1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sỹ kinh tế - Năng suất lao động trong doanh nghiệp Việt Nam

223 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 223
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh và khoảng trống nghiên cứu 1.1.1 Bối cảnh thực tiễn Vào những năm 1990 của thế kỷ 20, nền kinh tế Việt Nam đã có bước tăng trưởng vượt bậc chủ yếu đến từ tăng năng suất suất lao động (NSLĐ) trong nông nghiệp. Điều này chính là kết quả của quá trình giải tán hợp tác xã (HTX) và giao quyền sử dụng đất cho tư nhân. Trong những năm kế tiếp, sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam dựa vào sự phát triển vượt bậc của hệ thống các doanh nghiệp tư nhân (Bodewig và Magnusson, 2014). Việc làm được tạo ra cho hàng triệu người lao động nhờ vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang các ngành dịch vụ, sản xuất và chế biến hướng đến xuất khẩu. Mặc dù có những tiến bộ rõ ràng và ổn định hơn một số quốc gia khác, hiện nay Việt Nam đang tiếp tục đối mặt với những thách thức mới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế và việc chuyển đổi từ khu vực nông nghiệp sang các ngành khác có dấu hiệu chậm lại, thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp (Vũ Minh Khương, 2016). Tăng trưởng năng suất từng là nhân tố chính cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong những năm đầu đổi mới đã giảm dần trong thập kỷ vừa qua, tốc độ tăng NSLĐ đi xuống (Nguyễn Đức Thành và Ohno Kenichi, 2018). Thay vì cải thiện NSLĐ để tiếp tục đạt được thành tựu, đầu tư vốn trở thành nguồn tăng trưởng kinh tế chính trong giai đoạn kế tiếp này. Nhưng theo Bodewig và Magnusson (2014), đây không phải là mô hình bền vững, thích hợp đối với Việt Nam để đảm bảo duy trì mức độ tăng trưởng cao. Thêm vào đó, dân số lao động Việt Nam vẫn tiếp tục tăng lên nhưng quy mô lao động trẻ lại có xu hướng giảm. Điều này có nghĩa Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào quy mô lao động để thành công như ở giai đoạn trước đây mà thay vào đó, Việt Nam cần tập trung vào việc làm cho lực lượng lao động của mình trở nên năng suất hơn (Bodewig và Magnusson, 2014, ILO, 2015). Những năm qua Việt Nam được hưởng lợi từ “lợi tức nhân khẩu học”(1), nhưng hiện nay xu hướng dân số đang ngày càng già đi làm cho chúng ta giảm cơ hội này. Bên cạnh đó, tốc độ tăng lực lượng lao động hằng năm có xu hướng giảm dần (tốc độ tăng lực lượng lao động thấp hơn tốc độ tăng dân số). Lực lượng lao động hiện nay khoảng 54,5 triệu người nhưng chỉ có khoảng 23,67% có bằng cấp chứng chỉ (ILO, 2018). Do đó, để tránh tình trạng “già trước khi giàu”, Việt Nam cần tập trung cải thiện năng suất lao động cho lực lượng lao động (ILO, 2018). Lao động (trục trái – triệu người) Tăng trưởng lao động (trục phải - %) Hình 1.1 Lao động trong doanh nghiệp giai đoạn 2007-2015 Nguồn: Báo cáo thường niên DNVN 2016 Năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng và phổ biến để phản ánh hiệu quả phát triển kinh tế cũng như chất lượng của lực lượng lao động. Theo báo cáo kinh tế thường niên của VEPR (2018), NSLĐ của Việt Nam tăng từ 38,64 triệu VNĐ/người lao động năm 2006 đến 60,73 triệu VNĐ/ người lao động năm 2017 và phân thành 2 giai đoạn tăng trưởng khác nhau. Nếu giai đoạn 2006-2012, tốc độ tăng trưởng của NSLĐ Việt Nam có xu hướng giảm (từ 4,05% năm 2006 giảm còn 3,06% năm 2012) thì giai đoạn 2012-2017 NSLĐ bình quân tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ 5,3%/năm. Mặc dù được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng NSLĐ tốt nhất khu vực nhưng khi so sánh quốc tế theo báo cáo của Tổ chức lao động quốc tế (ILO, 2015) và ADB về NSLĐ của ASEAN 2014 vào ngày 19/08/2014 năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 1/4 của Thái Lan, 1/5 của Malaysia, 1/10 của Hàn Quốc và 1/15 của Singapore. Khi so sánh NSLĐ của 9 nhóm ngành, NSLĐ của Việt Nam đều ở mức gần hoặc thấp nhất so với các nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) và ngay cả với các nước trong ASEAN như Singapore, Thái Lan, hay thậm chí là Indonesia, Philippines, Campuchia và Malaysia (VEPR, 2018).

Trang 1

-ĐÀO VŨ PHƯƠNG LINH

NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 2

-ĐÀO VŨ PHƯƠNG LINH

NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh tế Phát triển

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 TS PHẠM KHÁNH NAM

2 TS LÊ VĂN CHƠN

TP Hồ Chí Minh- Năm 2020

Trang 3

Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nghiên cứu sinh

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Bối cảnh và khoảng trống nghiên cứu 1

1.1.1 Bối cảnh thực tiễn 1

1.1.2 Bối cảnh lý thuyết 9

1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu 12

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 15

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 15

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 15

1.4.1 Phạm vi nghiên cứu 15

1.4.2 Đối tượng nghiên cứu 16

1.5 Phương pháp nghiên cứu 16

1.6 Ý nghĩa của luận án 17

1.7 Cấu trúc của luận án 18

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 20

2.1 Giới thiệu 20

2.2 Khái niệm và đo lường năng suất lao động 20

2.3 Lý thuyết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến NSLĐ của doanh nghiệp 23

Trang 5

2.4.2 Những nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa FDI và NSLĐ 28

2.5 Xuất khẩu và năng suất lao động 32

2.5.1 Lý thuyết cơ chế tự lựa chọn (self selection) 32

2.5.2 Lý thuyết học hỏi thông qua xuất khẩu (Learning by exporting) 33

2.5.3 Những nghiên cứu thực nghiệm giữa xuất khẩu và năng suất lao động 35

2.6 Chính sách phúc lợi ngoài lương và ảnh hưởng đến năng suất lao động 39

2.6.1 Chính sách phúc lợi ngoài lương 41

2.6.2 Lý thuyết về sự tác động của các chính sách phúc lợi ngoài lương đến năng suất lao động doanh nghiệp 42

2.6.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow 43

2.6.2.2 Lý thuyết kỳ vọng 45

2.6.2.3 Lý thuyết môi trường 46

2.6.3 Vai trò của các chế độ phúc lợi ngoài lương 47

2.6.4 Các nghiên cứu thực nghiệm về sự tác động của chế độ phúc lợi ngoài lương đến năng suất lao động 54

TÓM TẮT CHƯƠNG 57

CHƯƠNG 3.TÁC ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ XUẤT KHẨU ĐẾN NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ QUY MÔ VÀ THÂM DỤNG VỐN KHÁC NHAU 58

3.1 Giới thiệu chung 59

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 61

Trang 6

3.3 Tổng quan mô hình ước lượng NSLĐ ở cấp độ doanh nghiệp 64

3.4 Đo lường biến và các giả thuyết nghiên cứu 68

3.4.1 Biến phụ thuộc: Năng suất lao động 68

3.4.2 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự tác động của nó đến năng suất lao động doanh nghiệp 68

3.4.3 Tác động của xuất khẩu 70

3.4.4 Quy mô và mức độ thâm dụng vốn của ngành và doanh nghiệp 72

3.4.5 Các biến đặc điểm của doanh nghiệp 74

3.5 Khung phân tích và mô hình kinh tế lượng cụ thể phân tích sự tác động khác biệt của FDI và xuất khẩu đến NSLĐ của các doanh nghiệp thuộc các ngành có mức độ thâm dụng vốn khác nhau 78

3.6 Kết quả nghiên cứu 80

3.6.1 Thống kê mô tả 80

3.6.1.1 Mô tả dữ liệu nghiên cứu 80

3.6.1.2 Thống kê mô tả một số biến chính trong mô hình nghiên cứu 84

3.6.2 Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu phân tích sự tác động khác nhau của FDI và xuất khẩu đến năng suất lao động các doanh nghiệp có mức độ thâm dụng vốn khác nhau 85

3.6.2.1 Nhóm ngành thâm dụng lao động 86

3.6.2.2 Nhóm ngành thâm dụng vốn 92

3.7 Tóm tắt chương 98

CHƯƠNG 4 99

Trang 7

4.2 Dữ liệu nghiên cứu 102

4.3 Phương pháp nghiên cứu 102

4.4 Mô tả biến và giả thuyết nghiên cứu 104

4.4.1 Biến phụ thuộc Năng suất lao động 104

4.4.2 Các biến thể hiện sự thực thi phúc lợi của doanh nghiệp nhỏ và vừa 105

4.4.3 Đặc điểm của doanh nghiệp 106

4.5 Khung phân tích và mô hình 114

4.6 Kết quả nghiên cứu 115

4.6.1 Mô tả dữ liệu nghiên cứu 115

4.6.2 Thống kê mô tả các biến chính trong mô hình nghiên cứu 118

4.6.3 Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu đánh giá mức độ tác động của phúc lợi đến năng suất lao động 123

4.7 Tóm tắt chương 144

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 145

5.1 Những kết quả chính của nghiên cứu 147

5.1.1 FDI, xuất khẩu và năng suất lao động của doanh nghiệp 147

5.1.2 Tác động của các chính sách phúc lợi đến năng suất lao động 148

5.2 Đóng góp mới của nghiên cứu 149

5.3 Hàm ý chính sách 149

5.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 154

Trang 8

DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa

HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

MNEs: Công ty đa quốc gia

NSLĐ: Năng suất lao động

OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

TCTK: Tổng cục thống kê

TNEs: Công ty xuyên quốc gia

VCCI: Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam

Trang 9

Bảng 3.1: Tỷ lệ số lượng doanh nghiệp và mức độ thâm dụng vốn của các tiểu

ngành trong ngành chế biến chế tạo 65

Bảng 3.2: Bảng tổng hợp định nghĩa các biến số trong mô hình 80

Bảng 3.3: Số lượng doanh nghiệp phân theo ngành theo các năm 83

Bảng 3.4: Số lượng doanh nghiệp phân theo ngành nghề và quy mô 83

Bảng 3.5: Doanh nghiệp được phân theo loại hình sở hữu 84

Bảng 3.6: Số lượng doanh nghiệp nhận FDI và xuất khẩu phân theo quy mô và ngành 85

Bảng 3.7: Doanh nghiệp được phân theo vị trí khu công nghiệp và vùng 87

Bảng 3.8: Thống kê mô tả nhóm biến chính của mô hình của doanh nghiệp thuộc ngành may trang phục 89

Bảng 3.9: Thống kê mô tả nhóm biến chính của mô hình của doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 89

Bảng 3.10: Bảng thống kê số lượng doanh nghiệp có xuất khẩu và có vốn FDI trong ngành thâm dụng lao động 90

Bảng 3.11: Bảng thống kê số lượng các loại hình doanh nghiệp ngành may trang phục 90

Bảng 3.12: Kết quả mô hình ước lượng FEM và REM 92

Bảng 3.13: Quy mô và mức độ vốn hóa tại 3 mức tứ phân vị của các doanh nghiệp ngành may trang phục 93

Bảng 3.14: Tác động quy mô doanh nghiệp đến năng suất lao động 94

Bảng 3.15: Các trường hợp có thể xảy ra của tác động của mức độ vốn hóa của doanh nghiệp đến NSLĐ 95

Bảng 3.16: Bảng thống kê số lượng doanh nghiệp ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc xuất khẩu và nhận đầu tư FDI .97

Trang 10

Bảng 3.19: Quy mô và mức độ vốn hóa tại 3 mức tứ phân vị của các doanh nghiệp

ngành chế biến sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 99

Bảng 3.20: Tác động quy mô doanh nghiệp đến năng suất lao động 100

Bảng 3.21: Tác động của mức độ vốn hóa của doanh nghiệp đến năng suất lao động .101

Bảng 4.1: Bảng tổng hợp định nghĩa các biến số trong mô hình 2 118

Bảng 4.2: Phân phối mẫu nghiên cứu phân theo ngành nghề qua các năm …………

121

Bảng 4.3: Số lượng doanh nghiệp được phân theo quy mô và vùng miền 122

Bảng 4.4: Số lượng doanh nghiệp phân theo quy mô và loại hình doanh nghiệp .124

Bảng 4.5: Trình bày thống kê mô tả các biến số chính trong mô hình nghiên cứu 124

Bảng 4.6: Trình bày số lượng doanh nghiệp xuất khẩu và FDI phân theo quy mô doanh nghiệp 125

Bảng 4.7: Số lượng doanh nghiệp có thành lập tổ chức công đoàn 126

Bảng 4.8: Trình bày số lượng doanh nghiệp đóng các loại bảo hiểm phân theo quy mô 125

Bảng 4.9: Số lượng doanh nghiệp thực thi phúc lợi cho người lao động qua các năm .128

Bảng 4.10: Số lượng các doanh nghiệp thực thi chính sách phúc lợi phân theo miền .130

Bảng 4.11: Số lượng doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 130

Bảng 4.12: Số lượng doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp .131

Bảng 4.13: Mức độ tương quan của BHXH, BHYT và BHTN 132

Bảng 4.14: Bảng thống kê số doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội theo quy mô doanh nghiệp 132

Trang 11

hội bắt buộc 136Bảng 4.17: Kết quả mô hình ước lượng tác động của BHXH, BHYT và BHTN đếnnăng suất lao động tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa 136Bảng 4.18: Năng suất trung bình của doanh nghiệp có hình thức sở hữu là công tytrách nhiệm hữu hạn và các hình thức khác 143Bảng 4.19: Kết quả ước lượng mô hình tác động của các chính sách phúc lợi đếnnăng suất lao động tại DNNVV 145Bảng 4.20: Mức độ tác động của các chính sách phúc lợi đến NSLĐ của doanhnghiệp 147

Trang 12

Hình 1.1: Lao động trong doanh nghiệp giai đoạn 2007-2015 2Hình 1.2: Năng suất lao động của Việt Nam trong bối cảnh các nhóm nước năm1991-2022 3Hình 2.1: Các yếu tố quyết định đến năng suất lao động 25Hình 2.2: Khung phân tích năng suất lao động của nghiên cứu 26Hình 3.1: Sự phát triển của 10 ngành xuất khẩu hàng đầu Việt Nam giai đoạn 2013-

2018 63Hình 3.2: Khung phân tích mục tiêu số 1 82Hình 4.1: Mức độ phát triển của bảo hiểm xã hội theo tỉnh thành của các DNNVVgiai đoạn 2006-2015 106Hình 4.2: Khung phân tích mục tiêu số 2 120

Trang 13

chúng ta có được Trong nhiều năm qua, chúng ta vẫn đang loay hoay tìm cácphương án giúp cải thiện năng suất lao động cho bản thân mình FDI và xuất khẩuvốn được xem là hai kênh được trông cậy sẽ giúp cải thiện tình trạng của năng suấtlao động nhờ lan tỏa công nghệ từ nước ngoài, tuy nhiên, không phải các kênh nàyđều phù hợp với tình trạng của tất cả các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khácnhau Để gia nhập vào bất kỳ một chế độ toàn cầu nào, các doanh nghiệp cũng đềutốn rất nhiều thời gian cũng như công sức để chuẩn bị cho lộ trình gia nhập cho dù

đó là thông qua thu hút FDI hay xuất khẩu Do đó, để giúp các doanh nghiệp cóđịnh hướng rõ ràng, cụ thể đồng thời giảm bớt rủi ro cho các doanh nghiệp trongquá trình đầu tư vào lộ trình toàn cầu hóa nhằm tìm kiếm phương thức cải thiệnnăng suất lao động không phù hợp mà luận án đã đưa ra mục tiêu phân tích sự tácđộng khác nhau của FDI và xuất khẩu đến năng suất lao động của các doanh nghiệp

có mức độ thâm dụng vốn khác nhau Thêm vào đó, chính sách phúc lợi hiện naycàng ngày càng chiếm một khoảng lớn trong chi phí của các gói chế độ đãi ngộ chonhân viên của các doanh nghiệp Tuy nhiên, việc các chính sách này ảnh hưởng đếnnăng suất lao động như thế nào lại chưa thu hút được nhiều nghiên cứu hoặc nghiêncứu theo những phương pháp chưa phù hợp ở Việt Nam Luận án này tập trung vàotìm kiếm bằng chứng cho thấy sự tác động của các chính sách phúc lợi đến năng suấtlao động tập trung là tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trang 14

nghiệp trong ngành có tác động đến năng suất lao động của doanh nghiệp Việc cácdoanh nghiệp có xuất khẩu hay không xuất khẩu không làm thay đổi năng suất laođộng của doanh nghiệp Ngược lại, đối với ngành thâm dụng vốn, dường như việcxuất hiện của FDI đối với một doanh nghiệp trong ngành lại không làm thay đổinăng suất lao động của doanh nghiệp đó Tuy nhiên, xuất khẩu sản phẩm ra thịtrường nước ngoài của ngành thâm dụng vốn lại mang lại ý nghĩa tích cực đối vớinăng suất lao động Luận án cũng tìm thấy bằng chứng về sự tác động của các chínhsách phúc lợi đến năng suất lao động Chiều và độ lớn của sự tác động của cácchính sách đồng thời còn phụ thuộc vào quy mô doanh nghiệp.

Từ khóa: Năng suất lao động, FDI, xuất khẩu, chính sách phúc lợi

ABSTRACT

The research topic of the thesis comes from the fact that Vietnam's laborproductivity in the past 20 years has not grown up to the economic potential that wehave For many years, we are still struggling to find ways to improve laborproductivity for ourselves FDI and export are considered to be the two channelsthat can be expected to help improve labor productivity by spreading technologyfrom abroad, but not for all Therefore, to help businesses have a clear, specificdirection and reduce risks for businesses in the process of investing in theglobalization roadmap to find ways to improve unsuitable labor productivity Thethesis has set the goal of analyzing the impact of FDI and export on the laborproductivity of enterprises with different levels of capital intensity In addition, thecurrent welfare policy increasingly accounts for a large part of the cost of incentivepackages for employees of businesses However, how these policies affect laborproductivity has not attracted many studies in Vietnam This thesis focuses onfinding evidence that the impact of welfare policies on labor productivity isconcentrated in SMEs

Trang 15

industry has an impact on the labor productivity of the enterprise Whetherbusinesses export or not export does not change the labor productivity ofenterprises In contrast, for capital-intensive industries, it seems that the presence ofFDI for a firm in the industry does not change the labor productivity of thatenterprise However, the export of products to foreign markets by the capitalintensive industry has brought a positive meaning to labor productivity The thesisalso finds evidence of the impact of welfare policies on labor productivity Positive

or negative impact and magnitude of the impact of policies also depend on the size

of the business

Key word: labor productivity, FDI, export, employee benefits

Trang 16

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh và khoảng trống nghiên cứu

1.1.1 Bối cảnh thực tiễn

Vào những năm 1990 của thế kỷ 20, nền kinh tế Việt Nam đã có bước tăngtrưởng vượt bậc chủ yếu đến từ tăng năng suất suất lao động (NSLĐ) trong nôngnghiệp Điều này chính là kết quả của quá trình giải tán hợp tác xã (HTX) và giaoquyền sử dụng đất cho tư nhân Trong những năm kế tiếp, sự tăng trưởng kinh tếViệt Nam dựa vào sự phát triển vượt bậc của hệ thống các doanh nghiệp tư nhân(Bodewig và Magnusson, 2014) Việc làm được tạo ra cho hàng triệu người laođộng nhờ vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang các ngành dịch vụ,sản xuất và chế biến hướng đến xuất khẩu

Mặc dù có những tiến bộ rõ ràng và ổn định hơn một số quốc gia khác, hiện nayViệt Nam đang tiếp tục đối mặt với những thách thức mới Tốc độ tăng trưởng kinh

tế và việc chuyển đổi từ khu vực nông nghiệp sang các ngành khác có dấu hiệuchậm lại, thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp (Vũ Minh Khương, 2016).Tăng trưởng năng suất từng là nhân tố chính cho tăng trưởng kinh tế Việt Namtrong những năm đầu đổi mới đã giảm dần trong thập kỷ vừa qua, tốc độ tăngNSLĐ đi xuống (Nguyễn Đức Thành và Ohno Kenichi, 2018) Thay vì cải thiệnNSLĐ để tiếp tục đạt được thành tựu, đầu tư vốn trở thành nguồn tăng trưởng kinh

tế chính trong giai đoạn kế tiếp này Nhưng theo Bodewig và Magnusson (2014),đây không phải là mô hình bền vững, thích hợp đối với Việt Nam để đảm bảo duytrì mức độ tăng trưởng cao

Thêm vào đó, dân số lao động Việt Nam vẫn tiếp tục tăng lên nhưng quy mô laođộng trẻ lại có xu hướng giảm Điều này có nghĩa Việt Nam không thể tiếp tục dựavào quy mô lao động để thành công như ở giai đoạn trước đây mà thay vào đó, ViệtNam cần tập trung vào việc làm cho lực lượng lao động của mình trở nên năng suấthơn (Bodewig và Magnusson, 2014, ILO, 2015)

nay xu hướng dân số đang ngày càng già đi làm cho chúng ta giảm cơ hội này Bên

Trang 17

cạnh đó, tốc độ tăng lực lượng lao động hằng năm có xu hướng giảm dần (tốc độtăng lực lượng lao động thấp hơn tốc độ tăng dân số) Lực lượng lao động hiện naykhoảng 54,5 triệu người nhưng chỉ có khoảng 23,67% có bằng cấp chứng chỉ (ILO,2018) Do đó, để tránh tình trạng “già trước khi giàu”, Việt Nam cần tập trung cảithiện năng suất lao động cho lực lượng lao động (ILO, 2018).

Hình 1.1 Lao động trong doanh nghiệp giai đoạn 2007-2015

Nguồn: Báo cáo thường niên DNVN 2016Năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng và phổ biến để phản ánh hiệu quả pháttriển kinh tế cũng như chất lượng của lực lượng lao động Theo báo cáo kinh tếthường niên của VEPR (2018), NSLĐ của Việt Nam tăng từ 38,64 triệu VNĐ/ngườilao động năm 2006 đến 60,73 triệu VNĐ/ người lao động năm 2017 và phân thành

2 giai đoạn tăng trưởng khác nhau Nếu giai đoạn 2006-2012, tốc độ tăng trưởngcủa NSLĐ Việt Nam có xu hướng giảm (từ 4,05% năm 2006 giảm còn 3,06% năm2012) thì giai đoạn 2012-2017 NSLĐ bình quân tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ5,3%/năm

Mặc dù được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng NSLĐ tốtnhất khu vực nhưng khi so sánh quốc tế theo báo cáo của Tổ chức lao động quốc tế(ILO, 2015) và ADB về NSLĐ của ASEAN 2014 vào ngày 19/08/2014 năng suấtlao động của Việt Nam chỉ bằng 1/4 của Thái Lan, 1/5 của Malaysia, 1/10 của HànQuốc và 1/15 của Singapore Khi so sánh NSLĐ của 9 nhóm ngành, NSLĐ của Việt

Trang 18

Nam đều ở mức gần hoặc thấp nhất so với các nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, HànQuốc, Trung Quốc) và ngay cả với các nước trong ASEAN như Singapore, TháiLan, hay thậm chí là Indonesia, Philippines, Campuchia và Malaysia (VEPR, 2018).

Hình 1.2: Năng suất lao động của Việt Nam trong bối cảnh các nhóm nước

năm 1991-2022

Nguồn: VEPR, 2018 trích từ ILO ước tính cho giai đoạn 1991-2016 và dự báo giai

đoạn 2017-2022Khi nghiên cứu về nguồn gốc tăng trưởng của NSLĐ Việt Nam theo phương pháphạch toán tăng trưởng NSLĐ thành tăng trưởng mật độ vốn và tăng năng suất nhân

tố tổng hợp (TFP), nhóm nghiên cứu của VEPR (2018) cho rằng TFP đóng vai tròngày càng quan trọng trong tăng trưởng NSLĐ bình quân của Việt Nam Sự sụtgiảm trong tốc độ tăng trưởng TFP kéo theo sự sụt giảm trong tốc độ tăng trưởngNSLĐ giai đoạn 2008-2009 Sự đóng góp của TFP vào NSLĐ bình quân của ViệtNam tăng từ 37,05% ở giai đoạn 2006-2012 lên đến 58,59%/năm giai đoạn 2012-

2017 đã làm cho NSLĐ bình quân của giai đoạn này tăng lên mạnh mẽ Điều nàyphản ánh vai trò ngày càng quan trọng của TFP đối với tăng trưởng NSLĐ bình quânViệt Nam Hay nói cách khác, muốn gia tăng NSLD Việt Nam cần quan tâm đến cácyếu tố đóng góp vào TFP

Những phương thức giúp gia tăng năng suất lao động hiện nay được Việt Nam sửdụng phổ biến đó là gia tăng công nghệ thông qua việc mở cửa nền kinh tế cụ thể làtăng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, khuyến khích các doanh nghiệp trong nước

Trang 19

xuất khẩu hay gia tăng năng suất lao động thông qua chính sách tăng lương cơ bản.Tuy nhiên, thành tựu đạt được vẫn chưa được như mong đợi bằng chứng là nhữngkết quả về năng suất lao động đã nêu ở trên Do đó, xem xét rõ hơn về các cách thứctác động của các chính sách này rất hữu ích vì (1) nó có thể giúp các nhà hoạch địnhchính sách định hướng chiến lược, đưa ra các biện pháp can thiệp để có thể cải thiệnnăng suất lao động quốc gia từ đó tăng trưởng kinh tế; (2) nó hữu ích cho các nhàquản trị doanh nghiệp trong thiết kế chính lược phù hợp với doanh nghiệp của mình,giảm thiểu chi phí và đạt lợi nhuận và cơ hội đầu tư.

Để lực lượng lao động trở nên năng suất hơn đầu tiên cần xem xét đến lực lượng laođộng trong hệ thống các doanh nghiệp vì đây là nơi nắm giữ phần lớn lực lượng laođộng của cả nước Hệ thống doanh nghiệp và khu vực tư nhân là một phần vô cùngquan trọng và là động lực chính của tăng trưởng kinh tế Việt Nam (WB, 2014).Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và đầu tư (2019) về năng suất và khả năng cạnhtranh của các doanh nghiệp Việt Nam, năng suất lao động hiện nay của Việt Nam

vì vậy việc phân tích các yếu tố quyết định năng suất lao động ở góc độ doanhnghiệp, với giả định là thành phần chính của “hiệu ứng nội ngành” trong NSLĐtăng là rất quan trọng

Chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc hay dịch bệnh Covid 19 ảnhhưởng sâu rộng đến nền kinh tế thế giới, đặc biệt là các quốc gia có độ mở kinh tếcao Đây cũng là bối cảnh thực tiễn quan trọng đặt ra đối với các doanh nghiệp Việt

mạnh để tham gia vào thị trường thế giới, qua đó chuyển hóa thách thức thànhnhững lợi ích mới Điều kiện đầu tiên để phát huy nội lực chính là nâng cao NSLĐcủa doanh nghiệp

Kể từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu mở cửa nền kinh tế đã thu hút được một lượnglớn dòng vốn FDI cũng như đạt được những thành tựu trong xuất khẩu Đầu tư trựctiếp nước ngoài và xuất khẩu được xem là những kênh quan trọng giúp gia tăngnăng suất lao động của các doanh nghiệp trong nước từ chế độ toàn cầu hóa thông

Trang 20

qua việc giới thiệu vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý và hiệu ứng lan tỏa công nghệ(Liu và cộng sự, 20001; Haidar, 2012; Newman và cộng sự, 2014, Tomiura, 2007)

Ở các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam, FDI được coi là phương tiệnkinh tế quan trọng vì lợi thế tài nguyên giá rẻ và chi phí lao động thấp Tuy nhiên,không phải quốc gia nào cũng nhận được những lợi ích tích cực từ thu hút FDImang lại Theo Haque và Thaku (2013), thông thường các doanh nghiệp FDI đến từcác quốc gia tương đối dư thừa vốn mang theo tài sản vô hình như tiến bộ côngnghệ hay kỹ năng quản lý, thông tin của các thị trường mới Đây là những tài sảntương đối hiếm có ở các quốc gia đang phát triển, nhưng ngược lại các quốc giađang phát triển lại tương đối dư thừa yếu tố lao động Do đó Mottaleb và Kalirajan(2013) tổng hợp, nhiều nghiên cứu trước đây cho rằng các nước đang phát triển nêntập trung vào việc thúc đẩy các ngành công nghiệp thâm dụng lao động và xuấtkhẩu chúng trước tiên do nguồn vốn thấp và lực lượng lao động tương đối dồi dào.Tuy nhiên cả Mottaleb và Kalirajan (2013) và Haque và Thaku (2013) đều đồng ýrằng không phải tất cả các nước đang phát triển đều gặt hái được lợi ích từ việc thuhút FDI cũng như thúc đẩy xuẩt khẩu các ngành công nghiệp thâm dụng lao động.Bằng chứng tiêu biểu trong nghiên cứu của Haque và Thaku (2013) là Trung Quốc

và Ấn Độ Cả hai quốc gia đều là quốc gia tương đối dư thừa lao động nhưng có sựthành công khác nhau trong việc thu hút FDI cũng như xuất khẩu đối với ngànhthâm dụng lao động

Theo một số nghiên cứu như (Dollar và cộng sự, 2005; Mottaleb và Kalirajan,2013) bên cạnh yếu tố lao động và vốn, việc xuất khẩu các sản phẩm thâm dụng laođộng còn phụ thuộc vào các yếu tố khác Do đó, mặc dù các doanh nghiệp thuộcngành thâm dụng lao động là những ngành có lợi thế tương đối hơn đối với cácquốc gia đang phát triển như Việt Nam, tuy nhiên chỉ tập trung thu hút FDI cũngnhư xuất khẩu vào các doanh nghiệp ở các ngành thâm dụng lao động hay tất cả cácdoanh nghiệp đều tập trung thu hút FDI và xuất khẩu như hiện nay Việt Nam đangthực hiện có thể không mang lại được hiệu quả như mong đợi

Trang 21

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam trong đó có ngành da giày, dệt may, thép cho rằngNhà nước không nên thu hút vốn FDI vào những công đoạn mà họ đã có thể sảnxuất và đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường Tập trung thu hút FDI vào những doanhnghiệp thâm dụng lao động để rồi lao động Việt Nam chỉ nhận được một phần rấtnhỏ từ lương của người lao động trong khi đó ngân sách nhà nước phải bỏ ra số tiềnrất lớn để đầu tư cho cơ sở hạ tầng và cắt giảm thuế (Tạp chí tài chính, 2019) Các ngành thâm dụng lao động trong đó có dệt may và da giày vốn dĩ có vị thế lớntrong kim ngạch xuất khẩu nhiều năm liền của Việt Nam cũng đang đứng trướcnhiều sức ép cạnh tranh từ các quốc gia có nguồn lao động dồi dào khác nhưBanglades hoặc Myanmar và đang cho thấy dấu hiệu bất ổn

Theo VCCI và PWC (2019), hiện nay chính phủ Việt Nam đang đổi mới chiến lượcthu hút FDI theo hướng thu hút vào những ngành mà đất nước có lợi thế mạnhnhưng đồng thời cũng là nơi các nhà đầu tư nước ngoài có thể cung cấp hàng hóa vàdịch vụ có công nghệ, giá trị gia tăng cao mà các công ty Việt Nam không có Cáclĩnh vựcbao gồm công nghệ cao CNTT, chế biến và sản xuất, công nghiệp hỗ trợ,

du lịch, dịch vụ và nông nghiệp công nghệ cao Báo cáo này cũng nói rằng, mặc dùchiến lược này vẫn còn trong dự thảo, Chính phủ đã liên tục khuyến khích các công

ty nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực này

Việc cung cấp các bằng chứng thực nghiệm cụ thể về sự tác động khác nhau củaFDI và xuất khẩu đến NSLĐ của các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề có đặcđiểm về mức thâm dụng vốn khác nhau là cần thiết lúc này đối với Việt Nam cả chonhững nhà hoạch định chính sách cũng như những nhà đầu tư có định hướng đầu tưvào Việt Nam

Ngoài việc mở cửa nền kinh tế, thúc đẩy thu hút FDI và xuất khẩu Những năm gầnđây, một trong những chính sách được Việt Nam sử dụng nhằm tăng NSLĐ đó là sựgia tăng nhanh chóng mức lương tối thiểu (VEPR, 2018) Tuy nhiên chính sách nàyphải đối diện với các vấn đề tranh luận khác nhau

Trang 22

Việc tăng lương tối thiểu có thể gây ra việc mất việc làm đặc biệt với những ngườilao động có tay nghề thấp (Neumark và Wascher, 2007; Neumark và Wascher,2015) vì lúc này chi phí lao động gia tăng làm tăng giá và giảm cầu lao động

Mức lương tối thiểu có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến lương trung bìnhcủa cả nền kinh tế (VEPR, 2018) Việc mức lương tối thiểu, mức lương trung bìnhtăng cao dẫn đến áp lực đến chi phí lao động của doanh nghiệp cũng góp phần giảmkhả năng cạnh tranh và lợi nhuận của doanh nghiệp (Belman và Wolfson, 2016) Mặc dù có thể dẫn đến những tác động khác khó kiểm soát nhưng hiệu quả củachính sách tăng lương tối thiểu đến NSLĐ có thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố khácnhư mức lương trung bình, việc làm, lãi suất, điều kiện thị trường của nền kinh tế.Theo (Card và Krueger, 1993; Lemos, 2009; Bhorat và cộng sự, 2013) một mứclương tối thiểu có thể tạo ra tác động lớn khi đặt ở mức cao nhưng mức lương tốithiểu cao không nhất thiết dẫn đến hiệu quả làm việc lớn nếu nó không được thựcthi hiệu quả

Theo báo cáo của VEPR (2018), tăng trưởng tiền lương ở Việt Nam tăng vượt quámức tăng trưởng NSLĐ từ sau năm 2009 Cũng theo ghi nhận của báo cáo này, việctăng lương tối thiểu tại Việt Nam những năm qua dẫn đến sự tăng lương trung bình,giảm việc làm và giảm tỷ lệ lợi nhuận Việc báo cáo này lo ngại nhất chính là lươngtối thiểu tiếp tục tăng cao hơn so với NSLĐ trong những năm gần đây sẽ làm chocác doanh nghiệp Việt Nam chậm tích lũy vốn, suy giảm khả năng cạnh tranh hơn Bên cạnh lương thì chính sách phúc lợi ngoài lương cũng có thể là một giải pháp thaythế tốt khi các công ty thực thi các chính sách phúc lợi có xu hướng làm việc hiệu quảhơn (OECD, 2018; Millea; 2002; Mathis và Johnson, 2003; Tsai và Yu; 2005) tuynhiên chúng chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam Cụ thể chưa có nhiều nghiêncứu chính thức nghiên cứu tác động của chính sách phúc lợi ngoài lương đến NSLĐtại Việt Nam Người lao động thường bị thu hút vào các tổ chức hoặc các doanhnghiệp không chỉ vì các gói thanh toán trực tiếp (lương) mà còn vì các lợi ích kèmtheo (Mikovich và Newman, 2004) Bên cạnh đó, chính sách phúc lợi giúp giữ chân

Trang 23

người lao động và do đó giảm thiểu chi phí cơ hội của mức độ thay đổi lao động, gópphần làm gia tăng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Hom và cộng sự, 1992) Bảo hiểm xã hội (BHXH) nói riêng và các chính sách phúc lợi ngoài lương nóichung là những khái niệm tương đối mới ở Việt Nam Trước khi đất nước bắt đầuchuyển đổi sang nền kinh tế thị trường năm 1986, chỉ có người lao động khu vựccông nhận được thu nhập hưu trí Người lao động ở khu vực tư doanh được thamgia vào cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam (VSI) bắt buộc vào năm 1995 Từ năm

2008, nông dân và khu vực phi chính thức khác mới có thể đóng góp tự nguyện vàoVSI để nhận trợ cấp tuổi già (Castel và Pick, 2018)

Hiện nay chính phủ Việt Nam đang tìm cách mở rộng BHXH và đặc biệt là bảohiểm hệ thống lương hưu công cộng vì suy giảm số lượng hộ gia đình nhiều thế hệcũng như chuyển đổi nhân khẩu học nhanh chóng Nghị quyết số 15-NQ/TW năm

2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đặt mục tiêu tăng BHXH lên 50% cholực lượng lao động vào năm 2020 Sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội được thực hiệnnăm 2014 cho phép nhà nước trợ cấp tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội tựnguyện và đưa ra các quy tắc để tăng cường tuân thủ trong hệ thống bắt buộc

Các DNNVV chiếm hơn 95% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, tạo ra 40% tổngsản phẩm quốc nội và sử dụng khoảng 50% tổng lực lượng lao động (WB, 2018),phần lớn họ chưa đăng kí VSI Tăng BHXH nói riêng hay mở rộng các chính sáchphúc lợi ngoài lương nói chung theo mục tiêu chính phủ đề ra sẽ đòi hỏi mức độ tựnguyện thực hiện của doanh nghiệp cao hơn rất nhiều so với việc đưa ra các chínhsách bắt buộc như hiện nay do phần lớn trong số đó hiện không đăng ký với VSI(Castel và Pick, 2018)

Bước đầu tiên quan trọng để DNNVV tự nguyện thực hiện các chính sách phúc lợinày là cần cho họ thấy được những lợi ích mà các chính sách này mang lại chodoanh nghiệp Do đó, nghiên cứu về sự tác động của chính sách phúc lợi đến NSLĐ

ở Việt Nam là cần thiết cho cả chính phủ Việt Nam và các doanh nghiệp trong vấn

đề đưa ra các chính sách phù hợp với mục tiêu lúc này khi chính sách tăng lương tối

Trang 24

thiểu tỏ ra thiếu hiệu quả trong những năm gần đây và tỷ lệ thực thi các chính sáchphúc lợi của DNNVV chiếm tỷ lệ tương đối thấp.

Như vậy đối với quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp như Việt Nam, để đảmbảo tăng trưởng bao trùm và bền vững cần nhìn thấy rõ hơn nữa vai trò của tăng năngsuất lao động, đặc biệt là năng suất của khu vực tư nhân doanh nghiệp (Bộ kế hoạchđầu tư, 2019) Mặc dù đã, đang xây dựng và thực hiện hàng loạt các chính sách vàchương trình hỗ trợ gia tăng năng suất doanh nghiệp nhưng các cải thiện về năng suấtvẫn chưa đưa đến được kết quả như mong đợi Do đó, luận án muốn tập trung nghiêncứu các yếu tố tác động đến năng suất lao động của doanh nghiệp Việt Nam

1.1.2 Bối cảnh lý thuyết

Tăng trưởng năng suất lao động đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại, tăngtrưởng và phát triển doanh nghiệp và ảnh hưởng quyết định đến tăng trưởng kinh tế(Breu và cộng sự, 2012) Do đó, trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu cả lý thuyết vàthực nghiệm dưới nhiều góc độ cả vi mô và vĩ mô để nghiên cứu các yếu tố ảnhhưởng đến năng suất lao động Vì muốn tập trung cải thiện năng suất lao động chokhu vực tư nhân, doanh nghiệp nên trong bối cảnh lý thuyết, luận án chỉ trình bàynhững nghiên cứu về các yếu tố tác động đến năng suất lao động dưới gốc độ vi mô.Đối với mối quan hệ giữa FDI, xuất khẩu đến năng suất lao động ở góc độ doanhnghiệp có thể kể đến những nghiên cứu đầu tiên như của Vernon (1966), Caves(1974), Findlay (1978), Dunning (1979) sau đó có Blomstrom (1986), (Griffith vàcộng sự, 2002), Vadlamannati (2011), Georgescu (2012), Bernard và Jensen (1999),Blalock (2004), Wagner (2007), Haidar (2012), De Loecker (2013)

Những mô hình lý thuyết cổ điển như của Swan (1956); Solow (1957) đơn thuầncoi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là kênh cung cấp vốn quan trọng đối vớinền kinh tế thì những nghiên cứu thực nghiệm sau này khi nghiên cứu dưới góc độ

vi mô còn cho thấy dòng vốn FDI chảy vào nội địa một quốc gia sẽ dẫn đến chuyểngiao cộng nghệ, gia tăng năng suất đối với các công ty nội địa của nước đó (Aitken

và Harrison, 1999; Griffith, 2002; Ng, 2007)

Trang 25

Các công ty có vốn FDI, đặc biệt các công ty đa quốc gia là công cụ quan trọngtrong việc áp dụng công nghệ vì họ mang đến những ưu thế vượt trội về trình độcông nghệ Ngoài những tác động trực tiếp đến nền kinh tế, các doanh nghiệp FDIcòn có thể gián tiếp tạo ra các tác động lâu dài đến nội ngành sản xuất ở quốc giatiếp nhận đầu tư Mô hình Caves (1974) ghi nhận tác động của hiệu ứng lan tỏatrong nội bộ ngành của FDI vào sản xuất của nhiều quốc gia Thông qua khả năngphát tán, rò rỉ hay chia sẻ thông tin mang tính chủ động cũng như thụ động khiếnFDI có thể gián tiếp nâng cao năng suất của doanh nghiệp, từ đó nâng cao NSLĐcủa người lao động.

Tuy nhiên, các công ty đa quốc gia cũng có thể làm giảm NSLĐ của nước sở tại(Rodriguez-Clare, 1996) Dẫn chứng của những nghiên cứu này đó là do các công

ty đa quốc gia ảnh hưởng đến nước chủ nhà thông qua các liên kết ngược và xuôi vàcác hiệu ứng khác Tác động ròng của FDI lên nước chủ nhà phụ thuộc vào các mốiliên kết mà họ tạo ra so với các mối liên kết sẽ được tạo ra bởi các công ty trongnước mà họ thay thế Trong trường hợp các công ty đa quốc gia tạo ra ít mối liênkết hơn các công ty trong nước cho thị trường nước chủ nhà thì việc tăng FDI có thểlàm giảm NSLĐ của các công ty trong nước

Một kênh áp dụng công nghệ khác cũng tác động đến NSLĐ đó là thông qua thươngmại quốc tế, đặc biệt là xuất khẩu Hầu hết các lý thuyết và các nghiên cứu thựcnghiệm hiện nay đều cho rằng xuất khẩu tác động dương đến NSLĐ (Metliz 2003;Bernard và cộng sự 2003) Tuy nhiên, một số nghiên cứu như Young (1991) chothấy một chế độ giao dịch tự do hơn làm chậm quá trình tăng trưởng NSLĐ của cácquốc gia đang phát triển do không có lợi thế so sánh bằng quốc tế Vì vậy, ảnhhưởng của xuất khẩu đến NSLĐ của các quốc gia đang phát triển có thể khác nhau Tại Việt Nam, những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy sự ảnh hưởng của việc ápdụng công nghệ (được phản ánh thông qua FDI và xuất khẩu) là nguồn gốc của sựtăng trưởng sản lượng và góp phần gia tăng NSLĐ Ngô Hoàng Thảo Trang (2017)khi nghiên cứu các hoạt động xuất khẩu, hoạt động đổi mới và môi trường kinhdoanh đến năng suất của DNNVV Việt Nam cho thấy các doanh nghiệp áp dụng các

Trang 26

hoạt động đổi mới có tác động tốt đến NSLĐ hay nghiên cứu của Pham (2018)nghiên cứu về mối quan hệ của sự lan tỏa FDI đối với NSLĐ và các nghiên cứu khác.

Do đó, có rất ít nghi ngờ về sự tác động của FDI và xuất khẩu đối với NSLĐ Mộtvấn đề cần được quan tâm hơn đó là cách thức áp dụng nào thì phù hợp, vì FDI vàxuất khẩu có sự tác động đến NSLĐ khác nhau và một trong số chúng có tác độnghiệu quả hay phù hợp hơn các kênh khác trong các điều kiện áp dụng khác nhau.Mặc dù cả FDI và xuất khẩu có thể ảnh hưởng đến lan tỏa công nghệ từ đó làm tăngNSLĐ, nhưng hầu hết những nghiên cứu tại Việt Nam (Nguyen, 2019; Pham, 2008;

Le, 2007, Newman và cộng sự, 2017) ghi nhận sự lan tỏa công nghệ của FDI hayxuất khẩu đến NSLĐ như hai kênh riêng lẻ mà không xem xét sự tác động củachúng đến NSLĐ của doanh nghiệp như 2 kênh lan tỏa công nghệ quốc tế cạnhtranh nhau (trong trường hợp các doanh nghiệp vì một số hạn chế nhất định chỉ cóthể lựa chọn 1 trong 2 phương thức là nhận vốn FDI hoặc tham gia xuất khẩu) và sựkhác biệt của chúng đến doanh nghiệp có đặc điểm khác nhau Việc xem xét cả haikênh áp dụng công nghệ thông qua FDI hay xuất khẩu rất quan trọng vì chúng vẫnđang được xem là chìa khóa mang lại thành công cho các nước đang phát triển, đặcbiệt là các nền kinh tế mới như khu vực Đông Á (Hsu và Chen, 2001) và Việt Namkhông là ngoại lệ

Mối liên hệ giữa phúc lợi hay những chính sách đãi ngộ và NSLĐ đã được củng cốtrong lý thuyết kinh tế (lý thuyết nhu cầu (Maslow, 1954); lý thuyết kỳ vọng (Vrom,1964); lý thuyết hai yếu tố (Herzberg, 1987) và một số các lý thuyết khác)

Khi các yếu tố khác không thay đổi, sản lượng bình quân mỗi lao động tăng lên sẽlàm tăng cầu lao động, và như vậy sẽ dẫn đến tăng thu nhập bình quân Một số doanhnghiệp sẽ tăng thu nhập cho người lao động thông qua lương thưởng trực tiếp bằngtiền mặt, một số khác làm tăng thu nhập bằng các chính sách phúc lợi không bằngtiền mặt

Theo mô hình tổng phần thưởng Towers Perrin (Armstrong, 2010), những phầnthưởng thuần túy tài chính như tiền mặt dễ dàng bắt chước trong cộng động cácdoanh nghiệp nhưng những phần thưởng vô hình hoặc mang tính phi tài chính như

Trang 27

các chính sách phúc lợi không thể hoặc không dễ để bắt chước, sao chép và do đótạo ra lợi thế về nguồn lực con người cho tổ chức

Nhiều kết quả nghiên cứu (Dreher và cộng sự, 1988; Micelli và Lane, 1991; Millea,2002; Tsai và Yu, 2005; Singh, 2009; Anand và cộng sự, 2010) chứng minh đượcrằng những khoản phúc lợi ngoài lương này đóng góp tích cực vào NSLĐ của ngườilao động và sức khỏe của người lao động lại ảnh hưởng tích cực đến NSLĐ và sứckhỏe của nền kinh tế quốc gia Những phúc lợi này ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vicủa người lao động, là lý do thuyết phục giúp họ tiếp tục làm việc cho chủ doanhnghiệp cũng như họ buộc phải cạnh tranh lẫn nhau và điều này dẫn đến NSLĐ củadoanh nghiệp sẽ tăng lên

Không đồng tình với quan điểm trên, một số nghiên cứu cho rằng các chế độ phúclợi chỉ được xem như một yếu tố điều chỉnh và cung cấp tài trợ cho nhân viên vì làthành viên của tổ chức chứ không tạo động lực hay liên quan đến NSLĐ(Rosenbloom và Hallman, 1981; Hills, 1987; Adigun và Stephenson, 1992; Mondy

và cộng sự, 2002)

Hennessey và cộng sự (1992), có những ý kiến trái chiều là do kết quả của nhậnthức về chế độ phúc lợi của người lao động vì nếu họ hoàn toàn không biết vềnhững chế độ phúc lợi mà họ được hưởng, họ không mang lại động lực cho năngsuất của tổ chức

Một số bằng chứng cho thấy nhiều công ty ở các nước đang phát triển được quản lýkém và có thể hưởng lợi từ việc áp dụng quản lý nguồn nhân lực (HRM) và cáckhoản đãi ngộ để nâng cao năng suất Tuy nhiên, chỉ có một vài nghiên cứu thựcnghiệm đã kiểm tra tác động của các chính sách bồi thường HRM hoặc tiền thưởngđối với hoạt động của công ty ở quốc gia đang phát triển (Bloom và cộng sự, 2012)

1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu

Nghiên cứu về năng suất lao động có ý nghĩa quan trọng đối với cả chính sách công

và các quyết định đối với khu vực tư nhân (Sauermann, 2016) vì đây là chỉ tiêu quantrọng phản ánh hiệu quả phát triển kinh tế của quốc gia, doanh nghiệp và chất lượngngười lao động Đặc biệt hơn đối với bối cảnh của Việt Nam khi hai thập kỷ qua dù

Trang 28

cho năng suất lao động Việt Nam tăng nhanh nhưng vẫn nằm ở mức cận đáy củaASEAN, nếu vẫn giữ nguyên mức tăng này Việt Nam phải tốn từ 10 đến 50 năm mớiđuổi kịp các quốc gia trong khu vực (ILO, 2015) Thêm vào đó với sự già đi nhanhchóng của dân số, việc hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế, thúc đẩy tăngnăng suất lao động là cách duy nhất và phù hợp nhất giúp Việt Nam vượt qua đượcthách thức và đón đầu cơ hội mới (ILO, 2015, 2018; Bodewig và Magnusson, 2014).Thúc đẩy năng suất lao động của nền kinh tế đầu tiên cần thúc đẩy năng suất laođộng của doanh nghiệp Có ba nhóm yếu tố chính giúp xác định năng suất lao độngbao gồm: vốn con người, tiến bộ công nghệ và quy mô kinh tế (Greelaw và cộng sự,2018) Hiểu tốt hơn về cách thức những yếu tố này tác động đến năng suất lao độnggiúp doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận lớn hơn, tăng năng suất, thêm cơ hội đầu tư vàgiảm chi phí (ILO, 2015) Trong luận án này đặc biệt quan tâm đến 2 kênh tác độngđến năng suất lao động đó là tiến bộ công nghệ thông qua hội nhập kinh tế, vốn conngười thông qua phúc lợi cho nhân viên.

Tự do hóa thương mại tác động đến năng suất lao động thông qua các kênh khácnhau bao gồm độ mở thương mại, tiếp xúc với nguồn vốn và công nghệ mới quaFDI, học hỏi tích lũy kinh nghiệm từ xuất khẩu (Rahmah Ismail và cộng sự, 2011).Việt Nam đang hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, do đó đã có nhiều các nghiêncứu trong nước về sự ảnh hưởng của các kênh áp dụng công nghệ từ nước ngoàithông qua FDI và xuất khẩu đến năng suất (Xuan, N.T & Xing, 2008; Nguyễn KhắcMinh & Nguyễn Việt Hùng, 2012; Ngô Hoàng Thảo Trang, 2017; Phạm Thế Anh,2018; Hoang và Pham, 2010; Nguyen, K M và Nguyen V H., 2012) Việc áp dụngcông nghệ của các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam thông qua các chế độtoàn cầu hóa đã được chứng minh từ mô hình lý thuyết (Findlay, 1978; Romer,1994; Chen và Shimomura, 1998) cho đến những nghiên cứu thực nghiệm ở ViệtNam kể trên Do đó, có ít nghi ngờ về vai trò của việc áp dụng công nghệ đối vớinền kinh tế đang phát triển Một vấn đề liên quan hơn là việc lựa chọn cách thức ápdụng công nghệ phù hợp với đặc điểm doanh nghiệp để phát huy hiệu quả Đối vớicác doanh nghiệp thường gặp hạn chế về nguồn lực như các doanh nghiệp Việt

Trang 29

Nam, trong một số trường hợp họ không thể cùng lúc theo đuổi cả chiến lược thuhút FDI và mở rộng xuất khẩu, việc lựa chọn chiến lược nào phù hợp hơn là vấn đềcần được trả lời.

Các doanh nghiệp có mức độ thâm dụng vốn khác nhau sẽ có những chiến lược theođuổi khác nhau khi muốn gia nhập vào cơ chế toàn cầu hóa Việc lựa chọn tham giabằng chiến lược nào để thu được lợi ích tốt nhất cũng là vấn đề của các DNVNtrong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay Một trong những khoảng trống nghiên cứu

mà luận án này muốn lấp đầy đó là cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự khácbiệt của hai kênh áp dụng công nghệ là FDI và xuất khẩu khi tác động đến năng suấtlao động trong các DNVN với mức độ thâm dụng vốn khác nhau

Kênh thứ hai tác động đến năng suất lao động mà luận án quan tâm ở đây là vốnnhân lực thông qua chính sách phúc lợi cho nhân viên Chính sách đãi ngộ đượcnghiên cứu chủ yếu ở Việt Nam vẫn là vấn đề tiền lương và tỏ ra không hiệu quảnhững năm gần đây, trong khi các chính sách đãi ngộ liên quan đến những phầnthưởng vô hình hoặc mang tính phi tài chính thì không thể hoặc không dễ để bắtchước, sao chép tạo ra lợi thế riêng về nguồn lực con người cho tổ chức lại chưađược quan tâm đúng mức Chưa có nhiều nghiên cứu xem xét mức độ tác động củanhững phúc lợi này đến NSLĐ của các doanh nghiệp Việt Nam như thế nào, đặcbiệt đối với DNNVV, loại hình doanh nghiệp chiếm hơn 90% trong tổng số doanhnghiệp ở Việt Nam

Điểm mới của nghiên cứu này so với các nghiên cứu trước đó là cung cấp thông tindành cho các doanh nghiệp đánh giá việc thực thi các chính sách phúc lợi của mìnhảnh hưởng đến NSLĐ của doanh nghiệp như thế nào cũng như mức độ tác động củachúng, những chế độ nào thật sự có ảnh hưởng đối với thị trường lao động ViệtNam Đồng thời, cung cấp cho chính phủ cũng như những nhà hoạch định chínhsách thông tin về một kênh giúp gia tăng năng suất lao động bên cạnh việc tănglương tối thiểu

Trang 30

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Từ bối cảnh thực tiễn và lý thuyết cho thấy hiểu và gia tăng năng suất lao động làvấn đề quan trọng trong giai đoạn này của Việt Nam Do đó, mục tiêu nghiên cứutổng quát của luận án là phân tích sự tác động đến năng suất lao động của các doanhnghiệp Việt Nam thông qua đầu tư trực tiếp, xuất khẩu và chính sách phúc lợi ngoàilương Luận án có 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

Mục tiêu 1: Phân tích tác động của 2 kênh ứng dụng công nghệ, đầu tư trực

tiếp nước ngoài và xuất khẩu đến NSLĐ trong các doanh nghiệp có mức độ thâmdụng vốn khác nhau;

Mục tiêu 2: Đánh giá tác động của các chính sách phúc lợi ngoài lương đến

NSLĐ của các DNNVV Việt Nam

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Các câu hỏi nghiên cứu chính của luận án xoay quanh mối quan hệ giữa năng suấtlao động, kênh áp dụng công nghệ FDI, xuất khẩu và chính sách dành cho người laođộng tại doanh nghiệp lớn và các DNNVV tại Việt Nam:

Câu hỏi 1: Với sự khác biệt về mức độ thâm dụng vốn, liệu có sự khác biệt giữa tác

động của FDI và xuất khẩu đến NSLĐ của doanh nghiệp Việt Nam hay không?

Câu hỏi 2: Chính sách phúc lợi ngoài lương tác động đến NSLĐ của DNNVV Việt

Nam như thế nào?

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

1.4.1 Phạm vi nghiên cứu

Tổng thể luận án nghiên cứu các vấn đề xoay quanh năng suất lao động của cácdoanh nghiệp Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến 2016 Đây là giai đoạn năngsuất lao động của Việt Nam đã có những thay đổi vượt bậc nhưng vẫn chưa thực sựđạt được kết quả như mong đợi khi NSLĐ của Việt Nam vẫn nằm trong số nhữngquốc gia có NSLĐ thấp nhất ASEAN

Phạm vi doanh nghiệp: bao gồm doanh nghiệp lớn và DNNVV đối với mục tiêu số

1 và tập trung ở DNNVV ở mục tiêu số 2

Trang 31

Phạm vi khu vực/ngành của doanh nghiệp: Doanh nghiệp với các loại hình sở hữukhác nhau thuộc ngành chế biến chế tạo.

1.4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án gồm năng suất lao động của doanh nghiệptrong các mối quan hệ với đầu tư FDI, xuất khẩu trong điều kiện đặc điểm mức độthâm dụng vốn của ngành khác nhau; năng suất lao động của doanh nghiệp trongmối quan hệ với các chính sách phúc lợi ngoài lương cho nhân viên

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết 2 mục tiêu, luận án sử dụng mô hình tác động cố định FEM và môhình tác động ngẫu nhiên REM để xử lý dữ liệu bảng ước tính mô hình nghiên cứu.Các phương pháp này cho phép kiểm soát các tác động cố định không quan sát đượccủa công ty (Wooldridge, 2002)

Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu số 1, luận án sử dụng bộ số liệu được tổng hợp từ

2 bộ dữ liệu Tổng điều tra doanh nghiệp Việt Nam (VES) năm 2015 và 2016 Đây là

bộ dữ liệu được Tổng cục thống kê thực hiện hàng năm nhằm thu thập một số thôngtin cơ bản và cần thiết của toàn bộ các doanh nghiệp và hợp tác xã trên phạm vi cảnước thuộc các hầu hết ngành trên cả nước (trừ các doanh nghiệp do Bộ Quốc phòng,

Bộ Công an quản lý) Đây là bộ dữ liệu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu số 1 vì đây

là bộ dữ liệu cung cấp đầy đủ thông tin của toàn bộ doanh nghiệp ở các ngành chếbiến chế tạo với các tiểu ngành có đặc điểm thâm dụng vốn khác nhau

Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu số 2, luận án sử dụng bộ dữ liệu được tổng hợp

từ 3 bộ Điều tra các Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) năm 2011, 2013 và 2015.Đây là bộ dữ liệu được Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) phối hợp vớiViện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA) và Khoa Kinh tế (DoE) của TrườngĐại học Copenhagen, cùng với Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam thiết kế và thuthập Bộ dữ liệu chú trọng đặc biệt đến việc thu thập số liệu của cả DNNVV chínhthức và phi chính thức ở Việt Nam Bộ dữ liệu này là bộ dữ liệu duy nhất hiện naychứa đựng thông tin về việc thực thi các chính sách phúc lợi tại doanh nghiệp Việt

Trang 32

Nam Đồng thời DNNVV cũng là nhóm doanh nghiệp có tỷ lệ thực hiện chính sáchphúc lợi ngoài lương thấp nhất hiện nay

Lý giải nguyên nhân vì sao không lựa chọn các bộ dữ liệu thống nhất trong cùnggiai đoạn nghiên cứu cho cả hai mục tiêu nghiên cứu của luận án đó là do sự khôngđồng nhất trong bảng hỏi của bộ số liệu Tổng điều tra doanh nghiệp Việt Nam(VES) ở các năm Do đó, luận án gặp khó khăn trong việc sử dụng thông tin cầnthiết phục vụ có mục tiêu nghiên cứu nếu sử dụng bộ dữ liệu nhiều năm

1.6 Ý nghĩa của luận án

Mục tiêu 1 phân tích sự tác động khác nhau giữa FDI và xuất khẩu đến NSLĐ củacác doanh nghiệp thuộc các ngành có đặc điểm thâm dụng vốn khác nhau Kết quảcủa luận án giúp các doanh nghiệp cũng như chính phủ có thể định hướng rõ hơnnên gia nhập vào chế độ toàn cầu hóa thông qua FDI hay xuất khẩu dựa vào đặcđiểm thâm dụng vốn của ngành để mang lại nhiều lợi ích tốt nhất Từ đó giúp cácdoanh nghiệp, chính phủ đưa ra các chính sách, định hướng đầu tư phù hợp hơn

Ở mục tiêu số 2, nghiên cứu về sự tác động của các chính sách phúc lợi đến năngsuất lao động của các DNNVV, do đó ý nghĩa đầu tiên của luận án là đóng góp bằngchứng thực nghiệm về mối quan hệ này tại Việt Nam khi có khá ít các nghiên cứudành cho chính sách phúc lợi Hầu hết các nghiên cứu trước đây về chế độ đãi ngộhay chính sách phúc lợi thường xem các chương trình này như yếu tố bôi trơn giúpgiữ chân nhân viên chứ không phải là yếu tố tác động đến năng suất doanh nghiệp(Rosenbloom và Hallman, 1981; Hills, 1987; Milkovich và Newman, 1990) Đồngthời, các dữ liệu trước đây khi sử dụng để nghiên cứu chủ đề này thường là dữ liệu

cá nhân dựa trên các câu hỏi đóng đối với người lao động Điều này có thể dẫn đến

dữ liệu không khách quan (ảnh hưởng bởi nhận thức của người lao động) (trườnghợp nghiên cứu của Hennessey và cộng sự, 1992) Đồng thời vì là dữ liệu cá nhânnên không có sự kết nối trực tiếp giữa lợi ích mà người lao động nhận được và lợiích mà doanh nghiệp nhận được khi cung cấp các chính sách này Do đó, luận ánđặt mối quan hệ của chính sách phúc lợi và năng suất lao động của doanh nghiệpđược nghiên cứu ở cấp độ doanh nghiệp sẽ dẫn đến tính liên kết giữa lợi ích của

Trang 33

người lao động và năng suất (lợi ích) của doanh nghiệp Hay nói cách khác nó phảnánh được lợi ích của bên cung cấp các chính sách này.

Bên cạnh đó, kết quả của nghiên cứu cũng góp phần cung cấp thêm bằng chứng chocác nhà hoạch định chính sách có tư liệu để phần nào trả lời vấn đề gây tranh cãi ởViệt Nam hiện nay đó là liệu rằng có nên xem xét thay thế việc tăng lương tối thiểubằng việc thực thi các chính sách phúc lợi ngoài lương nhằm cải thiện NSLĐ củadoanh nghiệp Đồng thời các DNNVV có thêm bằng chứng về mức độ tác động củachính sách phúc lợi ngoài lương đến NSLĐ để từ đó đưa ra chính sách có nên thựcthi chính sách phúc lợi tại doanh nghiệp hay không

1.7 Cấu trúc của luận án

Kết cấu nội dung nghiên cứu của luận án được thiết kế thành 5 chương

Chương 1: Giới thiệu chung Nội dung chương này trình bày bối cảnh thực tiễn vàbối cảnh lý thuyết để từ đó xác định được khoảng trống của nghiên cứu và lý do đểlựa chọn vấn đề nghiên cứu của luận án

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Nội dung chương này sẽ trìnhbày tổng quan cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu liên quan đến năng suất laođộng đã được thực hiện trong nước và trên thế giới tập trung ở 2 vấn đề chính màluận án quan tâm đó là FDI, xuất khẩu và chính sách phúc lợi ảnh hưởng đến năngsuất lao động Khung phân tích sẽ được rút ra ở cuối chương

Chương 3: Tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài và xuất khẩu đến NSLĐ của cácdoanh nghiệp có mức độ thâm dụng vốn khác nhau Nội dung của chương 3 nhằmtrình bày, lý giải dữ liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu được lựa chọn, cácgiả thuyết nghiên cứu được đưa ra và kết quả nghiên cứu để trả lời cho câu hỏinghiên cứu liệu có sự khác biệt của FDI, xuất khẩu đến năng suất lao động củadoanh nghiệp có mức độ thâm dụng vốn khác nhau hay không?

Chương 4: Mức độ tác động của các chế độ phúc lợi ngoài lương đến NSLĐ Tương

tự với nội dung của chương 3, chương 4 sẽ cố gắng giải thích sự lựa chọn dữ liệunghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và kết quả nghiên

Trang 34

cứu cho mục tiêu lý giải sự tác động của các chính sách phúc lợi ngoài lương đếnnăng suất lao động của các DNNVV.

Chương 5 là chương cuối cùng Phần đầu chương này trình bày tóm tắt 2 kết quảnghiên cứu rút ra được từ 2 mô hình nghiên cứu được xây dựng ở chương 3 và 4.Trên cơ sở đó, một số gợi ý chính sách từ luận án được đề xuất Cuối chương lànhững đóng góp và hạn chế của luận án cũng như gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theođược trình bày

Trang 35

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu

Chương 2 của luận án trình bày cơ sở lý thuyết và lược khảo những nghiên cứu liênquan đến mục tiêu nghiên cứu đã được thực hiện trong nước và trên thế giới Đầutiên, chương sẽ trình bày các khái niệm về năng suất lao động, cũng như phươngpháp đo lường năng suất lao động Tiếp theo, chương trình bày phần lược khảo lýthuyết và những nghiên cứu có liên quan về những nhân tố tác động đến năng suấtlao động và mối quan hệ giữa NSLĐ và các khái niệm được quan tâm là FDI, xuấtkhẩu và các chính sách phúc lợi

2.2 Khái niệm và đo lường năng suất lao động

Năng suất là một thước đo quan trọng phản ánh hiệu quả của nền kinh tế Năng suất

có thể được đo lường ở các cấp độ khác nhau: cấp độ cả nền kinh tế, cấp độ ngành,cấp độ tổ chức, doanh nghiệp hay cho từng cá nhân riêng biệt

Syverson (2010) năng suất là hiệu quả trong sản xuất thể hiện qua có bao nhiêu sảnlượng thu được từ một loại đầu vào nhất định Do đó, nó thường được biểu thị dướidạng tỷ lệ đầu vào của đầu ra Có nhiều phương pháp đo lường năng suất, trong đóNSLĐ là một trong những tiêu chí được sử dụng nhiều nhất Theo đó, năng suất laođộng khai thác mức độ mà vốn nhân lực mang lại giá trị cho nền kinh tế hay doanhnghiệp (Koch và McGrath, 1996)

Ngoài chỉ tiêu NSLĐ thì năng suất còn được đo lường thông qua năng suất vốn vànăng suất tổng hợp (TFP) Tùy vào từng trường hợp và điều kiện dữ liệu, việc lựachọn sử dụng chỉ tiêu năng suất sẽ khác nhau Sargent và Rodriguer (2001) cho rằngchỉ tiêu năng suất tổng hợp TFP thích hợp để xem xét năng suất trong xu hướng dàihạn của nền kinh tế Ngược lại, theo Nguyễn và Kenichi (2018), khi xem xét trongtrung và ngắn hạn, đặc biệt khi có sự nghi ngờ về quá trình tăng trưởng hoặc dữ liệu

về trữ lượng vốn không đáng tin cậy thì NSLĐ là một chỉ tiêu thích hợp để sử dụng.Theo Greenlaw và cộng sự (2018), năng suất lao động là giá trị mà mỗi người laođộng tạo ra trên mỗi đơn vị đầu vào của mình Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO,

Trang 36

2015), định nghĩa NSLĐ là tổng số lượng đầu ra sản xuất được trên một đơn vị đầuvào lao động (đo bằng tổng số lao động) trong một thời gian tham chiếu nhất định.Mặc dù năng suất được cho là tương đối đơn giản trong khái niệm, tuy nhiên vẫn cómột số tranh cãi về việc đo lường đầu vào và đầu ra phát sinh khi tính toán năngsuất từ dữ liệu thực tế (Syverson, 2010)

Hai thước đo cơ bản để đo lường đầu ra đó là tổng sản lượng và giá trị gia tăng(Cobbold, 2003) Nếu như đối với dữ liệu ở cấp độ quốc gia việc sử dụng 2 thước

đo này để đại diện cho mức độ đầu ra không có sự khác biệt rõ rệt thì đối với cấp độ

vi mô sự khác biệt tăng lên vì xu hướng sử dụng đầu vào trung gian tăng lên(Cobbold, 2003) Theo OECD (2001) thì việc lựa chọn phương pháp đo lường đầu

ra nào phụ thuộc vào mục đích sử dụng năng suất

Mặc dù được nhiều nhà kinh tế ưa thích sử dụng trong các nghiên cứu về sản xuấttrong các ngành công nghiệp và sản lượng trên mỗi lao động vì phản ánh được đầuvào cả sơ cấp và thứ cấp nhưng chỉ tiêu tổng sản lượng đầu ra đòi hỏi yêu cầu đáng

kể về sự khả dụng của dữ liệu (Cobbold, 2003) Theo Syverson (2010), việc đolường đầu ra cần thống nhất ở tất cả các đầu ra về cùng đơn vị tính trong khi đó ởcấp độ vi mô đa số các doanh nghiệp sản xuất nhiều hơn một đầu ra và do đó chúngnên được tổng hợp thành thước đo duy nhất Tuy vậy các dữ liệu vi mô chi tiết vàcác doanh nghiệp sản xuất thường không chứa đựng đầy đủ số liệu đầu ra cũng nhưcách thức quy ước để đưa về cùng một loại đầu ra Doanh thu được xem như là mộtbiện pháp thay thế hữu hiệu trong trường hợp này (Syverson, 2010) Mặc dù điềunày có thể được chấp nhận và thậm chí là phương án tốt nhất thì trong trường hợp

mà dù sự khác biệt về chất lượng sản phẩm đã được phản ánh đầy đủ trong giá cả,thì việc sử dụng doanh thu vẫn có thể gây ra vấn đề bất cứ khi nào có sự thay đổigiá do sự khác biệt về sức mạnh thị trường giữa các nhà sản xuất (Syverson, 2010).Đầu ra được tính bằng giá trị gia tăng sẽ ít bị ảnh hưởng trong việc tính toán thựcnghiệm hơn so với sử dụng doanh thu hay tổng sản lượng trong trường hợp doanhnghiệp có thuê gia công bên ngoài hoặc xuất khẩu (Tomiura, 2007; Cobbold, 2003;OECD, 2001) Nếu chỉ tiêu NSLĐ phụ thuộc vào tổng doanh số trên mỗi lao động,

Trang 37

các doanh nghiệp tích hợp theo chiều dọc (nhà xuất khẩu hoặc nhà đầu tư) dường nhưkém năng suất hơn so với những doanh nghiệp có thuê bên ngoài gia công cho mìnhngay cả với doanh số và NSLĐ giống hệt nhau vì các doanh nghiệp thuê ngoài sửdụng ít nhân công hơn Lúc này thước đo tổng sản lượng không được phản ánh hết sựthay đổi đo lường trong năng suất lao động Ngoài ra theo Van der Wiel (1999), trongđiều kiện tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp, chỉ tiêu giá trị gia tăng tỏ ra phù hợpvới mục tiêu của doanh nghiệp hơn so với chỉ tiêu tổng sản lượng (doanh thu).

Theo Cobbold (2003) ngoài những ưu điểm nêu trên thì việc sử dụng giá trị gia tănglàm thước đo của đầu ra cũng gặp phải những hạn chế bao gồm: thiếu sót về mặtkhái niệm, cung cấp các ước tính sai lệch về tốc độ tăng trưởng của ngành; và cungcấp các ước tính sai lệch về các đóng góp cho tăng trưởng

Đối với đầu vào để đo lường năng suất lao động theo Syverson (2011) có thể lựachọn sử dụng số lượng nhân viên, số giờ làm việc hay một số tiêu chí phản ánh điềuchỉnh chất lượng lao động (tiền lương thường được sử dụng trong vai trò cuối cùngnày, dựa trên quan niệm rằng tiền lương phản ánh số lượng sản phẩm cận biên củangười lao động khi không đồng nhất các đơn vị)

Trong luận án này đối tượng được nhắm đến là năng suất lao động của các doanhnghiệp ở các ngành công nghiệp với các đầu ra khác nhau, có và không có gia công

ở cả hai mục tiêu đồng thời về tính khả dụng của bộ dữ liệu không đáp ứng đượcnhững yêu cầu đối với thước đo tổng sản lượng Do vậy luận án quyết định sử dụngtiêu chí giá trị gia tăng làm thước đo cho đầu ra và số lượng lao động là thước đođầu vào để tính năng suất lao động:

Năng suất lao động của doanh nghiệp = Số lượnglao động Giá trị gia tăng it

it

Trong đó:

Giá trị gia tăng it: Giá trị gia tăng của doanh nghiệp i giai đoạn t

Trang 38

2.3 Lý thuyết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến NSLĐ của doanh nghiệp

Theo Greelaw và cộng sự (2018) tăng trưởng kinh tế lâu dài được duy trì đến từ sựgia tăng năng suất của người lao động, điều này thể hiện chúng ta cần phải biết sửdụng hiệu quả như thế nào với người lao động và thời gian Một câu hỏi đặt ra đó làđiều gì quyết định một người lao động sản xuất tốt như thế nào

Theo Theo Greelaw và cộng sự (2018) cho rằng năng suất lao động của người laođộng bị ảnh hưởng bởi 3 nhóm yếu tố: (1) Vốn con người, (2) Tiến bộ công nghệ,(3) Quy mô kinh tế Cụ thể:

(1)Vốn con người

Vốn con người chính là những kiến thức, kỹ năng và chuyên môn và trình độ giáodục mà một người lao động trong nền kinh tế sở hữu và tích lũy được Thôngthường trình độ giáo dục trung bình trong một nền kinh tế càng cao thì vốn nhân lựctích lũy càng cao và năng suất lao động càng cao (Greelaw và cộng sự, 2018)

(3) Quy mô kinh tế

Theo Greelaw và cộng sự (2018), yếu tố cuối cùng ảnh hưởng đến năng suất laođộng chính là lợi thế nhờ quy mô Hiệu quả kinh tế theo quy mô là lợi thế chi phí

mà các ngành hoặc các doanh nghiệp có được nhờ quy mô

Theo Syverson (2010) khi nghiên cứu năng suất lao động ở cấp vi mô doanh nghiệpnhận ra rằng năng suất lao động được tác động trực tiếp bởi 2 nhóm chính đó lànhóm bên trong và nhóm bên ngoài doanh nghiệp Nhóm bên trong doanh nghiệpbao gồm các yếu tố hoạt động trong doanh nghiệp như thực hành/ tài năng quản lý,chất lượng lao động và đầu vào vốn, đổi mới sản phẩm và cơ cấu tổ chức của cácđơn vị sản xuất bên trong công ty Nhóm yếu tố thứ hai đề cập đến các yếu tố quyếtđịnh môi trường sẽ gồm những yếu tố như sự lan tỏa năng suất đến từ chuyển giao

Trang 39

kiến thức, mức độ cạnh tranh trong thị trường lao động và sản phẩm cũng như tácđộng của quy định, chính sách từ bên ngoài Những yếu tố loại này sẽ ảnh hưởngđến năng suất bằng cách khuyến khích các nhà sản xuất trở nên hiệu quả hơn hoặc,thay vào đó, bằng cách chuyển hoạt động kinh tế theo hướng hiệu quả hơn Ngoài 2nhóm nhân tố chính như trên Micallef (2016) còn đưa ra một số các yếu tố có sự tácđộng kép như hai nhóm trên, ví dụ như khi mở rộng thị trường thu hút FDI khôngchỉ là yếu tố bên ngoài tác động đến năng suất mà còn giúp các doanh nghiệp trongnước cải thiện các hoạt động quản lý bên trong doanh nghiệp (Micallef, 2016) hay

sự cạnh tranh mạnh mẽ của các thị trường lao động bên ngoài giúp thúc đẩy doanhnghiệp áp dụng các phương thức quản lý con người trong nội bộ doanh nghiệp hiệuquả hơn (Bloom và cộng sự, 2012), các doanh nghiệp xuất khẩu không chỉ có năngsuất cao hơn mà còn ít nhạy cảm hơn đến việc biến động tỷ giá (Di Mauro vàRonchi, 2015)

Đối với các nghiên cứu dựa vào hàm sản xuất, đặc biệt là xuất phát từ Douglas (ví dụ như Globerman, 1979; Blomström và Persson, 1983, Kokko,1994 vàKokko và cộng sự, 1996) trong việc xem xét các yếu tố quyết định NSLĐ ở cấp độdoanh nghiệp, mức cường độ vốn và cường độ lao động là mối quan tâm chính.Những nghiên cứu này cho rằng mức cường độ vốn cao hơn dẫn đến năng suất caohơn vì người lao động được trang bị thiết bị cao hơn Chất lượng lao động cũng làmột yếu tố chính khác, chất lượng lao động cao hơn đóng góp lực lượng sản xuất tốtvới trình độ và hiệu suất làm việc tốt hơn dẫn đến năng suất lao động cao hơn.Ngoài những nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến NSLĐ được phân như trên, cácnghiên cứu thực nghiệm với chủ đề NSLĐ ở cấp độ vi mô doanh nghiệp cũng cungcấp bằng chứng về sự tác động của các yếu tố khác ảnh hưởng đến năng suất laođộng bao gồm các yếu tố về đặc điểm doanh nghiệp, công đoàn, ngành công nghiệp,

Cobb-độ tuổi doanh nghiệp và các yếu tố khác (Koch và McGrath, 1996; Hsu và Chen,2000; Roger và Tseng, 2000; Wagner, 2002; Vahter, 2004; Greenaway và cộng sự,2004; Doraszelski và Jaumandreu, 2013; Arshad và Malik, 2015)

Trang 40

Nguồn: Tổng hợp từ Greelaw và cộng sự (2018)

Hình 2.1 Các yếu tố quyết định năng suất lao động

Trong nghiên cứu này, mối quan tâm chính đó là sự đóng góp của FDI, xuất khẩuthông qua tiến bộ công nghệ và phúc lợi của nhân viên thông qua vốn con ngườiđến năng suất lao động của doanh nghiệp Sự tác động của những khái niệm nàyđến năng suất lao động trong lý thuyết cũng như những bằng chứng thực nghiệm vềnhững mối quan hệ này được tổng hợp và trình bày ở phần tiếp theo của chương

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Hình 2.2 Khung phân tích năng suất lao động của nghiên cứu

NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

PHÚC LỢI NV

XUẤT KHẨU

VỐN CON NGƯỜI

QUY MÔ KINH TẾ

TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ

NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

FDI

Ngày đăng: 09/03/2021, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w