1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

74 260 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận chung về đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm toán báo cáo tài chính
Tác giả Phạm Thị Minh Hạnh
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Quang Quynh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kiểm Toán
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 195,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, các mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ rất rộng, chúng bao trùm lên mọi hoạt động và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của đơn vị.Theo Chuẩn mực Kiểm to

Trang 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ

TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1.Hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm toán tài chính

1.1.1 Bản chất hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý

Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý và về chức năng, về quy trình quản lý song trong quan hệ với sự tồn tại tất yếu của kiểm tra, kiểm soát trong quản lý thì vấn đề quản lý được nhìn nhận như sau:

Quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các hướng đã định trên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất Quá trình này bao gồm nhiều chức năng và có thể chia thành nhiều pha (giai đoạn): Ở giai đoạn định hướng cần có những dự báo về nguồn lực và mục tiêu cần và có thể đạt tới, kiểm tra lại các thông tin về nguồn lực và mục tiêu, xây dựng các chương trình, kế hoạch Sau khi các chương trình, kế hoạch đã được kiểm tra có thể đưa ra các quyết định cụ thể để tổ chức thực hiện Ở giai đoạn tổ chức thực hiện, cần kết hợp các nguồn lực theo phương án tối ưu, đồng thời thường xuyên kiểm tra diễn biến và kết quả của các quá trình để điều hoà các mối quan hệ, điều chỉnh các định mức và mục tiêu trên quan điểm tối ưu hoá kết quả hoạt động…

Rõ ràng, kiểm tra không phải là một giai đoạn hay một pha của quản lý

mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình này Bởi vậy cần quan niệm kiểm tra là một chức năng của quản lý Tuy nhiên, chức năng này được thể hiện rất khác nhau tuỳ thuộc vào cơ chế kinh tế và cấp quản lý, vào loại hình hoạt động cụ thể, vào truyền thống văn hoá và những điều kiện kinh

tế – xã hội khác của mỗi nơi trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể

Về phân cấp quản lý, có rất nhiều mô hình khác nhau song chung nhất thường là phân thành quản lý vĩ mô và quản lý vi mô Dĩ nhiên trong nhiều trường hợp, giữa hai cấp quản lý cơ bản nói trên còn có cấp quản lý trung gian vừa chịu sự quản lý vĩ mô của cấp trên, vừa thực hiện chức năng quản lý đối

Trang 2

với đơn vị cấp dưới Trong mọi trường hợp để đảm bảo hiệu quả hoạt động, tất yếu mỗi đơn vị cơ sở đều tự kiểm tra mọi hoạt động của mình trong tất cả các khâu: rà soát các tiềm năng, xem xét lại các dự báo, các mục tiêu và định hướng, đối chiếu và truy tìm các thông số về sự kết hợp, soát xét lại các thông tin thực hiện để điều chỉnh kịp thời trên quan điểm bảo đảm hiệu năng của mọi nguồn lực và hiệu quả kinh tế cuối cùng của các hoạt động Công việc rà soát này có tên gọi là kiểm soát Một cách chung nhất, kiểm soát được hiểu là tổng hợp những phương sách để nắm lấy và điều hành đối tượng hoặc khách thể quản lý Với ý nghĩa đó, kiểm soát có thể hiểu theo nhiều chiều: cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua chính sách hoặc biện pháp cụ thể; đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thông qua việc chi phối đáng kể về quyền sở hữu và lợi ích tương ứng; nội bộ đơn vị kiểm soát lẫn nhau thông qua quy chế và thủ tục quản lý… Tuy nhiên, thông dụng nhất vẫn là kiểm soát nội bộ đơn vị.

Trong khi đó, với cương vị quản lý vĩ mô, Nhà nước cũng thực hiện chức năng kiểm tra của mình hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp Ở mức trực tiếp (thông thường với tư cách chủ sở hữu), Nhà nước trực tiếp kiểm tra mục tiêu chương trình – kế hoạch, kiểm tra các nguồn lực, kiểm tra quá trình và kết quả thực hiện các mục tiêu của các đơn vị, kiểm tra tính trung thực của các thông tin và tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ… Với các đối tượng trên, việc kiểm tra có thể được thực hiện thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất với một hoặc nhiều đối tượng Trong kiểm tra trực tiếp, thường có ngay các kết luận làm rõ vụ việc được kiểm tra thậm chí có thể có ngay quyết định điều chỉnh, xử lý gắn với kết luận kiểm tra Công việc kiểm tra này được gọi là thanh tra

Ở mức gián tiếp, Nhà nước có thể sử dụng kết quả kiểm tra của các chuyên gia hoặc các tổ chức kiểm tra độc lập để thực hiện điều tiết vĩ mô qua các chính sách của mình (đặc biệt là chính sách thuế, bảo hiểm, công trái…) hoặc tham gia đầu tư hay với cương vị là khách hàng của các đơn vị… Dĩ nhiên, trong lịch sử không bao giờ vai trò kiểm tra của Nhà nước, của các

Trang 3

chuyên gia, các tổ chức kiểm toán cũng như nhau Tuy nhiên, từ góc độ đơn

vị cơ sở, kiểm tra của tất cả các tổ chức, chuyên gia bên ngoài đều được gọi là ngoại kiểm

Về loại hình hoạt động, cũng có nhiều loại cụ thể khác nhau Theo mục tiêu của các hoạt động có thể quy về hai loại hoạt động cơ bản: hoạt động kinh doanh và hoạt động sự nghiệp Với hoạt động kinh doanh, lợi nhuận được coi là mục tiêu và là thước đo chất lượng hoạt động Do đó, kiểm tra cần hướng tới hiệu quả của vốn, của lao động, của tài nguyên Trong khi đó hoạt động sự nghiệp có mục tiêu chủ yếu là thực hiện tốt nhiệm vụ cụ thể về xã hội, về quản lý trên cơ sở tiết kiệm kinh phí cho việc thực hiện nhiệm vụ đó Trong trường hợp này, kiểm tra thường xem xét hiệu năng của quản lý thay cho hiệu quả trong kinh doanh

Ngay trong bản thân hoạt động kinh doanh cũng rất đa dạng: sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, xây lắp, vận tải, du lịch… Những hoạt động này tuy đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận song lại khác nhau về lĩnh vực tạo ra lợi nhuận, về cơ cấu các nguồn sử dụng, về quy trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ và từ đó khác nhau về cơ cấu chi phí, thu nhập… Do vậy, nội dung và phương pháp cụ thể của kiểm tra, đặc biệt là kiểm tra nghiệp vụ kinh doanh cũng có sự khác biệt đáng kể

Trong quan hệ sở hữu cũng cần chỉ rõ hai hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân Tuy nhiên, các đơn vị thuộc cả hai hình thức này thông thường đều chịu sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước nên đều cần được kiểm tra kết quả hoạt động theo những chuẩn mực chung Tuy nhiên, với các đơn vị thuộc sở hữu nhà nước, Nhà nước vừa là chủ sở hữu, vừa là người điều tiết hoạt động nên công việc kiểm tra thường do một bộ máy chuyên môn của Nhà nước tiến hành Trong khi đó các đơn vị thuộc sở hữu tư nhân theo quy định của pháp luật cụ thể có quyền lựa chọn đơn vị (cá nhân) làm nhiệm vụ kiểm tra kết quả hoạt động trên báo cáo tài chính

Trang 4

Trong quan hệ truyền thống văn hoá và các điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau có ảnh hưởng đến kiểm tra cần đặc biệt chú trọng trình độ kinh tế

và dân trí, trình độ quản lý, tính kỷ cương và truyền thống luật pháp Những yếu tố này có ảnh hưởng tới quản lý đồng thời tác động đến sự khác biệt trong cách thức và tổ chức kiểm tra

Trong mọi hoạt động của các doanh nghiệp, bộ phận thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát trong quá trình quản lý là hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đó

Trong mọi hoạt động của doanh nghiệp, chức năng kiểm tra kiểm soát luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình quản lý và được thực hiện chủ yếu bởi hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp

Quá trình nhận thức và nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ đã dẫn đến các định nghĩa khác nhau từ giản đơn đến phức tạp

Kiểm soát: xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định.Theo COSO – một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ chống gian lận về báo cáo tài chính “Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây:

- Báo cáo tài chính đáng tin cậy

- Các luật lệ và quy định được tuân thủ

- Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.”

Trong định nghĩa nêu trên, bốn nội dung cơ bản là quá trình, con người,

sự đảm bảo hợp lý và các mục tiêu Chúng được hiểu như sau:

Kiểm soát nội bộ là một quá trình: Kiểm soát nội bộ bao gồm một chuỗi

hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất Quá trình kiểm soát là phương tiện giúp đơn vị đạt được các mục tiêu của mình

Con người thiết kế và vận hành kiểm soát nội bộ: Kiểm soát nội bộ bao

gồm chính sách, thủ tục, biểu mẫu… do con người trong tổ chức như Hội

Trang 5

đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhân viên khác Chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng.

Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý là các mục tiêu sẽ

được thực hiện, chứ không phải đảm bảo tuyệt đối Bởi vì khi vận hành hệ thống kiểm soát, những yếu kém có thể xảy ra do các sai lầm của con người nên dẫn đến không thực hiện được các mục tiêu Kiểm soát nội bộ có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra Hơn nữa, một nguyên tắc cơ bản trong việc đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát đó Do đó, tuy người quản lý có thể nhận thức đầy

đủ về các rủi ro, nhưng nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá cao thì họ vẫn không áp dụng các thủ tục kiểm soát rủi ro

Các mục tiêu của kiểm soát nội bộ:

Thứ nhất: Đối với báo cáo tài chính, kiểm soát nội bộ phải bảo đảm về

tính trung thực và đáng tin cậy, bởi vì chính người quản lý đơn vị phải

có trách nhiệm lập báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực và chế độ

kế toán hiện hành

Thứ hai: Đối với tính tuân thủ, kiểm soát nội bộ trước hết phải đảm bảo

hợp lý việc chấp hành luật pháp và các quy định Điều này xuất phát từ trách nhiệm của người quản lý đối với những hành vi không tuân thủ trong đơn vị Bên cạnh đó, kiểm soát nội bộ còn phải hướng mọi thành viên trong đơn vị vào việc tuân thủ các chính sách, quy định nội bộ của đơn vị, qua đó bảo đảm đạt được những mục tiêu của đơn vị

Thứ ba: Đối với mục tiêu sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động,

kiểm soát nội bộ giúp đơn vị bảo vệ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực , bảo mật thông tin, nâng cao uy tín, mở rộng thị phần, thực hiện các chiến lược kinh doanh của đơn vị…

Trang 6

Như vậy, các mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ rất rộng, chúng bao trùm lên mọi hoạt động và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của đơn vị.

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là các quy định và các thủ tục kiểm

soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn

vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị.”(6,25)

Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (The International Federation of Accountants - IFAC), hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách

và thủ tục nhằm bốn mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị; bảo đảm độ tin cậy của các thông tin; bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý; và bảo đảm hiệu quả của hoạt động

Như vậy, các quan niệm khác nhau về HTKSNB của COSO, Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam, IFAC không mâu thuẫn với nhau mà phản ánh đầy

đủ một hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vị có thể đánh giá HTKSNB và tìm giải pháp để thực hiện

Theo đó, kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của của các đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu đặt ra của đơn vị:

Mục tiêu bảo vệ tài sản của đơn vị: Tài sản của đơn vị bao gồm cả tài

sản hữu hình và tài sản vô hình Những tài sản này có thể bị đánh cắp, lạm dụng vào những mục đích khác nhau hoặc bị hư hại nếu không được bảo vệ bởi các hệ thống kiểm soát thích hợp

Mục tiêu bảo đảm độ tin cậy của các thông tin: Thông tin kinh tế, tài

chính do bộ máy kế toán xử lý và tổng hợp là căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của các nhà quản lý Như vậy các thông tin cung cấp

Trang 7

phải đảm bảo tính kịp thời, và độ tin cậy về thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ và khách quan các nội dung chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế, tài chính.

Mục tiêu bảo đảm thực hiện các chế độ pháp lý: Hệ thống kiểm soát nội

bộ được thiết kế trong doanh nghiệp phải đảm bảo các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được tuân thủ đúng mức Cụ thể hệ thống kiểm soát nội bộ cần:

* Duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến các hoạt động của doanh nghiệp;

* Ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm trong mọi hoạt động của doanh nghiệp

* Đảm bảo việc ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác cũng như việc lập Báo cáo tài chính trung thực và khách quan

Mục tiêu bảo đảm hiệu quả của hoạt động và nâng cao khả năng quản lý: Các quá trình kiểm soát trong một đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa sự

lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và

sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp

Bên cạnh đó, định kỳ các nhà quản lý thường đánh giá kết quả hoạt động trong doanh nghiệp được thực hiện với cơ chế giám sát của hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng quản lý, điều hành của bộ máy quản lý doanh nghiệp

Để quá trình quản lý đạt hiệu quả cao, các đơn vị, tổ chức cần xây dựng

và không ngừng củng cố hệ thống kiểm soát nội bộ với bốn yếu tố chính: môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin (hệ thống kế toán), các thủ tục kiểm soát

và kiểm toán nội bộ

Tổ chức HTKSNB có sự khác biệt đáng kể giữa các đơn vị, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô, tính chất hoạt động, mục tiêu … của từng nơi, nhưng bất kỳ HTKSNB nào cũng phải bao gồm những bộ phận cơ bản:

Trang 8

môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin (hệ thống kế toán), các thủ tục kiểm soát và kiểm toán nội bộ.

1.1.2 Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ

1.1.2.1 Môi trường kiểm soát

Môi trường kiểm soát là thành phần quan trọng nhất trong bốn thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ, nếu thiếu môi trường kiểm soát hữu hiệu thì chắc chắn hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ không có hiệu quả, kể cả khi ba thành phần khác của hệ thống kiểm soát nội bộ có chất lượng tốt

Môi trường là nơi xảy ra một hiện tượng hoặc diễn ra một quá trình trong quan hệ với hiện tượng và quá trình ấy

Môi trường kiểm soát là thái độ, khả năng, sự nhận biết các hoạt động kiểm soát của người quản lý, các chính sách, thủ tục kiểm soát, tính trung thực và giá trị đạo đức, cơ cấu tổ chức, sự phân công trách nhiệm, phân chia quyền lực, chính sách về nhân sự

Môi trường kiểm soát bao gồm các hành động, chế độ và thể thức mà

nó phản ánh thái độ chung của Ban quản trị cấp cao, các giám đốc và các chủ nhân của một tổ chức về quá trình kiểm soát và về tầm quan trọng của nó đối với tổ chức đó

Trên thực tế, tính hiệu quả của hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong các hoạt động của một tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào các nhà quản lý tại doanh nghiệp đó Nếu các nhà quản lý cho rằng công tác kiểm tra, kiểm soát là quan trọng và không thể thiếu được đối với mọi hoạt động trong đơn vị thì mọi thành viên của đơn vị dó sẽ có nhận thức đúng đắn về hoạt động kiểm tra, kiểm soát và tuân thủ mọi quy định cũng như chế độ đề ra Ngược lại, nếu hoạt động kiểm tra, kiểm soát bị coi nhẹ từ phía các nhà quản lý thì chắc chắn các quy chế về kiểm soát nội bộ sẽ không được vận hành một cách có hiệu quả bởi các thành viên của đơn vị

Trang 9

Môi trường kiểm soát bao gồm những nhân tố sau: Đặc thù về quản lý,

cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch, Ủy ban kiểm soát và môi trường bên ngoài

Đặc thù về quản lý đề cập tới các quan điểm khác nhau trong điều hành

hoạt động doanh nghiệp của các nhà quản lý Các quan điểm đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách, chế độ, các quy đinh va cách thức tổ chức kiểm tra, kiểm soát trong doanh nghiệp Bởi vì chính các nhà quản lý và đặc biệt là các nhà quản lý cấp cao nhất sẽ phê chuẩn các quyết định, chính sách và thủ tục kiểm soát sẽ áp dụng tại doanh nghiệp

Cơ cấu tổ chứ được xây dựng hợp lý trong doanh nghiệp sẽ góp phần

tạo ra môi trường kiểm soát tốt Cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo một hệ thống xuyên suốt từ trên xuống dưới trong việc ban hành các quyết định, triển khai các quyết định đó cũng như kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quyết định

đó trong toàn bộ doanh nghiệp Một cơ cấu tổ chức hợp lý còn góp phần ngăn ngừa có hiệu quả các hành vi gian lận và sai sót trong hoạt động tài chính kế toán của doanh nghiệp

Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên toàn bộ hoạt động và các lĩnh vực của doanh nghiệp sao cho không bị chồng chéo hoặc bỏ trống: thực hiện sự phân chia tách bạch giữa các chức năng, bảo đảm sự độc lập tương đối giữa các bộ phận, tạo khả năng kiểm tra, kiểm soát lẫn nhau trong các bước thực hiện công việc

Như vậy để thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp và có hiệu quả, các nhà quản lý phải tuân theo những nguyên tắc sau:

* Tạo lập mối quan hệ kiểm soát bền vững trong từng phần hành, từng

bộ phận của doanh nghiệp

* Thực hiện sự phân chia rành mạch ba chức năng bảo đảm các nguyên tắc kế toán: xử lý nghiệp vụ, ghi chép sổ và bảo quản tài sản

Chính sách nhân sự:Sự phát triển của mọi doanh nghiệp luôn gắn liền

với đội ngũ nhân viên và họ luôn là nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm

Trang 10

soát cũng như chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của doanh nghiệp, Nếu nhân viên có năng lực và tin cậy, nhiều quá trình kiểm soát có thể không cần thực hiện mà vẫn đảm bảo được các mục tiêu đề

ra của kiểm soát nội bộ Bên cạnh đó, mặc dù doanh nghiệp có thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục kiểm soát chặt chẽ nhưng với đội ngũ nhân viên kém năng lực trong công việc và thiếutrung thực về phẩm chất đạo đức thì hệ thống kiểm soát nội bộ không thể phát huy hiệu quả

Tóm lại, với những lý do nêu trên, các nhà quản lý doanh nghiệp cần có những chính sách cụ thể và rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật nhân viên Việc đào tạo, bố trí cán bộ và đề bạt nhân sự phải phù hợp với năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức, đồng thời phải mang tính kế tục và liên tiếp

Công tác kế hoạch: Hệ thống kế hoạch và dự toán, bao gồm các kế

hoạch sản xuất, tiêu thụ, thu chi quỹ, kế hoạch hay dự toán đầu tư, sửa chữa tài sản cố định, đặc biệt là kế hoạch tài chính gồm những ước tính cân đối tình hình tài chính, kết quả hoạt động và sự luân chuyển tiền trong tương lai là những nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát Nếu việc lập và thực hiện kế hoạch được tiến hành khoa học và nghiêm túc thì hệ thống kế hoạch

và dự toán đó sẽ trở thành công cụ kiểm soát rất hữu hiệu Vì vậy trong thực

tế các nhà quản lý thường quan tâm xem xét tiến độ thực hiện kế hoạch, theo dõi những nhân tố ảnh hưởng đến kế hoạch đã lập nhằm phát hiện những vấn

đề bất thường và xử lý, điều chỉnh kế hoạch kịp thời Đây cũng là khía cạnh

mà KTV thường quan tâm trong kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp, đặc biệt trong việc áp dụng các thủ tục phân tích

Ủy ban kiểm soát bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao

nhất của đơn vị như thành viên của Hội đồng quản trị nhưng không kiêm nhiệm các chức vụ quản lý và những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát Ủy ban kiểm soát thường có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

 Giám sát sự chấp hành luật pháp của công ty

Trang 11

 Kiểm tra và giám sát công việc của KTV nội bộ.

 Giám sát tiến trình lập Báo cáo tài chính

 Dung hòa những bất đồng (nếu có) giữa Ban Giám đốc và các KTV bên ngoài

Môi trường bên ngoài: Môi trường kiểm soát chung của một doanh

nghiệp còn phụ thuộc vào các nhân tố bên ngoài Các nhân tố này tuy không thuộc sự kiểm soát của các nhà quản lý nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thái

độ, phong cách điều hành của các nhà quản lý cũng như sự thiết kế và vận hành các quy chế và thủ tục kiểm soát nội bộ Thuộc nhóm các nhân tố này bao gồm: sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của nhà nước, ảnh hưởng của các chủ nợ, môi trường pháp lý, đường lối phát triển của đất nước

Như vậy môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ những nhân tố có ảnh hưởng đến quá trình thiết kế, vận hành và xử lý dữ liệu của hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp, trong đó nhân tố chủ yếu và quan trọng là nhận thức về hoạt động kiểm tra, kiểm soát và điều hành hoạt động của các nhà quản lý doanh nghiệp

1.1.2.2 Hệ thống kế toán

Kế toán là quá trình ghi sổ, phân loại và tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế một cách có hệ thống nhằm mục đích cung cấp thông tin tài chính cho quá trình ra quyết định

Hệ thống thông tin chủ yếu là hệ thống kế toán của đơn vị bao gồm hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống bảng tổng hợp, cân đối kế toán Trong đó, quá trình lập và luân chuyển chứng từ đóng vai trò quan trọng trong công tác kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp

Mục đích của một hệ thống kế toán của một tổ chức là sự nhận biết, thu thập, phân loại, ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chính của tổ chức

đó, thỏa mãn chức năng thông tin và kiểm tra của hoạt động kế toán Một hệ thống kế toán hữu hiệu phải đảm bảo các mục tiêu tổng quát sau đây

Trang 12

 Tính có thực: cơ cấu kiểm soát không cho phép ghi chép những nghiệp

vụ không có thực vào sổ sách của đơn vị

 Sự phê chuẩn: đảm bảo mọi nghiệp vụ xảy ra phải được phê chuẩn hợp lý

 Tính đầy đủ: bảo đảm việc phản ảnh trọn vẹn các nghiệp vụ kinh tế phát sinh

 Sự đánh giá: bảo đảm các nghiệp vụ được ghi chép đúng theo sơ đồ tài khoản và ghi nhận đúng đắn ở các loại sổ sách kế toán

 Tính đúng kỳ: bảo đảm việc ghi sổ các nghiệp vụ phát sinh được thực hiện kịp thời theo quy định

 Quá trình chuyển sổ và tổng hợp chính xác: số liệu kế toán được ghi vào sổ phải được tổng cộng và chuyển sổ đúng đắn, tổng hợp chính xác trên các Báo cáo tài chính của doanh nghiệp

 Sự phân loại: bảo đảm số liệu được phân loại đúng theo sơ đồ tài khoản của đơn vị, và ghi nhận đúng đắn ở các loại sổ sách kế toán có liên quan

Các mục tiêu tổng quát được vận dụng cụ thể trong từng loại hoạt động, từng loại nghiệp vụ trọng yếu của đơn vị

Ví dụ về sự triển khai các mục tiêu tổng quát thành những mục tiêu cụ thể trong nghiệp vụ bán hàng

Biểu số 01: Các mục tiêu kiểm soát nội bộ trong nghiệp vụ bán hàng

Mục tiêu tổng quát

của KSNB

Mục tiêu kiểm soát cụ thể đối với nghiệp vụ bán hàng

Tính có thực Doanh thu ghi sổ của hàng hoá gởi cho khách hàng là có

Sự phân loại Các nghiệp vụ bán hàng được phân loại đúng đắn

Trang 13

Mục tiêu kiểm toán tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy

rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị

Ở đây, các khái niệm trung thực, hợp lý, hợp pháp được hiểu như sau:

Trung thực: là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng sự

thật nội dung, bản chất và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh

Hợp lý: là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh trung thực,

cần thiết và phù hợp về không gian, thời gian và sự kiện được nhiều người thừa nhận

Hợp pháp: là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng pháp

luật, đúng chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận)

Để thực hiện các mục tiêu kiểm soát, các nhà quản lý phải quy định các thủ tục kiểm soát và chúng được thiết kế tuỳ thuộc vào những nét đặc thù của

Trang 14

cơ cấu tổ chức, của hoạt động kinh doanh Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam

số 400 Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ quy định: “KTV phải hiểu biết các

thủ tục kiểm soát của đơn vị để xây dựng kế hoạch và chương trình kiểm toán”.(1,31)

Các thủ tục kiểm soát được thiết lập trong đơn vị dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc phân công, phân nhiệm rõ ràng; nguyên tắc bất kiêm nhiệm; và nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn

Nguyên tắc phân công, phân nhiệm: Theo nguyên tắc này, trách nhiệm

và công việc cần được phân chia cụ thể cho nhiều bộ phận và cho nhiều người trong bộ phận Việc phân công, phân nhiệm rõ ràng tạo sự chuyên môn hóa trong công việc, sai sót ít xảy ra và khi xảy ra thường dễ phát hiện do có sự kiểm tra chéo

Nguyên tắc bất kiêm nhiệm quy định sự cách ly thích hợp về trách

nhiệm trong các nghiệp vụ có liên quan nhằm ngăn ngừa các sai phạm và hành vi lạm dụng quyền hạn Ví dụ trong tổ chức nhân sự không thể bố trí kiêm nhiệm các nhiệm vụ phê chuẩn và thực hiện, thực hiện và kiểm soát, ghi

sổ tài sản và bảo quản tài sản…

Ở nước ta, để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này, Điều 9 - Điều lệ tổ chức kế toán nhà nước, đã quy định: “Cán bộ kế toán ở các đơn vị quốc doanh, công ty hợp danh, và các đơn vị có sử dụng kinh phí của Nhà nước hoặc đoàn thể không được kiêm nhiệm làm thủ kho, thủ quỹ, tiếp liệu và các công tác vật chất khác Lãnh đạo đơn vị, kể cả lãnh đạo công tác tài chính, kế toán của các đơn vị nêu trên không được bố trí những người thân trong gia đình làm công tác tài chính kế toán, thủ kho, thủ quỹ tại đơn vị mình”

Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn: Theo sự ủy quyền của các nhà quản

lý, các cấp dưới được giao cho quyết định và giải quyết một số công việc trong một phạm vi nhất định Quá trình được tiếp tục mở rộng xuống các cấp thấp hơn tạo nên một hệ thống phân chia trách nhiệm và quyền hạn mà vẫn không làm mất tính tập trung của doanh nghiệp

Trang 15

Bên cạnh đó, để tuân thủ tốt các quá trình kiểm soát, mọi nghiệp vụ kinh tế phải được phê chuẩn đúng đắn Sự phê chuẩn được thực hiện qua hai loại: phê chuẩn chung và phê chuẩn cụ thể.

Sự phê chuẩn chung được thực hiện thông qua việc xây dựng các chính sách chung về những mặt hoạt động cụ thể cho các cán bộ cấp dưới tuân thủ

Ví dụ việc xây dựng và phê chuẩn bảng giá bán sản phẩm cố định, hạn mức tín dụng cho khách hàng…

Sự phê chuẩn cụ thể được thực hiện theo từng nghiệp vụ kinh tế riêng

1.1.2.4 Kiểm toán nội bộ

Kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập được thiết lập trong đơn vị tiến hành công việc kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ đơn vị

Theo các Chuẩn mực Thực hành về Kiểm toán nội bộ do Viện Kiểm toán Nội bộ Hoa Kỳ ban hành năm 1978, “Kiểm toán nội bộ là một chức năng đánh giá độc lập được thiết kế trong một tổ chức để kiểm tra, đánh giá các hoạt động của tổ chức như là một hoạt động phục vụ cho tổ chức”(5,85) Mục tiêu của kiểm toán nội bộ là giúp đỡ các thành viên của tổ chức hoàn thành trách nhiệm của họ một cách hiệu quả

Theo Liên đoàn kế toán Quốc tế (IFAC), kiểm toán nội bộ là “một hoạt động đánh giá được lập ra trong một doanh nghiệp như là một loại dịch vụ cho doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát thích hợp

và hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”.(5,85)

Là một trong những nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp, bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục về kiểm soát nội

bộ Bộ phận kiểm toán nội bộ hữu hiệu giúp cho doanh nghiệp có được những thông tin kịp thời và xác thực về các hoạt động trong doanh nghiệp, chất lượng của hoạt động kiểm soát nhằm kịp thời điều chỉnh và bổ sung các quy

Trang 16

chế kiểm soát thích hợp và hiệu quả Tuy nhiên, bộ phận kiểm toán nội bộ chỉ phát huy tác dụng nếu:

 Về tổ chức, bộ phận kiểm toán nội bộ phải trực thuộc một cấp cao đủ

để không giới hạn phạm vi hoạt động của nó, đồng thời phải được giao một quyền hạn tương đối rộng rãi và hoạt động tương đối độc lập với phòng kế toán và các bộ phận hoạt động được kiểm tra

 Về nhân sự, bộ phận kiểm toán nội bộ phải tuyển chọn những nhân viên có năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp phù hợp với các quy định hiện hành

1.1.3 Những hạn chế vốn có của hệ thống kiểm soát nội bộ

Khi tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, KTV cần nhận thức rằng mỗi hệ thống kiểm soát nội bộ dù được thiết kế hoàn hảo đến đâu cũng không thể ngăn ngừa hay phát hiện mọi sai phạm có thể xảy ra, đó

là những hạn chế vốn cố hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ Theo Chuẩn mực

Kiểm toán Việt Nam số 400 Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ, những hạn

chế đó được xác định như sau:

 Ban Giám đốc thường yêu cầu chi phí cho hệ thống kiểm soát nội bộ không vượt quá những lợi ích mà hệ thống đó mang lại

 Phần lớn công tác kiểm tra nội bộ thường tác động đến những nghiệp vụ lặp đi lặp lại mà không tác động đến những nghiệp vụ bất thường

 Sai sót bởi con người thiếu chú ý, đãng trí, sai sót về xét đoán hoặc

do không hiểu rõ yêu cầu công việc

 Khả năng vượt tầm kiểm soát của hệ thống kiểm soát nội bộ do có

sự thông đồng của một người trong Ban Giám đốc hay một nhân viên với những người khác ở trong hay ngoài đơn vị

 Khả năng những người chịu trách nhiệm thực hiện kiểm soát nội bộ lạm dụng đặc quyền của mình

Trang 17

 Do có sự biến động tình hình, các thủ tục kiểm soát bị lạc hậu hoặc

bị vi phạm

1.2 Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm toán báo cáo tài chính

1.2.1 Mục đích đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ

KTV có sự hiểu biết và biết cách đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ có

ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình kiểm toán Nếu kết quả đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tốt và có độ tin cậy cao thì có thể thu hẹp phạm vi, nội dung, khối lượng công việc kiểm toán và tiết kiệm chi phí kiểm toán Nếu đánh giá không đúng về tình hình, độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ thì KTV có thể sẽ bỏ sót những nội dung trọng yếu và không tránh khỏi rủi ro kiểm toán

Mặt khác đánh giá HTKSNB có ảnh hưởng rất lớn đối với công việc của KTV Cụ thể là:

 Thông qua tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và các bộ phận, KTV đánh giá được những điểm mạnh và điểm yếu của hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung, cũng như trong từng bộ phận, từng khoản mục

 Trên cơ sở hiểu biết về kiểm soát nội bộ, KTV hinh dung về khối lượng

và độ phức tạp của công việc, đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát Từ

đó, KTV sẽ xác định phương hướng và phạm vi kiểm tra, thiết kế các thủ tục kiểm toán, dự kiến về thời gian và lực lượng nhân sự cần thiết trong kế hoạch và chương trình kiểm toán

Đồng thời đánh giá HTKSNB cũng là thể hiện sự tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp của các KTV khi tiến hành kiểm toán Vì thế Chuẩn mực Kiểm

toán Việt Nam số 400 Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ mục 02 – yêu cầu:

“KTV phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán thích hợp, có hiệu quả…”.(5,26)

1.2.2 Trình tự đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ

1.2.2.1 Sơ đồ khái quát các bước thực hiện đánh giá HTKSNB

Trang 18

Trong kiểm toán báo cáo tài chính, KTV phải đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm soát không chỉ để xác minh tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ mà còn làm cơ sở cho việc xác định phạm vi thực hiện các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ của đơn vị.

Sơ đồ số 01 trình bày khái quát trình tự đánh giá HTKSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát với việc liên hệ kết quả các cuộc khảo sát số dư trên BCTC

Trong sơ đồ này, các bước (1), (2), (3) là các bước của quá trình thu thập thông tin về HTKSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát trong giai đoạn lập

kế hoạch lập kiểm toán Các bước còn lại là các bước liên hệ các kết quả của việc đánh giá đó với các trắc nghiệm kiểm toán

Trang 19

Sơ đồ số 01: Khái quát trình tự đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và quá trình đánh giá rủi ro kiểm soát trong kiểm toán

Đạt được sự hiểu biết về HTKSNB của khách hàng đủ để lập kế hoạch kiểm toán BCTC

Đánh giá xem liệu các BCTC có thể kiểm toán được hay không

Quá trình đánh giá rủi ro kiểm soát

Ý kiến “từ chối” hoặc rút ra khỏi hợp đồng

Mức tối đa

Mức được chứng minh bằng sự hiểu biết đã có

Lập kế hoạch và thực hiện các thử nghiệm kiểm soát Xác định liệu mức đánh giá về rủi ro kiểm soát có được giảm hơn từ kết quả của các cuộc thử

nghiệm kiểm soát hay không Mức thấp hơn khả dĩ có thể chứng minh được

Mở rộng sự hiểu biết nếu thấy cần thiết Rủi ro kiểm soát giảm xuống, rủi ro phát hiện tăng lên và phải lập kế hoạch các trắc nghiệm kiểm

toán để thỏa mãn mức rủi ro phát hiện tăng lên này

Rủi ro kiểm soát tăng hơn so với mức đánh giá ban đầu hoặc ở mức tối đa Rủi ro phát hiện giảm xuống và phải lập kế hoạch các trắc nghiệm kiểm toán để thỏa mãn mức rủi ro phát

hiện thấp hơn này

báo cáo tài chính

Trang 20

kế kiểm soát nội bộ bao gồm thiết kế về quy chế kiểm soát và thiết kế về bộ máy kiểm soát; hoạt động liên tục và có hiệu lực của kiểm soát nội bộ

Tìm hiểu HTKSNB được thực hiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, trong đó KTV phải tìm hiểu về thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng theo từng yếu tố cấu thành: Môi trường kiểm soát,

hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát

Thứ nhất: Tìm hiểu về môi trường kiểm soát

Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ, quy định: “KTV phải hiểu biết về môi trường kiểm soát của đơn vị để

Trang 21

đánh giá nhận thức, quan điểm, sự quan tâm và hoạt động của thành viên Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc đối với hệ thống kiểm soát nội bộ.”

KTV tiến hành trao đổi, phỏng vấn người quản lý cấp cao và các nhân viên quản lý của đơn vị được kiểm toán về các nội dung sau:

 Đối với thái độ của người quản lý: Thể hiện ở quá trình đào tạo và việc nắm bắt các nội dung kiểm soát Nếu những người quản lý cao cấp được đào tạo chính quy, đúng chuyên ngành, kết quả phỏng vấn cho thấy họ hiểu biết công việc kiểm soát cùng với hệ thống chính sách, thủ tục kiểm soát được ban hành đầy đủ, đó là biểu hiện của người quản lý

có năng lực, quan tâm và coi trọng công kiểm soát thì HTKSNB hoạt động có hiệu quả

 Tính trung thực và giá trị đạo đức: KTV đối chiếu kết quả trao đổi với người quản lý cấp cao và kết quả trao đổi với nhân viên đồng thời kết hợp những xem xét, quan sát khác để đánh giá tính trung thực và đạo đức của người lãnh đạo đơn vị Đây là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hành vi ứng xử, tính trung thực của các nhân viên trong công việc

và độ tin cậy của các thông tin thu thập được cũng như độ tin cậy của HTKSNB và BCTC

 Chính sách về nhân sự: Khách hàng có chính sách đối đãi, thăng chức

và đào tạo tốt sẽ đảm bảo cho các hoạt động kiểm soát tại đơn vị được thực hiện nghiêm túc và có hiệu lực

 KTV thu thập, nghiên cứu các tài liệu, ghi chép có liên quan đến MTKS bao gồm các chính sách, quy chế, thủ tục về KSNB được thiết lập: như quy định về quy trình, thủ tục, quan hệ giữa các bộ phận trong quản lý thu chi, sử dụng và bảo quản tài sản… Một hệ thống các chính sách, quy chế, thủ tục về KSNB đầy đủ là biểu hiện của một MTKS có hiệu lực

KTV không chỉ trao đổi, phỏng vấn với người quản lý cấp cao và các nhân viên quản lý của đơn vị được kiểm toán mà còn tiến hành quan sát một

Trang 22

số công việc kiểm soát xuyên suốt mọi hoạt động của đơn vị Ví dụ: nghiệp

vụ mua vật tư, từ khi lập kế hoạch, phê duyệt, thực hiện, thủ tục kiểm tra chất lượng hàng nhập kho, bảo quản và xuất dùng

Thứ hai: Tìm hiểu về hệ thống kế toán:

Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “KTV phải hiểu biết về hệ thống kế toán và việc thực hiện công việc

kế toán của đơn vị để xác định được:

- Các loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu;

- Nguồn gốc các loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu;

Thứ ba: Tìm hiểu về các thủ tục kiểm soát:

Các KTV có được hiểu biết về môi trường kiểm soát và về hệ thống kế toán theo một cách tương tự như nhau ở hầu hết các cuộc kiểm toán, nhưng việc có được một sự hiểu biết về các thể thức kiểm soát thì lại khác nhau đáng

kể Đối với những khách hàng có quy mô nhỏ hơn KTV thường chỉ nhận diện được rất ít hoặc thậm chí không có thể thức kiểm soát nào cả vì quá trình kiểm soát thường không hiệu quả do số lượng nhân viên hạn chế Trong trường hợp đó, mức đánh giá cao của rủi ro được sử dụng ở những khách hàng có các quá trình kiểm soát sâu rộng và KTV tin tưởng là những quá trình kiểm soát đó có khả năng tuyệt vời, thì việc nhận diện được rất nhiều quá trình kiểm soát trong suốt giai đoạn tìm hiểu các quá trình kiểm soát là điều thích hợp ở các cuộc kiểm toán khác Kiểm toán toán viên vẫn có thể nhận

Trang 23

diện một số lượng quá trình kiểm soát giới hạn trong giai đoạn này rồi sau đó nhận diện thêm các quá trình kiểm soát khác khi công việc đang tiến triển Mức độ mà theo đó các quá trình kiểm soát được nhận diện là một vấn đề thuộc về sự phán xét kiểm toán.

KTV tìm hiểu MTKS, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát để:

 Đánh giá độ tin cậy và trung thực của các thông tin được trình bày trên BCTC

 Nhận diện và đánh giá các sai phạm tiềm tàng

 Quyết định về mức đánh giá thích hơp của rủi ro kiểm soát ảnh hưởng đến rủi ro phát hiện từ đó ảnh hưởng đến quyết định số lượng bằng chứng kiểm toán phải thu thập

 Có kế hoạch thiết kế các cuộc khảo sát thích hợp

Các phương pháp KTV thường sử dụng khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng:

♦ KTV dựa vào kinh nghiệm trước đây của KTV với khách hàng: Hầu hết các cuộc kiểm toán của một công ty được một Công ty kiểm toán thực hiện hàng năm Do vậy KTV thường bắt đầu cuộc với một khối lượng lớn thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng đã thu thập từ các cuộc kiểm toán trước Bởi vì các hệ thống kiểm soát thường thay đổi thường xuyên nên thông tin có thể được cập nhật hóa và mang sang năm hiện hành

♦ KTV thẩm vấn nhân viên của công ty khách hàng: Công việc này giúp cho KTV thu thập được các thông tin ban đầu (đối với khách hàng mới) hoặc nắm bắt được những thay đổi trong hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng (đối với khách hàng thường niên) để cập nhật thông tin cho cuộc kiểm toán ở năm hiện hành

♦ KTV xem xét các sổ tay về thủ tục và chế độ của công ty khách hàng: Qua việc nghiên cứu và thảo luận với khách hàng về tài liệu này KTV

có thể hiểu rõ được các thủ tục và chế độ liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ đang được áp dụng ở công ty khách hàng

Trang 24

♦ KTV kiểm tra các chứng từ và sổ sách đã hoàn tất: Thông qua việc kiểm tra này, KTV có thể thấy được việc vận dụng các thủ tục và chế độ trên tại công ty khách hàng.

♦ KTV quan sát các mặt hoạt động và quá trình hoạt động của công ty khách hàng: Công việc này củng cố thêm sự hiểu biết và kiến thức về thực tế

sử dụng các thủ tục và chính sách kiểm soát nội bộ tại công ty khách hàng

Tài liệu mô tả HTKSNB nói chung và mô tả về KSNB trong từng khoản

mục hay từng bộ phận, là bằng chứng chứng minh rằng KTV đã tìm hiểu về HTKSNB, KTV có thể mô tả bằng những công cụ là: Lưu đồ, Bảng câu hỏi

về kiểm soát nội bộ; Bảng tường thuật về kiểm soát nội bộ

Bảng câu hỏi về hệ thống kiểm soát nội bộ: Bảng này đưa ra các câu hỏi

theo các mục tiêu chi tiết của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với từng lĩnh vực được kiểm toán Các câu hỏi được thiết kế dưới dạng trả lời “có” hoặc

“không” và các câu trả lời không sẽ cho thấy nhược điểm của kiểm soát nội bộ

Ưu điểm của công cụ này là được lập sẵn nên KTV có thể tiến hành nhanh chóng và không bỏ sót các vấn đề quan trọng Nhưng do được thiết kế chung, nên Bảng câu hỏi đó có thể không được phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp

Bảng tường thuật về kiểm soát nội bộ là sự mô tả bằng văn bản về cơ

cấu kiểm soát nội bộ của khách hàng Bảng tường thuật về kiểm soát nội bộ cung cấp thêm sự phân tích về cơ cấu kiểm soát giúp KTV hiểu biết đầy đủ hơn về hệ thống kiểm soát nội bộ

Lưu đồ: là sự trình bày toàn bộ các quá trình kiểm soát áp dụng cũng

như mô tả các chứng từ, tài liệu kế toán cùng quá trình vận động và luân chuyển chúng bằng các ký hiệu và biểu đồ Lưu đồ về kiểm soát nội bộ giúp KTV nhận xét chính xác hơn về các thủ tục kiểm soát áp dụng đối với các hoạt động và dễ dàng chỉ ra các thủ tục kiểm soát cần bổ sung Cách thức mô

tả hệ thống kiểm soát nội bộ qua lưu đồ thường được đánh giá cao hơn so với

Trang 25

mô tả HTKSNB bằng bảng câu hỏi và bảng tường thuật vì theo dõi một lưu

đồ thường dễ dàng hơn việc đọc một bảng tường thuật Tuy nhiên, việc mô tả qua lưu đồ thường tốn nhiều thời gian và nhiều khi không xác định được điểm yếu của KSNB

Việc sử dụng kết hợp Bảng câu hỏi với Lưu đồ hoặc với Bảng tường thuật sẽ giúp KTV hiểu biết tốt hơn về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng Trong thực tế, các KTV thường sử dụng kết hợp các hình thức này để cung cấp cho KTV hình ảnh rõ nét nhất về hệ thống kiểm soát nội bộ

1.2.2.3 Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch cho từng khoản mục.

Sau khi hiểu được hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ, KTV phải thực hiện đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát theo các cơ sở dẫn liệu cho số dư của mỗi tài khoản trọng yếu

Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát bao gồm việc đánh giá tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai phạm trong hoạt động tài chính kế toán của doanh nghiệp

Như vậy, sau khi thu thập được một sự hiểu biết về cách thiết kế và sự vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV sẽ đưa ra đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát cho từng mục tiêu kiểm soát chi tiết Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành hữu hiệu thì rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp và ngược lại Công việc này được làm riêng rẽ cho từng loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu trong từng chu trình nghiệp vụ theo các bước sau đây:

 Nhận diện các mục tiêu kiểm soát mà theo đó quá trình đánh giá vận dụng: KTV sẽ vận dụng các mục tiêu kiểm soát nội bộ cụ thể cho từng loại nghiệp vụ chủ yếu của công ty mà theo đó có thể đánh giá rủi ro kiểm soát đối với từng khoản mục

 Nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù: KTV không cần thiết xem xét mọi quá trình kiểm soát mà chỉ nhận diện và phân tích các quá trình

Trang 26

kiểm soát chủ yếu (có khả năng ảnh hưởng lớn nhất đến việc thỏa mãn mục tiêu kiểm soát), đảm bảo tính hiệu quả cho cuộc kiểm toán.

 Nhận diện và đánh giá các nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ: Nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ được hiểu là sự vắng mặt của các quá trình kiểm soát thích đáng mà điều này sẽ làm tăng khả năng rủi ro của việc tồn tại các sai phạm trên BCTC

 Đánh giá rủi ro kiểm soát: Khi đã nhận diện được quá trình kiểm soát

và các nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV tiến hành đánh giá rủi ro kiểm soát ban đầu đối với từng mục tiêu kiểm soát của từng loại nghiệp vụ kinh tế KTV có thể đánh giá rủi ro theo yếu tố định tính thấp, trung bình, cao hoặc theo tỷ lệ phần trăm Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400, KTV thường đặt ra mức độ rủi ro kiểm soát cao trong trường hợp: Hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ không được áp dụng đúng và việc đánh giá sự áp dụng của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ được xem là không đủ

Mức độ rủi ro kiểm soát ban đầu này sẽ được chứng minh bằng việc thực hiện các khảo sát (thử nghiệm kiểm soát) ở giai đoạn hai của cuộc kiểm toán trước khi KTV đưa ra mức độ rủi ro kiểm soát thích hợp được sử dụng

Mối quan hệ giữa việc đánh giá rủi ro kiểm soát và việc xác định các phép thử nghiệm áp dụng:

Trong kiểm toán báo cáo tài chính việc đánh giá rủi ro kiểm soát có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định các phép thử nghiệm áp dụng Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức tối đa (khi kiểm soát nội bộ không hoạt động hoặc hoạt động không có hiệu lực, không phát hiện và ngăn chặn các gian lận

và sai sót trọng yếu) thì KTV không thể dựa vào kiểm soát nội bộ của đơn vị

để giảm bớt các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ Trái lại, KTV phải tăng cường các thử nghiệm cơ bản để phát hiện những hành vi gian lận

và sai sót Trong trường hợp này KTV không cần thực hiện thử nghiệm kiểm soát (thử nghiệm tuân thủ)

Trang 27

KTV đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức tối đa khi: KTV cho rằng tại đơn

vị thiếu các thủ tục kiểm soát liên quan đến cơ sở dẫn liệu của các khoản mục trên Báo cáo tài chính doanh nghiệp hoặc các thủ tục kiểm soát đó không thể phát hiện và ngăn chặn các gian lận và sai sót trọng yếu Thử nghiệm kiểm soát cũng có thể không được thực hiện nếu KTV cho rằng việc thực hiện thử nghiệm này không có hiệu quả bằng việc thực hiện ngay từ đầu các thử nghiệm cơ bản về số dư và nghiệp vụ của đơn vị

Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp hơn mức tối đa KTV dựa vào kiểm soát nội bộ của đơn vị để giảm bớt thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ Sau đó KTV sẽ thực hiện tuần tự thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản trong thực hành kiểm toán báo cáo tài chính

KTV đánh giá rủi ro kiểm soát thấp hơn mức tối đa khi: KTV chỉ ra thủ tục kiểm soát liên quan đến cơ sở dữ liệu là có thể phát hiện và ngăn chặn các gian lận và sai sót trọng yếu và KTV lập kế hoạch thực hiện thử nghiệm kiểm soát để làm cơ sở cho sự đánh giá của mình về hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp

Tuy nhiên đó chỉ là sự đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát Việc đánh giá lại rủi ro kiểm soát và thiết kế lại các thử nghiệm cơ bản trên số dư và các nghiệp vụ (nếu cần thiết) sẽ được thực hiện dựa trên kết quả của việc thực hiện thử nghiệm kiểm soát

1.2.2.4 Thực hiện thử nghiệm kiểm soát (thử nghiệm tuân thủ)

Thử nghiệm kiểm soát là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kế toán và HTKSNB Các thử nghiệm kiểm soát được thực hiện sau khi tìm hiểu HTKSNB với đánh giá ban đầu là khách thể kiểm toán có HTKSNB hoạt động có hiệu lực

Mục đích của thử nghiệm này là thu thập bằng chứng về sự hiện hữu của các quy chế và thủ tục kiểm soát để giảm bớt các thử nghiệm cơ bản trên

số dư và nghiệp vụ

Trang 28

Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ quy định KTV phải thực hiện các thử nghiệm kiểm soát để thu thập

bằng chứng về sự đầy đủ, về tính hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ trên các phương diện:

Thiết kế: Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị

được thiết kế sao cho có khả năng ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu

Thực hiện: Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ tồn tại và

hoạt động một cách hữu hiệu trong suốt niên độ kế toán

Thử nghiệm kiểm soát thực hiện với những phương pháp khác nhau tùy

thuộc từng trường hợp cụ thể Phương pháp kiểm tra tài liệu được áp dụng

nếu các thủ tục để lại các “dấu vết” trên tài liệu như các chữ ký phê duyệt, hóa đơn lưu… Ví dụ kiểm tra sự phê duyệt trên các chứng từ liên quan đến phiếu

chi tiền Trong trường hợp các “dấu vết” để lại là gián tiếp, KTV thực hiện lại các thủ tục kiểm soát Ví dụ kiểm tra Bảng đối chiếu tiền gửi của đơn vị với

ngân hàng, xem xét bảng kiểm kê quỹ, kiểm kê hàng tồn kho, đối chiếu công nợ…

Nếu các thủ tục kiểm soát không để lại dấu vết trong tài liệu, KTV tiến

hành quan sát các hoạt động liên quan đến kiểm soát nội bộ hoặc phỏng vấn

nhân viên đơn vị về các thủ tục kiểm soát của những người thực thi công việc kiểm soát nội bộ

Ngoài thử nghiệm kiểm soát, KTV có thể thực hiện các thủ tục kiểm toán khác để thu thập bằng chứng về tính hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ Thí dụ phép thử “walk - through” (bao gồm walk - through theo thủ tục và walk – through theo chứng từ) có thể được tiến hành

bổ sung đối với một số các nghiệp vụ và thủ tục kiểm soát quan trọng trong hoạt động của đơn vị Với phương pháp này KTV có thể theo dõi từng bước thực hiện nghiệp vụ đó trên sổ sách hoặc trong thực tế để đánh giá về kiểm soát đối với nghiệp vụ này

Trang 29

1.2.2.5 Lập bảng đánh giá kiểm soát nội bộ

Lập bảng đánh giá kiểm soát nội bộ theo những thông tin và các tiêu chuẩn đánh giá về một hệ thống kiểm soát nội bộ được tổng hợp qua các bước

đã được trình bày ở trên Việc tổng hợp kết quả khảo sát về hệ thống kiểm soát nội bộ có thể thực hiện qua việc lập Bảng đánh giá kiểm soát nội bộ hoặc các hình thức khác tùy thuộc vào xem xét của KTV trong từng cuộc kiểm toán

cụ thể

Bảng đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ thường phản ánh các thông tin sau: mục tiêu của kiểm soát nội bộ đối với từng khoản mục hay chu trình nghiệp vụ; các thông tin mô tả thực trạng của kiểm soát nội bộ do KTV thu thập; bản chất và tính hệ trọng của các rủi ro tương ứng với thực trạng đó; nêu nguyên tắc thiết kế và vận hành các thủ tục kiểm soát phù hợp tương ứng với thực trạng đã nêu; đánh giá của KTV về kiểm soát nội bộ đối với từng khoản mục hay chu trình nghiệp vụ

Sau khi lập bảng đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV tiến hành đánh giá lại rủi ro kiểm soát và thiết kế lại các thử nghiệm cơ bản trên các số

dư và nghiệp vụ (nếu cần thiết) Nếu sau khi thực hiện các thử nghiệm kiểm soát, KTV không thu được bằng chứng về sự hiện hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV tiến hành điều chỉnh lại sự đánh giá của mình về rủi ro kiểm soát trên cơ sở kết quả của các thử nghiệm trên KTV chỉ giữ lại đánh giá ban đầu của mình về rủi ro kiểm soát nếu kết quả thử nghiệm kiểm soát cho thấy các thủ tục kiểm soát thực sự hữu hiệu như đánh giá ban đầu của KTV

Trang 30

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN SÀI GÒN THỰC HIỆN

2.1 Đặc điểm Công ty Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Kế toán Sài Gòn với đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Kế toán Sài Gòn

2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Công ty Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Kế toán Sài Gòn (tên giao dịch

là AFC Sài Gòn) với tiền thân là chi nhánh phía Nam của Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) từ năm 1992 đến năm 1995, là một trong những công ty kiểm toán hàng đầu của Việt Nam sớm tham gia vào thị trường cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập Do đó, các KTV trong Công ty

có nhiều kinh nghiệm trong đánh giá HTKSNB

Sau 3 năm hoạt động với hiệu quả cao, đến năm 1995, để đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường dịch vụ kiểm toán, đặc biệt là nhu cầu sử dụng dịch vụ kiểm toán của các doanh nghiệp tại các vùng kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và các công trình trọng điểm phía Nam, để đảm bảo mức tăng trưởng cho công ty và tạo sự cạnh tranh thúc đẩy phát triển thị trường dịch vụ kiểm toán, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 108-TC/TCCB cho phép chuyển Chi nhánh thành một công ty kiểm toán độc lập với tên gọi là Công ty Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Kế toán Sài Gòn (AFC Sài Gòn) có trụ sở chính tại số 138 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, TP Hồ Chí Minh Công ty hoạt động theo Giấy phép đăng ký kinh doanh số 102204 ngày 01/03/1995 do Uỷ ban Kế hoạch Thành phố Hồ Chí Minh cấp

- Vốn: 1.800.000.000 đồng

Trong đó:

Trang 31

 Vốn cố định: 1.200.000.000 đồng

 Vốn lưu động: 600.000.000 đồngĐến nay, ngoài trụ sở chính tại TP Hồ Chí Minh nơi phát sinh hoạt động kinh doanh chủ yếu của mình, Công ty còn mở rộng thêm 2 chi nhánh lớn hoạt động tại Hà Nội và Cần Thơ Công ty có đội ngũ nhân viên đông đảo, chuyên nghiệp, chuyên cung cấp các dịch vụ về kiểm toán và tư vấn trong các lĩnh vực tài chính, kế toán, thuế, đầu tư và những vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh cho mọi loại hình doanh nghiệp Các nhân viên chuyên môn hoá trong lĩnh vực nào, khi tìm hiểu, nghiên cứu HTKSNB khách hàng hoạt động trong lĩnh vực đấy Do vậy, một mặt nâng cao hiệu quả trong công tác kiểm toán, mặt khác củng cố thêm kiến thức, kinh nghiệm cho KTV trong lĩnh vực thực hiện

Đội ngũ nhân viên của AFC Sài Gòn thường xuyên được nâng cao cả

về số lượng cũng như về chất lượng Hiện nay, AFC Sài Gòn có hơn 200 nhân viên chuyên nghiệp đã tốt nghiệp đại học và trên đại học trong và ngoài nước, trong đó có:

Tất cả các nhân viên này đều làm việc trong biên chế thường xuyên của Công ty

Từ các văn phòng của trụ sở chính và chi nhánh, các cán bộ công nhân viên Công ty được bố trí phân công để có thể phục vụ tại bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam một khi có yêu cầu của khách hàng

AFC Sài Gòn là thành viên tập đoàn Kiểm toán Quốc tế BDO: Ý thức

được sự cần thiết trong hợp tác và phát triển, nhất là đối với một ngành dịch

vụ chuyên nghiệp còn non trẻ tại Việt Nam, AFC Sài Gòn đã sớm tìm kiếm cơ hội để trở thành thành viên chính thức các tập đoàn kiểm toán Quốc tế hàng đầu trên thế giới nhằm học hỏi công nghệ, kinh nghiệm kiểm toán cũng như chia sẻ những lợi ích khác khi là thành viên chính thức của tập đoàn này Sau thời gian tìm kiếm đối tác và sau ba năm tìm hiểu và bàn bạc, Công ty AFC Sài Gòn đã được kết nạp và trở thành công ty thành viên duy nhất tại Việt

Trang 32

Nam của tập đoàn Kiểm toán Quốc tế BDO kể từ ngày 01/04/2001 theo Công văn chấp thuận số 5173/CV-BTC của Bộ Tài chính.

Tập đoàn Kiểm toán Quốc tế BDO là tập đoàn quốc tế chuyên cung cấp các dịch vụ chuyên ngành kiểm toán, kế toán, tư vấn tài chính kế toán được xếp hạng thứ 5 trên thế giới với tổng doanh thu năm 2003 hơn 2,668 tỷ Đô la

Mỹ Tập đoàn BDO đã và đang phát triển mạng lưới toàn cầu với hơn 600 văn phòng tại 100 quốc gia, 22.600 nhân viên và chủ phần hùn

Việc gia nhập vào một hệ thống kiểm toán quốc tế là bước tiến tích cực thuộc chiến lược kinh doanh của AFC Sài Gòn đặc biệt trong quá trình nền kinh tế Việt Nam hội nhập khu vực (AFTA) và quốc tế (WTO) nhằm củng cố các khách hàng hiện nay của Công ty và đồng thời mở rộng thị phần của Công ty ra qua việc phục vụ các khách hàng của Tập đoàn BDO là các công

ty lớn, các tập đoàn nước ngoài và các công ty đa quốc gia Trước khi gia nhập vào Tập đoàn BDO Công ty chưa có quy trình chuẩn về đánh giá HTKSNB Từ khi gia nhập AFC Sài Gòn được các chuyên gia của BDO hướng dẫn, trợ giúp xây dựng một quy trình chuẩn về đánh giá HTKSNB

Quá trình hình thành và phát triển Chi nhánh ở Hà Nội: Chi nhánh

Công ty Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Kế toán Sài Gòn tại Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 390TC-QĐ-TCCB ngày 15/05/1995 của Bộ Tài chính, Quyết định số 1193/QĐ-UB ngày 26/3/1997 và 1728/QĐ-UB ngày 7/5/1997 của UBND TP Hà Nội về việc cho phép đặt trụ sở tại Thành phố Hà Nội Trước đó, Chi nhánh được thiết lập dưới hình thức là Văn phòng đại diện của Công ty Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Kế toán Sài Gòn

Theo Quyết định của số 03/QĐ-KTTV-HĐQT của Hội đồng quản trị, Chi nhánh được trực tiếp giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng liên quan đến hoạt động kiểm toán và tư vấn về tài chính, kế toán, thuế Giám đốc Chi nhánh trực tiếp điều hành hoạt động của Công ty theo uỷ quyền của Giám đốc AFC Sài Gòn Như vậy, các hoạt động kinh doanh trong Chi nhánh sẽ độc lập hơn, phạm vi hoạt động cũng được mở rộng hơn trước Do mới được thành

Trang 33

lập, thị phần khách hàng tại Hà Nội của AFC Sài Gòn không nhiều so với các công ty khác như VACO, Price Waterhourse Couper, KPMG, E&Y Co nhưng Chi nhánh đã thiết lập được các mối quan hệ tương đối bền vững đối với các khách hàng tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung Tại các tỉnh này, các khách hàng của Chi nhánh thường thường là các đơn vị sản xuất kinh doanh vừa và nhỏ, có trình độ tổ chức quản lý cũng như thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ chưa tốt, hoặc không có hệ thống kiểm soát nội bộ Những khách hàng

đó chưa ý thức được tầm quan trọng của việc thiết kế hệ thống kiểm soát nội

bộ hoạt động có hiệu quả Vì vậy, khi kiểm toán những khách hàng này, các KTV đánh giá HTKSNB không đáng tin cậy và giảm đáng kể các thủ tục kiểm soát, tăng cường các thủ tục phân tích và thủ tục kiểm toán cơ bản Đó chính là điểm mà Chi nhánh đang hướng tới khai thác Tuy là thế mạnh, nhưng Chi nhánh cũng luôn tự hoàn thiện mình trong việc tư vấn khách hàng những điều cần thiết để xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ cho phù hợp với điều kiện cụ thể Đây là tiền đề để Chi nhánh nỗ lực vươn tới tầm cao mới trong thời gian tới

2.1.1.2 Mục tiêu và chức năng hoạt động của AFC Sài Gòn

Do hoạt động trong một lĩnh vực dịch vụ có độ chuyên môn sâu cao và các tiêu chuẩn ngành nghề đã có từ lâu đời và đã được quốc tế hoá, Công ty sẽ tập trung đào tạo để không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của nhân viên, để vừa đáp ứng được các tiêu chuẩn Nhà nước, đồng thời đủ năng lực và uy tín để cạnh tranh với công ty khác

Với phương châm “uy tín – chính xác – bí mật” AFC Sài Gòn đang hướng tới những yêu cầu cần được phục vụ ngày càng đa dạng của các đối tượng khách hàng

Theo Quyết định số 108-TC/TCCB của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Công

ty AFC Sài Gòn có chức năng cung cấp các dịch vụ kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính tại Việt Nam

Trang 34

Từ ngày thành lập cho đến nay, Công ty AFC Sài Gòn đã và đang cung cấp nhiều dịch vụ, chi tiết như sau:

 Dịch vụ kiểm toán: Báo cáo tài chính doanh nghiệp và dự án; dự toán

và quyết toán công trình xây dựng cơ bản; báo cáo tài chính hợp đồng hợp tác kinh doanh

 Các dịch vụ phục vụ quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp, xác định giá trị doanh nghiệp, tham gia thị trường chứng khoán

 Dịch vụ kế toán: Hướng dẫn áp dụng chế độ tài chính, kế toán, thống

kê do Nhà nước quy định phù hợp với hoạt động của từng loại hình doanh nghiệp; Xây dựng và thực hiện mô hình tổ chức bộ máy, tổ chức công tác kế toán, tài chính, thông tin kinh tế nội bộ, quy trình kế toán, các phần hành, phần việc kế toán theo phương pháp, chế độ kế toán cho phép; Hướng dẫn và thực hiện sổ sách kế toán, hạch toán, quyết toán

 Dịch vụ thuế

 Dịch vụ tư vấn kinh doanh

 Dịch vụ huấn luyện

 Dịch vụ phần mềm kế toán

 Dịch vụ khác: cung cấp mẫu biểu báo cáo kế toán, sổ kế toán và chứng

từ kế toán, các tài liệu chuyên ngành tài chính kế toán thuế cho các doanh nghiệp

Công ty cũng có chức năng cung cấp dịch vụ chuyên ngành cho các ngành kinh tế đặc biệt như ngành ngân hàng và kinh doanh chứng khoán Cụ thể như sau:

 Theo Thông báo số 1094/TB-fNHNN ngày 28/9/2004 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công ty được phép kiểm toán các tổ chức tín dụng, công ty tài chính;

 Theo Quyết định số 173/QĐ-UBCK ngày 30/6/2004 của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Công ty được phép kiểm toán các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam

Trang 35

2.1.1.3 Thị trường khách hàng

Số lượng khách hàng: Công ty AFC Sài Gòn đã cung cấp các dịch vụ

chuyên ngành cho hàng ngàn lượt khách hàng Từ chỗ chỉ có 35 khách hàng khi mới trở thành công ty độc lập năm 1995, đến nay Công ty đã có hơn 700 khách hàng và mức tăng trưởng bình quân năm về số lượng khách hàng trong

5 năm gần đây là 15%

Hiện nay, từ ba văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Cần Thơ, Công ty đang cung cấp các dịch vụ chuyên ngành cho hơn 800 khách hàng thường xuyên tại khắp mọi miền đất nước và 12.000 lượt học viên tham

dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ do Công ty tổ chức Công ty luôn cố gắng trong việc duy trì khách hàng cũ và tích cực tìm kiếm khách hàng mới

Với những khách hàng thường xuyên, các KTV của Công ty sẽ có sự hiểu biết nhất định về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng đó Do vậy, các thủ tục kiểm toán áp dụng sẽ được giảm đáng kể, tiết kiệm được thời gian kiểm toán và nâng cao hiệu quả của công tác kiểm toán

Cơ cấu khách hàng: Khách hàng của Công ty AFC Sài Gòn rất đa

dạng: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (50%), doanh nghiệp và các dự

án có vốn đầu tư của Nhà nước (39%), công ty cổ phần (8%), công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức và chương trình tài trợ quốc tế (8%) Các khách hàng này hoạt động trong nhiều ngành kinh tế khác nhau và sử dụng dịch vụ kiểm toán với nhiều mục đích khác nhau

Nhờ số lượng khách hàng phong phú, đa dạng, Công ty có được nhiều kinh nghiệm trong nhiều ngành công nghiệp chủ chốt bao gồm cả ngành tài chính ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán, hoá dầu, sản xuất, phát triển động sản, thương mại (bán sỉ và lẻ), đồn điền và trang trại, khách sạn cũng như các tổ chức phục vụ công ích, phi lợi nhuận Điều này không những giúp cho nhân viên trong Công ty có kiến thức chuyên sâu về các vấn đề cụ thể và và tư vấn cho khách hàng bằng các kiến thức quý giá từ ngành công nghiệp này sang ngành công nghiệp khác

Trang 37

- Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Công ty là người đứng đầu Công ty, giữ vai trò điều hành chung đồng thời quản lý trực tiếp trụ sở chính tại TP

Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, Giám đốc là người đại diện pháp luật của Công ty

- Ba phó Giám đốc chịu trách nhiệm hỗ trợ Giám đốc hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu đề ra, đồng thời đảm nhiệm việc trực tiếp quản lý các chi nhánh đặt tại các thành phố

- Các Phòng Phát triển Kinh doanh, phòng Tổ chức Hành chính Tài vụ, bộ phận Đào tạo bên ngoài có chức năng tham mưu cho ban Giám đốc, có nhiệm vụ thực hiện công tác tổ chức hành chính, nghiên cứu chiến lược phát triển kinh doanh, bồi dưỡng, đào tạo con người

Các thành viên trong ban Giám đốc đều là những người đại diện về mặt pháp luật cho AFC Sài Gòn, chịu trách nhiệm trực tiếp về chất lượng các cuộc kiểm toán do AFC thực hiện Các thành viên này là người quyết định ký hợp đồng kiểm toán và phê duyệt chương trình kiểm toán, là người thực hiện soát xét cuối cùng đối với mọi hồ sơ kiểm toán, và cũng là người đại diện cho Công ty ký phát

hành báo cáo kiểm toán và thư quản lý Chi nhánh tại Hà Nội: gồm có 3 phòng

nghiệp vụ và 1 Phòng Hành chính, Tài vụ Cơ cấu tổ chức đơn giản, gọn nhẹ thuận tiện cho việc quản lý Các phòng nghiệp vụ có chức năng, nhiệm vụ về cơ bản là giống nhau nghĩa là cùng thực hiện các dịch vụ kiểm toán và không có sự tách biệt Điều này giúp cho KTV có cái nhìn tổng quát hơn về các dịch vụ kiểm toán do mình cung cấp

2.1.2.2 Tổ chức và đào tạo nguồn nhân lực

Các nhân viên trong Công ty tuỳ theo kinh nghiệm tích luỹ và năng lực làm việc được phân thành hai cấp độ tương ứng với chế độ chịu trách nhiệm khác nhau: KTV chính và trợ lý kiểm toán Trong đó, KTV chính là người đã được cấp Chứng chỉ KTV Quốc gia, hoặc là những người đã có nhiều năm kinh nghiệm Trợ lý

kiểm toán là những người mới bắt tay vào nghề, đang trong giai đoạn học hỏi và tích luỹ kinh nghiệm, có nhiệm vụ thực hiện các phần hành mà trưởng nhóm phân công Đưa ra các ý kiến nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ là công việc khó và đòi hỏi tính chuẩn mực cao Người đưa ra ý kiến phải là người có tầm nhìn

Ngày đăng: 07/11/2013, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu số 04: Bảng câu hỏi kiểm tra tính nhạy cảm của Khách hàng B  (1) - LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
i ểu số 04: Bảng câu hỏi kiểm tra tính nhạy cảm của Khách hàng B (1) (Trang 49)
5.1. Bảng ghi nhớ các điều khoản thành lập Công  ty - LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
5.1. Bảng ghi nhớ các điều khoản thành lập Công ty (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w