Nghiên cứu sửa đổi một số quy định của Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 tại Điều 23 bổ sung Mục 3: “Tham gia với Uỷ ban Tài chính, Ngân sách và các cơ quan khác của Quốc hội, [r]
Trang 1TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN
NÂNG CAO CHAáT lƯỢNG KIEåm TOÁN NGÂN HÀNG
CHÍNH sÁCH XÃ HỘI CuÛA KIEåm TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAm
ThS TRƯơNG ĐỨC THÀNH*
*Kiểm tốn nhà nước Khu vực IX
hàng Chính sách xã hội Việt Nam cho các năm tài chính 2014, 2015 và 2017 Bằng việc thu thập dữ liệu thứ cấp từ báo cáo kiểm tốn của KTNN năm 2015, 2016 và 2018 cũng như báo cáo tài chính của Ngân hàng Chính sách xã hội các năm 2014, 2015 và 2017 cùng các văn bản Luật, nghị định, thơng tư của Nhà nước Việt Nam cĩ liên quan để phân tích thực trạng, ưu nhược điểm của Kiểm tốn nhà nước thơng qua kiểm tốn các hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội Từ thực trạng kiểm tốn các hoạt động nghiệp vụ chính của Ngân hàng Chính sách xã hội và các ưu điểm, hạn chế bài viết đề xuất các nhĩm giải pháp vi mơ, vĩ mơ nhằm tạo thêm điều kiện, mơi trường để hoạt động kiểm tốn Ngân hàng Chính sách xã hội của Kiểm tốn nhà nước Việt Nam đạt hiệu quả cao hơn, qua đĩ nhằm tạo sự chuyển biến trong cơng tác quản lý và điều hành gĩp phần ổn định hệ thống tài chính quốc gia.
Từ khĩa: Chất lượng kiểm tốn, Ngân hàng Chính sách xã hội, Kiểm tốn nhà nước.
Improving the quality of the audit of Social Policy Bank of State Audit of Vietnam
This article researchs on activities of SAV on audit of Bank of Social Policies in financial years of 2014,
2015 and 2017 By collecting secondary data from audit reports of SAV in the year of 2015, 2016 and 2018 as well as financial audit of Social Policies Bank in 2014, 2015 and 2017 and related laws, decrees and circulars
of Vietnam government to analysis situation, advantages and disadvantages of SAV through audit of Bank
of Social Policies From there, the article suggests micro and macro solutions to create more conditions and environment to enhance effective of audit of Bank of Social Policies of SAV, thereby, to create a change in the management and administration, contributing to the stability of the national financial system
Keywords: Audit quality, Bank for Social Policies, State Audit of Vietnam.
Giới thiệu
Ngân hàng Chính sách xã hội là ngân hàng của
Chính phủ hoạt động vì an sinh xã hội, khơng vì
mục đích lợi nhuận, là cơng cụ thực hiện chính
sách xã hội như cho vay hộ nghèo, khĩ khăn Do
đĩ, hoạt động kiểm tốn đối với việc thực hiện
chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng Chính sách xã
hội hết sức quan trọng và cần thiết cho việc thực
hiện chính sách phát triển của Nhà nước cũng như đảm bảo an sinh, xã hội
Đối với một quốc gia, nếu hoạt động kiểm tốn tốt thì tiềm lực kinh tế của quốc gia sẽ được cải thiện Hoạt động kiểm tốn của Kiểm tốn nhà nước tại Ngân hàng Chính sách xã hội đối với các hoạt động liên quan đến quản lý, sử dụng tài chính cơng, tài sản cơng là hoạt động được Kiểm tốn
Trang 2nhà nước tiến hành thường xuyên định kỳ Qua
hoạt động kiểm toán nhằm đánh giá việc tuân thủ
pháp luật, tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong
quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; đánh
giá việc chấp hành các quy định của Nhà nước
trong việc cấp tín dụng ưu đãi, cho vay hộ nghèo,
khó khăn và các chương trình trợ cấp việc làm
Với nhiệm vụ hết sức quan trọng với nhiều nội
dung cần được kiểm tra, xác nhận và đánh giá luôn
đòi hỏi hoạt động kiểm toán với chất lượng cao
đáp ứng được yêu cầu của hoạt động Kiểm toán
nhà nước
Với địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước đã
được quy định trong Hiến pháp 2013, Luật Kiểm
toán nhà nước 2015 với địa vị, vai trò mới đem lại
cho Kiểm toán nhà nước thẩm quyền rất lớn nhưng
trách nhiệm cũng rất cao, điều này đòi hỏi Kiểm
toán nhà nước phải tăng cường năng lực nội tại để
đáp ứng yêu cầu Kết quả kiểm toán cũng từng bước
được nâng cao qua các lần kiểm toán, qua đó, một
mặt giúp cho đơn vị được kiểm toán chấn chỉnh
kịp thời các sai phạm trong quá trình tổ chức hoạt
động, mặt khác giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các cơ chế chính sách đảm bảo phù hợp với tình hình thực tiễn của nền kinh
tế Qua hơn 25 năm xây dựng và phát triển, hoạt động của Kiểm toán nhà nước ngày càng đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, tăng cường kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công Mặc dù, đã có những bước phát triển quan trọng nhưng trước yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước, tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước, hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước cũng còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do phạm vi kiểm toán chưa bao quát hết việc kiểm tra, kiểm soát mọi nguồn lực tài chính nhà nước và tài sản công đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Kiểm toán nhà nước với vị thế là cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước cao nhất của quốc gia
Hiện nay, các nghiên cứu về Kiểm toán nhà nước và nâng cao chất lượng của Kiểm toán nhà
Trang 3TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN
nước cĩ thể kể đến như đề tài nghiên cứu khoa học
cấp cơ sở của Nguyễn Thanh Huệ (2018) về “Hồn
thiện hoạt động kiểm sốt chất lượng kiểm tốn của
Kiểm tốn trưởng tại kiểm tốn nhà nước” Nghiên
cứu đã đã hệ thống được các vấn đề lý luận cơ bản
liên quan đến hoạt động kiểm sốt chất lượng kiểm
tốn; đi sâu phân tích các hạn chế, vi phạm hoạt
động kiểm sốt chất lượng kiểm tốn của Kiểm
tốn trưởng tại cơ quan Kiểm tốn nhà nước Việt
Nam giai đoạn 2013 – 2017 Nghiên cứu của Đỗ
Trung Dũng và Cù Hồng Diệu (2017) về “Tăng
cường kiểm sốt chất lượng kiểm tốn nhằm nâng
cao chất lượng, hiệu lực kiểm tốn ngân sách bộ,
ngành” Nghiên cứu đã hệ thống được các vấn đề lý
luận liên quan đến cơng tác kiểm sốt chất lượng
kiểm tốn trong mối quan hệ với chất lượng, hiệu
lực kiểm tốn ngân sách bộ ngành; đánh giá được
thực trạng cơng tác kiểm sốt chất lượng kiểm tốn
ngân sách bộ, ngành Từ kết quả đạt được, những
hạn chế và nguyên nhân, đưa ra những định hướng
và giải pháp tăng cường kiểm sốt chất lượng kiểm
tốn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực kiểm tốn
ngân sách bộ, ngành ở 3 khía cạnh là: Hồn thiện
mơi trường kiểm sốt chất lượng kiểm tốn; hồn
thiện tổ chức bộ máy kiểm sốt chất lượng kiểm
tốn và hồn thiện cơ chế hoạt động kiểm sốt chất
lượng kiểm tốn
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phúc (2009) về
“Tổ chức kiểm tốn ngân sách nhà nước do Kiểm
tốn nhà nước Việt Nam thực hiện”, trình bày thực
trạng tổ chức bộ máy kiểm tốn ngân sách nhà
nước và tổ chức cơng tác kiểm tốn, thơng qua
thực hiện quy trình kiểm tốn ngân sách nhà nước
do Kiểm tốn nhà nước Việt Nam thực hiện trong
những năm qua và những tác động của việc đổi
mới tổ chức quản lý ngân sách nhà nước của Việt
Nam trong tương lai đến việc tổ chức kiểm tốn
ngân sách nhà nước Nghiên cứu cũng đề ra những
định hướng cơ bản và giải pháp hồn thiện tổ chức
kiểm tốn ngân sách nhà nước trên 02 phương
diện tổ chức bộ máy và tổ chức cơng tác kiểm tốn ngân sách nhà nước do Kiểm tốn nhà nước Việt Nam thực hiện
Ngồi ra, cịn một số nghiên cứu khác cĩ liên quan của Vương Văn Quang (2013) nghiên cứu về
“Hồn thiện Quy chế kiểm sốt chất lượng kiểm tốn của Kiểm tốn nhà nước”; nghiên cứu của
Vũ Thị Thu Huyền (2019) về “Hồn thiện cơng tác kiểm tốn hoạt động chi tiêu ngân sách của các
Bộ, ngành” Cĩ thể nĩi, các nghiên cứu đề cập ở trên về cơ bản đã được ứng dụng trong hoạt động kiểm tốn Ngân hàng Chính sách xã hội của Kiểm tốn nhà nước, và hầu hết các nghiên cứu này chưa
đi sâu vào nghiên cứu lĩnh vực ngân hàng chịu sự quản lý của nhà nước, cụ thể là Ngân hàng Chính sách xã hội Bài viết nhằm với mục đích đánh giá thực trạng kiểm tốn Ngân hàng Chính sách xã hội của Kiểm tốn nhà nước và các giải pháp, khuyến nghị
1 Cơ sở lý thuyết
1.1 Khái niệm kiểm tốn
Kiểm tốn xuất hiện vào thế kỷ thứ III trước cơng nguyên và gắn liền với nền văn minh Ai Cập và La Mã cổ đại Theo định nghĩa của Liên đồn Kế tốn Quốc tế (International Federation
of Accountants –IFAC) thì “Kiểm tốn là việc các kiểm tốn viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính”
Theo Alvin A.Rens và James K.Loebbecker (1997) thì: “Kiểm tốn là quá trình các chuyên gia độc lập và cĩ thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thơng tin cĩ thể định lượng được của một đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thơng tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”
Theo John Dunn (1996) thì: “Kiểm tốn là thủ pháp xem xét và kiểm tra một cách khách quan
về từng khoản mục bao gồm việc thẩm tra những
Trang 4thông tin đặc trưng được xác định bởi kiểm toán
viên hoặc thiết lập bởi thực hành chung” Có thể
nói mục đích của kiểm toán là trình bày ý kiến
hoặc đi đến kết luận về cái được kiểm toán
Theo tác giả thì kiểm toán là quá trình các
chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có kỹ năng
nghiệp vụ, thu thập và đánh giá các bằng chứng
về các thông tin có thể định lượng của một đơn
vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ
phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực
đã được xây dựng
1.2 Khái niệm chất lượng kiểm toán
Theo Ủy ban Chuẩn mực kiểm toán và dịch vụ
đảm bảo quốc tế (IAASB) thì chất lượng kiểm toán
là khả năng Kiểm toán viên đưa ra ý kiến hợp lý về
báo cáo tài chính được kiểm toán dựa trên việc thu
thập được bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp
và cuộc kiểm toán được thực hiện đảm bảo: Tuân
thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kiểm toán bao
gồm các giá trị đạo đức và hành vi ứng xử phù hợp;
Có đủ kiến thức, kinh nghiệm và được bố trí thời
gian đầy đủ để thực hiện kiểm toán; áp dụng quy
trình, thủ tục kiểm toán và kiểm soát chất lượng
kiểm toán nghiêm túc và đầy đủ; Cung cấp báo cáo kiểm toán có giá trị, kịp thời; Báo cáo kiểm toán thỏa mãn nhu cầu của các đối tượng khác nhau Quy chế Kiểm soát chất lượng kiểm toán ban hành theo Quyết định 558/QĐ-KTNN ngày 22/3/2016 của Tổng Kiểm toán nhà nước lại cụ thể hóa chất lượng kiểm toán cho một cuộc kiểm toán: “Chất lượng cuộc kiểm toán phản ánh mức
độ thực hiện các mục tiêu kiểm toán, tuân thủ pháp luật, tuân thủ chuẩn mực, quy trình kiểm toán và vận dụng phù hợp các phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu về tính đúng đắn, trung thực, khách quan, kịp thời của kết quả và kết luận kiểm toán, đảm bảo cơ sở pháp lý và tính khả thi của các kiến nghị kiểm toán”
1.3 Các quan điểm khoa học về chất lượng kiểm toán
Theo các nghiên cứu trước có hai quan điểm chính về chất lượng kiểm toán: Thứ nhất là khả năng phát hiện và báo cáo các sai phạm trọng yếu trên các báo cáo tài chính được kiểm toán (Krishnan
và Schauer, 2001; Bradshaw, 2001; Francis, 2004; Chen, Su và Wang, 2005); thứ hai là quan điểm
Trang 5TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN
thực hành nhằm thỏa mãn đối tượng sử dụng dịch
vụ kiểm tốn Theo Chuẩn mực Kiểm tốn Việt
Nam số 220 (VSA 220) và Chuẩn mực Kiểm tốn
Quốc tế số 220 (ISA 220), “Chất lượng kiểm tốn là
mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy
vào ý kiến kiểm tốn của những đối tượng sử dụng
dịch vụ kiểm tốn đồng thời thoả mãn về mong
muốn cĩ được những ý kiến đĩng gĩp nhằm nâng
cao hiệu quả cơng tác quản lý tài chính, kế tốn
của đơn vị được kiểm tốn với thời gian định trước
và giá phí thích hợp” Chất lượng kiểm tốn ở đây
được hiểu trên khía cạnh mức độ thỏa mãn của đối
tượng sử dụng các báo cáo tài chính Với đặc trưng
của kiểm tốn các chức năng nhiệm vụ của ngân
hàng thương mại thì đối tượng sử dụng dịch vụ
kiểm tốn phổ biến nhất là các cơ quan quản lý và
các ngân hàng thương mại được kiểm tốn, các nhà
đầu tư cá nhân và tổ chức khác cĩ liên quan
Mặc dù, chất lượng kiểm tốn được nhìn nhận
dưới các quan điểm khác nhau nhưng mục tiêu
kiểm tốn vẫn phải được đảm bảo, đĩ là kiểm tốn
viên phải đưa ra ý kiến đúng về độ tin cậy của các
báo cáo tài chính Tĩm lại, đối với hệ thống các tổ
chức tín dụng thì việc đảm bảo đảm chất lượng
kiểm tốn của Kiểm tốn nhà nước, đặc biệt là đối
với Ngân hàng Chính sách xã hội là mối quan tâm
lớn nhất của các cơ quan quản lý
2 Thực trạng chất lượng kiểm tốn tại Ngân
hàng Chính sách xã hội Việt Nam
Quá trình kiểm tốn Ngân hàng Chính sách xã
hội, Kiểm tốn viên nhà nước căn cứ vào các văn
bản như Luật Kiểm tốn nhà nước, Luật Kế tốn,
các văn bản pháp luật về quản lý kinh tế, tài chính,
kế tốn, các văn bản pháp luật khác của Nhà nước
quy định về chính sách tín dụng đối với người
nghèo, cận nghèo, các đối tượng chính sách khác
và các văn bản pháp luật khác của Bộ Tài chính,
Ngân hàng Nhà nước, của các Bộ, ngành cĩ liên
quan đến hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã
hội và hệ thống chuẩn mực kiểm tốn, Quy trình kiểm tốn, Quy chế tổ chức và hoạt động của Đồn Kiểm tốn nhà nước Kết quả kiểm tốn cũng chỉ
ra nhiều tồn tại, hạn chế tại đơn vị, từ đĩ đưa ra được một số kiến nghị giúp đơn vị thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên, trong quá trình kiểm tốn Ngân hàng Chính sách xã hội, cịn một số hạn chế sau: Kiểm tốn nhà nước chưa cĩ những quy định, hướng dẫn, tiêu chí cụ thể để đánh giá các nhĩm chính sách cụ thể như: Kiểm tốn cho vay hộ nghèo; kiểm tốn chương trình cho vay học sinh, sinh viên
cĩ hồn cảnh khĩ khăn; kiểm tốn nghiệp vụ cấp
bù lãi suất và chi phí quản lý từ đĩ dẫn đến các ý kiến nhận xét đánh giá chưa bao quát, chưa đầy đủ, thiếu tính thống nhất giữa các kiểm tốn viên trong cùng đồn kiểm tốn
Năng lực của kiểm tốn viên chưa đồng đều; một số kiểm tốn viên cịn hạn chế năng lực về lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn để tiến hành kiểm tốn Từ đĩ, dẫn đến kết quả kiểm tốn đối với một số nội dung cịn hạn chế
Việc khảo sát, thu thập thơng tin chưa được chú trọng dẫn đến việc xác định mục tiêu, nội dung, phạm vi, phương pháp kiểm tốn khi lập kế hoạch kiểm tốn cịn hạn chế: Mục tiêu kiểm tốn chưa
rõ ràng; nội dung kiểm tốn chưa đầy đủ; phương pháp cách thức tiến hành kiểm tốn đơi khi chưa phù hợp
Kiểm tốn nhà nước chưa cĩ quy định, hướng dẫn về mẫu báo cáo kiểm tốn và cách trình bày báo cáo kiểm tốn riêng cho một số nội dung trong cuộc kiểm tốn, vì các nội dung này mang tính chất đặc thù nên mỗi chính sách cĩ những nội dung và tiêu chí đánh giá khác nhau Do vậy, việc đánh giá
về cùng một nội dung của mỗi kiểm tốn viên, mỗi
Tổ kiểm tốn trong cùng Đồn kiểm tốn đơi khi khác nhau
Trang 6phần lớn chỉ tập trung vào phản ánh, đánh giá
thiếu sót, tồn tại và xác định trách nhiệm liên quan
nhưng chưa thực sự đánh giá công bằng những mặt
làm được cần phát huy và đặc biệt là chưa phân tích
những nguyên nhân dẫn đến những thiếu sót, bất
cập trong quản lý nhằm hướng tới mục tiêu hoàn
thiện chương trình, chính sách, hoạt động được
kiểm toán Nhiều kiến nghị trong báo cáo kiểm
toán còn chung chung, thiếu bằng chứng nhiều khi
không có tính thực tiễn và chưa gắn kết với mục
tiêu, nội dung kiểm toán
3 Các giải pháp, khuyến nghị
Qua thực trạng cho thấy còn tồn tại tình trạng
chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật
liên quan đến hoạt động của Ngân hàng Chính
sách xã hội và sự hạn chế trong quá trình vận hành
hoạt động kiểm toán Ngân hàng Chính sách xã hội,
tác giả có một số giải pháp, khuyến nghị sau:
3.1 Nhóm giải pháp vĩ mô
Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Cần nghiên cứu
sửa đổi Luật Kiểm toán nhà nước và các văn bản
luật có liên quan để phân định rõ vị trí, chức năng
của Kiểm toán nhà nước với các cơ quan thanh tra,
kiểm tra giám sát khác của Nhà nước; đồng thời,
bảo đảm sự đồng bộ và phù hợp giữa Luật Kiểm
toán nhà nước với Luật Tổ chức Quốc hội, Luật
Tổ chức Chính phủ, Luật Ngân sách nhà nước ,
cụ thể:
Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Đề xuất Chính
phủ sửa đổi, bổ sung Luật Dân sự số 91/2015/
QH13, Bộ luật Dân sự ngày 24 tháng 11 năm 2015
tại Điều 282: Thực hiện nghĩa vụ định kỳ: “Nghĩa
vụ được thực hiện theo định kỳ theo thỏa thuận,
theo quy định của pháp luật hoặc quyết định của
cơ quan có thẩm quyền; Việc chậm thực hiện nghĩa
vụ theo từng kỳ cũng bị coi là chậm thực hiện nghĩa
vụ” phù hợp với các văn bản về thu hồi nợ vay
TT-NHNN ngày 18/ 06 /2012 về “Quy định về hoạt động cho vay, đi vay; mua, bán có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” đã được Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành Thông tư số 18/2016/TT-NHNN nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư
số 21/2012/TT-NHNN ngày 18/6/2012 Tuy nhiên, chưa phù hợp với điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội tại Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 16/2003/QĐ-TTg ngày 22 tháng 01 năm 2003 Cụ thể tại Thông tư số 18/2016/TT-NHNN, Điều 2 “Đối tượng áp dụng”
đề nghị bổ sung thêm đối tượng cho vay và đi vay
là Ngân hàng Chính sách xã hội cho phù hợp với Quyết định số 16/2003/QĐ-TTg tại Chương 2, mục 1 Điều 4 “Nguồn vốn” tiểu mục 2 “Vốn huy động” gồm: a) Tiền gửi có trả lãi của các tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước; b) Tiền gửi của các tổ chức tín dụng nhà nước bằng 2% số dư nguồn vốn huy động bằng đồng Việt Nam có trả lãi theo thoả thuận; c) Tiền gửi tự nguyện không lấy lãi của các
tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; d) Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác; đ) Tiền tiết kiệm của người nghèo
Đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Chính phủ số 76/2015/QH13 tại Điều 8 Chương 2 bổ sung Mục 8: “Chỉ đạo, tổ chức và quản lý việc thực hiện công tác kế toán và công tác thống kê của Nhà nước” thành: “Chỉ đạo, tổ chức và quản lý việc thực hiện công tác kế toán và công tác thống kê, công tác kiểm toán của Nhà nước” để phù hợp với Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13 tại Điều 6, Mục 2: “Quốc hội giám sát tối cao hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng Bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập”, nhằm khẳng định Kiểm toán nhà nước là cơ quan
Trang 7TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN
kiểm tra tài chính nhà nước cao nhất, hoạt động
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;
Nghiên cứu sửa đổi một số quy định của Luật
Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 tại Điều 23
bổ sung Mục 3: “Tham gia với Uỷ ban Tài chính,
Ngân sách và các cơ quan khác của Quốc hội,
Chính phủ trong việc xem xét, thẩm tra báo cáo
về dự tốn ngân sách nhà nước, phương án phân
bổ ngân sách trung ương, phương án điều chỉnh
dự tốn ngân sách nhà nước” thành “Tham gia
với Ủy ban Tài chính, Ngân sách và các cơ quan
khác của Quốc hội, Chính phủ trong việc xem xét,
thẩm tra báo cáo về dự tốn ngân sách nhà nước,
phương án điều chỉnh dự tốn ngân sách nhà nước
và phương án phân bổ ngân sách trung ương của
Kiểm tốn nhà nước, thời hạn nộp báo cáo quyết
tốn ngân sách năm của các bộ, các tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương” nhằm cho phù hợp với quy
định của Luật Kiểm tốn nhà nước
Các khuyến nghị đối với Bộ Tài chính: Đề xuất
điều chỉnh, bổ sung Thơng tư số 24/2005/TT-BTC,
mặc dù Bộ Tài chính đã ban hành Thơng tư Số
102/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ
sung Thơng tư số 24/2005/TT-BTC việc điều chỉnh
này chưa sát với thực tế hoạt động tại Ngân hàng
Chính sách xã hội Do đĩ, tác giả đề xuất chỉnh
sửa, bổ sung Thơng tư số 24/2005/TT-BTC theo
hai hướng, cụ thể:
(i) Tại phần IV “Cấp bù chênh lệch lãi suất và phí
quản lý” khoản mục 3 “Xác định số cấp bù chênh
lệch lãi suất và phí quản lý thực tế” của Thơng tư
số 24/2005/TT-BTC đề nghị bổ sung, xác định số
dư nguồn vốn bình quân cần tính đến số dư nguồn
vốn ủy thác tạm thời nhàn rỗi chưa giải ngân
(ii) Tại phần IV “Cấp bù chênh lệch lãi suất
và phí quản lý” khoản mục 3 “Xác định số cấp bù
chênh lệch lãi suất và phí quản lý thực tế” của Thơng
tư số 24/2005/TT-BTC đề nghị bổ sung xác định rõ
các khoản giảm trừ (khoản phải thu ngân sách nhà
nước) khi tính số dư nguồn vốn bình quân để tính cấp bù lãi suất
Đề nghị Bộ Tài chính rà sốt, căn cứ vào số quyết tốn thực tế hàng năm để xem xét việc tạm cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý hàng quý cho Ngân hàng Chính sách xã hội, tránh tình trạng tạm cấp thừa lớn, gây lãng phí nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước
Bộ Tài chính cần cĩ những chỉ đạo, đơn đốc Ngân hàng Chính sách xã hội và các đơn vị được kiểm tốn thực hiện nghiêm túc, kịp thời các kiến nghị của Kiểm tốn nhà nước và báo cáo kết quả thực hiện về Kiểm tốn nhà nước Đề nghị trong Báo cáo kết quả thực hiện kiến nghị kiểm tốn cần nêu rõ: Những kiến nghị đã thực hiện; kiến nghị đang thực hiện; kiến nghị chưa thực hiện với những kiến nghị đã thực hiện cần ghi rõ tên bằng chứng, đính kèm theo bản sao các chứng từ, tài liệu để chứng minh; với kiến nghị đang thực hiện
và kiến nghị chưa thực hiện phải giải thích rõ lý do
Đề nghị Bộ Tài chính rà sốt, căn cứ vào số quyết tốn thực tế hàng năm để xem xét việc tạm cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý hàng quý cho Ngân hàng Chính sách xã hội, tránh tình trạng tạm cấp thừa lớn, gây lãng phí nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước
Các khuyến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước:
Đề nghị Ngân hàng Nhà nước quy định Ngân hàng Chính sách xã hội chỉ được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, các
tổ chức tín dụng nhà nước phải duy trì tiền gửi 2% tại Ngân hàng Chính sách xã hội theo quy định để đảm bảo khả năng chi trả, thanh tốn và an tồn theo Thơng tư số 23/2013 TT-NHNN quy định việc tổ chức tín dụng nhà nước duy trì số dư tiền gửi tại Ngân hàng Chính sách xã hội được Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 19/11/2013 Đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề