1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Quản lý công: Quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

128 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn tập trung nghiên cứu về đề xuất các giải pháp tối ưu nhất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với người có công trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2014 đến năm 2018.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

/ ./

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ MỸ LỆ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG

VỚI CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

/ ./ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ MỸ LỆ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG

VỚI CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

MÃ SỐ: 8340403

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN HOÀNG ANH

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mỹ Lệ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành đề tài Luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của quý thầy giáo, cô giáo và đồng nghiệp Luận văn cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các tạp chí chuyên ngành của nhiều tác giả Bản thân học viên trong quá trình nghiên cứu Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công với

đề tài “Quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” đã có những nỗ lực, cố gắng để vừa hoàn thành

nhiệm vụ công tác vừa hoàn thành đề tài

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Hoàng Anh đã trực tiếp hướng dẫn khoa học đã trực tiếp dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, đơn vị công tác, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Mỹ Lệ

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 7

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8

7 Kết cấu của luận văn 9

Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 10

1.1 Một số khái niệm cơ bản 10

1.1.1 Khái niệm người có công với cách mạng 10

1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước 14

1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng 16

1.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng 17

1.2.1 Xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật về người có công với cách mạng 17

1.2.2 Tổ chức thực hiện chính sách pháp luật đối với người có công với cách mạng 21

1.2.3 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết các khiếu nại, tố cáo việc thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng 28

1.2.4 Hợp tác quốc tế về người có công với cách mạng 30

1.3 Sự cần thiết QLNN đối với người có công với cách mạng 32

1.3.1 Tạo hành lang pháp lý 32

Trang 6

1.3.2 Đảm bảo thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về

người có công với cách mạng 35

1.3.3 Phát huy, giữ gìn truyền thống dân tộc 38

1.4.1 Tỉnh Quảng Trị 39

1.4.2 Tỉnh Kiên Giang 40

1.4.3 Tỉnh Bắc Giang 41

Tiểu kết Chương 1 44

Chương 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 45

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 45

2.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 50

2.2.1 Thực trạng ban hành chính sách, pháp luật về người có công với cách mạng 50

2.2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đối với người có công với cách mạng 52

2.2.3 Thực trạng thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật đối với người có công với cách mạng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 68

2.2.4 Thực trạng hợp tác quốc tế trong quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 70

2.3 Đánh giá chung 72

2.3.1 Những thành tựu 72

2.3.2 Những hạn chế 77

2.2.3 Nguyên nhân 83

Tiểu kết chương 2 88

Trang 7

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TRÊN

ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 89

3.1 Định hướng 89

3.1.1 Định hướng của Trung ương 89

3.1.2 Định hướng của Thành phố Hồ Chí Minh 91

3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 95

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của thành phố Hồ chí Minh 95

3.2.2 Hoàn thiện tổ chức bộ máy 99

3.2.3 Tăng cường công tác quản lý nhà nước kiểm tra, giám sát ngăn ngừa các biểu hiện tiêu cực trong thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng 107

3.3 Kiến nghị 112

3.3.1 Đối với Sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh 112 3.3.2 Đối với Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh 114

3.3.3 Đối với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội 115

KẾT LUẬN 116

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 LĐTBXH Lao động Thương binh và Xã hội

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Kế thừa truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ giải phóng dân tộc, truyền thống đất nước, hàng triệu người con ưu tú đã dũng cảm chiến đấu, hy sinh Chiến tranh không những để lại nhiều nỗi đau cho các gia đình liệt sỹ, mà có những người lính đang mang trong mình những vết thương, những căn bệnh hậu quả một phần xương máu của mình vì tự do của Tổ Quốc, vì cuộc sống yên bình của thế hệ hôm nay và mai sau

Ngày nay, đất nước ngày càng phát triển về mọi mặt, cuộc sống của đại

đa số người dân đã và đang ấm no hạnh phúc, nhưng cũng không ít những hoàn cảnh gia đình và những người có công cần được giúp đỡ Cả dân tộc Việt Nam sẽ ghi sáng trong tim, lòng biết ơn những người đã dùng máu đào

“Tô thắm lá cờ Tổ Quốc”, sự hy sinh đó đã cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do, sự hy sinh, cống hiến to lớn của các bậc cách mạng tiền bối, các anh hùng liệt sĩ, thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công mãi mãi được khắc ghi trong trái tim mỗi người Việt Nam ta, là nguồn lực tinh thần quý báu, tiếp thêm sức mạnh để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng, phát triển, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam muôn vàn yêu quý của chúng ta

Phát huy đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, chế độ và đặc biệt tổ chức vận động toàn dân, toàn quân chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách

Trang 10

mạng để phần nào chia sẻ những đau thương mất mát, đồng thời giáo dục thế

hệ trẻ về đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta

Cùng với chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước, hoạt động đền ơn đáp nghĩa được vận động thành phong trào sâu rộng trong quần chúng nhân dân với lòng biết ơn sâu sắc và trách nhiệm cao cả Phong trào toàn dân giúp

đỡ chăm sóc thương binh bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng không ngừng phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu Thành phố Hồ Chí Minh chú trọng thực hiện chính sách ưu đãi với người có công, cụ thể hóa các chủ trương, chính sách, xây dựng bộ máy tổ chức, bố trí nguồn lực để chăm lo cho đời sóng người có công được nâng lên Tuy nhiên, khi đưa chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta vào cuộc sống đã bộc lộ một số hạn chế nhất định Chính sách còn nhiều điểm chưa phù hợp, nhiều người có công vẫn chưa được công nhận và hưởng chính sách ưu đãi; còn nhiều quy định chồng chéo, mâu thuẫn, chưa sát với thực tế nên khó tổ chức thực hiện; công tác tổ chức đưa vào thực tế còn gặp nhiều khó khăn, chưa thực sự công bằng với người có công với đất nước; năng lực đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế; hiệu lực hiệu quả quản lý chưa cao; bố trí nguồn nhân lực chưa tương xứng với yêu cầu Tại thành phố Hồ Chí Minh, công tác quản lý nhà nước đối với NCC cũng luôn được quan tâm của Đảng và chính quyền địa phương nhưng vẫn còn nhiều bất cập như: Hồ sơ giải quyết chế độ chính sách

ưu đãi đối với người có công còn chậm, hồ sơ tồn đọng lớn, nhiều hài cốt chưa được quy tập và đưa vào nghĩa trang, số mộ liệt sĩ chưa xác định rõ họ tên vẫn còn lớn, phát hiện 25 trường hợp làm giả hồ sơ người có công Công tác chi trả còn nhiều bất cập, người có công ngày càng lớn tuổi, nhiều trường hợp đã cao tuổi không thể đi lĩnh trợ cấp phải ủy quyền cho người thân đi lĩnh thay nhưng thời gian ủy quyền ngắn (không quá 03 tháng) dẫn đến gia đình người có công vẫn còn chưa thực sự hài lòng Công tác lưu trữ hồ sơ không

Trang 11

liên tục, còn nhiều thiếu sót, bất cập và không có hướng dẫn cách thức lưu trữ dẫn đến thất lạc hồ sơ, khó khăn khi quản lý và tìm kiếm hồ sơ người có công

Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “ Quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận

văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ưu đãi đối với người có công là một trong những nội dung được nhiều người quan tâm Trong thời gian qua đã có những công trình nghiên cứu, bài viết được công bố; tác giả là những nhà làm công tác quản lý, các nhà nghiên cứu, học viên cao học Những công trình, bài viết tác giả đã nghiên cứu có thể kể đến như sau:

Các bài báo, bài viết

Nguyễn Duy Kiên - Phó Cục trưởng Cục Người có Công, Bộ LĐTB&XH, chính sách Người có công là trách nhiệm của toàn dân, Tạp chí Tuyên giáo số 7/2012 Qua bài viết này, tác giả khái quát một số thành tựu của chính sách ưu đãi đối với người có công trong những năm qua, đi sâu vào đánh giá, tìm hiểu nguồn lực thực hiện chính sách ở nước ta Khẳng định nguồn lực của nhà nước thông qua chế độ trợ cấp ưu đãi thường xuyên ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong việc ổn định đời sống đối với người có công với cách mạng

Nguyễn Danh Tiên - Chủ trương của Đảng đối với thương binh, liệt sỹ thời kỳ đổi mới – tạp chí Khoa học quân sự tháng 7 năm 2012, Trung tâm thông tin khoa học quân sự, Bộ Quốc phòng Tác giả hệ thống một cách khái lược những quan điểm, chủ trương của Đảng đối với công tác thương binh liệt

Trang 12

sỹ từ năm 1996 đến năm 2012, đánh giá thực trạng thực hiện chủ trương của Đảng về vấn đề này và đề ra những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn công tác thương binh, liệt sỹ trong thời gian tới

Lê Xuân Cử - Thiết thực tri ân những người có công với cách mạng – tạp chí Cộng sản tháng 7 năm 2017, tri ân người có công với cách mạng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của cả xã hội đối với những người đã đóng góp công sức, xương máu cho sự nghiệp cách mạng để chúng ta có được hòa bình, thống nhất, độc lập, tự chủ trong xây dựng và phát triển hôm nay Bên cạnh việc động viên, tôn vinh về tinh thần, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị phấn đấu để người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình ở nơi cư trú

Trần Đơn - Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, bài viết trên báo Tạp chí Cộng sản tháng 7/2018 về “Quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng” bài viết khẳng

định chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng là một

trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta Đây là một vấn đề chính trị - xã hội của quốc gia, dân tộc Trong những năm qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn quan tâm và dành những tình cảm, trách nhiệm để chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công bằng những chính sách cụ thể, thiết thực và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng Điều đó thể hiện đạo lý và truyền thống “uống nước, nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc Việt Nam Tài liệu hướng dẫn thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng của Cục Người có công năm 2017: Đã giới thiệu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến chính sách ưu đãi đối với NCC, giải đáp một số thắc mắc về chính sách NCC thường gặp

Trang 13

Các luận văn, luận án

Luận án Tiến sĩ Triết học của Nguyễn Xuân Triều “Chính sách an sinh

xã hội và vai trò của Nhà nước trong thực hiện chính sách an sinh xã hội” (Học viện khoa học xã hội – Học viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam –

Hà Nội 2013): Luận án đã nêu lên tính tất yếu phải có các chính sách an sinh

xã hội tại Việt Nam trong đó có chính sách ưu đãi đối với NCC, vai trò của Nhà nước trong thực hiện chính sách an sinh xã hội, liên quan đến chính sách

ưu đãi đối với NCC luận án cũng đưa ra một số giải pháp về nâng cao hiệu quả hoạt động thực hiện chính sách an sinh xã hội như huy động sự tham gia của nhân dân, cải cách bộ máy hành chính, kết hợp chính sách an sinh xã hội với chính sách phát triển kinh tế

Luận án Tiến sĩ chuyên ngành quản lý hành chính công của Lê Văn Hòa: “Quản lý theo kết quả trong thực thi chính sách công ở Việt Nam” (Học viện hành chính quốc gia – Hà Nội 2015): Luận án đã nghiên cứu thực trạng thực thi chính sách tại Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2013 và nêu ra những

cơ sở lý luận, sự cần thiết phải áp dụng mô hình quản lý theo kết quả trong thực thi chính sách công tại Việt Nam

Luận án Tiến sĩ chuyên ngành chính trị học của Lê Anh: “Thực thi chính sách an sinh xã hội ở thành phố Đà Nẵng hiện nay thực trạng và giải pháp” (Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – Hà Nội 2017): Luận án đã nghiên cứu cơ sở lý luận, tình hình thực thi chính sách an sinh xã hội tại thành phố Đà Nẵng gồm chính sách đối với người có công với cách mạng, người nghèo, chính sách bảo trợ xã hội từ đó đưa ra những giải pháp để nâng cao chính sách an sinh xã hội tại thành phố Đà Nẵng Trong đó đối ưu đãi đối với người có công với cách mạng tác giả đưa ra một số giải pháp về hỗ trợ phát triển nhà ở

Trang 14

Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của Lê Thị Hải Âu năm 2012 “Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công ở An Giang" Luận văn làm rõ

cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức thực thi chính sách xã hội đối với người có công, đề xuất giải pháp khả thi đối với nhà nước, chính quyền địa phương để hoàn thiện công tác quản lý nói chung và thực hiện chính sách xã hội đối với người có công phù hợp điều kiện thực tế ở An Giang

Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Phan Quốc Trung năm 2017 “Quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” Luân văn trên đứng từ góc độ QLNN đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN đối với người có công Song các giải pháp chỉ ứng dụng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Các công trình nghiên cứu trên đứng ở nhiều góc độ khác nhau bàn về chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, tuy nhiên chưa có

luận văn nào nói về quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng

trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích:

- Luận văn tập trung nghiên cứu về đề xuất các giải pháp tối ưu nhất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với người có công trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2014 đến năm 2018

Nhiệm vụ:

Trang 15

- Hệ thống hóa lý thuyết của QLNN đối với người có công với cách mạng

- Mô tả, phân tích thực trạng QLNN đối với người có công với cách mạng

- Đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế của QLNN đối với người

có công với cách mạng trên địa bàn TP HCM

- Đưa ra các giải pháp hoàn thiện QLNN đối với người có công với cách mạng trên địa bàn TP HCM

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu: QLNN đối với người có công với cách mạng trên địa bàn TP HCM

Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi về thời gian: từ năm 2014 đến nay và tầm nhìn đến năm 2025

và những năm tiếp theo

+ Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:

+ Phương pháp tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích hình thành một hệ thống lý thuyết của quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng Phương pháp tông hợp được sử dụng tập trung ở chương 1 luận văn

Trang 16

+ Phương pháp phân tích để xử lý các dữ liệu nhằm tạo lập hệ thống thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu, đánh giá các khía cạnh hay phương diện thực hiện quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng Phương pháp này chủ yếu được sử dụng ở chương 2 luận văn

+ Phương pháp thống kê là nghiên cứu của tập hợp nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm phân tích, giải thích, trình bày và tổ chức dữ liệu Phương pháp thống kê để thu thập tất cả các dữ liệu liên quan đến quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng như: số lượng đối tượng người có công,

số lượng mộ liệt sĩ, số lượng đối tượng chăm sóc tại cơ sở điều dưỡng

+ Phương pháp so sánh để làm nổi bật được những kết quả đạt được cũng như những tồn tại hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong công tác QLNN đối với người có công với cách mạng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trang 17

Góp phần tích cực phát huy hơn nữa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc ta

- Những nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho giảng viên, học viên, các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này

- Các giải pháp có thể được sử dụng ngay trong cơ quan nơi tác giả làm việc và những cơ quan khác có cùng chức năng, nhiệm vụ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời cảm ơn, phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo danh mục từ viết tắt, luận văn được kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước đối với người có công với

cách mạng

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với người có công với cách

mạng trên đại bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ

CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm người có công với cách mạng

Xác định người có công với cách mạng ở từng thời kỳ có sự thay đổi nhất định và được quy định trong các văn bản của Đảng, Nhà nước Trước đây thường được hiểu theo nghĩa hẹp mà theo đó người có công với cách mạng chỉ là những người có công đóng góp trong các cuộc kháng chiến, người trực tiếp tham gia các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước

Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc giai đoạn hiện nay, người có công với cách mạng được mở rộng hơn, họ là những người có thành tích hoặc cống hiến xuất sắc phục vụ cho lợi ích của dân tộc được cơ quan của nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật Những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trên các lĩnh vực khoa học, văn nghệ, văn hóa, an ninh trật tự, chữa cháy, phòng chống thiên tai Theo cách hiểu này thì người có công với nước

là một khái niệm rộng, đồng thời là một phạm trù lịch sử bao gồm không chỉ

là những người công tác trong lực lượng vũ trang mà còn có các đối tượng thuộc các lực lượng khác

Tuy nhiên, từ trước đến nay cũng chưa có một khái niệm chính thức nào

về NCC Hầu hết mọi người đều hiểu NCC là những người đã có những đóng

Trang 19

góp cho cách mạng Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,

đế quốc Mỹ và cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc Nhưng hiện nay khi đất nước đang hòa bình vẫn có những người có hành động dũng cảm vì lợi ích của nhân dân mà hy sinh hoặc bị thương đã được công nhận là liệt sĩ, thương binh

Như vậy, căn cứ vào các quy định của Nhà nước, tiêu chuẩn để công

nhận “NCC là người Việt Nam không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam, nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ của mình

vì nền độc lập, tự do của dân tộc, vì tài sản của nhà nước, tính mạng của nhân dân Những người này có thành tích xuất sắc và được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định của Pháp luật”

Theo quy định tại PL ưu đãi đối với người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005; PL số 04/2012/PL-UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của PL

ưu đãi đối với người có công với cách mạng thì NCC bao gồm:

- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945

- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

Trang 20

- Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công"

- Bà mẹ Việt Nam anh hùng là những bà mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây được tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”:

Có 2 con trở lên là liệt sĩ; chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sĩ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; chỉ có 1 con mà người con

đó là liệt sĩ; có 1 con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ; có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên”

- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là những người có hành động anh hùng, trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, giữ gìn an ninh, trật tự,

an toàn xã hội; có phẩm chất đạo đức cách mạng, là tấm gương mẫu mực về mọi mặt được nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng

vũ trang nhân dân”

- Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến là những người trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội, có đạo đức cách mạng, có tinh thần đoàn kết, lao động dũng cảm và sáng tạo, lập được thành tích đặc biệt xuất sắc trong sản xuất và công tác phục vụ kháng chiến được nhà nước tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động”

- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh: Thương binh

là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh” Người hưởng chính sách như thương binh là người không phải là quân nhân, công an nhân dân, bị thương

Trang 21

làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên được cơ quan có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh"; Thương binh loại B là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, công tác đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993 Như vậy thương binh, người hưởng chính sách như thương thương binh, thương binh loại B được gọi chung là thương binh

- Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 41% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan, đơn vị

có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh"

- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là người được

cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hoá học, bị mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động, sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh do hậu quả của chất độc hoá học

- Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong thời gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm tay sai cho địch

- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế là người tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến

- Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: Người được tặng Kỷ

Trang 22

niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước"; Người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước" trước cách mạng tháng Tám năm 1945; Người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến; Người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến Theo PL ưu đãi với NCC thì không chỉ NCC được hưởng chế độ ưu đãi

mà thân nhân của họ bao gồm (cha, mẹ, vợ, chồng, con) của NCC cũng được các chế độ ưu đãi của Nhà nước và xã hội Thân nhân của NCC mặc dù không phải người trực tiếp đóng góp, hy sinh cho đất nước, dân tộc nhưng lại là những người bị thiệt thòi trực tiếp khi NCC hy sinh tính mạng, mất đi một phần thân thể vì tổ quốc, vì nhân dân Những người mẹ có con hy sinh sẽ không có người chăm sóc, người vợ sẽ mất nơi nương tựa, những đứa trẻ sẽ mất đi người nuôi dưỡng, chăm sóc Nên suy cho cùng thì chăm sóc cho thân nhân NCC là trách nhiệm của nhà nước và nhân dân và mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc và cũng vì mục tiêu an sinh xã hội

1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước

Để nghiên cứu khái niệm QLNN, trước hết cần làm rõ khái niệm “quản lý” Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc

độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội

Theo quan niệm của Các Mác (Karl Marx) “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô

Trang 23

tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó Một nhạc công tự điều khiến mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng ” Tức theo Mác quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cải thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất Ở đây Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành

vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rộ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý Như vậy, QLNN là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội QLNN được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt

Theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu

Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, “QLNN là sự tác động có

tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội

và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ

xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ người nghiên cứu Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học

Trang 24

xã hội và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội

QLNN được đề cập trong đề tài này bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn để tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước Hoạt động QLNN chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước

uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật

1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng

Từ các khái niệm: QLNN, người có công với cách mạng và các khái

niệm liên quan, có thể hiểu “QLNN đối với người có công với cách mạng là quá trình ban hành chính sách pháp luật về ưu đãi người có công cho đến việc tổ chức, điều hành của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước nhằm thực hiện tốt trách nhiệm của Nhà nước trong việc đãi ngộ, ưu tiên đặc biệt

về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần đối với những công dân có những hy sinh, cống hiến với đất nước”

Trong đó, Chính phủ thống nhất QLNN đối với người có công với cách cách mạng Bộ LĐ-TB&XH tham mưu trực tiếp cho Chính phủ thực hiện QLNN đối với người có công với cách mạng, Bộ, ngành liên quan trong phạm

vi, quyền hạn có trách nhiệm QLNN đối với người có công UBND các cấp thực hiện chức năng QLNN đối với người có công trên phạm vi đơn vị hành

Trang 25

chính của cấp mình; Sở LĐ-TB&XH cấp tỉnh thực hiện chức năng QLNN đối với người có công trên địa bàn tỉnh và tham mưu với UBND tỉnh, các Sở ban ngành cấp tỉnh thực hiện chức năng QLNN đối với người có công trong phạm

vì nhiệm vụ của mình; Phòng LĐ-TB&XH cấp huyện thực hiện chức năng QLNN đối với người có công, tham mưu UBND cấp huyện QLNN đối với người có công; công chức Văn hóa Xã hội tham mưu UBND cấp xã thực hiện QLNN đối với người có công trên địa bàn cấp xã

1.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng

1.2.1 Xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật về người có công với cách mạng

Ngay trong cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ, Bác đã ký một loạt Sắc lệnh nhằm giải quyết chế độ chính sách cho thương binh, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ như: Sắc lệnh số 20-SL ngày 16-2-1947 quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất cho thương nhân tử sĩ; Sắc lệnh số 58-SL ngày 6-6-1947, tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập để thưởng hoặc truy tặng cho đoàn thể hay những người có công với nước, với dân hoặc tặng cho các nhân vật ngoại quốc đã có công với nước Việt Nam và quy định việc tặng thưởng…

Pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng là công cụ quan trọng trong quản lý nhà nước đối với NCC với cách mạng Pháp luật ưu đãi đối với người có công thể hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công; tạo môi trường pháp lý thuận lợi để cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nâng cao nhận thức, tham gia tích cực vào việc đền ơn, đáp nghĩa, chăm lo cho người ó công, tạo sự đồng thuận cao, góp phần đảm bảo

Trang 26

công bằng xã hội và tạo điều kiện thuận lợi cho người có công xây dựng cuộc sống, khẳng định vai trò trong công đồng xã hội

Ngay sau khi nước nhà thống nhất, Điều 74 Hiến pháp được ban hành năm 1980 đã ghi nhận và quy định những chính sách ưu đãi đối với NCC

“Nhà nước thực hiện chính sách ưu đãi đối với thương binh và gia đình liệt sĩ, tạo điều kiện cho thương binh phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khỏe và có cuộc sống ổn định; những người và gia đình có công với cách mạng được khen thưởng và chăm sóc”

Đến Hiến pháp năm 1992 tiếp tục bổ sung đối tượng người có công cụ thể tại Điều 67 quy định “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định; những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc”

Theo Khoản 1 Điều 59 Hiến pháp năm 2013 quy định “Nhà nước, xã hội

tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với nước”

Như vậy trong các bản Hiến pháp của nước ta đã quy định việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với NCC là trách nhiệm của Nhà nước và của xã hội

Tại Điều 34 Pháp lệnh ưu đãi đối với NCC năm 2005 và Pháp lệnh ưu đãi đối với NCC năm 2012 bổ sung tiếp tục quy định “Chính phủ thống nhất quản

lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước

về ưu đãi người có công với cách mạng; Bộ, ngành có liên quan trong phạm

Trang 27

vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước

về ưu đãi người có công với cách mạng; UBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng trong phạm vi địa phương mình;

cơ quan LĐTBXH địa phương giúp UBND cùng cấp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng tại địa phương”

Ngoài quy định của Pháp lệnh ưu đãi đối với NCC thì trong các văn bản luật khác cũng quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về thực thi chính sách ưu đãi đối với NCC như: Luật Đất đai năm 2013 quy định về chế

độ miễn giảm tiền sử dụng đất, cho thuê đất “Việc miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được thực hiện: Sử dụng đất để thực hiện chính sách nhà ở, đất ở đối với người có công với cách mạng”; Tại Luật Việc làm năm 2013 quy định “Thân nhân của người có công với cách mạng có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được Nhà nước hỗ trợ: Học nghề, ngoại ngữ; hiểu biết phong tục tập quán, pháp luật của Việt Nam và nước tiếp nhận lao động; đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để đáp ứng yêu cầu của nước tiếp nhận lao động; vay vốn với lãi suất ưu đãi”

Pháp lệnh được ban hành thì sẽ có một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành như Nghị định của chính phủ, Thông tư của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Thông tư liên tịch do các Bộ phối hợp ban hành Theo quy định hiện nay thì thực thi chính sách ưu đãi đối với chủ yếu được quy định tại các văn bản hướng dẫn như sau:

Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng trong đó đã quy định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành trong thực thi chính sách ưu đãi đối với NCC

Trang 28

Thông tư 05/2014/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013 của Bộ LĐTBXH hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi người

có công với cách mạng và thân nhân

Ngoài ra còn nhiều Thông tư, Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện các chính sách ưu đãi đối với NCC như: Thông tư liên tịch số 28/2013/TTLT-BLĐTBXH-BQP ngày 22/10/2013 của Liên Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội và Bộ Quốc phòng hướng dẫn xác nhận liệt sỹ, thương binh trong chiến tranh không còn giấy tờ; Thông tư liên tịch số 41/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH hướng dẫn khám giám định bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm với chất độc hóa học đối với người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ

Tại Điều 110 Luật Đất đai năm 2013 quy định về chế độ miễn giảm tiền

sử dụng đất, cho thuê đất “Việc miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được thực hiện: Sử dụng đất để thực hiện chính sách nhà ở, đất ở đối với người có công với cách mạng”

Tại Điều 20 Luật Việc làm năm 2013 quy định “Thân nhân của người có công với cách mạng có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được Nhà nước hỗ trợ: Học nghề, ngoại ngữ; hiểu biết phong tục tập quán, pháp luật của Việt Nam và nước tiếp nhận lao động; đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để đáp ứng yêu cầu của nước tiếp nhận lao động; vay vốn với lãi suất ưu đãi”

Tại Điều 38 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định về nguyên tắc tuyển dụng công chức “Ưu tiên tuyển chọn người có công với nước”

Như vậy dựa trên quy định của Hiến pháp, các văn bản pháp luật đã quy định các chế độ độ ưu đãi đối với NCC từ chính sách trợ cấp ưu đãi hàng

Trang 29

tháng, miễn giảm tiền sử dụng đất, hỗ trợ và giải quyết việc làm, ưu tiên trong tuyển dụng… từ đó tạo hành lang pháp lý để các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương thực thi chính sách ưu đãi đối với NCC

1.2.2 Tổ chức thực hiện chính sách pháp luật đối với người có công với cách mạng

Theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng; Bộ LĐ-TB&XH chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện QLNN về ưu đãi người

có công với cách mạng; các Bộ, ngành có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện QLNN về ưu đãi người có công với cách mạng UBND các cấp thực hiện QLNN về ưu đãi người có công với cách mạng trong phạm vi địa phương mình: cơ quan LĐ-TB&XH địa phương giúp UBND cũng cấp trong việc thực hiện QLNN về ưu đãi người có công với cách mạng tại địa phương

Thông tư liên tịch số 37/2015TTLT-BLĐTBXH-BNV ngày 02 tháng 11 năm 2015 của Bộ LĐ-TB&XH Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở LĐ-TB&XH thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Phòng LĐ-TB&XH thuộc UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định Sở LĐ-TB&XH cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước đối với người có công trên địa bàn tỉnh với nhiệm vụ và quyền hạn: Trình UBND cấp tỉnh dự thảo quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; chương trình, đề án, dự án, hiện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước về người có công trong phạm vi quản lý nhà nước của Sở LĐ-TB8LXH; hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật đối với người có công với cách mạng; hướng

Trang 30

dẫn và tổ chức thực hiện quy hoạch hệ thống cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng, các công trình ghi công liệt sĩ; quản lý các công trình ghi công liệt sĩ theo phân cấp trên địa bản; chủ trì, phối hợp tổ chức công tác tiếp nhận và an táng hài cốt liệt sĩ; thông tin, báo tin về mộ liệt sĩ; thăm viếng mộ liệt sĩ, di chuyển hài cốt liệt sĩ; tham gia Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh về giám định thương tật và tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật đối với người có công với cách mạng; quản lý đối tượng,

hồ sơ đối tượng và kinh phí thực hiện các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ; hướng dẫn và tổ chức các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”; quản lý và sử dụng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” cấp tỉnh

Phân cấp QLNN là sự phân định thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp chính quyền trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp giữa khối lượng và tính chất thẩm quyền với năng lực và điều kiện thực tế của từng cấp nhằm tăng cường chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động QLNN Trong lĩnh vực người có công với cách mạng việc phân cấp được quy định trong các văn bản pháp luật

cụ thể:

Bộ Quốc phòng hướng dẫn về trình tự, thủ tục xác nhận, tổ chức thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng thuộc Bộ Quốc phòng quản lý; hướng dẫn và tổ chức thực hiện việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật về hành vi vi phạm pháp luật trong việc xác lập hồ sơ và thực hiện chế độ ưu đãi người có công thuộc Bộ Quốc phòng quân lý

Bộ Công an hướng dẫn về trình tự, thủ tục xác nhận, tổ chức thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng thuộc Bộ Công an quản lý; điều

Trang 31

tra, xử lý theo quy định của pháp luật về hành vi vi phạm pháp luật trong việc xác lập hồ sơ Và thực hiện chế độ ưu đãi người có công

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc lập, phân bổ dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc miễn, giảm thuế đối với người có công với cách mạng và hỗ trợ cơ sở vật chất, nguồn vốn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh; bảo đảm ngân sách thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng; kiểm tra, thanh tra việc sử dụng ngân sách thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng

Bộ Y tế hướng dẫn, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, bảo hiểm y tế đối với người có công với cách mạng; ban hành danh mục bệnh tật, dị dạng, dị tật do nhiễm chất độc hóa học để xác nhận người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học; hướng dẫn, quy định về tiêu chuẩn thương tật, bệnh tật, dị dạng, dị tật và tổ chức khám, giám định đối với thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con của người có công; hướng dẫn phương pháp tổng hợp tỷ lệ trong khám giám định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động

Bộ Xây dựng chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ về nhà ở đối với người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ bảo đảm phù hợp với hoàn cảnh, công lao đóng góp của từng nhóm đối tượng và khả năng ngăn sách [l0]

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện chế độ ưu tiên, ưu đãi trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp bằng các hình thức ưu tiên giúp đỡ về giống cây trồng, vật nuôi,

Trang 32

thủy lợi phí, chế biến nông sản, lâm sản, áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất; ưu đãi trong khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và khuyến diêm

và phát triển ngành nghề ở nông thôn đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ

Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính bố trí nguồn lực thực hiện chế độ ưu đãi quy định tại Nghị đinh này

Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện chế độ ưu đãi đối với người sử dụng đất là người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ; đất dành riêng cho các công trình ghi công liệt sĩ, các cơ sở sản xuất, kinh doanh của thương binh, bệnh binh, cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng, chỉnh hình, phục hồi chức năng cho thương binh, bệnh binh và những người có công với cách mạng khác

Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện việc ưu tiên trong tuyển sinh, đào tạo đối với người có công với cách mạng và con của họ tại các cơ sở thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, hướng dẫn các trường học thuộc hệ thông giáo dục quốc dân tham gia chăm sóc, giữ gìn các công trình ghi công liệt sĩ

Bộ Nội vụ hướng dẫn thủ tục tặng Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng

bị địch bắt tù đày và khen thưởng đối với người có công với cách mạng[l0]

Phòng LĐ-TB&XH là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện QLNN về người có công trên địa bàn huyện Nhiệm vụ và quyền hạn: Trình UBND cấp huyện ban hành quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành

Trang 33

chính nhà nước thuộc lĩnh vực QLNN được giao; tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực lao động, người có công và

xã hội được giao; theo dõi thi hành pháp luật Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể và nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn quy định nhiệm vụ của công chức Văn hóa xã hội tham mưu, giúp UBND cấp xã

tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong các lĩnh vực lao động, thương binh, xã hội theo quy định của pháp luật

Như vậy, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng được hình thành ở 4 cấp, trong đó Trung ương gồm Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng; Bộ LĐ-TB&XH chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện QLNN về ưu đãi người

có công với cách mạng; các Bộ ngành có liên quan có trách nhiệm thực hiện QLNN về ưu đãi người có công vơi cách mạng như: Bộ Quốc Phòng, Bộ Công an Bộ Tài chính Bộ Xây dựng Bộ Tài nguyên và Môi trường Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo…

Cơ quan QLNN cấp tỉnh gồm UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện QLNN về ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh; Sở LĐTB&XH thực hiện quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng tại địa phương cùng với các ngành chức năng có liên quan đóng vai trò chính trong tham mưu cho UBND tỉnh

Cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện gồm UBND huyện, thành phố, thị

xã thực hiện QLNN về ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bản; Phòng LĐTB&XH giúp UBND huyện thực hiện quản lý nhà nước về ưu đãi

Trang 34

người có công với cách mạng trong địa bàn cấp huyện và các phòng có liên quan

Cơ quan quản lý nhà nước cấp xã gồm UBND xã, phường, thị trấn thực hiện quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn; Công chức Văn hóa và Xã hội tham mưu UBND cấp xã thực hiện quản lý nhà

nước về ưu đãi người có công với cách mạng trong địa bàn cấp xã UBND

cấp xã là cấp cơ sở có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chế độ ưu đãi đối với NCC, trong đó cán bộ LĐTBXH tham mưu cho UBND cấp xã thực hiện

những văn bản Quy phạm pháp luật, các chương trình, kế hoạch của Chính

phủ, cấp tỉnh, huyện UBND cấp xã phối hợp với phòng LĐTBXH trong thực thi chính sách ưu đãi đối với NCC tại địa phương

Trên thực tế, chính sách công với cách mạng nhằm mục đích giải quyết các vấn đề cụ thể trong cái tổng thể, có mối liên hệ với nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau Vì thế, mục tiêu và các thước đo của những mục tiêu chính sách công rất đa dạng Gắn với mục tiêu công có thể liệt kê ra nhiều tiêu chí như: tính hiệu lực, tính hiệu quả, tính khả thi (về kinh tế, về chính trị, về hành chính), tính công bằng, tính hiệu suất, tính hợp hiến, tính thống nhất, tính minh bạch, tính thuận lợi, tính dân chủ, Tùy thuộc vào từng chính sách và việc xác định mục tiêu chính sách, cần phải xác định đúng tiêu chí cần thiết

để đánh giá Đối với chính sách ưu đãi đối với NCC theo luận văn cần áp dụng cách tiêu chí cụ thể là:

+ Tính hiệu lực của chính sách: Cũng như các chính sách khác để chính

sách ưu đãi đối với NCC được duy trì và tồn tại đồng thời đạt được mục tiêu chăm sóc NCC cũng như giáo dục truyền thống yêu nước, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, chính sách ưu đãi đối với NCC phải mang tính hiệu

lực

Trang 35

Tính hiệu lực của chính sách ưu đãi đối với NCC phản ánh tác dụng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với NCC, các chế độ chăm sóc sức khỏe đối với NCC, sự đồng thuận của NCC và nhân dân đối với chính sách

ưu đãi, sự tham gia của nhân dân trong thực thi chính sách ưu đãi đối với NCC Tính hiệu lực của chính sách được đo lường bằng mức độ mà hiệu quả của hoạt động đạt được mức mục tiêu

Tính hiệu lực của chính sách ưu đãi đối với NCC là khả năng có thể vận hành của chính sách ưu đãi đối với NCC được đánh giá thông qua tính toán về chi phí - lợi ích, khả năng ngân sách, nguồn lực và các điều kiện khác đảm bảo thực thi

Mức độ chấp nhận và ủng hộ của nhân dân vào chính sách ưu đãi đối với NCC Tiêu chí này cần khai thác sâu về các chỉ tiêu tác động đến môi trường

tự nhiên, xã hội (dân trí, tôn giáo, văn hóa, mức độ dân chủ), mở rộng sự tham gia, tính minh bạch, văn bản dễ hiểu, dễ áp dụng, Ngoài ra, cần phải đánh giá mức độ thống nhất với các chính sách đã ban hành, phù hợp với chính sách do cơ quan có thẩm quyền cấp trên và những các cam kết quốc tế

+ Tính hiệu quả của chính sách: Tính hiệu quả của chính sách ưu đãi đối

với NCC là độ lớn của kết quả thu được từ việc sử dụng nguồn lực cố định Nói cách khác, tính hiệu quả của chính sách được khẳng định chính sách ưu đãi đối với NCC có khả năng làm cho các nguồn lực phát huy hiệu suất lớn

nhất

+ Tính công bằng của chính sách: Không giống như chính sách của khu

vực tư, chính sách công là công cụ thực thi mục tiêu chung của Nhà nước và

xã hội Chính sách của Nhà nước nếu đảm bảo sự công bằng sẽ nhận được sự ủng hộ, đồng thuận cao, tạo động lực cho xã hội phát triển Tính công bằng vì

Trang 36

thế là một trong những tiêu chuẩn bắt buộc khi xem xét khả năng tồn tại và

giá trị của một chính sách công

+Tính trách nhiệm của các cấp, các ngành và từng cá nhân được giao nhiệm vụ thực thi chính sách: Khác với chính sách khác của Nhà nước: Chính

sách ưu đãi đối với NCC là một chính sách đặc biệt, cán bộ, công chức thường xuyên tiếp xúc với NCC là những người hy sinh xương máu, tính mạng và có nhiều đóng góp cho đất nước do đó tính trách nhiệm phải đưa thành một tiêu chí độc lập để đánh giá việc thực thi chính sách ưu đãi đối với NCC trên một địa phương

+Tính đầy đủ, kịp thời và đúng đối tượng: Thực thi chính sách ưu đãi

đối với NCC phải đảm bảo tính công bằng, hiệu lực, hiệu quả, trách nhiệm từ

đó hướng đến mục tiêu cao nhất đó là: thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ

ưu đãi đối với NCC, đồng thời phải đảm bảo đúng đối tượng

Ngoài ra công tác thống kê người có công với cách mạng được các cấp chính quyền địa phương chú trọng nhằm tổng hợp và thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước đối với người có công hiệu quả, góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước, củng cố đời sống, tinh thần cho người có công với cách mạng không để bỏ sót đối tượng người có công

1.2.3 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết các khiếu nại, tố cáo việc thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng

Thanh tra là sự xem xét, đánh giá và xử lý việc thực hiện pháp luật của

tổ chức, cá nhân do tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện theo trình tư pháp luật quy định nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể tổ chức, cá nhân khác

Trang 37

Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan Nhà nước, tổ chức trị xã hội nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình Qua kiểm tra các cơ quan, tổ chức đánh giá đúng mực việc làm của mình, từ đó để ra chủ trương, biện pháp, phương hướng hoạt động tiếp theo một cách họp lý hơn Trong trường hợp này, kiểm tra mang ý nghĩa xem xét, nhìn lại việc làm của chính mình để tự điều chỉnh, hay tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn hiệu quả hơn

Thanh tra, kiểm tra, là một trong những hoạt động quan trọng trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước Trong tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi đối với ngưòi có công với cách mạng, thông qua kiểm tra, thanh tra để phát hiện ra những khiếm khuyết của chế độ chính sách pháp luật để đề xuất điều chỉnh; phát hiện những sai phạm trong thực thi chính sách để xử lý, điều chỉnh kịp thời

Khiếu nại được hiểu là: “việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” (Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011)

Tố cáo được hiểu: “là việc công dân theo thủ tục báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” (Khoản 1, Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011)

Trang 38

Giải quyết khiếu nại, tố cáo là việc xác minh, kết luận và ra quyết định của người giải quyết khiếu nại, là việc xác minh, kết luận về nội dung và quyết định xử lý của người giải quyết tố cáo Trong lĩnh vực ưu đãi đối với người có công với cách mạng, những vụ việc liên quan đến khiếu nại, tố cáo

về những sai phạm trong thực hiện chế độ, chính sách đến việc xác nhận, công nhận người có công với cách mạng ảnh hưởng rất lớn đến trật tự xã hội,

tư tưởng chính trị, đặc biệt là ảnh hưởng đến việc giáo dục truyền thống cách mạng đối với thế hệ trẻ và quan trọng hơn hết sẽ làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng và nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức Vì vậy, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong thực hiện chính sách đối với người có công phải được giải quyết dứt điểm ngay từ cơ sở, đúng thời gian quy định, không để xảy ra tình trạng khiếu nại, tố cáo tồn đọng, kéo dài

1.2.4 Hợp tác quốc tế về người có công với cách mạng

Hợp tác quốc tế về người có công với cách mạng có vai trò quan trọng trong công tác thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng Qua quá trình tham gia chiến tranh chống Mỹ, chống Pháp bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Căm-pu-chia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ, chiến tranh biên giới tây bắc, không ít người đã hi sinh nhưng chưa tìm thấy hài cốt, vì vậy, công tác hợp tác quốc tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng để thực hiện đầy đủ chính sách, chế độ với liệt sĩ, thân nhân của gia đình liệt sĩ một cách chu đáo

Hợp tác quốc tế cho chúng ta được nhiều thông tin và tin tức liên quan

phục vụ trong công tác quản lý đối tượng chính sách, phát hiện ra hài cốt liệt

sĩ cũng như trao đổi thông tin, tìm kiếm hài cốt cho các nước tham gia chiến tranh ở nước ta trong thời gian kháng chiến

Trang 39

Thành phố Hồ Chí Minh có lịch sử lâu đời trong hai cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống Pháp, số lượng người có công rất lớn, chính vì vậy công tác Quản lý việc thực thi chính sách đối với người có công được sự quan tâm, phối hợp cùng các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội tích cực xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện, đã kịp thời tiến hành phổ biến, tuyên truyền chính sách; có sự phân công, phối hợp giữa các ngành, các cấp trong thực hiện chính sách Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách nếu gặp khó khăn đã chủ động để xuất các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung khắc phục những hạn chế, bất cập của chính sách Đồng thời, đã chú ý đến công tác theo dõi, kiểm tra, đôn đốc đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện chính sách Vì vậy quản lý nhà nước đối với người có công của thành phố đã đi vào cuộc sống, người có công thực hiện đầy đủ các chế độ, đời sống vật chất và tinh thần nâng cao Ngoài những công tác trên Sở Lao động Thương binh và xã hội thành phố tiếp tục phối hợp Ban Thi đua khen thưởng thành phố và Ủy ban nhân quận, huyện tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Tiếp tục tiếp nhận, kiểm tra, xét duyệt hồ sơ chế độ ưu đãi người có công và thân nhân theo Nghị định 31/2013/NĐ-CP và Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH; hồ sơ Bà Mẹ Việt Nam anh hùng theo Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà Mẹ Việt Nam anh hùng” và Nghị định số 56/2013/NĐ-CP về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt nam anh hùng”; Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 11 năm

2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với một số đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước; hồ sơ theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg về chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ Quốc tế ở Campuchia, giúp đỡ nước bạn

Trang 40

Lào sau ngày 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ; Quyết định số TTg ngày 14 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về trợ cấp một lần đối với người được cử làm chuyên gia sang giúp Lào và Campuchia; Nghị định150/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh Cựu chiến binh Tham mưu

57/2013/QĐ-Ủy ban nhân dân thành phố ban hành các chính sách nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công Tăng cường các giải pháp hỗ trợ gia đình người có công phát triển sản xuất, học nghề, tạo việc làm, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là các hộ trong diện nghèo, ở nông thôn, diện di dời, tái định cư Tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong thực hiện chính sách ưu đãi người có công Tổ chức kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách tại một số địa phương; hướng dẫn, kiểm tra công tác xác nhận và chi trả trợ cấp, phụ cấp, cho diện chính sách; hướng dẫn giải quyết hồ sơ tồn đọng các dạng và công tác đăng ký quản lý, công tác lưu trữ hồ sơ người có công tại một số quận huyện Duy trì và phát huy tích cực các phong trào vận động đền ơn đáp nghĩa trong toàn xã hội, nhằm tạo điều kiện chăm lo tốt hơn cho đời sống các gia đình chính sách trên địa bàn thành phố Nghiên cứu, kiến nghị Trung ương và Thành phố điều chỉnh những điểm chưa hợp lý trong thực hiện chính sách, chế độ đối với

1.3 Sự cần thiết QLNN đối với người có công với cách mạng

Ngày đăng: 09/03/2021, 10:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w