Hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mới, cùng với các NHTM quốc doanh khác, hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp đã góp phần không nhỏ đáp ứng yêu cầu cung cấp
Trang 1THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TẠI CHI NHÁNH NHNO&PTNT LÁNG HẠ.
2.1 Khái quát về chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Năm 1988, Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam ra đời theo Nghị định số 53/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) Hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mới, cùng với các NHTM quốc doanh khác, hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp đã góp phần không nhỏ đáp ứng yêu cầu cung cấp vốn cho các thành phần kinh tế trên mọi miền đất nước mà đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân
Quyết định số 280/QĐ-NHNN ngày 15/11/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam hoạt động theo mô hình tổng công ty 90
Với tên gọi mới, ngoài chức năng của một NHTM, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam được xác định thêm nhiệm vụ: Đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam là NHTM duy nhất có hệ thống mạng lưới rộng khắp tại tất cả các đô thị và vùng nông thôn Với công nghệ ngày càng tiên tiến bao gồm hơn 25.000 nhân viên được đào tạo,
hệ thống làm việc ở hơn 1.300 Sở giao dịch, Chi nhánh tỉnh, thành phố, huyện,
xã Kể từ năm 1993 đến nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam là Ngân hàng Việt Nam đầu tiên liên tục được kiểm toán quốc tế do công ty kiểm toán Úc Cooper and Lybrand thực hiện và xác nhận “ Ngân hàng
Trang 2Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam là tổ chức Ngân hàng lành mạnh, đáng tin cậy ”.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Láng Hạ có trụ
sở chính tại số 24 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội được thành lập ngày 18/03/1997 theo quyết định số 334/QĐ-HĐQT của Hội Đồng Quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Chi nhánh là Ngân hàng cấp I, loại 2 trực thuộc trung tâm điều hành NHNo&PTNT Việt Nam, hoạt động theo luật các Tổ chức Tín dụng và điều lệ hoạt động của NHNo Việt Nam Chi nhánh là một đơn vị hạch toán độc lập nhưng tương đối phụ thuộc vào NHNo&PTNT Việt Nam, có quyền tự chủ kinh doanh, có con dấu riêng và được mở tài khoản giao dịch tại NHNN cũng như các tổ chức Tín dụng khác trong cả nước Kể từ khi thành lập đến nay, Chi nhánh Láng Hạ đã và đang hoạt động kinh doanh trên cơ sở tự kinh doanh, tự bù đắp và có lãi
2.1.2 Nhiệm vụ của Chi nhánh Láng Hạ.
Huy động vốn
- Khai thác và nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nuớc và ngoài nước bằng đồng Việt Nam và đồng ngoại tệ
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu Ngân hàng và thực hiện các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNo
- Tiếp nhận các nguồn vốn tài trợ, vốn uỷ thác của Chính phủ, chính quyền địa phương và các tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của Ngân hàng Nông ghiệp
- Được phép vay vốn ngắn hạn, trung và dài hạn của các tổ chức Thài chính trong nước theo quy định của NHNo
Cho vay
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn bằng đồng Việt Nam và đồng ngoại
tệ với các tổ chức kinh tế
Trang 3- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn bằng đồng Việt Nam đối với cá nhân và hộ gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế.
Kinh doanh ngoại hối: Huy động vốn, cho vay, mua, bán
ngoại tệ, thanh toán quốc tế và các dịch vụ khác về ngoại hối theo chính sách quản lý ngoại hối của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Nông nghiệp
Kinh doanh dịch vụ: Thu, chi tiền mặt, mua bán vàng bạc,
máy rút tiền tự động, dịch vụ thẻ Tín dụng, két sắt, nhận cất giữ, chiết khấu các loại giấy tờ có giá trị được bằng tiền, thẻ thanh toán, nhận uỷ thác cho vay của các tổ chức Tài chính, Tín dụng, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, các dịch vụ Ngân hàng khác được Nhà nước, Ngân hàng Nông nghiệp cho phép
Cân đối, điều hoà vốn kinh doanh nội tệ đối với các Chi nhánh NHNo&PTNT trực thuộc trên địa bàn
Thực hiện hạch toán kinh doanh và phân phối thu nhập theo quy định của Ngân hàng Nông nghiệp
Thực hiện đầu tư dưới các hình thức như: Hùn vốn, liên doanh, mua cổ phần và các hình thức đầu tư khác với các doanh nghiệp,
tổ chức kinh tế khác khi được Ngân hàng Nông nghiệp cho phép
Làm dịch vụ cho Ngân hàng phục vụ người nghèo
Quản lý nhà khách, nhà nghỉ và đào tạo tay nghề trên địa bàn (Nếu được Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp giao)
Trang 4 Tổ chức phổ biến, hướng dẫn và triển khai thực hiện các cơ chế, quy chế nghiệp vụ và văn bản pháp luật của Nhà nước, ngành Ngân hàng và Ngân hàng Nông nghiệp liên quan đến hoạt động của các Chi nhánh NHNo&PTNT.
Nghiên cứu, phân tích kinh tế liên quan đến hoạt động tiền
tệ, Tín dụng và đề ra kế hoạch kinh doanh phù hợp với kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương
Chấp hành đầy đủ các báo cáo, thống kê theo chế độ quy định và theo yêu cầu đột xuất của Tổng giám đốc Ngân hành Nông nghiệp
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp giao
2.1.3 Cơ cấu, tổ chức của Chi nhánh
Láng Hạ.
Về cơ cấu tổ chức: Đến ngày 31/12/2003, ngoài Ban Giám Đốc có 3
người, Chi nhánh gồm có 8 phòng: Phòng Tín dụng (25 người), Phòng Kế hoạch (5 người), Phòng Kế toán - Ngân quỹ (50 người), Phòng Thanh toán quốc tế (15 người), Phòng Kiểm tra - Kiểm toán nội bộ (4 người), Phòng Tổ chức cán bộ và đào tạo (5 người), Phòng Hành chính nhân sự (13 người), Phòng Thẩm định (3 người), và 5 phòng Giao dịch là phòng Giao dịch số 02 ở 29 ngõ Trạm - Hàng Giang (9 người), phòng Giao dịch số 03 ở 36 Doàn Kế Thiện (6 người), phòng Giao dịch số 05 ở Trung Kính (6 người), phòng Giao dịch số 06 ở 91 Hàng Mã (6 người) và phòng Giao dịch số 07 ở Đào Tấn (6 người) Ngoài ra, Chi nhánh
có 1 Chi nhánh cấp II trực thuộc là Chi nhánh Bách Khoa (21 người) và Chi nhánh Bách Khoa có 1 phòng Giao dịch trực thuộc là phòng Giao dịch số 04 ở
Lò Đúc (6 người)
Về cán bộ: Tổng số cán bộ công nhân viên chức toàn Chi nhánh đến ngày
31/12/2003 là 183 người, trong đó trình độ trên đại học là 3 người (chiếm
Trang 51.64%), Đại học và Cao đẳng là 139 người (chiếm 75.96%), Cao cấp nghiệp vụ
là 1 người (0.55%), Trung cấp là 10 người (chiếm 5.46%), Sơ cấp và các nghiệp
vụ khác là 30 người (chiếm 16.39%) Cán bộ công nhân viên chức của Chi nhánh có tuổi đời bình quân khá trẻ 38.31 tuổi Cán bộ Chi nhánh có 51 Đảng viên (chiếm 27.87%) với tuổi đời bình quân là 37,4 tuổi và 86 Đoàn viên (chiếm 56%) với tuổi đời bình quân là 26,5 tuổi
Sơ đồ minh hoạ cơ cấu, tổ choc của Chi nhánh Láng Hạ (Trang bên)
Trang 62.2 NỘI DUNG QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CỦA CHI NHÁNH NHNO&PTNT LÁNG HẠ.
2.2.1 Thông tin của Quản trị Tài chính tại Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ.
Thông tin luôn là cơ sở để ra các quyết định Tài chính Loại thông tin bao quát, đầy đủ nhất về tình hình Tài chính và kết quả hoạt động của các Ngân hàng là các báo cáo Tài chính thường liên, những báo cáo này do các nhà quản lý Ngân hàng lập ra nhằm phục vụ công tác quản lý của bản thân Ngân hàng và để đáp ứng yêu cầu của các
cơ quan kiểm soát bên ngoài
Theo thông lệ kế toán thì tình hình Tài chính của Ngân hàng được phản ánh trong bảng tổng kết tài sản, còn kết quả hoạt động của Ngân hàng được phản ánh trong báo cáo thu nhập, để đánh giá về khả năng thanh toán về các nghĩa vụ lơi, tình hình thanh khoản, tình hình lợi nhuận và rủi ro của Ngân hàng, trợ giúp cho việc ra các quyết định Tài chính quan trọng phải đồng thời dựa trên thông tin cả hai bảng báo cáo này
Báo cáo thu nhập là bản báo cáo phản ánh, đo lường hiệu quả hoạt động của một Ngân hàng trong một khoảng thời gian nhát định
Nó cho chúng ta biết điều gì đã xảy ra giữ hai thời điểm cuối kỳ của bảng tổng kết tài sản
Đặc điểm báo cáo thu nhập của các Ngân hàng là các chi phí
và thu nhập luôn được phân loại theo tính chất, đồng thời luôn tập trung ghi rõ số lượng các thu nhập và chi phí chính
Đặc điểm Tài chính của Ngân hàng là hầu hết các Tài sản Nợ
và Tài sản Có đều là những hợp đồng Tài chính hình thành trong quan hệ Tín dụng và vì thế các tài khoản hưởng lãi luôn được trình bày đầu tiên trong các báo cáo thu nhập của các Ngân hàng, và như vậy lãi phải trả cho nguồn vốn mà Ngân hàng khai thác là khoản mục chi phí căn bản của Ngân hàng Đây là những khoản mục thu nhập
và chi phí bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những thay đổi bất ngờ về lãi xuất
Ngoài các thông tin được trình bay trong các bảng cân đối tài sản và báo cáo thu nhập, để phục vụ việc ra quyết định Tài chính, giới Quản trị Ngân hàng còn phải thu thập và sử dụng nhiều thông tin bổ sung khác mà nhiều trong số đó là rất quan trọng Có thể nêu
ra đó là:
Trang 7- Các Tài sản Có sinh lời
- Các Tài sản Có rủi ro
- Các khoản cho vay khê đọng
- Độ nhạy cảm lãi suất
- Những khoản liên quan tới quỹ dự phòng lãi cho vay
- Nguồn vốn phụNgoài các khía cạnh về nguồn và loại thông tin, nhu cầu sử dụng thông tin đòi hỏi chúng ta đề cập tới khía cạnh chất lượng các thông tin Tài chính Có thể đề cập tới 3 khía cạnh chính:
Thứ nhất, giá trị của việc sử dụng các số liệu thời điểm và số liệu trung bình, số liệu trong các báo cáo thường niên được đưa ra tại một thời điểm Trong khi đó, Ngân hàng có rất nhiều Tài sản Có hoặc Tài sản Nợ ngắn hơn hoặc có thể mua bán hay hoàn trả trong một thời gian ngắn nên nhiều khi các dữ liệu thời điểm có thể gây lên nhầm lẫn
Thứ hai, sự khác biệt giữa giá trị ghi sổ và giá trị thị trường Thông tin Tài chính Ngân hàng thường được trình bày dưới dạng giá trị ghi sổ hơn là giá trị thị trường điều này gây ngạc nhiên tương đối vì hầu hét các Tài sản Nợ và Tài sản Có của Ngân hàng là các tài sản Tài chính, nghĩa là phải điều chỉnh giá trị (theo giá trị thị trường hoặc tính theo giá trị của các công cụ Tài chính tương tự)
Thứ ba, khả năng dễ dàng sử dụng thông tin để xác định các thông số Tài chính cơ bản Trên thực tế có rất nhiều loại thông tin Tài chính chịu ảnh hưởng bởi các quy tắc kế toán, định mức thuế và quyết định của ban điều hành
2.2.2 Những nội dung Quản trị Tài chính tại Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ.
Tại Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ, hoạt động Quản trị Tài chính cũng có những nội dung sau:
- Quản trị Tài sản Có
- Quản trị Tài sản Nợ
- Quản trị kết quả tài chínhNội dung cơ bản trong các nhiệm vụ của những nhà quan trị Ngân hàng ở đây chính là phân tích, lựa chọn và ra các quyết định về tài sản Ngân hàng
Trang 8Trong Quản trị Tài sản Có ở Ngân hàng thì mục tiêu cơ bản của Quản trị Tài sản Có mà Ngân hàng quan tâm đó là:
- Một là, tối đa hoá lợi nhuận Ngân hàng
- Hai là, giảm thiểu các rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh
- Ba là, đảm bảo khả năng thanh toán của Ngân hàng cả trong ngắn hạn và dài hạn
- Bên cạnh đó là các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ, ổn định giá cả và tạo công ăn việc làm
Trong Quản trị Tài sản Nợ ở Ngân hàng thì mục tiêu cơ bản của Quản trị Tài sản Nợ mà Ngân hàng quan tâm đó là:
- Huy động đủ vốn cần thiết đáp ứng các nhu cầu nắm giữ các Tài sản Có
- Giảm thiểu chi phí huy động vốn nhằm làm tăng lợi nhuận
- Giảm thiểu rủi ro trong quá trình huy động vốn
Trong Quản trị kết quả Tài chính thì nhiệm vụ cơ bản của nhà Quản trị Ngân hàng là tạo ra lợi nhuận trên cơ sở hạ thấp rủi ro
2.2.3 Thực trạng Quản trị Tài chính tại Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ.
Quản trị Tài sản Có
Ta có:
Trang 9Bảng 1: BẢNG TÀI SẢN CÓ CỦA CHI NHÁNH NHNO&PTNT LÁNG
Năm 2003 I/ Vốn ngân quỹ 186.00
0 250.00 0 305.00 0
1 Tiền mặt tại quỹ 100.00
0
126.00 0
149.00 0
2 Tiền gửi thanh toán tại
II/ Các khoản đầu tư và
cho vay 2.632. 400 3.933. 600 4.250. 000
1 Các khoản đầu tư (Góp
vốn, Đầu tư vào chứng
khoán)
337.40 0
491.60 0
501.00 0
2 Các khoản cho vay (Cho
vay thông thường, Cho vay
UTĐT)
2.295.0 00
3.442.0 00
3.749.0 00
III/ Tài sản cố định 47.000 69.000 87.000 IV/ Tài sản Có khác 39.200 51.100 76.600 Tổng cộng 2.904.
600 4.303. 700 4.718. 600
( Nguồn: Báo cáo tổng kết 3 năm 2001,2002 và 2003 )
Kết cấu tỷ trọng của các khoản mục Tài sản Có trong tổng Tài sản Có từ năm 2001 đến năm 2003
Bảng 2: KẾT CẤU CÁC LOẠI TÀI SẢN CÓ CỦA CHI NHÁNH LÁNG
HẠ Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 I/ Vốn ngân quỹ 6.40% 5.81% 6.46%
Trang 101 Tiền mặt tại quỹ 3.44% 2.93% 3.16%
2 Tiền gửi thanh toán tại
Nhìn vào bảng Tài sản Có ở Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ, trong 3 năm 2001, 2002 và 2003 Ta thấy có những đặc điểm sau:
Về vấn đề Quản trị dự trữ tiền mặt
Ta có:
Dự trữ bắt buộc
Trang 11hàng luôn duy trì một dự trữ thực tế lớn hơn dự trữ bắt buộc Cụ thể năm 2001 thừa 2.000 triệu đồng, năm 2002 thừa 1.205 triệu đồng, năm 2003 thừa 220 triệu đồng Ta thấy năm 2001, năm 2002 số tiền
dự trữ thực tế có nhiều hơn so với dự trữ bắt buộc, điều này không được tốt lắm bởi vì tài sản dự trữ bắt buộc không mang lại lợi tức hoặc nếu có thì rất nhỏ Trong khi đó Ngân hàng vẫn phải trả lãi cho người gửi tiền Nó như là yếu tố gây nên chi phí và nếu dự trữ ở mức cao sẽ tăng chi phí và giảm lợi nhuận ở Ngân hàng, tuy nhiên sang năm 2003, Ngân hàng đã bị điều chỉnh số dự trữ thừa này với mức
dự trữ thừa còn 220 triệu đồng Điều này chứng tỏ công tác quản tự
dự trữ bắt buộc ở Ngân hàng đã đạt được tốt
Về kiểm soát trạng thái tiền mặt ở Ngân hàng.
- Đối với tiền mặt tại quỹ
Năm 2001 là 100.000 triệu, năm 2002 là 126.000 triệu tăng 26.000 triệu so với năm 2001, năm 2003 là 149.000 triệu tăng 23.0000 triệu so với năm 2002, lượng tiền mặt ở Ngân hàng luôn tăng trong 3 năm, cho ta thấy Ngân hàng đã kiểm soát tiền mặt tồn tại quỹ ở mức tối thiểu Nhưng vẫn đủ đáp ứng nhu cầu chi trả tức thời … Nhà quản lý Ngân hàng đã kiểm soát được tồn tại quỹ tiền mặt của mình
- Đối với tiền gửi của Ngân hàng tại NHTW
Năm 2001 là 43.080 triệu , năm 2002 là 52.750 triệu, năm
2003 là 80.700 triệu
Lượng tiền gửi này tăng lên trong các năm do quy mô hoạt động Ngân hàng tăng lên Số dư này tăng có thể do nhiều nguyên nhân, Ngân hàng có thể dùng số tiền này để cho các Ngân hàng khác vay, trả nợ NHTW, rút tiền mặt trực tiếp mua các chứng khoán Kho bạc … Qua số liệu này, ta thấy được quy mô hoạt động của Ngân hàng tăng lên, đúng với ý định của nhà Quản trị Ngân hàng Nhưng lượng tiền gửi của Ngân hàng tại NHTW là những khoản mang lại thu nhập thấp cho Ngân hàng, vì vậy, Ngân hàng cần có sự điều chỉnh cho phù hợp ở đây
Về kiểm soát thanh khoản.
Ta sẽ xác định một số phép đo về thành khoản ở trong ngân hàng:
- Đo lường thanh khoản bằng quan hệ giữa Tiền cho vay so với Tổng vốn huy động
Trang 12Năm 2001
2.295.00
Năm 2002
3.442.00
90.32%
3.811.000
Năm 2003
3.749.00
92.87%
4.037.000
Tỷ lệ này như là một sự đo lường về tính lưu hoạt động dựa trên tiền đề cho rằng, Tín dụng là tài sản ít lưu hoạt nhất trong số các tài sản sinh lãi của Ngân hàng, vì thế khi tỷ lệ tăng tiền gửi để cho vay thì tính lưu hoạt giảm đi một cách tương ứng Khi tỷ lệ này tăng
đó là tín hiệu nhắc nhở và thúc đẩy nhà Quản trị Ngân hàng đánh giá toàn bộ chương trình bành trướng của nó
- Đo lường thanh khoản bằng hệ số giữa Vốn ngân quỹ so với Tổng vốn huy động
Năm 2001
186.000
= 7.07%
2.630.000
Năm 2002
250.000
= 6.56%
3.811.000
Năm 2003
305.000
= 7.56%
4.037.000
Trang 13Hệ số này tương đối ổn định, duy chỉ có năm 2002 là giảm đi,
so với năm 2001 là 0.51%, so với năm 2003 là 1%, hệ số này liên hệ trực tiếp giữa tài sản lưu hoạt với mức độ tiền gửi
Ta thấy rất khó xác định một mức chuẩn nào đó về thanh khoản bởi vì không thể tính được các nhu cầu trong tương lai Để đạt được một sự đánh giá thực tế về thanh khoản của Ngân hàng sẽ cần đến một sự lưu hoạt mong muốn và lượng tiền thu được trong mọi khoảng thời gian xác định
Về Quản trị danh mục tiền cho vay và tiền đầu tư kinh doanh khác.
- Về Quản trị tiền cho vay
Trong năm 2001, cho vay đối với nền kinh tế là 2.295.000 triệu đồng, năm 2002 cho vay đối với nền kinh tế là 3.442.000 triệu đồng, năm 2003 cho vay đối với nền kinh tế là 3.749.000 triệu đồng
Qua đây, ta thấy số lượng cho vay của Ngân hàng tăng lên trong các năm với một mức tăng tương đối ổn định
- Xét về cơ cấu trong cho vay đối với nền kinh tế ta thấy cả tỷ
lệ cho vay trung và dài hạn lãi cho vay ngắn hạn đều tăng lên, cụ thể:
+, Năm 2001 cho vay trung và dài hạn là 1.364.2500 triệu đồng chiếm 59.44% trong tổng số các khoản cho vay nền kinh tế, cho vay ngắn hạn là 930.750 triệu đồng chiếm 40.56% trong tổng số các khoản cho vay nền kinh tế
+, Năm 2002 cho vay trung và dài hạn là 2.409.409 triệu đồng chiếm 70% trong tổng số các khoản cho vay nền kinh tế, cho vay ngắn hạn là 1.032.591 triệu đồng chiếm 30% trong tổng số các khoản cho vay nền kinh tế
+, Năm 2003 cho vay trung và dài hạn là 2.654.000 triệu đồng chiếm 70.79% trong tổng số các khoản cho vay nền kinh tế, cho vay ngắn hạn là 1.095.000 triệu đồng chiếm 29.21% trong tổng số các khoản cho vay nền kinh tế
Thực tế số liệu trên đây ta thấy các nhà Quản trị Ngân hàng đã thực hiện tốt cho vay đối với nền kinh tế, vốn huy động tăng lên cùng với cho vay tăng lên, chất lượng uy tín tốt Tuy nhiên không phải vậy mà nhà Quản trị Ngân hàng lơ là mà cần phải luôn quan tâm và sẵn có các biện pháp khắc phục để nâng cao chất lượng Tín dụng ở Ngân hàng
Trang 14- Về các khoản đầu tư kinh doanh: Cũng tăng đều theo các năm Năm 2001 là 337.000 triệu đồng chiếm 11.62% trong tổng các khoản cho vay và đầu tư, năm 2002 là 491.600 triệu đồng chiếm 11.42% trong tổng các khoản cho vay và đầu tư, năm 2003 là 501.000 triệu đồng chiếm 10.62% trong tổng các khoản cho vay và đầu tư.
Nhìn chung, Ngân hàng đã thực hiện tốt công tác Quản trị Tài sản Có ở Ngân hàng Các nhà Quản trị Ngân hàng đã hoạch định, thực hiện được kế hoạch đề ra một cách tốt nhất, thích hợp với điều kiện môi trường kinh doanh Nhưng bên cạnh đấy vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần giải quyết Để có thể phân tích một cách kỹ lưỡng hơn nữa, ta sẽ đi phân tích Tài sản Nợ ở Ngân hàng
Quản trị Tài sản Nợ.
Ta có:
Trang 15Bảng 3: BẢNG TÀI SẢN NỢ CỦA CHI NHÁNH NHNO&PTNT LÁNG
Năm 2003 I/ Vốn huy động 2.630.0
00 3.811.0 00 4.037.0 00
00
1.986.0 00
2.010.0 00
2 Không kỳ hạn 547.000 961.000 1.046.0
00
4 Kỳ phiếu, Trái phiếu 476.000 744.000 831.000
II/ Vốn đi vay 132.00
lệ)
83.000 107.00
0
130.00 0 V/ Tài sản Nợ khác 28.600 34.700 59.600
Tổng cộng 2.904.6
00 4.303.7 00 4.718.6 00
( Nguồn: Báo cáo tổng kết 3 năm 2001,2002 và 2003 )
Kết cấu tỷ trọng của các khoản mục Tài sản Nợ trong tổng Tài sản Nợ từ năm 2001 đến năm 2003
Bảng 4: KẾT CẤU CÁC LOẠI TÀI SẢN NỢ CỦA CHI NHÁNH LÁNG
HẠ Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Trang 164 Kỳ phiếu, Trái phiếu 16.40% 18.21% 18.25%
II/ Vốn đi vay 4.54% 7.06% 9.00%
Tổng cộng 100% 100% 100%
Trang 17Tài sản Nợ của Chi nhánh tăng trưởng rất nhanh qua các năm
2001 đến năm 2003: 2.904.600 triệu đồng năm 2001 lên 4.303.700 triệu đồng năm 2002 và lên đến 4.718.600 triệu đồng năm 2003 Như vậy chỉ qua có 2 năm mà Tài sản Nợ của Chi nhánh đã tăng 1.814.000 triệu đồng Sở dĩ có sự tăng trưởng như vậy là do vốn huy động của Chi nhánh tăng trưởng nhanh, do việc mở rộng thêm các phòng giao dịch
và phát triển thêm các loại hình huy động vốn đến các tổ chức kinh tế
và dân cư, đặc biệt là việc huy động nguồn tiền gửi của các Tổng công
ty 90, 91, các tập đoàn kinh tế lớn và vốn của các tổ chức Tài chính lớn như: Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam, Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm 2001 vốn huy động là 2.630.000 triệu đồng, năm 2002 vốn huy động là 3.811.000 triệu đồng tăng 1.181.000 triệu đồng so với năm
2001, năm 2003 vốn huy động là 4.037.000 triệu đồng tăng 226.000 triệu đồng so với năm 2002 Qua đó, cũng thấy công tác huy động vốn
ở Ngân hàng rất tốt, ta sẽ xem xét cụ thể từng nguồn vốn huy động:
+, Trong năm 2001, tiền gửi của doanh nghiệp là 1.181.350 triệu đồng chiếm 44.92% trong tổng vốn huy động Trong đó tiền gửi có kỳ hạn là 550.000 triệu đồng chiếm 46.56% trong tiền gửi của doanh nghiệp Trong năm 2002, tiền gửi của doanh nghiệp là 1.750.380 triệu đồng chiếm 45.93% trong tổng vốn huy động Trong đó tiền gửi có kỳ hạn là 952.400 triệu đồng chiếm 54.41% trong tiền gửi của doanh nghiệp Trong năm 2003, tiền gửi của doanh nghiệp là 2.130.310 triệu đồng chiếm 52.77% trong tổng vốn huy động Trong đó tiền gửi có kỳ hạn là 1.295.000 triệu đồng chiếm 60.79% trong tiền gửi của doanh nghiệp Ở đây ta thấy một vấn đề là tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn tăng lên,