1. Trang chủ
  2. » Hoá học lớp 10

Phân tích lỗi sai khi sử dụng động từ năng nguyện “要” của sinh viên năm thứ nhất ngành tiếng Trung Quốc - Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên

7 120 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 472,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết thông qua phát phiếu khảo sát lỗi sai khi sử dụng động từ năng nguyện “ 要 ” cho 160 sinh viên năm thứ nhất ngành tiếng Trung Quốc - Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên đã tổng[r]

Trang 1

e-ISSN: 2615-9562

PHÂN TÍCH LỖI SAI KHI SỬ DỤNG ĐỘNG TỪ NĂNG NGUYỆN “要”

CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT NGÀNH TIẾNG TRUNG QUỐC

- KHOA NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Ngô Thị Trà * , Nguyễn Thị Hải Yến

Khoa Ngoại ngữ - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Động từ năng nguyện (còn gọi là trợ động từ) có vị trí quan trọng trong hệ thống ngữ pháp tiếng

Hán hiện đại, nó có đặc điểm ngữ pháp không giống với động từ thường Do đó động từ năng

nguyện là một hiện tượng ngữ pháp tương đối phức tạp trong tiếng Hán, đồng thời cũng là một

phần ngữ pháp tương đối khó đối với sinh viên nước ngoài khi học tiếng Hán Trong hệ thống

động từ năng nguyện thì động từ “要”(yao) là một trong những động từ có tần số xuất hiện nhiều

nhất, có ngữ nghĩa đa dạng và ngữ pháp phức tạp Do đó người nước ngoài đặc biệt là người mới

bắt đầu học tiếng Hán thường mắc những lỗi sai khi sử dụng câu có động từ năng nguyện “要”

Bài viết thông qua phát phiếu khảo sát lỗi sai khi sử dụng động từ năng nguyện “要” cho 160 sinh

viên năm thứ nhất ngành tiếng Trung Quốc - Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên đã tổng hợp

các lỗi câu sai mà sinh viên hay gặp, từ đó tìm ra nguyên nhân và đưa ra một số kiến nghị trong

quá trình dạy và học động từ năng nguyện, giúp sinh viên hiểu rõ cách dùng của động từ này

Từ khóa: Động từ năng nguyện“”; ngữ pháp; lỗi sai; nguyên nhân; kiến nghị dạy học

Ngày nhận bài: 27/5/2020; Ngày hoàn thiện: 15/6/2020; Ngày đăng: 23/6/2020

AN ANALYSIS OF ERRORS IN USING THE MODEL VERB “要”

MADE BY CHINESE – MAJOR STUDENTS AT THE SCHOOL OF FOREIGN LANGUAGES – THAI NGUYEN UNIVERSITY Ngo Thi Tra * , Nguyen Thi Hai Yen

TNU - School of Foreign Languages

ABSTRACT

Modal verbs (also called auxiliary verbs) play an important role in modern Chinese grammar

system Their grammatical characteristics differs from normal verbs Therefore, these verbs are a

relatively complex grammatical phenomenon in Chinese which challenges foreign students when

studying Chinese In the model verb system, the verb “要” is one of the most frequently used that

has complex grammar and a variety of meanings Foreign students, especially beginners who learn

Chinese often make mistakes when using “要” By means of a survey among 160 Chinese-major

freshmen at the School of Foreign Language, this article summarized the mistakes that students

often meet in using “要”, find out the causes and make some recommendations for the process of

teaching and learning of the verb

Keywords: Model verb “”; grammar; errors; causes; teaching and learning recommendations

Received: 27/5/2020; Revised: 15/6/2020; Published: 23/6/2020

* Corresponding author Email: ngotra.sfl@tnu.edu.vn

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Từ những năm 50 của thế kỷ trước tên gọi

động từ năng nguyện đã xuất hiện trong tập

sách “Sơ lược hệ thống dạy học ngữ pháp

tiếng Hán”《暂拟汉语语法教学系统》 Tác

giả Lữ Thúc Tương (吕叔湘 ) đã từng đề cập

và cho rằng: “Trong trợ động từ có một bộ

phận biểu thị khả năng và sự cần thiết, một bộ

phận biểu thị ý nghĩa nguyện vọng”, do đó

được gọi là “động từ năng nguyện” [1] Vì thế

tên gọi này hình thành, dần phổ biến rộng rãi

và được sử dụng cho đến nay

Hiện nay trong giới học thuật đa số sử dụng hai

tên gọi này, thông thường tên gọi là trợ động từ

(助动词) được dùng trong thời gian đầu nghiên

cứu sơ lược tiếng Hán, còn thuật ngữ động từ

năng nguyện (能愿动词) được dùng nhiều

trong quá trình dạy học tiếng Hán [2] Do đó để

tránh lẫn lộn tên gọi bài viết thống nhất sử dụng

tên gọi là động từ năng nguyện

Căn cứ vào số liệu phân tích thống kê từ vựng

tiếng Hán năm 1985 của Khoa Ngôn ngữ Bắc

Kinh đã xuất bản thì động từ năng nguyện “ 要”

có tần số xuất hiện nhiều nhất chiếm 31,6% [3]

Trong quá trình tham gia giảng dạy tại Khoa

Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên nhóm tác

giả thấy rằng động từ năng nguyện “要” xuất

hiện rất nhiều trong các giáo trình giảng dạy và

sinh viên thường mắc phải một số lỗi khi sử

dụng động từ năng nguyện này, đặc biệt là sinh

viên năm thứ nhất khi mới bắt đầu học tiếng

Hán Xuất phát từ lí do này, nhóm tác giả đã

tiến hành khảo sát và phân tích lỗi sai của sinh

viên khi sử dụng động từ năng nguyện “要”

nhằm mục đích giúp sinh viên hiểu rõ về cách

dùng của động từ đa nghĩa này đồng thời tìm

ra nguyên nhân và đưa ra một số kiến nghị về

giảng dạy liên quan đến động từ “要” (yao)

Ngữ liệu nghiên cứu được sưu tầm chủ yếu từ

kho ngữ liệu của Đại học Bắc Kinh và phiếu

khảo sát lỗi sai của sinh viên Khoa Ngoại ngữ

- Đại học Thái Nguyên khi dùng động từ này

2 Phương pháp nghiên cứu

Bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp tổng

hợp quy nạp và phiếu khảo sát thực tế Trên

cơ sở tổng hợp những thành quả của người đi

trước nghiên cứu về động từ năng nguyện

“要”, sau đó tiến hành khảo sát thực trạng sử dụng thông qua phát phiếu điều tra và tổng hợp thống kê phân tích số liệu, từ đó đưa ra những kết luận

3 Nội dung nghiên cứu

3.1 Sơ lược nghiên cứu về ngữ nghĩa động

Trong tiếng Hán hiện đại có nhiều góc độ, nhiều phương diện nghiên cứu về động từ thì nghiên cứu về động từ năng nguyện “要” còn

là một góc độ sâu rộng hơn nữa

Đinh Thanh Thụ (丁声树) trong cuốn “Bàn về ngữ pháp tiếng Hán hiện đại”

《现代汉语语法讲话》đã quy nạp hàm nghĩa của động từ năng nguyện “要” thành 3 loại: Thứ nhất là biểu thị yêu cầu, nguyện vọng của cấp trên, thứ hai là biểu thị sự cần thiết trên thực tế, thứ ba là biểu thị sự tất yếu [4] Vương Lực (王力) trong “Lược sử về ngữ pháp tiếng Hán”《汉语语法史》có bước đầu nghiên cứu sơ lược về động từ “要” Từ góc

độ sơ lược ngữ pháp ông đã chỉ ra tiền thân của “要” là “欲”, thể hiện rõ “要” là trợ động

từ trở thành hình thức năng nguyện, đồng thời

nó còn biểu thị tương lai [5]

Chu Đức Hy (朱德熙) trong “Giảng nghĩa ngữ pháp”《语法讲义》đã chỉ ra 2 lớp nghĩa của “要”: một là biểu thị ý nguyện, hai là biểu thị trên thực tế cần như này [6]

Lữ Thúc Tương (吕叔湘) trong cuốn “Tám

《现代汉语八百词》đã đưa ra 5 lớp nghĩa của động từ năng nguyện “要”: Thứ nhất là biểu thị ý chí làm việc gì, thứ hai là biểu thị cần phải làm gì, thứ ba là biểu thị khả năng, thứ tư là biểu thị tương lai, thứ năm là biểu thị phán đoán, dùng trong câu so sánh [7]

3.2 Đặc điểm ngữ pháp

Nghiên cứu về chức năng ngữ pháp của động

từ năng nguyện có rất nhiều quan điểm khác nhau Bài viết dựa trên quan điểm của tác giả Đổng Côn (董琨) trong “giảng nghĩa ngữ pháp” 《汉语讲义》 cho rằng: “động từ năng nguyện làm thuật ngữ, từ vị ngữ sau nó làm tân ngữ” [8] Chu Đức Hy (朱德熙) trong

“kết cấu ngữ pháp câu” 句法结构》thông qua

Trang 3

so sánh trợ động từ mang tính đại diện và động

từ cập vật điển hình đã rút ra kết luận: “trợ

động từ + động từ” là kết cấu thuật tân [9]

Căn cứ vào cách nhìn nhận, quan điểm khác

nhau của các nhà nghiên cứu nhóm tác giả đã

quy nạp tổng kết lại động từ năng nguyện

“要” có những đặc điểm ngữ pháp sau:

- Động từ năng nguyện “要” có thể sử dụng

độc lập trong câu khẳng định, phủ định, câu

nghi vấn

- Động từ năng nguyện “要” có thể độc lập

làm vị ngữ hoặc thành phần độc lập của câu,

hoặc độc lập trả lời câu hỏi

- Động từ năng nguyện “要” không chỉ có thể

làm vị ngữ trung tâm hoặc vị ngữ mà còn có

thể đảm nhận làm thành phần chủ ngữ, tân

ngữ, định ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ

Ví dụ:

(1)要做是他的主观意愿。

Dịch nghĩa: Cần phải làm là ý kiến chủ quan

của anh ta (làm chủ ngữ)

(2)要做的事不一定是正确的。

Dịch nghĩa: Những việc cần phải làm không

nhất định là đúng (làm tân ngữ)

- Có một số trường hợp động từ năng nguyện

“要” có thể tiếp nhận sự tu sức của phó từ

“更, 直” mà có một số trường hợp động từ

năng nguyện “要” có thể nhận sự tu sức của

động từ “想, 能”

- Động từ năng nguyện “要” và hình thức phủ

định“不要” tồn tại không đối xứng nhau

3.2.1 Động từ năng nguyện “” dùng trong

câu khẳng định

Kết cấu ngữ pháp cơ bản của động từ năng

nguyện “要” dùng trong câu khẳng định là:

NP (thành phần chủ ngữ) + 要 + VP (thành

phần tân ngữ), “要” biểu thị NP có mong

muốn thực hiện VP Ví dụ:

(3)奶奶最近身体不好,我要去看望她。

Dịch nghĩa: Gần đây sức khỏe bà nội không

tốt, tôi muốn đi thăm bà

3.2.2 Động từ năng nguyện “” dùng trong

câu phủ định

Động từ năng nguyện là một loại từ tương đối

đặc biệt ở chỗ thể khẳng định và phủ định của

nó không đối xứng nhau, có nghĩa là mỗi một hạng mục nghĩa bao hàm của động từ năng nguyện và hình thức phủ định giữa chúng không đối xứng nhau Trong khuôn khổ bài viết động từ năng nguyện “要” và hình thức phủ định của nó là “不要” không đối xứng nhau Hình thức phủ định của động từ năng nguyện

“要” là “不要” nhưng ngược lại “不要” lại không cùng ngữ nghĩa Khi biểu đạt mong muốn thể khẳng định thì chúng ta có thể dùng

“要” để biểu đạt nhưng thể phủ định thường không dùng “不要” mà thường dùng “不想” [10] “不想” dùng để biểu đạt mong muốn, ước muốn phủ định của chủ ngữ Ví dụ:

(4)今天晚上我要吃面条,不想吃米饭。 Dịch nghĩa: Tối nay tôi muốn ăn mì, không muốn ăn cơm

“不要” thường biểu đạt không nên làm gì, thường dùng nhiều khi biểu thị “cấm hoặc khuyên nhủ” Chúng ta sẽ phân“不要” thành

2 lớp nghĩa:“不要1” biểu thị ước muốn phủ định, “不要2” biểu thị cấm hoặc khuyên nhủ

- Cách dùng của “不要1” Ví dụ:

(5)我不要去那里上大学。

Dịch nghĩa: Tôi không muốn học ở đó (6)我不要吃爸爸煮的面条。

Dịch nghĩa: Tôi không muốn ăn mì bố nấu Trong 2 ví dụ trên “不要” đều phủ định mong muốn trên tinh thần ý chí của một người Trong 2 ví dụ trên nghĩa của “不要” tương đương với “不想”

- Cách dùng của “不要2”.Ví dụ:

(7)你不要在这里抽烟。

Dịch nghĩa: Anh không được hút thuốc ở đây (8)请不要浪费水。

Dịch nghĩa: Xin đừng lãng phí nước sạch Trong 2 ví dụ trên ý nghĩa của “不要” biểu đạt là không nên, không cho phép, biểu thị ngữ nghĩa cấm hoặc khuyên nhủ

3.2.3 Động từ năng nguyện “” dùng trong câu hỏi

Câu phản vấn và câu nghi vấn là hai trường hợp cơ bản mà động từ năng nguyện “要” sử dụng trong câu hỏi

- Dùng trong câu nghi vấn thông thường

Câu nghi vấn thông thường có 3 hình thức biểu hiện là: sử dụng câu hỏi, dùng từ ngữ khí

Trang 4

“吗” đặt ở cuối câu hoặc là trước “要”

thêm“不” Ví dụ:

(9)她有事吗?是她自己要先走的吗?

Dịch nghĩa: Cô ấy có chuyện gì sao? Là tự cô

ý muốn rời đi trước sao?

(10)你要一定一起去吗?

Dịch nghĩa: Anh nhất định muốn cùng đi

hay sao?

Ngoài ra còn có hình thức câu nghi vấn chính

phản là “要不要”, trường hợp này nó thường

là vị từ của câu nghi vấn chính phản, câu trả

lời có 2 hình thức là phủ định hoặc khẳng

định Ví dụ:

(11)你要不要吃水果?

Dịch nghĩa: Anh muốn dùng chút hoa quả

không?

- Dùng trong câu phản vấn

Câu phản vấn là trong câu không có từ phủ

định nhưng ngữ nghĩa của câu là phủ định,

ngược lại có từ phủ định nhưng lại mang

nghĩa khẳng định.Ví dụ:

(12)这件事情,你真的要怨恨我吗?

Dịch nghĩa: Về chuyện này, anh thật sự muốn

oán trách tôi sao?

(13)做错了就是做错了,谁要听你的解释呢?

Dịch nghĩa: Sai thì đã sai rồi, ai còn nghe bạn

giải thích nữa chứ?

3.3 Khảo sát thực trạng sử dụng động từ

nhất ngành tiếng Trung Quốc - Khoa Ngoại

ngữ - Đại học Thái Nguyên

3.3.1 Mục đích, đối tượng và nội dung khảo sát

- Mục đích khảo sát: Thông qua khảo sát thực

trạng sử dụng động từ năng nguyện “要”của

sinh viên năm thứ nhất ngành tiếng Trung

Quốc - Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái

Nguyên để tìm ra những lỗi thường gặp của

sinh viên khi sử dụng, đồng thời phân tích

nguyên nhân dẫn đến lỗi sai đó và đưa ra một

số kiến nghị trong thực tế dạy và học

- Đối tượng khảo sát trong bài viết là sinh

viên năm thứ nhất ngành tiếng Trung Quốc -

Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên

- Nội dung khảo sát: Phiếu khảo sát được chia

làm 3 phần:

Phần 1: Chọn từ điền vào chỗ trống để khảo

sát sinh viên có biết cách phân biệt giữa “要,

想” và “要, 愿意” hay không

Phần 2: Yêu cầu sinh viên phán đoán đúng sai

10 câu, chủ yếu khảo sát sinh viên phán đoán đúng sai về ngữ nghĩa và cách dùng của động

từ năng nguyện “要”

Phần 3: Căn cứ vào những từ cho sẵn yêu cầu sinh viên sắp xếp thành câu đúng

3.3.2 Phân tích kết quả khảo sát

Tổng số phiếu phát ra là 160 phiếu và thu về

160 phiếu, trong tổng số 32 câu của phiếu khảo sát làm đúng nhiều nhất được 28 câu, đúng ít nhất được 11 câu

Bảng 1 thống kê cụ thể kết quả khảo sát thực trạng sử dụng động từ năng nguyện “要” của sinh viên năm thứ nhất ngành tiếng Trung Quốc - Khoa Ngoại ngữ:

Bảng 1 Thống kê kết quả khảo sát

sử dụng động từ năng nguyện “

Nội dung khảo sát

Số câu

Số câu đúng

Tỷ lệ câu đúng (%)

Số câu sai

Tỷ lệ câu sai (%)

Phần 1 18 2160 75,0 720 25,0 Phần 2 10 1323 83,1 277 16,9 Phần 3 4 557 87,3 83 12,7

Tổng 32 4040 78,9 1080 21,1

Thông qua phân tích kết quả khảo sát chúng

ta thấy rằng sinh viên năm thứ nhất chuyên ngành tiếng Trung Quốc – Khoa Ngoại ngữ

có lỗi sai sử dụng nhầm 3 động từ năng nguyện “要,想,愿意” và lỗi này chiếm tỷ

lệ cao nhất, điều này thể hiện rõ sinh viên vẫn chưa nắm rõ và phân biệt sự khác nhau về ngữ nghĩa và cách dùng của 3 động từ năng nguyện này Ngoài ra còn tồn tại các lỗi khi

sử dụng như: thiếu động từ năng nguyện

“要”, thừa động từ này và sai trật tự từ này trong câu được thống kê trong bảng 2

Bảng 2 Thống kê lỗi sai khi sử dụng

động từ năng nguyện “

Lỗi sai Số câu sai Tỷ lệ câu sai

(%)

Thiếu động từ 335 31,0

Sau đây bài viết sẽ phân tích cụ thể các loại lỗi sai mà sinh viên năm thứ nhất ngành tiếng Trung Quốc – Khoa Ngoại ngữ gặp phải khi

sử dụng động từ năng nguyện “要” và nguyên nhân dẫn đến các lỗi sai này

Trang 5

- Lỗi sai sử dụng thiếu động từ năng nguyện “

Lỗi sai này là do dùng thiếu hoặc chưa nắm rõ

cách dùng của động từ năng nguyện “要”

Ví dụ:

(14) 妈妈告诉我努力学习汉语。

Dịch nghĩa: Mẹ bảo tôi chăm chỉ học tiếng Hán

Trong ví dụ trên cần thêm động từ năng

nguyện “要” trước “努力”, ví dụ (14) sẽ là:

Mẹ bảo tôi cần phải chăm chỉ học tiếng Hán)

Xuất hiện lỗi sai này còn do trong quá trình

giao tiếp hàng ngày cũng có lúc sử dụng và

không sử dụng động từ năng nguyện “要”

không ảnh hưởng đến ngữ nghĩa của câu, điều

này có khả năng tạo ra sự nhầm lẫn cho người

học, họ có thể cho rằng động từ năng nguyện

“要” không quan trọng Trong hệ thống ngữ

pháp tiếng Hán có lúc lược bỏ động từ năng

nguyện nhưng câu vẫn được thành lập vì động

từ năng nguyện đứng trước động từ hoặc

thành phần động từ biểu thị đặc điểm hoặc

trạng thái của động tác Ví dụ:

(15) a 她去上海出差。

Dịch nghĩa: Cô ấy đi Thượng Hải công tác

b.她要去上海出差。

Dịch nghĩa: Cô ấy phải đi Thượng Hải công tác

Trong ví dụ trên cả hai câu đều không sai

nhưng có sự khác biệt: câu a không có động

từ năng nguyện “要”, câu b thì có Câu a là

biểu đạt tình huống sự việc đã xảy ra, câu b là

yêu cầu cấp trên đối với cấp dưới hay cũng có

khả năng cách nghĩ của bản thân như thế là

đúng Nếu sinh viên chưa nắm chính xác

nghĩa của động từ năng nguyện “要” thì xuất

hiện lỗi sai này là bình thường có thể xảy ra

- Lỗi sai khi dùng thừa động từ năng nguyện “

Động từ năng nguyện là thành phần quan

trọng trong câu Trong quá trình học sinh viên

thường gặp lỗi sai là chỗ cần dùng thì không

dùng, ngược lại chỗ không cần dùng thì lại

thêm vào cũng tạo ra lỗi sai và làm cho câu có

sự khác biệt về ngữ nghĩa Ví dụ:

(16)她说如果我有什么不明白的事,我尽

管要问她。

Dịch nghĩa: Cô ấy nói nếu tôi có việc gì

không hiểu, tôi cứ phải hỏi cô ấy

Trong ví dụ trên“要” cần lược bỏ ví dụ (16) sẽ là: 她说如果我有什么不明白的事,我尽管问她 (Dịch nghĩa: Cô ấy nói nếu tôi có việc gì không hiểu, tôi cứ hỏi cô ấy.)

- Lỗi sai khi dùng nhầm động từ năng nguyện “

Người học tiếng Hán đều biết trong hệ thống

từ vựng tiếng Hán hiện đại rất hay gặp từ đa nghĩa hay gần nghĩa, với hiện tượng này thì đối với động từ năng nguyện loại biểu thị mong muốn, ước muốn càng thể hiện rõ Do

đó đặc trưng này gây khó khăn cho người nước ngoài học tiếng Hán

Khách quan mà nói tiếng Hán là loại ngôn ngữ có độ khó không nhỏ, là một loại ngôn ngữ có đặc thù riêng Có lúc sự khác biệt ngữ nghĩa giữa các từ là rất nhỏ khiến cho người Trung Quốc cũng có thể dùng sai huống chi là người nước ngoài trong giai đoạn đầu học tiếng Hán, do đó xảy ra lỗi sai này là điều khó tránh khỏi Ví dụ:

*(17) 我下课后想去休息,不要学习。 Dịch nghĩa: Sau khi tan học tôi muốn nghỉ ngơi, không cần học

*(18) 我一定想拿到奖学金。

Dịch nghĩa: Tôi nhất định muốn lĩnh được học bổng

*(19) 我真不要离开中国。

Dịch nghĩa: Tôi thật sự không cần rời xa Trung Quốc

Trong ví dụ (17) 不要 nên bỏ và sửa thành 不愿意, ví dụ (18) 想 nên bỏ và sửa thành 要,

ví dụ (19) 不要 nên bỏ và sửa thành不想 Do

đó các câu đúng của 3 ví dụ trên là:

(17)我下课后想去休息,不愿意学习。 Dịch nghĩa: Sau khi tan học tôi muốn nghỉ ngơi, không muốn học

(18)我一定要拿到奖学金。

Dịch nghĩa: Tôi nhất định phải lĩnh được học bổng

(19)我真不想离开中国。

Dịch nghĩa: Tôi thật sự không muốn rời xa Trung Quốc

“要,想,愿意” là những động từ năng nguyện điều biểu thị ngữ nghĩa mong muốn,

có trường hợp chúng có thể dùng thay thế cho

Trang 6

nhau nhưng có trường hợp không thể thay thế

cho nhau

- Lỗi sai khi dùng sai vị trí của động từ năng

nguyện “

Trong quá trình học tiếng Hán một số sinh

viên do không hiểu chính xác hoặc nắm rõ qui

tắc ngữ pháp của động từ năng nguyện “要”,

do đó rất dễ dùng sai vị trí của từ này trong

câu nên chúng ta gọi là lỗi sai trật tự từ.Ví dụ:

*(20)我去游乐场想玩旋转木马。

*(21)他静坐想一会儿。

*(22)可是我们总要得吃饭。

Trong ví dụ (20) trật tự đúng của câu là “

我想去游乐场玩旋转木马” do trong câu 2

động từ liên tiếp đứng cạnh nhau thì động từ

năng nguyện phải là động từ đứng trước

Trong ví dụ (21) trật tự đúng là:

他想静坐一会儿 căn cứ vào ngữ pháp tiếng

Hán hiện đại sau động từ năng nguyện là

động từ có tính vị từ do đó trật tự thông

thường của câu là: Chủ ngữ + động từ năng

nguyện + Vị ngữ + Tân ngữ

Trong ví dụ (22) trật tự đúng là

可是我们总得要吃饭 vì phó từ bắt buộc phải

đứng trước động từ năng nguyện “要”

3.4 Nguyên nhân dẫn đến các lỗi sai của

sinh viên năm thứ nhất Khoa Ngoại ngữ -

Đại học Thái Nguyên khi sử dụng động từ

3.4.1 Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ Mỗi

loại ngôn ngữ đều có những đặc điểm riêng

biệt với các loại ngôn ngữ khác, trong quá

trình học người học luôn tìm ra những đặc

trưng giống với tiếng mẹ đẻ, nhưng có điểm

giống nhau và có điểm không giống nhau nên

rất dễ dùng sai Do đó trong quá trình dạy học

và so sánh giáo viên giúp sinh viên khắc phục

sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ

Thứ hai, do độ khó nhất định của động từ

năng nguyện“要”

Động từ năng nguyện “要” là một trong

những động từ có ngữ nghĩa đa dạng và ngữ

pháp phức tạp; do đó khi sử dụng sinh viên

rất dễ dùng sai nếu không nắm rõ về ngữ

nghĩa và cách dùng của động từ này

Thứ ba, do tài liệu học tập và tài liệu tham

khảo chưa phong phú, chưa tập trung tổng hợp miêu tả hết cách dùng và ý nghĩa của động từ năng nguyện“要” Cách dùng của động từ năng nguyện “要” không được giới thiệu tập trung ở một bài học mà nằm rải rác

ở các bài trong giáo trình, do đối tượng khảo sát là sinh viên năm thứ nhất mới bắt đầu học tiếng Hán, vì vậy chưa biết tổng hợp cách dùng của động từ này nên rất dễ dùng sai

3.4.2 Nguyên nhân chủ quan Thứ nhất, do khả năng nhận thức có hạn của

sinh viên

Mỗi sinh viên có sự khác nhau về sức khỏe, trạng thái tâm lí, trình độ nhận thức nên việc nhận thức ngôn ngữ sẽ khác nhau, có sinh viên nhận thức rất tốt nhưng ngược lại có sinh viên lại có biểu hiện kém hơn, do đó sinh viên kém sẽ rất khó để tiếp thu kiến thức và nắm chắc kiến thức ngay từ đầu

Thứ hai, do bản thân sinh viên và phương

pháp học chưa phù hợp

Kế hoạch học tập và phương pháp học của mỗi người trong quá trình học đều ảnh hưởng đến sự thu nhận ngôn ngữ của người đó Người học thông thường đều biết trình tự học tập của bản thân, trong cả nội dung của quá trình học thì người học là chủ đạo do đó mỗi sinh viên có kế hoạch học tập và phương pháp học ngay từ đầu sẽ nắm chắc được kiến thức

3.5 Một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy và học động từ năng

Để khắc phục những lỗi sai nêu trên khi sử dụng động từ năng nguyện “要” của sinh viên năm thứ nhất Khoa Ngoại ngữ nhóm tác giả đưa ra một số kiến nghị sau:

3.5.1 Đối với sinh viên Thứ nhất, hạn chế sự ảnh hưởng của tiếng

Việt trong quá trình học, tiếng Việt và tiếng Hán có rất nhiều điểm ngữ pháp giống nhau nên tạo động lực tích cực cho sinh viên dễ dàng tiếp thu nhưng không phải lúc nào cũng giống nhau Chẳng hạn động từ năng nguyện

“要” dịch nghĩa tiếng Việt tương đương là

“cần, phải” nhưng phủ định của nó là “不想” dịch tiếng Việt là “không muốn” chứ không

Trang 7

phải là “không cần, không phải” nên sinh viên

mới bắt đầu học tiếng Hán rất dễ nhầm

Thứ hai, động từ năng nguyện “要” có ngữ

nghĩa phức tạp và phân bố rải rác ở các bài

trong giáo trình do đó học đến phần ngữ

nghĩa nào sinh viên nên có kế hoạch và

phương pháp học tập để bản thân tự ghi nhớ

củng cố từng phần

Thứ ba, để nhớ sâu hơn kiến thức trong quá

trình học sinh viên nên tự tạo ra tình huống

giao tiếp để vận dụng các cách dùng và ngữ

nghĩa của động từ năng nguyện “要” một

cách thường xuyên

3.5.2 Đối với giáo viên

Thứ nhất, giúp sinh viên hạn chế sự ảnh hưởng

của tiếng mẹ đẻ trong quá trình dạy học, động

từ năng nguyện “要” là động từ đa nghĩa có 5

lớp nghĩa do đó trong quá trình giảng dạy giáo

viên cần phân tích rõ từng lớp nghĩa và khi so

sánh dịch sang tiếng Việt thì “要” tương

đương với từ nào để sinh viên dễ dàng sử dụng

không bị nhầm lẫn sang từ khác hoặc dùng

thừa thiếu động từ năng nguyện “要”

Thứ hai, để giúp sinh viên phân biệt được cách

dùng của 3 động từ năng nguyện gần nghĩa

“要,想,愿意” đầu tiên giáo viên nên đưa ra

tình huống có sự xuất hiện của 3 từ này sau đó

phân tích sự khác nhau về ngữ nghĩa giữa

chúng giúp sinh viên hiểu rõ về cách dùng và

cuối cùng đưa ra các dạng bài tập vận dụng

(thay thế, điền vào chỗ trống, sửa lỗi sai) để

sinh viên làm thực hành khắc sâu kiến thức

Thứ ba, để khắc phục lỗi sai trật tự từ khi sử

dụng động từ năng nguyện “要” trong câu có

nhiều thành phần, giáo viên nên viết rõ công

thức câu (chủ ngữ + (phó từ) + “要” + động

từ thường + thành phần khác) lên trên bảng

đồng thời lấy ví dụ minh họa phân tích, sau

đó yêu cầu sinh viên vận dụng thực hành lấy

ví dụ theo mẫu câu

Thứ tư, trên lớp giáo viên thường xuyên tạo ra

các ngữ cảnh giao tiếp có sử dụng động từ

năng nguyện “要” để sinh viên thường xuyên

vận dụng nhằm nâng cao khả năng giao tiếp

và nắm vững cách dùng Đồng thời khích lệ

sinh viên tự tạo ra các tình huống có sử dụng

các lớp ngữ nghĩa của động từ năng nguyện

“要” để sinh viên có thể tự hiểu và tự vận

dụng nhằm ghi nhớ kiến thức sâu hơn

Thứ năm, căn cứ vào tình hình nắm kiến thức

của sinh viên khi sử dụng động từ năng nguyện “要” giáo viên thường xuyên đưa ra các dạng bài tập tổng hợp như: thay thế, điền

từ vào chỗ trống, sửa lỗi sai, dịch câu nhằm củng cố tổng hợp toàn bộ cách dùng và ngữ nghĩa của động từ này để giúp sinh viên nắm chắc kiến thức

4 Kết luận

Thông qua khảo sát và phân tích thực trạng sử dụng động từ năng nguyện “要” của sinh viên năm thứ nhất ngành tiếng Trung Quốc - Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên chúng ta thấy rằng: sinh viên khi sử dụng động từ này vẫn còn tồn tại một số lỗi sai như: dùng thiếu

và thừa động từ năng nguyện “要”, dùng sai

vị trí từ và dùng nhầm trong câu Trên cơ sở phân tích kết quả chúng ta thấy rõ nguyên nhân xảy ra những lỗi này là do: ảnh hưởng một phần của tiếng Việt, độ khó nhất định của động từ này, tài liệu học tập và tham khảo chưa phong phú, trình độ nhận thức của sinh viên có hạn, phương pháp và kế hoạch học tập của sinh viên chưa phù hợp Vì thế bài viết đã đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên khi sử

dụng động từ năng nguyện này

TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES

[1] T T Lu, Analysis of Chinese grammar problems Beijing University Press, 1979

[2] N K Ly, “Issues related to auxiliary verbs,”

Literary journals , vol 87, no 6, pp 22-27, 1993 [3] Beijing Language Research Institute, Analysis and statistics of Chinese vocabulary Beijing

Foreign Language Education Publishing House, 1985

[4] T T Dinh, Discussion on modern Chinese grammar Beijing University Press, 2004 [5] L Vuong, An overview of Chinese grammar

Beijing University Press, 1979

[6] D H Chu, Teaching grammar Beijing

University Press, 1986

[7] T T Lu, 800 modern Chinese words Beijing

University press, 2009, pp 291-293

[8] C Dong, Understanding Chinese words’ meanings Central University of Broadcasting

Publisher,1985

[9] D H Chu, “Grammatical structure in sentences,”

Language newspaper, Liaoning University, China, vol 132, no 6, pp 32-37, 1982 [10] T T Lu, Modern Chinese Grammar in Use

Beijing University press, 1980

Ngày đăng: 09/03/2021, 08:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w