gian, vẫn sống mãi trong trái tim người dân Việt Nam Cuộc đời 73 năm của Phan Bội Châu là cuộc đời hoạt động cho cách mạng Cuộc đời của một con người hăng say với lý tưởng cứu nước Từ tuổi thơ còn cắp sách đến trường cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay một điều luôn luôn nung nấu trong tâm can ông là giết giặc cứu dân Ông đã cống hiến
Trang 21cả đời mình cho sự nghiệp dân tộc Lý tưởng sống, lẽ sống của ông là hy sinh cho độc lập tự do của dân tộc Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, ông phải vật lộn với bao vất vả, khó khăn, cay đắng, tủi cực Bao nhiêu lần thất bại chua cay, ông vẫn không nản chí Ý chí ấy thật đáng khâm phục Trong Niên biểu ông xót xa thừa nhận rằng: “Lịch sử đời tôi là lịch sử một trăm thất bại mà không một thành công” Tấm lòng ông luôn luôn hướng về tổ quốc với một niềm mong mỏi đất nước được độc lập, dân tộc được tự do Tổ quốc ở trong ông gần như là máu thịt Ông đau lòng trước cảnh:
Nước mất nhà tan nỗi thiết tha
Dòng sông man mác máu hồng pha
Gươm đao tởm nhắc ba tuồng cũ
Màu khói buồn trông bốn mặt xa
Xương vỏ sống còn đau lũ bé
Sọ đầu vứt uổng khóc tay già
Ngọn lửa căm hờn bùng cháy trong tâm thức thuở thiếu niên cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay vẫn còn day dứt khôn nguôi Phan Bôị Châu là người cảm nhận rất sâu nỗi đau, nỗi nhục của người dân mất nước ông sẵn sàng
“đem máu đổi lấy tự do” Trong tim ông vẫn khắc sâu tư tưởng lòng quyết tâm “thù sâu chắc có ngày rồi trả” Để thực hiện được lý tưởng đó Phan Bội Châu sẵn sàng làm tất cả Ông từng nói “suốt đời đã mưu tính việc gì cốt nhằm mục đích giành được thắng lợi trong phút cuối cùng dù đó có phải thay đổi thủ đoạn, phương châm cũng không ngần ngại”
Bình sinh, Phan Bội Châu vốn là một người chiến sĩ Không bao giờ ông có ý định xây dựng cho mình sự nghiệp văn chương Hai câu thơ của Viên Mai mà ông rất thích:
Túc dạ bất vong duy trúc bạch Lập thân tối hạ thị văn chương
Trang 22(Khuya sớm vẫn mong ghi sử sách Lập thân hèn nhất ấy văn chương)
Khi bước vào hoạt động cách mạng Phan Bội Châu xác định cho mình làm người chiến sĩ Qua thực tế, Phan Bội Châu cũng như những người làm cách
mạng nhận ra rằng văn học là một vũ khi đấu tranh Ghecxen nói: “Khi một dân tộc mất quyền nhờ ngoại viện để đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, lập ra Chính phủ độc lập tự do dân chủ, chỉ văn học là diễn đàn duy nhất mà ở
đó họ có thể nói lên tất cả lòng căm phẫn và lương tri của mình” Đối với Phan
Bội Châu, càng hoạt động cách mạng, ông càng nhận thấy rõ văn học là một loại
vũ khí lợi hại Con đường đến với văn chương của Phan Bội Châu rất khác biệt:
Từ nhà nho yêu nước đến người chiến sĩ cách mạng; từ chiến sĩ cách mạng trở thành nhà văn, nhà thơ
Phan Bội Châu là người có ý thức sâu sắc đầy đủ, hệ thống, có kết quả nhất trong việc dùng văn chương phục vụ nhiệm vụ chính trị của thời đại
Tóm lại: Nhắc đến Phan Bội Châu, chúng ta nhắc đến tên một nhà chí sĩ – người đã châm ngọn đuốc soi đường cho cả một thế hệ thanh niên đi theo tiếng gọi non sông những năm đầu thế kỷ - điều đó cũng đã đủ để tự hào Nhắc đến Phan Bội Châu, ta còn nhắc đến tên một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Ông đã
để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn học khá lớn – những bài thơ “dậy sóng” có tác động không nhỏ đến tâm hồn, ý chí người dân Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Pháp, cho đến ngày nay vẫn gây xúc động lớn trong lòng người đọc Phan Bội Châu không những được nhân dân Việt Nam yêu quý, kính phục mà còn được nhân dân thế giới biết đến và ngưỡng mộ
Phan Bội Châu mãi mãi xứng đáng với danh hiệu: “Bậc anh hùng, vị thiên
sứ, đấng xả thân vì độc lập dân tộc, được hai mươi triệu con người trong cả nước tôn sùng” – (Nguyễn Ái Quốc)
Trang 231.1.3 Vấn đề xác định tên gọi của tác Phẩm
Trùng Quang tâm sử là một tập tiểu thuyết bằng Hán văn được viết vào
khoảng đầu thế kỷ XX Đa phần các nhà nghiên cứu cho rằng nó được ra đời vào
khoảng thời gian từ 1905 đến 1913 Lần đầu tiên được đăng trên tờ Binh sự tạp chí ở Hàng Châu, Trung Quốc từ tháng 1- 1921 đến tháng 4 – 1925 Từ lúc ra
đời nó đã ngủ một giấc dài hơn ba mươi năm, đến năm 1957 cuốn tiểu thuyết
này mới được dịch và xuất bản (xuất bản lần I mang tên “Hậu Trần dật sử” – Trần Lê Hữu dịch – nhà xuất bản văn hóa – 1957; lần II mang tên “Trùng Quang tâm sử” – Nguyễn Văn Bách dịch – nhà xuất bản văn học – 1971)
Về tên sách, ngày nay cũng khó mà biết được chính xác Cũng có thể là sau khi viết ra, vì một lí do này hay lí do kia, tác giả chưa hề đặt tên cho tác phẩm Điều chắc chắn là đằng sau câu chuyện vận động “bình Ngô” này,dụng
ý của người viết sách là kêu gọi đồng bào chống Pháp Câu chuyện cũ bao hàm ý nghĩa hoàn toàn mới
Cái tên “Hậu Trần dật sử” mà Đặng Thai Mai và Đào Duy Anh đưa
ra cũng có thể cho là “ổn” Nhưng đó chỉ là vấn đề “tạm” vì chưa tìm đúng tên húy của nó
Theo ý kiến của Chương Thâu tác phẩm có tên Trùng Quang tâm sử,
“tâm sử” của đất Trùng Quang hay là “tâm sử” của đời Trùng Quang Chữ
“tâm sử” vừa có ý nghĩa tiểu thuyết vừa có ý nghĩa lịch sử Nội dung quyển sách cho ta biết nhiều những chuyện lịch sử có thật đời Hậu Trần, xoay chung quanh chữ “Trùng Quang” này
“Phía cực tây huyện Thanh Chương, giáp nước Lào, nhìn xuống là sông Lam, dựa vào vách núi Giăng Màn, trong chỗ rừng sâu xanh thẳm, có vài trăm khoảng sơn điền Bốn mùa có khe nước chảy, phân tán thành câu,
cừ Ở trên có nhà trại, lớn nhỏ hơn trăm gian Đấy là trại của ông Khoáng Đất ấy trước là một thôn của người Lào Tiên thế ông Khoáng hiển đạt ở đời
Trang 24Trần, nhà Trần mất, đem cả bộ thuộc hơn vài mươi người dời xuống phía nam châu Hoan, đuổi người Lào chiếm lấy đất Vì quân nhà Minh đuổi bắt riết, nên ông Khoáng cũng trốn đến ở đấy Các hào kiệt lục lâm thường nhờ làm chỗ trốn tránh Ông Khoáng là người trưởng giả, trung hậu, nên người
xa gần bất kì Mường hay Chợ đều ham đi lại giao thiệp Thường lấy thóc gạo đổi lâm sản, rồi chở lâm sản xuống chợ bán lấy tiền, hàng năm thu được rất nhiều, cho nên trong trại súc tích cũng đầy đủ Ông khoáng thường nghĩ đến quốc sỉ, nuôi chí lớn, cho nên những người hảo hán đến thường được tiếp đãi rất hậu Các thổ hào đều gọi ông Khoáng là ông Cả Khi Kiên và Xí muốn mở hội nghị bí mật, trước hết đến mời ông Khoáng, ông rất mừng, đến ngay Bèn
cử ông làm chủ trại Miếng đất khô ráo này trở thành một nước độc lập nhỏ
Vì vậy nên đặt tên là trại “Trùng Quang”.[75,50]
Qua đoạn trích trên đây, chúng ta biết được tổ chức và hoạt động của các ông Khoáng, ông Xí… rất ứng hợp với sự thực lịch sử lúc bấy giờ Mùa đông năm 1407 Giản Định đế nhà Hậu Trần nổi lên ở Nghệ An Tri châu Hóa Châu là Đặng Tất và An phủ sứ Thăng Hoa là Nguyễn Cảnh Chân đem quân địa phương về theo Lúc đó, nhà Minh sai tướng giặc Mộc Thạnh đem 4 vạn quân từ Vân Nam sang, bị quân ta đánh thua phải bỏ chạy Giản Định đế muốn thừa thắng kéo quân ra Bắc, nhưng Đặng Tất lại muốn tìm bắt dư chúng của giặc để trừ hậu họa, rồi sau hợp với các đạo quân Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Diễm Châu và Thanh Hóa kéo ra Đông Đô triệt nốt quân Minh Chưa kịp thì bọn giặc đã đón được tướng Mộc Thạnh về Đông Đô.Giản Định nghe lời dèm pha cho rằng Đặng Tất cố ý trì hoãn không chịu tiến công cho nên đem bắt giết Quốc công Đặng Tất và Tham mưu Nguyễn Cảnh Chân Về sau, Đặng Dung con Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Dị con Nguyễn Cảnh Chân bèn kéo quân từ Thuận Hóa rước Trần Quý Khoáng là cháu Giản Định đế tức
là Trần Nghệ Tôn vào Chi La ở đất Nghệ An lên ngôi vua, lấy hiệu là Trùng Quang, nên ngày sau sử chép là Trùng Quang đế
Trang 25Cái tên gọi “Trùng Quang” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong cuốn
tiểu thuyết này “Nghĩa quân ở trại Trùng Quang xứ Nghệ An” hoặc “trại lớn
ở đất Nghệ An của quân chúng tôi, đất lành khí tốt, lâu ngày đã trở nên đông đúc, nhân dân đều ham đến ở” hoặc “nhân lấy tên trại Trùng Quang mà tôn ông Khoáng lên làm vua Trùng Quang” Cái tên Trùng Quang có tính chất
lịch sử Cho nên chúng ta có thể khẳng định một cách chắc chắn quyển Hậu
Trần dật sử hiện đang lưu hành chính là quyển Trùng Quang tâm sử
Phan Bội Châu mãi mãi xứng đáng với danh hiệu: “Bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập dân tộc, được hai mươi triệu con người trong
cả nước tôn sùng” – (Nguyễn Ái Quốc)
1.2 Việc vận dụng lý thuyết tự sự trong nghiên cứu tác phẩm
Trùng Quang tâm sử
1.2.1 Khái lược về tự sự học
Roland Bathes có nói đại ý tự sự xuất hiện cùng bản thân lịch sử loài người Nói theo cách khác, khi lịch sử được ý thức thì ta đã có tự sự (câu nói quen thuộc của phương Tây – History is a story / L Histoire estunrecit) Thế nhưng nghiên cứu tự chỉ thực sự trở thành một khoa học độc lập dưới ảnh hưởng trực tiếp của trường phái cấu trúc luận Pháp trong khoảng thập niên 60 thế kỉ trước Do vậy, có cách gọi tự sự học cấu trúc luận Năm 1966, tạp chí
“Giao tế" xuất bản tại Pari đã dành hẳn kì số 8 cho chuyên san Nghiên cứu kí hiệu học – phân tích cấu trúc tác phẩm tự sự giới thiệu tập trung lí luận căn
bản của tự sự học Và phải đến năm 1969, Tezvetan Todorov, một trong những đại biểu lớn của cấu trúc Luận Pháp mới chính thức khai sinh danh
xưng tự sự học (Narratilogie – tiếng Pháp) khi xuất bản công trình Ngữ pháp chuyện mười ngày cái mà Todorov gọi là ngữ pháp ở kết cấu tự sự của tác phẩm
Tự sự học kinh điển thường được hiểu là tự sự học giai đoạn những năm 60 kéo dần đến khoảng những năm 80 của thế kỉ trước Tuy thực sự đã trở thành một trào lưu nghiên cứu có tính quốc tế, nhưng vai trò tiên phong
Trang 26vẫn thuộc về các học giả Pháp Rất nhiều khái niệm nền tảng cũng như một số
mô thức lý thuyết của tự sự học kinh điển bắt nguồn từ Cấu trúc luận Pháp Trong khoảng thập niên 70 đến 80 tự sự học bắt đầu thịnh hành ở Mĩ thế nhưng chủ yếu vẫn là ứng dụng và phát huy các mô thức lý luận của Pháp Tự
sự học tạo nên một không gian lý tưởng cho đối thoại và hòa nhập giữa truyền thống phê bình Mĩ và lí luận văn học châu Âu Có thể nêu vài ví dụ về đóng góp cho tự sự học hiện đại của các học giả Mĩ Chẳng hạn, Gerald Prince là người tiên phong đề xuất khái niệm “đối tượng tiếp nhận tự sự” hoặc “người thụ thuật”naratee Khái niệm này được chấp nhận rộng rãi và được xem như
là một bổ xung cho mô thức tự sự học pháp “người thụ thuật” là đối tượng hướng tới của người trần thuật, nó là một nhân tố kết cấu đối ứng với người trần thuật, không liên quan đến ngữ cảnh lịch sử xã hội mà cũng có thể không
lý tưởng có khả năng “trùng khít” với độc giả lí tưởng Seymour Chatman đề nghị phân biệt cái gọi là trường tri cảm có tính cách như một bộ thấm lọc (filter) thông tin trần thuật của nhân vật với cái gọi là tầm nhìn tự sự (focalization) Thế nhưng Mĩ chỉ thực sự trở thành trung tâm của nghiên cứu
tự sự học quốc tế vào khoảng những năm 90 trở về sau Khi đó tự sự học bước sang giai đoạn hậu kinh điển So với Mĩ, tự sự học ở Anh thường vẫn được coi là “chậm tiến” Hai ấn phẩm lớn về tự sự học của Anh năm 2005,
Bách khoa toàn thư lí luận tự sự (Routledge xuất bản) và Chỉ nam lí luận tự
sự (Nxb Blackwell) trên thực tế từ chủ biên cho đến các tác giả biên soạn chủ
yếu đều mời từ Mĩ Ngay từ năm 2000, Brian Richardson, một nhà tự sự học
đã dự đoán trên tạp chí Văn thể (style) của Mĩ Lí luận tự sự đang đạt tới một
tầm cao mới toàn diện hơn Lí luận tự sự rất có khả năng sẽ chiếm địa vị trung tâm trong nghiên cứu văn học khi mà những hệ hình (paradigm) phê bình vốn từng có một vị trí chủ đạo bắt đầu suy yếu đi cùng lúc mô thức (model) phê bình mới (chí ít cũng không giống như cũ) đang thịnh hành dần lên” Cái mà Richardson gọi là lí luận tự sự ở đây chính là tự sự hậu kinh điển xuất hiện
Trang 27như bước kế tiếp của giai đoạn tự sự học kinh điển cấu trúc luận Tự sự học kinh điển cấu trúc luận Pháp kích thích tự sự học hậu kinh điển Mĩ cũng giống như sau đó không lâu giải cấu trúc luận Pháp lại gợi ý cho công cuộc giải tự sự học (ananarratology) ở Mĩ Ở Trung Quốc, lý thuyết tự sự học phương Tây bắt đầu được giới thiệu từ những năm 80 thế kỷ trước Cuối thập niên 80, nghiên cứu tự sự học tại Trung Quốc đã đạt đến cao trào Phần lớn các tác phẩm tự sự học quan trọng của tự sự học kinh điển xuất bản trong thập niên 70,80 của phương Tây đều được dịch ra tiếng Trung Thế nhưng tính đến những năm gần đây, tự sự học Trung Quốc không kể dịch thuật hay trước tác nhìn chung vẫn đang còn dừng ở phạm vi tự sự học kinh điển Lí luận tự sự học hậu kinh điển thập niên 80 trở về sau chưa được giới thiệu rộng rãi
Ở Việt Nam, ngay từ buổi đầu giới thiệu và dịch thuật tự sự, việc xác định thuật ngữ, chọn dùng khái niệm tương đương đòi hỏi những cố gắng nhất định Trong tình hình mà một số thuật ngữ quan trọng như tự sự, tự sự học cũng như trần thuật, văn bản, diễn ngôn, thoại ngữ… mà hiện nay ta dùng đều
là những từ Hán Việt thì việc tham khảo các học giả Trung Quốc là việc có ích Giáo sư Trần Đình Sử có nói: “chúng ta cần xây dựng cho mình một hệ thống tiếng Việt về tự sự học” Liên hệ đến Trung Quốc ông nói thêm “Ngay
thuật Narratology người Trung Quốc hiện nay vẫn có hai cách dịch tự sự học
và tự thuật học(tự = kể, thuật = kể) Khái niệm “tự thuật học” dùng tương
đồng với “tự sự học”, nhưng trọng tâm có phần khác nhau “tự thuật học” nghiêng về nghiên cứu cả hai: hành vi lời kể và cấu trúc sự kiện” Nếu chúng
ta đọc kĩ bài Về việc mở ra môn trần thuật học trong ngành nghiên cứu văn học ở Việt Nam (đồng thời tham khảo mục từ Trần thuật trong 150 thuật ngữ
văn học cũng của ông) thì sẽ cảm thấy trần thuật học mà ông chủ trương phải tương đương với không phải là tự thuật học Trung Quốc mà là tự sự học của
họ Lại Nguyên Ân đề nghị cách gọi trần thuật học Ông viết: “Trần thuật học (narratologie, naratology) được đề xuất cuối những năm 60 do việc xem xét
Trang 28lại học thuyết Chủ nghĩa cấu trúc từ quan điểm lý thuyết giao tiếp về bản chất
của nghệ thuật và các dạng thức tồn tại của nó Do vậy trần thuật học đứng
giữa một phía là Chủ nghĩa cấu trúc và một phía khác là Mĩ học tiếp nhận Như vậy điều cần lưu ý là Trần thuật học ở phương Tây là một trường phái, một khuynh hướng học thuật chứ không đơn thuần chỉ là bộ môn nghiên cứu Tháng 11 năm 2003, một hội thảo quốc tế về tự sự học chức tại đại học Hamburg (Đức) với chủ đề: vận dụng các khái niệm tự sự học truyền thống vào nghiên cứu các loại văn bản phi văn học Một học giả Trung Quốc đã
dịch cuốn Naratologies (Dvid Herman biên soạn, ohio State UP, 1999) Là Tân tự sự học (Mã Hải Lương, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, 2002) với hàm
ý đây là giai đoạn mới của tự sự học – giai đoạn tự sự học hậu kinh điển Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng giữa Naratology và Naratologies không phải là một tiến hóa mà chỉ là những diễn biến Điều chắc chắn là tự sự học hậu kinh điển (postclassicall naratologies) đã mở rộng đối tượng nghiên cứu, nó không
tự giới hạn tầm mắt ở bản thân “văn bản” tự sự Chính vì thế từ những năm
1990 trở về sau có người gọi nó là tự sự học chủ nghĩa ngữ cảnh
Các học giả Trung Quốc nhìn chung ngày càng nghiêng về sử dụng thuật ngữ tự sự học Trong dịch thuật dường như họ chủ trương các tác phẩm
đầu đề có viết từ Naratology thì dịch thành tự sự học Trường hợp số nhiều Narratologies thì dịch thành tân tự sự học Những cuốn nghiên cứu về narrative nói chung cũng được dịch thành tự sự học Chẳng hạn Reading Narrative của J Hillis Mille được dịch là Giải độc tự sự, postmodern Narrative Theory của Mark Currie được dịch là Hậu hiện đại tự sự…
1.2.2 Tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử với hướng nghiên cứu tự sự học
So với phương Tây, tiểu thuyết Việt Nam ra đời và phát triển muộn Nếu ở Châu Âu, tiểu thuyết xuất hiện vào thời kì xã hội cổ đại tan rã và phát triển rực rỡ ở thế kỷ XIX thì ở Việt Nam đến thế kỷ X – XII mới xuất hiện
những truyện văn xuôi dưới dạng các thần phả (Việt điện u linh – Lý Tế
Trang 29Xuyên) hoặc ghi chép các tiểu thuyết dân gian (Lĩnh nam trích quái – Trần Thế Pháp) Sang thế kỷ XV – XVIII với các tác phẩm “Thánh Tông di thảo” của Lê Thánh Tông, “Truyền kỳ mạm lục” của Nguyễn Dữ, “Truyền kỳ tân phả” của Đoàn Thị Điểm… mới xuất hiện những truyện viết về đời tư của những người bình thường, nhất là phụ nữ Đến “Hoàng Lê nhất thống chí”
(đầu thế kỷ XIX) mới có quy mô tiểu thuyết: 17 hồi, hơn 300 nhân vật, bao quát khoảng thời gian khá dài (từ 1767 – 1802) có nhiều chi tiết về các mặt của đời sống Về nội dung thể loại, tuy có yếu tố đời tư và thế sự nhưng tính chất của sử thi vẫn là chủ yếu vì gắn với sự hưng vong của triều đại, đất nước trong một thời kỳ lịch sử nhất định Tuy nhiên xét về nhiều mặt nó vẫn thuộc
phạm trù tiểu thuyết phương Đông Ngoài giá trị lịch sử và xã hội học “Hoàng
Lê nhất thống chí” được coi là pho tiểu thuyết lịch sử đầu tiên có giá trị văn học đặc sắc Cùng với “Thượng Kinh ký sự” (Lê Hữu Trác), “Vũ trung tùy bút” (Phạm Đình Hổ), “Hoàng Lê nhất thống chí” là tác phẩm tiêu biểu nhất,
có giá trị hiện thực lớn nhất trong số các tác phẩm văn xuôi thế kỷ XVIII, phải sang giai đoạn văn học thế kỷ XX đến 1945 ta mới có những tiểu thuyết hiện đại Những năm 20 là thời kỳ chuẩn bị hình thành một nền tiểu thuyết mới – tiểu thuyết Việt Nam hiện đại – quan niệm thể loại văn học ở đây bao gồm cả hai yếu tố: Nội dung và hình thức Tiểu thuyết phải phản ánh được tư tưởng, tình cảm của những giai cấp, những tầng lớp người hiện đại trong xã hội, phải đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa đối với thời đại chúng ta Tiểu thuyết có thể lấy các vấn đề quá khứ của dân tộc Nhưng các vấn đề ấy được nhìn nhận và đánh giá theo quan điểm hiện đại Tức là tiểu thuyết hiện đại phải có một kết cấu mới, phải điển hình hóa mới (khác với truyện nôm và tiểu thuyết chương hồi của thế kỷ XVIII và XIX), một lối ngôn ngữ mới (không phải là thứ văn chương biền ngẫu đầy điển tính nặng nề) và quan điểm thẩm
mỹ mới
Trang 30Theo cách nhìn này thì những năm 20, chúng ta đã có những mầm mống đầu tiên của một nền tiểu thuyết mới Những năm đầu thế kỷ, bên cạnh khuynh hướng tiểu thuyết hợp pháp được lưu hành công khai còn có tiểu thuyết cách mạng phải lưu hành bí mật trong quần chúng Trong thời kỳ 1900 – 1930, tiểu thuyết lịch sử tuy viết về quá khứ của dân tộc nhưng lại mang
một ý nghĩa rất hiện đại “chúng ta đã hỏi và chúng ta chất vấn những cái đã qua để chúng ta giải thích cho hiện tại và chỉ ra trong tương lai của ta”
(Bielinxki) Đó là các nhiệm vụ của nhà văn nhà thơ, khi họ khai thác đề tài lịch sử Phản ánh trung thành những nhân vật và thời đại quá khứ - đó là nguyên tắc sáng tác thể loại tiểu thuyết lịch sử
Từ những nội dung nêu trên ta soi rọi vào tiểu thuyết Trùng Quang tâm
sử để thấy được đây là cuốn tiểu thuyết lịch sử và phi lịch sử ở chỗ nào Trùng Quang tâm sử ra đời trong những năm đầu thế kỷ XX Thời gian ra đời
của tác phẩm chưa được xác định một cách cụ thể Đây là câu chuyện khởi nghĩa chống quân Minh của một số anh hùng hào kiệt ở Nghệ An lấy danh nghĩa nhà Trần để mưu khôi phục đất nước Đây đồng thời cũng là một cuốn tiểu thuyết lịch sử có tính luận đề cách mạng Trên câu chuyện của quá khứ của lịch sử người viết lại luôn luôn hướng về hiện đại Bởi mục đích chính là
kêu gọi đồng bào trong nước đứng lên làm cách mạng “Hỡi quốc dân ta! Hỡi đồng bào ta! Dậy mà nghe tôi kể chuyện đời xưa (…)Ôi! Chuyện tổ tiên ta có quan hệ với ta, mật thiết biết chừng nào (…) Tổ tiên ta đã nuôi chí, chứa giận, giết giặc rửa hờn, đuổi hết giặc Ngô lấy lại quyền chủ nhân đất nước vốn có từ xưa, để lại cho con cháu chúng ta (…).Hai mươi chương sách đều
là những màn cảnh sinh động thổ lộ hết nỗi đắng cay nhục nhã của cả một dân tộc đang oằn mình dưới gót lũ xâm lăng Chuyện đời xưa nhưng hễ có dịp là tác giả lại nhắc lại Như vậy đối chiếu với những nguyên tắc sáng tác của những nhà văn hiện thực chủ nghĩa thì trong tiểu thuyết lịch sử của mình, tác
Trang 31giả đã phản ánh trung thành những nhân vật và thời đại quá khứ Phan Bội Châu đã hiện đại hóa thời đại và nhân vật của mình Những đoạn nói về đời sống trụy lạc, tủi hổ hết chỗ nói của các cô gái điếm, hay về chuyện một làng công giáo góp trâu góp của cho trại Trùng Quang đều không phù hợp với lịch
sử nước ta những năm đầu thế kỷ XV Đó là còn chưa tính đến một lối ngôn
ngữ hiện đại được sử dụng trong tác phẩm “phàm đảng cách mạng, thì chỉ nên nhớ trong lòng, không nên chép ra giấy, vì viết ra như vậy không lợi cho các đồng chí” [75,39] Hay là “Mục đích cuối cùng của kẻ đại trượng phu là phải làm cách mạng”[75,38] Cuộc họp mặt của bốn mươi chín vị anh hùng
vào một đêm trăng trong khu rừng Cát Ngạn để trù tính chuyện chống Minh (thế kỷ XV) mà lại phảng phất cái không khí của cuộc hội nghị bí mật của Duy Tân hội (1904) và của Việt Nam Quang Phục hội (1912) ở đầu thế kỷ này Cuốn tiểu thuyết lịch sử này đã phản ánh một số mặt đời sống thực tế của nhân dân ta những năm đầu thế kỷ Chương trình hoạt động của những người yêu nước trong hội Trùng Quang cũng na ná như chương trình cách mạng của Duy Tân hội Và những người nữ anh hùng trong cuốn tiểu thuyết này cũng
có thể làm ta liên tưởng đến những nữ đồng chí của Phan Bội Châu như Bạch Liên, Ấu Triệu… Đó là còn chưa kể đến những vùng quê hương xứ Nghệ của Phan Bội Châu Như vậy việc hiện đại hóa lịch sử không phải là do vô thức
mà do dụng tình của tác giả có như vậy thì qua những câu chuyện “dớ dẩn” độc giả mới dễ nhận biết là khi tập sách kể chuyện xưa – nói đến giặc Ngô ở thế kỷ XV nhưng thực chất là nhằm vào ngày nay mà mục tiêu là giặc Pháp
Như vậy xét về mặt hình thức, Trùng Quang tâm sử là một cuốn tiểu
thuyết lịch sử (kể chuyện của quá khứ, lối kết cấu chương hồi …) Song xét ở phương diện nội dung tác phẩm lại mang tính phi lịch sử (thời đại, nhân vật được hiện đại hóa, quan điểm tư tưởng hoàn toàn mới … ) Sự kết hợp giữa nội dung và hình thức, giữa cũ và mới, truyền thống và hiện đại làm nên sự độc đáo của tác phẩm
Trang 32Chương 2 CÁC PHƯƠNG DIỆN CỦA NGHỆ THUẬT TỰ SỰ
TRONG TIỂU THUYẾT TRÙNG QUANG TÂM SỬ
“Điểm nhìn” là một khái niệm đã được đề cập khá sớm, đặc biệt ở Anh và Mĩ Theo M H Abrahams (Từ điển thuật ngữ văn học – A Glossary of librature terms), điểm nhìn chỉ ra “những cách thức mà một câu chuyện được kể đến
Nhìn “từ bên ngoài” (gắn với điểm nhìn bên ngoài) đây là điểm nhìn của người kể chuyện khi anh ta đứng ngoài, chỉ kể “chuyện” chứ không rõ tâm lý nhân vật Đây cũng là điểm nhìn từ các nhân vật khác
Trùng Quang tâm sử là một tập tiểu thuyết Yếu tố tưởng tượng có một
tác dụng, một địa vị rõ rệt trong công trình cấu tạo Nhưng đây không phải bộ tiểu thuyết lịch sử, nhằm mục đích khêu gợi bầu không khí hay xây dựng lại cuộc sống xã hội của thời kì đã qua Đây cũng không phải một tập phưu lưu kí
Trang 33với những đoạn lạc bất ngờ, những tình cảnh hồi hộp Lại càng không phải là một tập tiểu thuyết tâm lý với những tâm trạng phức tạp trong một khung cảnh nhất định về không gian, thời gian Trái lại trong động tác, trong lời nói, trong thái độ sống, trong quan niệm nhân sinh của các nhân vật và ngay trong địa điểm và thời gian hoạt động của bấy nhiêu con người, bạn đọc sẽ luôn
“vấp” phải những tiết mục “phản lịch sử” khá ngộ nghĩnh Nhưng chúng ta vẫn thấy rằng: bấy nhiêu “lầm lỗi” không phải là vô ý thức, mà chính là dụng tình của tác giả Tác giả biết rằng: có như thế, mới dành cho người đọc những câu chuyện “dớ dẩn” để tủm tỉm một nụ cười hiểu nhau; có như thế, mới ám thị cho độc giả biết là, khi tập sách nói đến “giặc Ngô”, mũi súng vẫn nhe nhắm vào thực dân Pháp mà bắn
Cuốn tiểu thuyết này là một “tờ chứng” Khung cảnh lịch sử ở đây
là đời sống của nhân dân Việt Nam trong thời kì mất nước vào khoảng cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX Sự phiền hà trong thủ đoạn vơ vét của dị tộc cướp nước thuế nặng sưu cao, làm cho nông thôn xơ xác, khốn cùng, chính sách đàn áp dã man đối với những người yêu nước, yêu tự do, bộ máy hành chính của kẻ thống trị với những quyền hành không giới hạn, tư thế hống hách của bọn quan lại cai trị, thái độ bỉ ổi của lũ người cầu cạnh bôn xu, đều là những màn cảnh sinh động, thổ lộ hết nỗi nhục nhã, đau đớn của cả một dân tộc đang quằn quại dưới gót giày tàn bạo của quân thù Nhưng hễ có dịp là tác giả lại nhắc nhở cho ta đừng xem câu chuyện này như một chuyện ngày xưa Ngay từ mấy lời mở đầu, sau khi nhắc lại
công cuộc chống nhà Minh của “tổ tiên ta đã nuôi chí, chứa giận”…, “lấy lại quyền chủ nhân đất nước vốn có từ xưa”, thì tác giả nói thêm ngay:
“Về sau, đến năm Hàm Nghi nguyên niên thì lại mất”
Đoạn kể chuyện ông Kiên lừa bọn lính ngục cứu anh Tinh, anh Lực
và anh Phấn ra khỏi nhà ngục (tiết II) kết thúc với mấy câu: “Ở nước ta,
Trang 34500 năm trước đây,thuật chụp ảnh chưa có, nhân tâm còn chất phác, nghề mật thám hãy đơn sơ Nếu như ngày nay, dưới con mắt của lũ chó săn, e cũng chả có đường trốn thoát…”[75,38] Trong khi giới thiệu lý lịch bà
Triệu, một nữ đảng viên (tiết X) và nói đến đời sống trụy lạc, tủi hổ hết chỗ nói của các cô gái điếm (chế độ này làm gì đã có từ hồi thế kỷ XV ?)
tác giả chua thêm hai dòng chữ nhỏ : “Nghe nói ngày nay ở Nam Kỳ, lớp gái điếm hạng bét cũng phải nếm mùi cay đắng ấy !”
Nhưng tập Trùng Quang tâm sử không hề có ý vị một pho “lệ sử”
Thế hệ thanh niên nhà nho yêu nước đầu thế kỷ này không phải chỉ là những con người ngồi rên rỉ với “tình non nước” trước cảnh “bức địa đồ rách” Họ đã quyết đem tâm huyết, đem tính mạng mà chuộc lại non sông
Tổ quốc Từ ngày 17 tuổi, cậu thanh niên Phan Văn San đã viết bài Bình Tây thu Bắc (Dẹp giặc Tây, lấy lại Bắc Kỳ) Bắt tay vào việc tổ chức hội
Duy Tân, Phan tiên sinh, lãnh tụ “phái kịch liệt”, đã có lúc trù tính kế hoạch (cũng như các tay anh hùng trong cuốn chuyện này) định đánh lấy tỉnh thành Nghệ để làm căn cứ đầu tiên cho cuộc vận động phục quốc Tập chuyện có tính chất tiểu thuyết địa phương, đặc biệt xứ Nghệ Những nhân vật chính là người Nghệ Trường sở hoạt động chính của họ là ở Nghệ Địa điểm xuất phát của nghĩa quân là miền trên xứ Nghệ và công cuộc phục quốc cũng mới “làm” được đến tỉnh Nghệ mà thôi
Từ khi được hoàn thành, tác phẩm đã ngủ một giấc dài hơn nửa thế kỷ Điều đó không có gì là khó hiểu Khi nước nhà đã mất quyền tự chủ, thì một tác phẩm có đả động đến nỗi đau khổ căm hờn, hi vọng giải phóng của những người mất nước, là được liệt ngay vào loại “yêu thư yêu ngôn” Pháp luật thực dân lợi dụng bọn phong kiến làm nanh vuốt thanh trừ loại văn đó, truy tố, hãm hại những con người đã viết ra những “tập xích nguy hiểm” như vậy
Tuy vậy, tất cả thủ đoạn áp bức, khủng bố đó vẫn không tiêu diệt được tinh thần nhân đạo của những tác phẩm ưu tú Và cũng chính vì có nội dung
Trang 35lành mạnh nên cuốn “dật sử” này được người ta chép lấy và giữ lại cho đến ngày nay, để được phiên dịch ra tiếng Việt và giới thiệu với độc giả
2.1.2 Cái nhìn của tác giả về quá khứ và mối quan hệ với hiện tại
“Trùng Quang Tâm Sử” ra đời trong những năm đầu thế kỷ XX Theo
lời “tựa” đã nói, đây là một câu chuyện lịch sử nước nhà, lâu ngày thất lạc (dật sử) mà tác giả góp nhặt và kể lại theo tập “dã sử chữ Thổ”
Lấy cảm hứng từ cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc “Nước
ta, về cuối đời nhà Trần, vì họ Nhuận Hồ làm bậy, giặc Ngô xâm chiếm đất nước hơn mười năm Đất đai và nhân dân tự do của chúng ta, phầm lớn bị dị tộc giày xéo Buổi ấy, cha con, anh em của tổ tiên ta bị khốn khổ trong nhà ngục, sống kiếp trâu ngựa, tôi đòi Những nỗi đau khổ nhục nhã đã trải qua, còn có phần bằng mười tình cảnh chúng ta ngày nay nữa kia”[75,34]
“Trùng Quang Tâm Sử” ra đời vào khoảng thời gian 1905 đến 1913
Đây là một câu chuyện khởi nghĩa chống quân Minh (đầu thế kỷ XV) của một anh hùng hào kiệt ở Nghệ An lấy danh nghĩa nhà Trần để mưu khôi phục đất nước Đây đồng thời cũng là cuốn tiểu thuyết lịch sử có tính luận đề cách mạng Trên câu chuyện của quá khứ, của lịch sử người viết lại luôn hướng về hiện tại Bởi mục đích chính là kêu gọi đồng bào trong nước đứng lên làm
cách mạng “Hỡi quốc dân ta! Hỡi đồng bào ta! Dậy mà nghe tôi kể chuyện đời xưa (…) Ôi! Chuyện tổ tiên ta, có quan hệ với ta, mật thiết biết chừng nào (…) tổ tiên ta đã nuôi chí, chứa giận, giết giặc rửa hờn, đuổi hết giặc Ngô, lấy lại quyền chủ nhân đất nước vốn có từ xưa, để lại cho con cháu chúng ta
Về sau đến năm Hàm Nghi nguyên niên triều nhà Nguyễn thì lại mất
Đến nay, đọc bài Bình Ngô đại cáo, xem sử sách nhà Lê, còn cảm thấy cây cỏ đều thiêng, non sông mở mặt Ôi, sao mà thịnh vậy! Công lao của tổ tiên chúng ta rực rỡ biết dường nào, oanh liệt biết dường nào[75,33]
Hai mươi chương sách đều là những màn cảnh sinh động thổ lộ hết nỗi đắng cay nhục nhã của một dân tộc đang oằn mình dưới gót lũ xâm lăng
Trang 36Chuyện của đời xưa nhưng hễ có dịp là tác giả đọc, Như vậy, đối chiếu với những nguyên tắc sáng tác của những nhà văn hiện thực chủ nghĩa thì trong tiểu thuyết lịch sử của mình Phan Bội Châu đã hiện đại hóa thời đại và nhân vật của mình Những đoạn nói về cuộc sống trụy lạc, tủi hổ hết chỗ nói của các cô gái điếm, hay chuyện một làng công giáo góp trâu, góp của cho trại Trùng Quang đều không phù hợp với lịch sử nước ta những năm đầu thế kỷ
XV Đó là chưa tính đến một lối ngôn ngữ hết sức hiện đại được sử dụng
trong tác phẩm Chẳng hạn: “phàm đảng cách mạng chỉ nên ghi nhớ trong lòng Không nên chép ra giấy, vì viết ra như vậy nhỡ lộ không có lợi cho các đồng chí”[75,39] hay là “Mục đích cuối cùng của bậc đai trượng phu là phải làm cách mạng” … Cuộc họp của bốn mươi chín vị anh hùng vào một đêm
trăng trong khu rừng Cát Ngạn để trù tính chuyện chống Minh (thế kỷ XV)
mà lại phảng phất cái không khí của cuộc hội nghị bí mật Duy Tân hội (1904)
và của Việt Nam Quang Phục hội (1912) ở đầu thế kỷ này Ta thấy, người viết không hề băn khoăn chuyện này ông đã phát huy cao độ tính hư cấu sáng tạo của người viết tiểu thuyết lịch sử Ông đã cố tình hiện đại hóa nhân vật, hiện đại hóa thời đại để luôn luôn nhắc nhở đồng bào ta luôn nhớ đến cái thực tại đau đớn của dân tộc dưới ách thống trị của thực dân Pháp Đây thực sự là dụng ý chân thật mà tác giả gửi gắm qua tập sách Cuốn tiểu thuyết lịch sử này, thực ra đã phản ánh một số mặt của đời sống thực tế của nhân dân ta những năm đầu thế kỷ Chương trình hoạt động của những người yêu nước trong hội Trùng Quang cũng na ná như chương trình cách mạng của Duy Tân hội và những nữ anh hùng trong cuốn tiểu thuyết này cũng có thể làm ta liên tưởng đến những nữ đồng chí của Phan Bội Châu như Bạch Liên, Ấu Triệu…
Đó là chưa kể đến những vùng quen thuộc trên quê hương xứ Nghệ của Phan Bội Châu Như vậy thì việc hiện đại hóa lịch sử không phải do vô thức mà do dụng tình của tác giả cố tình vi phạm khuyết điểm để phục vụ cho nhu cầu
Trang 37chính trị nhất định (trong hoàn cảnh thực dân Pháp thống trị nước ta) Có như vậy thì qua những câu chuyện “dớ dẩn”, độc giả mới dễ nhận biết là khi tập sách kể chuyện xưa – nói đến giặc Ngô ở thế kỷ XV nhưng thực chất là nhằm vào ngày nay mà mục tiêu là giặc Pháp
Cuốn tiểu thuyết là một “tờ chứng” Khung cảnh lịch sử của nhân dân trong thời kì mất nước vào khoảng cuối thế kỉ XIV, đầu thế kỉ XV Cuộc sống nhân dân lầm than, cơ cực dưới ách thống trị của ngoại xâm nhân dân mất hết quyền tự do, dân chủ, chủ quyền, cương vực lãnh thổ của đất nước lung lay
Trùng Quang tâm sử là một tiểu thuyết có ý nghĩa luận đề, một luận đề
về cách mạng Việt Nam Kể chuyện cũ để nói chuyện mới: “tổ tiên ta đã nuôi chí, chứa giận, giết giặc, rửa hờn, đuổi hết giặc Ngô, lấy lại quyền chủ nhân đất nước vốn có từ xưa, để lại cho con cháu chúng ta Về sau đến năm Hàm Nghi nguyên niên triều nhà Nguyễn thì lại mất
Đến nay, đọc bài Bình Ngô Đại cáo, xem sử sách nhà Lê, còn cảm thấy cày cỏ đều thiêng, non sông mở mặt, công lao của tổ tiên chúng ta rực rỡ biết chừng nào, oanh liệt biết chừng nào!”
Tập “Dật sử đời Hậu Trần” này không hề có ý vị một pho “lệ sử” Thế
hệ thanh niên nhà nho yêu nước đầu thế kỉ này không phải chỉ là những con người ngồi rên rỉ với “tình non nước” trước cảnh “bức địa đồ rách” Họ quyết đem tâm huyết, đem tính mạng mà chuộc lại non sông tổ quốc
Công việc cứu quốc là công việc của toàn dân Con người cứu quốc là
con người anh hùng “Xã hội đúc nên anh hùng, anh hùng tạo nên thời thế Vì
có nhân mà được quả Rồi có quả lại sinh ra nhân” Con người anh hùng đời
Hậu Trần trong tập sách này không phải hoàn toàn là dòng dõi quý tộc mà là những con người chịu nhiều bất hạnh
Ông Xí (là Cường Quốc công Lê Xí sau này) cũng như các bậc nông dân, các chị phụ nữ, các ông thợ rèn trong tiểu thuyết đã cảm thấy rõ nỗi chua cay, đau khổ của những “người không nước”, vì đất họ cày, nghề nghiệp họ
Trang 38làm, dưới thời kì đô hộ, đã bị người ngoài tước đoạt Anh Phúc, anh Thắng, hai ngụy binh đi về với hàng ngũ cách mạng vì họ đã mắt nhìn thấy rằng: cái
“mạng người An Nam không bằng con ngựa của tên quan cai trị”
Như vậy, xét về mặt hình thức, “Trùng Quang tâm sử” là một cuốn tiểu
thuyết lịch sử (thời đại, nhân vật được hiện đại hóa, quan điểm tư tưởng hoàn toàn mới…) Sự kết hợp giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, giữa
cũ và mới, truyền thống và hiện đại làm nên sự độc đáo của tác phẩm Câu chuyện cuối Trần chỉ là cái cớ để tác giả nói chuyện thời đại, chuyện đất nước đang nằm trong vòng kìm kẹp của thực dân Pháp Mục đích của tác giả là thức tỉnh nỗi đau, nỗi nhục mất nước trong nhân dân và từ đó cổ vũ, động viên, khuyến khích nhân dân đứng lên làm cách mạng Cũng qua câu chuyện này Phan Bội Châu thể hiện quan điểm về dân sinh, dân chủ trong hoạt động cách mạng nói riêng và trong xã hội nói chung cũng như quan điểm anh hùng hết sức mới mẻ, tiến bộ
Công cuộc dẹp giặc để lấy lại nước nhà, khi chúng ta khép tập sách lại vẫn còn bỏ dở, chưa phải là đã đi tới thắng lợi Tác giả lại còn nhắc đến kết cục thất bại của vua Trùng Quang (Trần Quý Khoáng) phải chăng từ ngày mới bắt tay vào việc cụ Phan Sào Nam đã có cái dự cảm là rồi đây cũng sẽ đi tới kết cục “nhất sự cánh vô thành”? là đời cụ sẽ “chỉ là một đời thất bại”? Nhưng cũng nên nói rằng: tác giả tập “dật sử” cũng là người tin tưởng hơn ai hết vào tiền đồ của tổ quốc Trong đoạn cuối của tập này, tác giả cũng đã báo trước tin thắng lợi của Lê Hoàng Thông qua câu chuyện tác giả muốn đánh
thức đồng bào “Dậy! Dậy! Dậy” Ba chữ mở đầu cho tập sách và cũng là ba
chữ kết thúc
Đây là ý nghĩa luận đề - luận đề về cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỷ mà Phan Bội Châu muốn đề cập đến trong tiểu thuyết này Có thể nói lịch sử thời kỳ này là bước tiếp theo của tiểu thuyết truyền thống và là cơ
Trang 39sở cho tiểu thuyết hiện đại phát triển rực rỡ trong thời kỳ sau (những năm
1930 – 1945 trở đi) “Trùng Quang tâm sử” là tiểu thuyết bản lề mang tính
thắt nút cho tiểu thuyêt cũ thời trung đại và mở đầu cho tiểu thuyết hiện đại Một trong những người đặt nền móng cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại là Phan Bội Châu Chúng ta phải nghi nhận đóng góp to lớn của Phan Bội Châu
về phương diện này
2.2 Tổ chức nhịp điệu trần thuật
2.2.1 Phối hợp các thành phần mang tính động và tĩnh trong trần thuật
Nhịp điệu trần thuật là một nội dung trong lý thuyết về tự sự nói chung Nhịp điệu trần thuật liên quan tới vấn đề kết cấu văn bản ngôn từ Kết cấu văn bản cùng với kết cấu hình tượng làm cho việc kể chuyện phải đạt được yêu cầu tạo hình và biểu hiện, để có khả năng tái hiện bức tranh đời sống và thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả một cách tối đa
Trong tác phẩm tự sự, các sự kiện (các cuộc gặp gỡ, hành động, biến cố
có khả năng làm cho nhân vật hành động và biến đổi về suy nghĩ, cảm xúc, nhận thức, thậm chí cả số phận) như những thành phần cơ bản của cốt truyện, thay thế lẫn nhau một cách năng động, thể hiện dòng chảy của đời sống hiện thực, góp phần làm cho cốt truyện phát triển có thể gọi các sự kiện là thành phần mang tính chất động trong cốt truyện Sự kết tiếp của chúng làm cho câu chuyện có mở đầu, diễn biến và kết thúc
Song việc trần thuật cốt truyện không chỉ dừng lại ở những sự kiện, ,mà còn chú ý tới các thành phần khác, mang tính chất tĩnh tại như các đoạn giới thiệu tiểu sử nhân vật, miêu tả chân dung ngoại cảnh (đồ vật, môi trường thiên nhiên), tái hiện tâm trạng, các đoạn đối thoại, độc thoại, bình luận trực tiếp của các tác giả, các đoạn trữ tình ngoại đề, các câu chuyện được kể xen vào,
Sự phối hợp luân phiên xen kẽ các thành phần mang tính động và tĩnh trong trần thuật sẽ tạo nên nhịp điệu trần thuật
Trang 40Sự luân phiên các thành phần đó có thể nhanh hoặc chậm, tuỳ thuộc vào bức tranh tạo hình và biểu hiện của thế giới được miêu tả Như vậy nhịp điệu trần thuật trước tiên thể hiện qua tốc độ trần thuật
Nhịp điệu trần thuật có thể lúc chậm rãi, đều đều, lúc lại nhanh chóng, gấp gáp
Nếu như người kể tập trung vào các sự kiện, nghĩa là chú ý tới thành phần mang tính động thì tốc độ trần thuật sẽ nhanh Còn nếu dừng lâu ở các thành phần tĩnh tại, mở rộng miêu tả, bình luận với các câu chuyện xen vào thì tốc độ trần thuật trở nên chậm rãi
Tập Hậu Trần dật sử kể về quá trình thành lập, phát triển và đi đến thắng lợi của nghĩa quân trại Trùng Quang, tác phẩm được chia thành hai mươi ba tiết, mỗi tiết lại gắn với những sự kiện và địa điểm cụ thể, mỗi tiết thể hiện những yếu tố của nhịp điệu trần thuật như xen kẽ các thành phần động và tĩnh, tốc độ trần thuật, những trọng tâm, điểm nhấn, điểm dừng và sự lặp lại như những chủ âm cảm xúc
Những đoạn miêu tả khung cảnh thiên nhiên được miêu tả với nhịp
điệu chậm rãi “Mặt trời sáng sớm mới nhô trên mặt biển, sương mai còn đọng giọt xuống cây rừng Trời về mùa đông gió rét như cắt” “Chập tối, chim bay về tổ, cành lá la đà, ngọn đèn to lớn kia đã lơ lửng trên bầu trời, toả ánh sáng xuống mặt sân sơn trại”
Hay những đoạn miêu tả nhân vật, những cuộc hội họp tố cáo tội ác kẻ thù, được miêu tả với nhịp điệu chậm rãi; những đoạn kể về số phận các nhân vật
Trong cuộc họp của các anh hùng sơn trại mọi người đều cố gắng đến
sớm, duy chỉ có anh Phấn đến muộn “Mọi người chờ đợi hơn nửa tiếng đồng
hồ, thì ở ngoài cửa trại nghe có tiếng chân thình thịch, bỗng thấy bóng hai người hiện ra, đi trước là một chàng thanh niên vạm vỡ, theo sau là một cô gái đẹp, trạc chừng 18,19 tuổi” Khi hai người bước vào không khí buổi họp