1. Trang chủ
  2. » Shounen Ai

Nghiên cứu tính bền vững của mô hình sản xuất chè an toàn tại xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên: Luận văn Thạc Sĩ Khoa học Môi trường chuyên ngành Môi trường trong phát triển bền vững

85 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung tâm Tài nguyên môi trƣờng miền núi, Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên cùng với trƣờng đại học IGCI Newtheland phối hợp với Bộ Nông Nghiệp và Phát[r]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN THU HƯỜNG

NGHIÊN CỨU TÍNH BỀN VỮNG CỦA

MÔ HÌNHSẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN TẠI XÃ TÂN CƯƠNG, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Hà Nội, Năm 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

-

NGUYỄN THU HƯỜNG

NGHIÊN CỨU TÍNH BỀN VỮNG CỦA

MÔ HÌNH SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN

TẠI XÃ TÂN CƯƠNG, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững

(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS LÊ TRỌNG CÚC

Hà Nội, Năm 2012

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ẢNH, BIỂU ĐỒ 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 12

1.1 Tổng quan về hệ sinh thái nông nghiệp 12

1.2 Nông nghiệp bền vững 14

1.3 Tình hình sản xuất chè an toàn trên thế giới 18

1.4 Tình hình sản xuất chè an toàn tại Việt Nam 25

CHƯƠNG 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Địa điểm nghiên cứu 32

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 32

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 38

2.2 Thời gian nghiên cứu 43

2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 44

2.3.1 Phương pháp luận 44

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 45

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48

3.1 Tình hình canh tác chè và hiện trạng môi trường tại khu vực nghiên cứu 48

3.1.1 Tình hình sử dụng phân bón 48

3.1.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV cho cây chè 51

3.2 Thực trạng phát triển mô hình sản xuất chè an toàn tại Tân Cương 55

3.2.1 Quy trình sản xuất chè an toàn 55

3.2.2 Những thuộc tính của hệ sinh thái nông nghiệp vùng chè xã Tân Cương 60

3.3 Những thuận lợi và khó khăn 69

Trang 4

3.3.1 Những thế mạnh của mô hình sản xuất chè an toàn tại Xã Tân Cương, Thành phố

Thái Nguyên (S) 70

3.3.2 Những điểm yếu của mô hình sản xuất chè an toàn tại Xã Tân Cương, Thành phố Thái Nguyên (W) 71

3.3.3 Những cơ hội của mô hình sản xuất chè an toàn tại Xã Tân Cương, Thành phố Thái Nguyên (O) 72

3.3.4 Những áp lực của mô hình sản xuất chè an toàn tại Xã Tân Cương, Thành phố Thái Nguyên (T) 73

KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 76

1 Kết luận 76

2 Khuyến nghị 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 80

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

FAO Food and Agriculture

Organization of the United Nations

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

GlobalGAP Global Good Agricultural

Practice

Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu

HACCP Hazard Analysis and

Critical Control Points

Phân tích mối nguy hiểm và điểm kiểm soát tới hạn

IUCN International Union for

Conservation of Nature and Natural Resources

Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế

IFOAM International Federation of

Organ c Agriculture Movements

Liên đoàn phong trào nông nghiệp hữu cơ quốc tế

Agricultural Practices

Thực hành sản xuất nông nghiệp tôt

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Phân loại đất vùng chè đặc sản Tân Cương 35

Bảng2: So sánh nhu cầu sinh thái của cây chè đối với một số yếu tố tự nhiên xã Tân Cương, Thành phố Thái Nguyên [13] 36

Bảng 3: Ma trận phân tích SWOT 46

Bảng4: Mức đầu tư phân bón của 3 nhóm nông hộ tại xã Tân Cương 50

Bảng5:Mức độ phổ biến của sâu hại chè ở vùng dự án 51

Bảng6: Chủng loại TBVTV được sử dụng trên chè năm 2006 và 2012 52

Bảng 7: Số lần phun thuốc trên chè trong 1 năm (số liệu điều tra năm 2009) 53

Bảng8: Kết quả xác định kim loại nặng trong mẫu nước thu tại Tân Cương 54

Bảng 9: Kết quả xác định kim loại nặng trong mẫu đất thu tại Tân Cương 55

Bảng 10: Các yếu tố ảnh hưởng đến đặc tính của hệ sinh thái nông nghiệp trong mô hình sản xuất chè an toàn ở Tân Cương 61

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ẢNH, BIỂU ĐỒ

Hình 1: Giá chè xuất khẩu của Việt Nam và một số nước lớn trên thế giới, theo tháng,

2007-2009, USD/tấn [19] 26

Hình 2: Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu

Hình 3: Cơ cấu giống chè tại xã Tân Cương 39

Hình 4: Quy trình sản xuất chè an toàn tại xã Tân Cương, TP Thái Nguyên 55

Hình 5: Mối liên hệ giữa sản lượng chè và lượng mưa trung bình theo tháng 62

Hình 6: Sự thay đổi cơ cấu giống chè tại Tân Cương (2006 - 2012) 63

Hình7: Năng suất trung bình của chè qua các năm 2006 – 2011 64

Hình8:Một góc Chợ chè Tân Cương 66

Hình9: Bài thực hành trong buổi tập huấn 67

Hình 10: Tài liệu phát cho người dân 68

Hình11: Giấy chứng nhận VietGap của 13 hộ gia đình 68

Hình12: Khu vực Nhà trưng bầy 73

Hình 13: Mô hình sản xuất chè an toàn tại xã Tân Cương, TP Thái Nguyên

Trang 8

MỞ ĐẦU

Lý do lựa chọn đề tài

Nông nghiệp là ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và xã hội Việt Nam Hiện nông nghiệp mang lại khoảng 20% tổng thu nhập trong nước và 1/5 kim ngạch xuất khẩu của quốc gia, tạo việc làm cho 48,4% lực lượng lao động trong cả nước (Tổng cục Thống kê, 2011) Một trong những ưu tiên phát triển của nông nghiệp Việt Nam hiện nay là các mặt hàng nông sản xuất khẩu, trong đó có sản phẩm chè Mặc dù không phải là mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực nhưng xuất khẩu chè cũng mang lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách quốc gia Việt Nam hiện đứng thứ 5 trên thế giới về diện tích và sản lượng chè xuất khẩu, sản phẩm chè của Việt Nam được xuất khẩu tới 110 quốc gia và khu vực trên thế giới, kim ngạch xuất khẩu năm 2011 đạt khoảng 200 triệu đô la Mỹ Bên cạnh đóng góp về giá trị kinh tế, ngành chè còn có ý nghĩa xã hội đặc biệt to lớn, thu hút một lực lượng lao động khoảng hơn 6 triệu người ở 34 tỉnh trên cả nước, đặc biệt là nông dân nghèo thuộc các tỉnh miền núi

Tuy nhiên, sự phát triển của ngành chè Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Thứ nhất, khoảng 90% sản lượng chè xuất khẩu của nước ta vẫn ở dạng nguyên liệu thô, chưa qua chế biến nên giá trị gia tăng thấp Thứ hai, chất lượng của các sản phẩm chè xuất khẩu chưa cao, do đó giá trị xuất khẩu cũng thấp hơn nhiều so với mặt bằng giá trị chung của thế giới (chỉ bằng 70% trong năm 2010) Thứ ba, bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới có thể giúp cho việc xuất khẩu trở nên dễ dàng hơn do các hàng rào thuế quan dần được gỡ bỏ, nhưng đồng thời lại bị hạn chế bởi việc xuất hiện thêm nhiều hàng rào kỹ thuật khắt khe, đặc biệt về vấn

đề an toàn thực phẩm đối với các mặt hàng nông sản

Phát triển các vùng chè an toàn, tập trung đáp ứng yêu cầu sản xuất an toàn theo hướng thực hành nông nghiệp tốt là một trong những hướng đi của ngành chè nhằm vượt qua các khó khăn, thách thức trên Chính vì vậy, năm 2012 đã được ngành chè Việt Nam chọn là năm phát động chương trình “Vì sản phẩm trà an toàn, sản xuất chè có trách nhiệm”

Trang 9

Hiện nay, trên cả nước đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất - chế biến chè an toàn, từ việc kiểm soát cây giống, quy trình chăm sóc cho đến đổi mới thiết bị, công nghệ chế biến, bảo quản sản phẩm chè sau thu hoạch Một số tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế về chất lượng sản phẩm nông nghiệp cũng đã và đang được triển khai áp dụng cho sản phẩm chè an toàn như VietGAP, GlobalGAP

Thái Nguyên là một trong những tỉnh đi tiên phong phát triển các mô hình sản xuất chè an toàn Cây chè là đặc sản chiến lược của tỉnh và được xác định là cây trồng chủ lực trên đất vườn đồi, góp phần xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho người dân vùng chè Nhiều năm qua, Thái Nguyên đã tổ chức những vùng sản xuất chè an toàn như hợp tác xã chè Tân Hương (xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên) Nằm trong vùng chè đặc sản Tân Cương, hợp tác xã chè Tân Hương đã được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn về sản xuất các sản phẩm nông sản tốt trên quy

mô toàn cầu Tiếp đến là xây dựng thành công 30 hộ theo mô hình quản lý chất lượng nội bộ trong sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn GlobalGAP, Công ty cổ phần chè Vạn Tài là đơn vị đầu tiên được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn GlobalGAP trên cây chè với diện tích là 4ha Điều này đã góp phần không nhỏ giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường và tạo thương hiệu sản phẩm Năm 2011, tiếp tục

áp dụng mô hình quản lý chất lượng GlobalGAP cho các hộ tại xóm Hồng Thái (xã Tân Cương, Thành phố Thái Nguyên) với diện tích 5 ha; xóm Làng Chủ (xã Trung Hội, huyện Định Hoá) diện tích 2,7 ha; xóm Hương Hội (xã Sơn Phú, huyện Định Hoá) với diện tích 5 ha,… Mặc dù vậy, nếu nhìn vào thực tế có thể thấy rằng những con số nêu trên còn quá khiêm tốn so với tổng diện tích và sản lượng chè trên toàn địa bàn tỉnh Thái Nguyên Câu hỏi đặt ra là, nếu sản xuất chè an toàn mang lại giá trị cao và ổn định hơn cho người dân thì tại sao việc nhân rộng các mô hình sản xuất

- chế biến chè an toàn lại gặp khó khăn và diễn ra chậm chạp như vậy? Phải chăng vấn đề liên quan đến khía cạnh phát triển bền vững của các mô hình này?

Để góp phần trả lời cho các câu hỏi trên và tìm hiểu các vấn đề liên quan,

học viên lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tính bền vững của mô hình sản xuất chè an

toàn tại xã Tân Cương, Thành phố Thái Nguyên” để thực hiện luận văn tốt nghiệp

khóa học thạc sỹ chuyên ngành Môi trường trong Phát triển bền vững

Đối tượng nghiên cứu

Trang 10

Hệ sinh thái nông nghiệp vùng chè Tân Cương và mô hình sản xuất chè an toàn tại khu vực nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Thực trạng hệ sinh thái nông nghiệp trồng chè tại khu vực nghiên cứu;

Tìm hiểu quy trình sản xuất chè an toàn, thực trạng phát triển của hoạt động sản xuất chè an toàn tại tỉnh Thái Nguyên và khu vực nghiên cứu;

Phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và áp lực đối với hoạt động sản xuất chè an toàn; qua đó chỉ ra các rào cản và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững hoạt động sản xuất chè an toàn tại khu vực nghiên cứu

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trang 11

Kết cấu của luận văn

Nội dung của luận văn bao gồm:

Phần mở đầu: nêu lý do lựa chọn đề tài, đối tượng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn

Chương I: Tổng quan tài liệu về hệ sinh thái nông nghiệp nói chung và HST Nông nghiệp bền vững nói riêng, xem hệ sinh thái vùng chè như một hệ sinh thái nông nghiệp, các mô hình về sản xuất chè an toàn trên Thế giới và Việt Nam

Chương II: Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu

Chương III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết luận

Khuyến nghị

Phụ lục

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về hệ sinh thái nông nghiệp

Như đã nói ở trên, chúng tôi xem HST vùng chè như một HST nông nghiệp Dưới đây giới thiệu tổng quan sơ bộ các thuộc tính cơ bản của HST nông nghiệp làm cơ sở lý luận cho thực hiện đề tài

Khái niệm hệ sinh thái nông nghiệp rút ra từ những nghiên cứu lý thuyết về sinh thái học quần xã và sinh thái học các hệ Mỗi hệ là một tổ hợp các tương tác

giữa các thành phần tương hỗ bên trong một giới hạn xác định (Von Bertalanffy,

1987, Conway, 1987) Các thành phần này hoạt động đồng thời, vì thế hệ phản ứng

với các tác nhân như một khối, ngay cả khi tác nhân chỉ tác động vào một phần hệ

Do đó, một hệ có giới hạn sẽ tạo nên một tập hợp đặc biệt, với hình dáng đặc trưng [15]

Hệ sinh thái nông nghiệp là một tổng thể bao gồm môi trường và những quần thể sinh vật (cây trồng, vật nuôi, cây rừng), các sinh vật gây hại (sâu, bệnh, chuột,

cỏ dại, sinh vật gây bệnh cho vật nuôi, vv.), các sinh vật có ích, đất, nước, khí hậu, con người, môi trường này được hình thành và biến đổi đều do hoạt động của con người Mỗi hệ sinh thái phải có một tính đồng nhất nhất định về các điều kiện vật lí, khí tượng, hoá học, thực vật học và động vật học Các thành phần trong hệ sinh thái nông nghiệp có chức năng riêng và góp phần chu chuyển vật chất, năng lượng, các thành phần đó có quan hệ chặt chẽ và thống nhất, có phản ứng hệ thống với mọi loại hình tác động [10]

Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái do con người tạo ra và duy trì trên các quy luật khách quan của tự nhiên vì mục đích nhu cầu nhiều mặt và ngày càng tăng của con người Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái nhân tạo điển hình, chịu sự điều khiển trực tiếp của con người, vì vậy ngày nay vì lợi ích con người đang dần tác động một cách mạnh mẽ lên môi trường để đáp ứng nhu cầu, và con người có thể điều khiển theo hướng có lợi cho mình Vì vậy giữa hệ sinh thái nông nghiệp và các hệ sinh thái tự nhiên khó phân biệt ranh giới một cách rõ ràng Ðể phân biệt thường dựa chủ yếu vào mức độ can thiệp của người Hơn nữa, hiện nay

Trang 13

con người cũng đã và đang can thiệp vào hệ sinh thái tự nhiên như rừng, đồng cỏ,

ao hồ để nhằm tăng năng suất của chúng

Tuy vậy giữa các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái nông nghiệp vẫn

có những khác biệt cơ bản:

- Các hệ sinh thái tự nhiên có mục đích chủ yếu kéo dài sự sống của các loài Trái lại các hệ sinh thái nông nghiệp chủ yếu cung cấp cho con người các sản phẩm của cây trồng vật nuôi, sự sống của sinh vật trong hệ sinh thái nông nghiệp bị quy định bởi con người Vì vậy vật chất và năng lượng có sự khác nhau: hệ sinh thái tự nhiên có sự trả lại hầu như hoàn toàn khối lượng chất hữu cơ và chất khoáng trong sinh khối của các vật sống cho đất, chu trình vật chất khép kín Ở các hệ sinh thái nông nghiệp, vật chất bị lấy đi khỏi hệ sinh thái để cung cấp cho con người, vì vậy chu trình vật chất hở

- Các hệ sinh thái tự nhiên có sự tự phục hồi lớn, có quá trình phát triển lịch

sử Trái lại hệ sinh thái nông nghiệp là các hệ sinh thái thứ cấp do con người phục hồi, khi con người biết nuôi trồng mới có hệ sinh thái nông nghiệp

- Hệ sinh thái tự nhiên thường đa dạng và phức tạp về thành phần loài thực vật và động vật, còn các hệ sinh thái nông nghiệp thường có số lượng loài cây trồng, vật nuôi rất đơn giản theo yêu cầu của con người Hệ sinh thái nông nghiệp ứng với giai đoạn đầu của quá trình diễn thế của hệ sinh thái, là hệ sinh thái trẻ cho năng suất cao nhưng lại không ổn định, dễ bị thiên tai hay sâu bệnh phá hoại Ðể tăng sự

ổn định của hệ sinh thái nông nghiệp, con người phải đầu tư thêm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và sức lao động

- Hệ sinh thái nông nghiệp do con người tạo ra và duy trì không phải trên cơ

sở các quy luật khách quan của hệ sinh thái với mục đích thỏa mãn nhu cầu về nhiều mặt và ngày càng tăng của mình

Trong hoạt động sản xuất, chúng ta không chỉ sử dụng tài nguyên của chúng

ta, mà chúng ta còn đang vay mượn tài nguyên của con cháu chúng ta nữa Hiện nay, nền sản xuất nông nghiệp trên thế giới hiện đang phát triển theo hai hướng: Nông nghiệp thâm canh và nông nghiệp sinh thái hay nông nghiệp bền vững Nông nghiệp thâm canh với các giống mới năng suất cao, sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch (phân bón, thuốc trừ sâu hóa học, các chất kích thích tăng trưởng, v.v ) đã

Trang 14

làm cho con người phải đối đầu với nhiều tiêu cực về môi trường: ô nhiễm đất và nước, suy thoái đất, độc canh, đầu tư lớn, không an toàn lương thực, suy giảm chất lượng cuộc sống hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng một cách mỏng manh rất dễ

bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự nhiên Điều đó đã buộc con người phải chuyển hướng sản xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm phương hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai, đó là mục tiêu của việc xây dựng

và phát triển nền nông nghiệp bền vững, và đó cũng là lối đi cho tương lai [10]

Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái tương đối đơn giản về thành phần và thường đồng nhất về cấu trúc, cho nên khó bền vững Tuy nhiên, năng suất sinh vật (rễ, thân , lá, quả…) và năng suất kinh tế của ruộng vườn là mục đích hoạt động chủ yếu của con người, lại phụ thuộc vào hệ thống các nhân tố vô sinh như thời tiết-khí hậu, bao gồm: bức xạ mặt trời, nhiệt độ, lượng mưa, ẩm độ không khí, gió, lượng khí O2, CO2… và các yếu tố vô cơ khác; các nhân tố hữu sinh như đất, nước, bao hàm các chất hữu cơ, động vật và hệ vi sinh vật trong đất; các yếu tố quần thể sinh vật bao gồm cây trồng, vật nuôi, các loài cỏ dại, côn trùng, nấm bệnh…; và hệ thống các biện pháp kỹ thuật canh tác từ giống, làm đất, gieo trồng, chăm sóc, bón phân, phòng chống và diệt trừ sâu bệnh hại, đến thu hoạch, bảo quản, chế biến và tiêu thụ nông sản phẩm trên từng hệ sinh thái nông nghiệp đó

1.2 Nông nghiệp bền vững

Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong

ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” [10] Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, với sự tham gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường, cũng như thông qua một số văn kiện như Công ước về đa dạng sinh

Trang 15

học, Công ước khung về biến đổi khí hậu, tuyên bố các nguyên tắc quản lý, bảo tồn rừng [10]

Một phần tư thế kỷ trước đây, câu lạc bộ Rome đã cảnh báo: Do nguồn tài nguyên của Trái Đất là có hạn, nên những nguồn tài nguyên không thể tái tạo phải được sử dụng một cách tiết kiệm và phải được tái sử dụng khi có thể (Meadows và cộng sự, 1972; Mesarovic và Pest, 1974) Vào cuối những năm 1980, phát triển bền vững đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc trong hợp tác phát triển và được định nghĩa là: “Một quá trình mà trong đó việc khai thác các nguồn tài nguyên, xác định đầu tư, định hướng phát triển công nghệ và thay đổi tổ chức xã hội phải diễn ra hài hòa và nâng cao được tiềm năng trước mắt cũng như lâu dài để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người” (Brund Hard Report, 1987)

“Nông nghiệp bền vững là sự quản lý thành công nguồn nhân lực cho nông nghiệp để thỏa mãn các nhu cầu thay đổi của con người trong khi vẫn giữa vững hoặc nâng cao được chất lượng môi trường và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên” (CGIAR, 1988)

Định nghĩa mang tính toàn cầu này hẳn vẫn còn chứa đựng một sự mập mờ

Nó cần cụ thể hơn để có thể vận dụng khi thiết kế và thực hiện các dự án Năm

1991, nhóm hoạt động về vấn đề lương thực thuộc Ủy ban Hợp tác của các Tổ chức phát triển Phi Chính phủ ở Cộng đồng Châu Âu thống nhất đưa ra định nghĩa như sau: “Nông nghiệp bền vững và lâu dài mà không phá hủy môi trường sống Cần ưu tiên xác định và phát triển các nguồn tài nguyên sẵn có ở địa phương như nguồn lực lao động, nước, dinh dưỡng… hơn là dựa vào các nguồn đầu tư từ bên ngoài Điều này không bao gồm việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp từ các nguồn bên ngoài nhưng cần giảm thiểu mức độ của nó để nó không làm tổn hại đến môi trường

tự nhiên cũng như sức khỏe và điều kiện phát triển kinh tế của cộng đồng Nông nghiệp chỉ thực sự bền vững khi khía cạnh xã hội và văn hóa của những người sử dụng và thụ hưởng được tập trung một cách đầy đủ và các quyết định đều do họ thực hiện”

Nông nghiệp bền vững không chỉ phù hợp về mặt sinh thái, khả thi về mặt kinh tế và chính trị mà còn phải có khả năng thích nghi Bản chất biến động được thừa nhận là: Quá trình biến động phụ thuộc vào sự tham gia của con người của

Trang 16

cộng đồng trong việc quản lý các nguồn tự nhiên, trong đó các chủ sở hữu ruộng đất và các hộ nông dân phải chịu trách nhiệm trong việc quản lý môi trường của họ dưới góc độ khả thi về mặt kinh tế và mục tiêu lâu dài là duy trì phát triển trên cơ sở nguồn lực tự nhiên

Trong phạm vi luận văn này, tác giả xem xét tính bền vững của hệ sinh thái nông nghiệp khu vực nghiên cứu thông qua phân tích các thuộc tính của nó, bao

gồm: tính năng suất, tính ổn định, tính chống chịu, tính công bằng, tính tự trị và

tính hợp tác [2, 15]

Tính năng suất là sản lượng sản phẩm hàng hóa và các dịch vụ của hệ, như

số kg thóc/ha/năm Một định nghĩa chính thống hơn về năng suất là giá trị thực của sản phẩm trên một đơn vị đầu tư Thông thường được đánh giá bằng sản lượng/năm,

số sản phẩm thực thu, số lãi [15]

Tính ổn đinh: Là mức độ ổn định của năng suất trong điều kiện có những

dao động nhỏ và bình thường của môi trường (điều kiện khí hậu, thị trường và kinh tế) Thuộc tính này có thể đánh giá một cách dễ dàng bằng hệ số nghịch đảo biến thiên của năng suất Tức là năng suất của hệ được duy trì dù có những dao động với cường độ nhỏ, mức độ hay biến thiên nhỏ cho thấy tính ổn định cao, mức độ hay biến thiên lớn cho thấy mức độ ổn định thấp [15]

Sả

n lượn

Trang 17

Tính công bằng: Là sự đánh giá xem các sản phẩm của hệ sinh thái nông

nghiệp đã được phân phối công bằng như thế nào giữa những người hưởng thụ Một

hệ càng công bằng thì sản phẩm nông nghiệp, tài nguyên, thu nhập, lương thực, thực phẩm càng được chia đồng đều giữa các nông dân, các xã, các vùng hoặc quốc gia Tính công bằng có thể được đánh già bằng chỉ tiêu thống kê hoặc bằng hệ số Gini hay đường cong Lorenz nhưng những phương pháp này có hiệu quả tối ưu với

số mẫu lớn như cho một vùng hoặc một quốc gia [15]

Tính bền vững: Là khả năng duy trì năng suất của hệ khi phải chịu những

sức ép (stress) và những cú sốc (shock) Stress là những sức ép thường lệ, đôi khi liên tục và tích lũy Stress tương đối nhỏ và có thể dự báo trước Ví dụ như nhiễm mặn, suy giảm độ phì nhiêu của đất, thiếu các giống chống chịu và công nợ của người nông dân Ngược lãi, shock là những sức ép bất thường, tương đối lớn và không thể dự đoán trước Ví dụ hạn hán, lũ lụt bất thường, sự phát dịch của một loài sâu bệnh mới hay một chính biến qua trọng Tính chống chịu cũng được xem như khả năng duy trì năng suất trong một khoảng thời gian kéo dài Đáng tiếc là sự đo đếm, đánh giá đặc tính này rất khó và thường chỉ được tiến hành theo cách so sánh với quá khứ Thiếu tính chống chịu cũng có thể biểu hiện bằng sự giảm năng suất, nhưng thường đến đột ngột, không dự báo trước được [2]

Lợi nhuận Lợi nhuận

g Chống chịu

Trang 18

Tính tự trị: Là mức độ độc lập của hệ đối với các hệ khác để tồn tại Tính tự

trị được xác định như là phạm vi mà hệ có thể hoạt động được ở mức độ bình thường, chỉ sử dụng những nguồn tài nguyên duy nhất mà qua đó hệ thực hiện sự điều khiển có hiệu quả Tính tự trị lần đầu tiên được đưa ra như một đặc tính của hệ

xã hội Tuy nhiên khái niệm này có thể đưa ra cho các hệ sinh thái Rừng mưa nhiệt đới, với chu trình dinh dưỡng của nó gần như khép kín, là một hệ sinh thái tự trị cao Đầm lầy vùng cửa sông ven biển phụ thuộc phần lớn vào các dòng dinh dưỡng

đi vào liên tục từ các hệ sinh thái khác bên ngoài, đây là hệ có tính tự trị thấp Hầu hết các hệ sinh thái nông nghiệp luôn luôn hoạt động với nguồn cung cấp dinh dưỡng từ bên ngoài vào [2]

Tính hợp tác là khả năng đưa ra các quy định về quản lý hệ sinh thái nông

nghiệp của hệ thống xã hội và khả năng thực hiện những quy định đó Tính hợp tác là tương quan nhiều chiều, trong đó hầu hết các cộng đồng đều hợp tác cao trong một số hoạt động Nhìn chung tính hợp tác hoặc thông qua nguyên tắc tín ngưỡng và tập quán địa phương Các tổ chức, tập quán và nguyên tắc đó thường tiêu biểu cho tính lý tưởng hóa hơn là tính thực tế [2]

Ngoài ra, trong nghiên cứu đối với HST vùng chè, tác giả sẽ quan tâm thêm

về đặc điểm chất lượng chè, khía cạnh môi trường (thuốc trừ sâu, phân bón) và thị trường để đảm bảo xem xét đầy đủ các khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường của phát triển bền vững

1.3 Tình hình sản xuất chè an toàn trên thế giới

Cây chè (Camellia sinensis L O.Kuntze) phân bố từ 450

vĩ Bắc đến 340 vĩ Nam Hiện nay có 58 nước sản suất chè bao gồm Châu Á: 20; châu Phi: 21; châu Mỹ: 12; châu Đại Dương: 3; châu Âu: 2 Có 115 nước uống chè trên thế giới bao gồm châu Âu: 28, châu Mỹ: 28, châu Á: 29, châu Phi: 34, châu Đại Dương: 5, như vậy cây chè có một thị trường rộng lớn trên thế giới

Trên thế giới hiện nay có diện tích trồng chè khoảng 2,55 triệu ha Ấn Độ là nước sản xuất chè lớn nhất đạt 870.000 tấn/năm, nước sản xuất thứ hai là Trung Quốc với 685.000 tấn/năm Srilanka tiếp tục tăng sản lượng đạt mức kỷ lục trong vài năm trở lại đây (320.000 tấn, năm 2002) Kenya đứng thứ tư với mức sản lượng

Trang 19

290.000 tấn, Indonexia là 121.000 tấn, như vậy sản lượng chè thế giới đã đạt mức

kỷ lục trong những năm gân đây, khoảng 3 triệu tấn/năm [14]

Theo FAO, trong 20 năm gần đây sản xuất chè trên thế giới có xu hướng tăng, sản lượng chè tăng 65% (từ 1,79 triệu tấn năm 1978 lên tới gần 3 triệu tấn năm 1998), phần lớn các nước sản xuất chè đều tăng sản lượng Một trong những nước sản xuất chè lớn nhất là Trung Quốc tăng gấp đôi sản lượng, Kenya tăng gấp

ba, Ấn Độ, Srilanka là những nước sản xuất chè giàu kinh nghiệm [16]

Với đà tăng trưởng như trên, các nước xuất khẩu chè cạnh tranh gay gắt với nhau, cộng thêm sự cạnh tranh truyền thống lâu đời giữa chè và cà phê cùng các đồ uống khác.Vì vậy, thị trường xuất khẩu chè thế giới có nhiều biến động Trong 20 năm qua thị phần xuất khẩu chè của châu Á từ 72% đã giảm xuống còn 64% năm

1998 Trong khi đó, châu Phi tăng từ 22% lên 33% cùng thời gian Theo ước tính của FAO, xuất khẩu chè thế giới tăng gần 2% trong thập niên qua, đây là mức tăng chậm trong các loại đồ uống

Để có được sự tăng trưởng về sản lượng, các quốc gia đã áp dụng sự tiến bộ của khoa học nông nghiệp vào thâm canh cây chè Sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật trong cánh tác đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến điều kiện môi trường và sức khỏe con người Bên cạnh đó có những nghiên cứu của thế giới về lợi ích của uống chè đối với sức khoẻ, cộng với sự quảng cáo mạnh mẽ của FAO về chè với sức khoẻ con người, đã đặt ra một cái nhìn mới đối với chè toàn cầu Khách hàng ở các nước phát triển, những nước mà vấn đề sức khoẻ được đặt lên hàng đầu, người dân chuyển sang dùng các sản phẩm chè được chứng nhận an toàn cho sức khỏe và bảo vệ môi trường

Chè an toàn lần đầu tiên xuất hiện ở thị trường Anh vào mùa thu năm 1989 và được bán với nhãn hiệu Natureland do Công ty dược thảo và gia vị London tổ chức chế biến từ chè trồng ở đồn điền Luponde trên núi Livingstoria nằm ở độ cao 2.150 m so với mặt nước biển của Tanzania Nhu cầu chè an toàn tăng bình quân 25

% mỗi năm và dự đoán cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 có thể chiếm 5% tổng nhu cầu chè thế giới Giá chè an toàn cao gấp 2 đến 4 lần giá chè thường Hiện nay, các nước sản xuất chè lớn trên thế giới như Trung Quốc, Sri Lanka, Ấn Độ, Nhật Bản,

Trang 20

Kenia đều đang tập trung nghiên cứu sản xuất các sản phẩm chè an toànđể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng [7]

Sản xuất chè an toàn tại Trung Quốc

Trung Quốc là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới, Năm 2000, tổng diện tích chè của Trung Quốc là 1.106.933 ha, tổng sản lượng 683.324 tấn, gồm có 498.057 tấn chè xanh, 67.608 tấn chè ô long, 47.294 tấn chè đen, 22.558 tấn chè bánh và 47.807 tấn các loại chè khác Trong những năm của thập kỷ 90, Trung Quốc đã phải trả giá đắt cho sản phẩm chè không an toàn, do sử dụng quá lớn thuốc trừ sâu, phân hoá học và không quan tâm đến ngăn ngừa ô nhiễm của vùng sản xuất Những năm gần đây, Trung Quốc đang chuyển mạnh sang sản xuất chè an toàn Sau năm 2000, diện tích trồng chè để sản xuất chè an toàn đạt 6.700 ha, chủ yếu ở Triết Giang, Giang Tây, An Huy, Hồ Bắc Tổng sản lượng chè an toàn đạt khoảng 4.000 tấn, tổng trị giá sản xuất đạt khoảng 150 triệu Tệ Trong đó, khoảng 3000 - 3500 tấn chè xuất khẩu sang các nước Nhật Bản, Mỹ, và châu Âu, nội địa tiêu thụ khoảng

500 tấn Nhằm khuyến khích sản suất, xuất khẩu chè, Trung Quốc đã ban hành pháp lệnh về tiêu chuẩn chè đảm bảo VSATTP và có các chính sách hỗ trợ như cho vay vốn, bù giá trong những năm đầu, giảm thuế v.v Trong hiện tại và tương lai sản xuất chè đảm bảo VSATTP là hướng ưu tiên lớn của ngành chè Trung Quốc [5]

Mô hình sản xuất chè an toàn tại tỉnh Triết Giang

Triết Giang là tỉnh có diện tích và sản lượng chè lớn của trung Quốc, việc sản xuất chè an toàn và chè an toàn của Triết Giang đã có từ những năm 90 của thế

kỷ XX, nhưng phải từ những năm 1998 đến nay mới thực sự được coi trọng Các bước đi trong việc thực hiện chế biến và sản xuất chè an toàn được tỉnh Triết Giang thực hiện rất bài bản, đúng cách, lộ trình phù hợp với sự phát triển chung của cả Tỉnh Trước hết, Tỉnh thực hiện việc thống nhất trong tư tưởng nhận thức về sản xuất chè an toàn cho các ngành và cả người dân Bắt đầu bằng việc mở các cuộc hội thảo, toạ đàm về chè và chất lượng chè Ngay từ năm 1999, Tỉnh đã ra văn bản cấm

sử dụng các loại thuốc trừ sâu có dư lượng cao Sang năm 2000, tỉnh xây dựng lộ trình phát triển chè với khẩu hiệu “Ra sức phát triển sản xuất chè an toàn trong phạm vi toàn Tỉnh, phát triển có điều kiện chè an toàn”, đồng thời tuyên truyền một cách hiệu quả bằng nhiều hình thức khác nhau Tận dụng đề xuất tích cực môi giới,

Trang 21

xúc tiến việc kịp thời nhận thức về chất lượng vệ sinh chè cho người dân trong toàn Tỉnh, nhằm đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển chè an toàn và hữu cơ của Tỉnh [5]

Để phối hợp sản xuất chè an toàn, các cơ quan hữu quan có trách nhiệm đã tích cực hợp tác, cùng tổ chức lực lượng để chế định và ban hành tiêu chuẩn chè an toàn và chè an toàn cấp Tỉnh (năm 2000), đồng thời tuyên truyền và quán triệt các tiêu chuẩn đó, xúc tiến các địa phương trong tỉnh bắt đầu triển khai nhiều điểm sản xuất chè theo hướng sản phẩm an toàn và hữu cơ Nhiều huyện trong tỉnh đã biết kết hợp thực tế của địa phương xây dựng những quy trình thực hiện tương ứng, phù hợp (ví dụ như huyện Toại Xương đã thông qua quy trình thao tác xây dựng vườn chè trình diễn sản xuất an toàn của toàn Huyện và thúc đẩy toàn diện việc xây dựng các công trình chè an toàn)

Song song với quá trình tuyên truyền phổ biến về xây dựng các điểm sản xuất chè an toàn, tỉnh Triết Giang đã tích cực mở nhiều lớp tập huấn kỹ thuật về chè Chương trình tập huấn không chỉ hướng dẫn về thu hoạch chè an toàn do Bộ Nông nghiệp tổ chức mà còn tham gia trao đổi thông tin, tập huấn, thực tập về chè

an toàn do ngành chè mở Đó có hàng ngàn lượt người được tập huấn về kỹ thuật chè an toàn trong một năm (VD: chỉ trong năm 2000, huyện Vũ Nghĩa đã tổ chức được 19 lớp tập huấn với hơn 1.200 lượt người tham gia, in ấn và phát hành hơn 2.000 tài liệu kỹ thuật)

Tiếp đó là việc xây dựng các mô hình trình diễn về sản xuất chè an toàn cấp tỉnh ở Tân Xương, Khai Hoá và An Các, riêng hai huyện Khai Hoá và An Các được xếp vào danh sách các huyện mẫu mực về kỷ luật sản xuất chè toàn quốc Đồng thời, tỉnh Triết Giang cũng đã cho phát triển một loạt các xí nghiệp sản xuất chè an toàn và chỉ đến năm 2001 toàn tỉnh đã có 50 xí nghiệp tham gia đăng ký sản xuất sản phẩm chè an toàn với diện tích ước khoảng 15.000 mẫu (1 mẫu tương đương

667 m2) Cơ quan cấp chứng chỉ sản xuất chè an toàn của tỉnh đã cấp chứng nhận cho 46 cơ sở và có 4 cơ sở được cơ quan có thẩm quyền về chè an toàn quốc gia cấp giấy chứng nhận

Để khuyến khích nhanh chóng phát triển chè an toàn trên toàn tỉnh, các cấp quản lý từ tỉnh, huyện, thị xã đều có những chính sách hỗ trợ tương ứng bằng nhiều

Trang 22

cách khác nhau Trọng điểm của tỉnh là hỗ trợ huyện về ô mẫu trình diễn và các cơ

sở trình diễn chè an toàn cấp Tỉnh; còn các huyện, thị xã thì trọng điểm hỗ trợ về vốn, thuế, thị trường,… cho các xí nghiệp sản xuất chè an toàn Ví dụ như tại huyện

Vũ Nghĩa, Thừa Châu, chính quyền không những đã đưa việc sản xuất chè an toàn thành trọng điểm của cả nước mà còn đưa ra mức hỗ trợ cụ thể 100 – 200 tệ/mẫu cho các vườn chè an toàn

Cùng với việc nâng cao ý thức chung về chất lượng sản xuất sản phẩm chè

an toàn, việc kiểm tra chất lượng vệ sinh cũng được coi trọng và đảm bảo thực hiện ngay từ các tuyến huyện, thị Tỉnh đã đưa chương trình chủ động kiểm tra các mẫu hàng và mẫu của các hộ tham gia sản xuất để nắm bắt được tình hình diễn biến dự lượng các chất có trong chè Qua đó nhận thấy chè Triết Giang đã có nhiều chuyển biến, làm cơ sở vững chắc cho uy tín chè Triết Giang trên thị trường nội tiêu và xuất khẩu Liên tục từ 2001 đến nay, các sản phẩm chè của Triết Giang đều được đánh giá đủ tiêu chuẩn an toàn để xuất khẩu vào các thị trường khó tính như Nhật Bản,

EU

Sản xuất chè an toàn tại Nhật Bản

Nhật Bản cũng chú ý đến sản xuất chè an toàn được trồng ở vùng núi cao thuộc Kanaguwa, Shiga, Migazaki, Shizuoka Tuy nhiên, phổ biến ở Nhật Bản là sản xuất chè an toàn dựa trên sự kiểm soát đồng bộ về các giải pháp kỹ thuật như cơ giới hoá, giống, phân bón, bảo vệ thực vật, thu hoạch bảo quản chế biến nhằm giảm thiểu dư lượng thuốc trừ sâu và phân bón trong sản phẩm chè ở mức thị trường cho phép Hiện nay, Chính phủ Nhật Bản đầu tư một lượng kinh phí lớn khai thác sản phẩm chè tự nhiên (sản phẩm hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu VSATTP), rất nhiều tiệm chè an toàn và chè không có thuốc trừ sâu được khai trương Bộ Nông nghiệp Nhật Bản đã dùng nhãn hiệu nông sản hữu cơ cho chè an toàn, năm 2001 Bộ Nông nghiệp Nhật Bản đã giới thiệu một hệ thống tiêu chuẩn chè an toàn Nhật Bản

Sản xuất chè ở Nhật Bản được thực hiện bởi các hộ nông dân, các công ty tư nhân, mỗi hộ sản xuất chè thường có khoảng 2 - 3 ha và một nhà máy chế biến (Nếu tính theo công suất sản xuất chè ở Việt Nam sản xuất 220 ngày /năm thì công suất tương đương là 12 tấn /ngày) thiết bị hiện đại nhiều công đoạn sản xuất đã được tự động hoá Ngoài ra, sản xuất chè ở Nhật Bản cũng có tổ chức khác là các hợp tác xã

Trang 23

sản xuất chè đó là khoảng 40 hộ sản xuất chè, với quy mô, diện tích khoảng 80 -

120 ha cùng với nhà máy chế biến, quản lý theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi Các hộ sản xuất và các hợp tác xã đều sản xuất ra chè bán thành phẩm sau đó tiêu thụ trên thị trường

Thị trường chè trong nước: thông qua các kênh tiêu thụ theo hình thức đấu giá thường diễn ra tại các trụ sở Hiệp hội nông nghiệp chè, những người sản xuất mang sản phẩm đến Hiệp hội nông nghiệp chè của vùng (thường là huyện) để bán, bên cạnh chợ, có kho bảo quản chè của Hiệp hôi nông nghiệp chè làm dịch vụ bảo quản chè cho người mua bán, cho các công ty kinh doanh chè, khi có nhu cầu cho bảo quản lạnh 00C, cũng lắp đặt các thiết bị tự động hoá, chỉ cần một người quản lý điều hành qua mạng máy vi tính, người gửi chè đến kho bảo quản chỉ cần đến lấy

mã số lô hàng cần trả, các thiết bị sẽ tự động chuyển đúng lô hàng cần trả ra cửa kho Các sản phẩm chè được các công ty kinh doanh chè hay kinh doanh đồ uống tiếp tục chế biến thành các sản phẩm có giá trị cao hơn như chè bột, chè uống liền, kẹo, bánh chế biến từ chè,… Các sản phẩm đó được tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài nước

Chỉ đạo và cung cấp các dịch vụ kỹ thuật sản xuất chè ở Nhật Bản được thực hiện thông qua Hiệp hội nông nghiệp chè kết hợp với các Viện Nghiên cứu chè đảm nhiệm Ví dụ, Hiệp hội chè gắn các thiết bị quan sát đồng ruộng tại các vị trí nhất định (thông qua các đầu đo trên đồng ruộng), hàng giờ các thiết bị tự động thu thập các thông số kỹ thuật, các chỉ số, ẩm độ, nhiệt độ, hàm lượng NPK và báo cáo kết quả thu thập được về máy vi tính, từ các thông số thu được, máy tính xử lý và đưa

ra các phương hướng sử dụng phân bón, tưới, khuyến cáo người sản xuất chè

Về bảo vệ thực vật, dựa trên số liệu quan sát, điều tra dự tính, dự báo và khuyến cáo người sản xuất quy trình phòng chống sâu bệnh hại chè dưới dạng các lịch phòng chống và các hướng dẫn cụ thể cho nông dân các chỉ tiêu về chất lượng chè bán thành phẩm (tanin, chất hoà tan, cafein, acid amin) Khi cần phân tích chất lượng chè cũng do bộ phận của Hiệp hội phân tích và trả lời theo đúng yêu cầu, như vậy các dịch vụ kỹ thuật và thị trường chè trong nước đều do Hiệp hội nông nghiệp chè đảm nhận, rất thuận tiện và chính xác Biên chế cho một hiệp hội nông nghiệp rất

Trang 24

gọn, phí dịch vụ mà Hiệp hội nông nghệp chè thu thông qua các dịch vụ khoảng 2% giá trị sản phẩm được cung cấp dịch vụ

Dư lượng thuốc hoá học trong sản phẩm chè của Nhật Bản là vấn đề được nhà nước và người tiêu dùng quan tâm, nhưng thực tế dư lượng thuốc trừ sâu trong chè sản xuất ở Nhật Bản không có, do qui trình canh tác và điều kiện sinh trưởng chè ở nước này một năm chỉ hái chè 3 – 4 lứa, khoảng cách giữa hai lứa hái cách nhau 1 – 2 tháng, thuốc trừ sâu trong chè đã phân giải hết Người Nhật Bản rất thích dùng chè, nên lượng sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường nội tiêu Vì vậy, người trồng chè ở Nhật Bản không phải lo lắng về tiêu thụ chè

Sản xuất chè an toàn tại Ấn Độ

Công ty Bombay Burmah với diện tích 2.822 ha, hàng năm sản xuất khoảng 8.000 tấn chè thành phẩm đạt tiêu chuẩn chè an toàn Công ty đã nghiên cứu sản xuất chè an toàn từ năm 1988 tại đồn điền Oothu có rừng bao quanh, trong quá trình canh tác không dùng bât cứ loại phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích, thuốc trừ cỏ nào Biện pháp canh tác để có năng suất cao là dùng phân ủ khô dầu để bón cho chè Giun đất cũng được sử dụng rộng rãi để nhanh chóng phân giải chất hữu

cơ, làm tăng độ phì nhiêu của đất, giữa các hàng chè được trồng xen cây bộ đậu Hiện nay, ấn Độ có khoảng 10 công ty chè sản xuất chè an toàn, trong đó đã có tới

312 ha chè an toàn

Nhận xét:

Nhìn chung, hiện nay, chính phủ các nước Trung Quốc, Srilanka, Ấn Độ, Nhật Bản, Kênia,…cùng các tổ chức phi chính phủ của họ đang tích cực phát triển chè an toàn nhằm chiếm lĩnh thị trường Do đòi hỏi của người tiêu dùng ngày càng cao, nhiều nước sản xuất chè trên thế giới đã đặc biệt chú ý đến sản suất chè an toàn và tiến tới sản xuất chè an toàn nhằm đáp ứng nhu cầu trên thị trường chè thế giới Hướng sản xuất chè an toàn dựa trên sự đồng bộ về các giải pháp kỹ thuật như cơ giới hoá giống, phân bón, bảo vệ thực vật, thu hoạch, bảo quản, chế biến nhằm giảm thiểu dư lượng thuốc trừ sâu và phân bón trong sản phẩm chè ở mức thị trường cho phép Tìm giống cho búp sớm, điều chỉnh kỹ thuật hái búp đảm bảo chất lượng búp

Trang 25

Tập trung chủ yếu vào lứa hái chè vụ xuân chiếm tới 50% sản lượng cả năm có chất lượng cao, ít sâu bệnh hại

Hệ thống quản lý phân bón, thuốc trừ sâu chặt chẽ thông qua hiệp hội nông nghiệp của các địa phương gắn chặt với thị trường tiêu thụ sản phẩm Đối với hướng sản xuất chè an toàn, nhiều nước trong khu vực đã tiến hành xây dựng một

hệ thống tiêu chuẩn khoa học từ không khí, nước, đất, dư lượng kim loại nặng, dư lượng thuốc trừ sâu trong đất, trong chè, chọn vùng và quy hoạch, xây dựng vùng sinh thái, kỹ thuật quản lý vùng chè (Quản lý chất lượng trong nội bộ vùng chè an toàn; Thành lập các nhà máy chuyên sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu sinh học sản xuất chè an toàn; Thành lập các cơ quan nghiên cứu chè an toàn, các cơ quan quản

lý, thanh tra công nhận chè an toàn có tính quốc gia)

1.4 Tình hình sản xuất chè an toàn tại Việt Nam

Tình hình sản xuất vàkinh doanh chè của Việt Nam

Trong 10 năm qua, ngành chè Việt Nam đã có bước phát triển đáng chú ý về năng suất, sản lượng và chế biến.Năm 2001, năng suất bình quân chè cả nước mới chỉ đạt 4,5 tấn/ha thì đến năm 2011 đã vượt qua ngưỡng 7,5 tấn/ha với 133.300 ha đất chuyên canh chè Số lượng các nhà máy chế biến chè cũng tăng nhanh, từ 230 nhà máy, lên hơn 450 nhà máy với công suất chế biến tăng từ 3.000 tấn/ngày lên 4.600 tấn/ngày

Lượng chè xuất khẩu chiếm 80% sản lượng trong khi nhu cầu chè tiêu thụ nội địa hầu như không tăng, thậm chí còn giảm Hiện nay, chè Việt Nam đã xuất khẩu đến 110 quốc gia và khu vực trên thế giới, trong đó có 3 nước đạt kim ngạch trên 10 triệu đô la Mỹ là Pakistan, Nga, Trung Quốc.Tuy nhiên, nhiều năm qua giá chè xuất khẩu luôn biến động trồi sụt thất thường.Giai đoạn 2000-2003, giá chè xuất khẩu bình quân của nước ta duy trì ở mức hơn 2.000 USD/tấn, giai đoạn 2004-2005 tăng vọt lên tới 3.000 USD/tấn (thuộc vào mức giá cao nhất thế giới), thế nhưng từ năm 2006 đến nay thì lại lao xuống mức thấp nhất thế giới [18]

Nhìn chung, sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam không được đánh giá cao trên thị trường thế giới vì chất lượng thấp, nhiều khuyết tật, dư lượng nhiều độc tố quá mức cho phép do sử dụng thuốc trừ sâu và phân hoá họckhông hợp lý, nguồn nước ô nhiễm, Do đó, giá chè xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn giá chè

Trang 26

xuất khẩu của hai nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới là Sri Lanka và Trung Quốckhoảng 30 - 60% [19]

Hình 1: Giá chè xuất khẩu của Việt Nam và một số nước lớn trên thế giới, theo tháng,

2007-2009, USD/tấn [19]

Mục tiêu của ngành chè Việt Nam đến năm 2015 là ổn định diện tích ở 130.000ha, tăng trưởng về sản lượng đạt 6%/năm, sản lượng chè búp tươi đạt 1,2 triệu tấn, sản lượng chè búp khô đạt 260.000 tấn, trong đó xuất khẩu 200.000 tấn, nâng kim ngạch xuất khẩu lên 440 triệu đô la Mỹ, giá xuất khẩu bằng với giá bình quân của thế giới là 2.200 đô la Mỹ/tấn Để đạt được mục tiêu này, ngoài các giải pháp về đầu tư hiện đại hóa các nhà máy chế biến, đa dạng hóa sản phẩm, tổ chức lại sản xuấttheo hướng gắn kết chặt chẽ giữa người trồng chè với các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ, tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu thì việc xây dựng các mô hình sản xuất chè an toàn cho các vùng chè đặc sản là hướng đi bền vững cần ưu tiên

Xu hướngphát triển sản xuất chè an toàn tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các nghiên cứu nhằm xây dựng một quy trình sản xuất chè an toàn cũng đã được thực hiện từ khá sớm Mở đầu bằng các nghiên cứu của Viện nghiên cứu chè Việt Nam phối hợp với Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (1998 - 2000) về thay thế phân bón hóa học bằng các sản phẩm phân bón hữu cơ, áp dụng chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và

sử dụng các loại thuốc trừ sâu sinh học; kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng năng suất

Trang 27

chè đã tăng 15%, chất lượng chè được cải thiện đáng kể, tình trạng sâu hại cũng giảm rõ rệt Những nghiên cứu nhằm xây dựng một mô hình sản xuất chè an toàn cũng đã được thực hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật Cây công nghiệp tỉnh Lâm Đồng Nghiên cứu đã đề xuất một quy trình tạm thời về sản xuất chè an toàn, bao gồm: Thâm canh vườn chè kết hợp với trồng xen cây trồng khác trong điều kiện cho phép; Sử dựng các vật tư nông nghiệp sạch an toàn;Quản lý chặt chẽ tổng hợp sâu hại và cỏ dại;Thu hái, bảo quản sản phẩm và chế biến theo công nghệ mới - sản xuất an toàn

Trên thực tế, tại các địa phương có diện tích trồng chè lớn các mô hình sản xuất chè an toàn đã dần được hình thành và triển khai áp dụng

Tại tỉnh Phú Thọ, được tổ chức CIDSE phối hợp với Chi cục Bảo vệ thực vật Tỉnh tiến hành chương trình phát trển các vùng chè an toàn (VO11) Quy mô 38 xã trên 6 huyện, bắt đầu năm 2003 Các mô hình được nghiên cứu kỹ, tập trung vào huyện Thanh Ba nhằm nâng cao sự hiểu biết về khoa học kỹ thuật cho người nông dân, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, kéo dài thời gian kinh doanh trên cây chè mang lại hiệu quả kinh tế cao Từ vướng mắc nhất của người sản xuất là thiếu hiểu biết về khoa học kỹ thuật, đầu tư thâm canh không cân đối, quá lạm dụng vào chất hóa học, chưa có ý thức nhìn nhận về nền canh tác bền vững và lâu dài dẫn đến đất đai vùng chè suy kiệt về dinh dưỡng tăng độ bạc màu và trai cứng đồng thời dư lượng thuốc BVTV ảnh hưởng tới chất lượng chè khô xuất khẩu Với mục tiêu ưu tiên những hộ nông dân nghèo có diện tích canh tác nằm trong vùng sản xuất chè tập trung của địa phương, hỗ trợ và huấn luyện cho họ nắm được khoa học kỹ thuật

để làm thay đổi tập quán sản xuất về lâu dài tạo thành vùng chè IPM có năng suất chất lượng cao

Trong 3 năm (2003 - 2005), vùng chè huyện Thanh Ba đã xây dựng được 6 câu lạc bộ IPM với tổng số 237 hội viên, tập trung lồng ghép nhiều nội dung hoạt động như mở lớp huấn luyện, tập huấn kỹ thuật, xây dựng các mô hình ứng dụng xây dựng quỹ vốn, thu mua và tiêu thụ sản phẩm: Kết quả đã mở được 14 lớp huấn luyện IPM cho 420 học viên, qua đó đã làm thay đổi cơ bản nhận thức của nông dân

về tập quán sản xuất, biết vận dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp vào đầu tư thâm canh trên cây trồng, bón phân cân đối, hái đúng kỹ thuật, trồng cây che bóng

Trang 28

hợp lý Sử dụng thuốc BVTV theo điều tra hệ sinh thái giảm số lần phun thuốc từ 10-12 lần/ năm xuống còn 5-6 lần/năm Hàng năm trên các diện tích áp dụng IPM

đã tăng năng suất bình quân 14,7%/năm

Đồng thời với mở lớp tập huấn, huyện Thanh Ba đã triển khai thực hiện được

18 mô hình với tổng số 88 hộ nông dân đã qua huấn luyện IPM tham gia Trong đó,

có 2 mô hình cải tạo thay thế giống chè địa phương bằng giống chè Trung Quốc tại

2 xã Đồng Xuân – Thanh Vân bước đầu cây chè sinh trưởng tốt 8 mô hình cải tạo chè xuống cấp kết quả qua áp dụng tổng hợp các biện pháp từ bón phân cân đối đầy

đủ giữa phân hữu cơ và phân hóa học

Đốn hái đúng kỹ thuật, quản lý cỏ bằng biện pháp tủ gốc, trồng cây che bóng hợp lý đã làm cho nương chè phục hồi nhanh, có bộ khung tán to khỏe cho năng suất cao hơn những nương không được áp dụng từ 20-25% 7 mô hình quản lý cỏ bằng biện pháp tủ gốc và bón phân vi sinh qua áp dụng đã chống được cỏ dại, giữ

ẩm cho đất, tăng được nguồn hữu cơ do vật liệu tự mục nát tạo cho nương chè sinh trưởng tốt, cải tạo được độ chai cứng đất cho năng suất tăng bình quân là 15% so với nương không áp dụng Một mô hình nghiên cứu bón phân vi sinh kết quả cây chè sinh trưởng tốt có bộ tán lá dày, thời gian cho thu hái búp kéo dài, khả năng gây hại của các đối tượng sâu bệnh giảm hơn so với các nương chè bón phân hóa học, năng suất tăng 5-7%

Qua các kết quả nghiên cứu và ứng dụng đã giúp nông dân khẳng định được việc áp dụng tổng hợp các biện pháp canh tác trên cây chè là rất hiệu quả, nâng cao được năng suất chất lượng sản phẩm, cải tạo phục hồi được những diện tích chè bị xuống cấp, kéo dài được thời gian kinh doanh

Năm 2001, được sự giúp đỡ của dự án Dialogs và UBND xã Gia Điền - huyện Hạ Hoà - tỉnh Phú Thọ, tổ khuyến nông xã cùng 20 hộ nông dân có nhu cầu

tự nguyện tham gia thành lập câu lạc bộ (CLB) sản xuất chè an toàn Với mục tiêu của CLB đề ra “sản xuất chè an toàn có giá trị và hiệu quả cao, an toàn cho người tiêu dùng, góp phần nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người nông dân”

Từ những mục tiêu đó đến năm 2005, đã có tổng số 72 hộ với 72 thành viên tham gia vào CLB và bầu ra 4 người vào ban quản lý

Trang 29

Ngay từ những ngày đầu thành lập CLB đã xây dựng kế hoạch hoạt động như cải tạo và thâm canh 12 ha chè từ 6-15 năm tuổi có năng suất từ 5 tấn/năm lên 8-10 tấn/năm, phấn đấu đạt tổng sản lượng từ 90-120 tấn chè búp tươi/năm, giá thu nhập bình quân của mỗi hội viên từ 5-8 triệu/năm Song song với xây dựng kế hoạch, CLB cũng xây dựng nội quy hoạt động như thường xuyên sinh hoạt vào ngày 15 hàng tháng với 85%-95% các hội viên tham gia Các buổi sinh hoạt nội dung đánh giá kết quả hoạt động trong tháng, thông báo giá chè, tình hình sâu bệnh, tháo gỡ những khó khăn thắc mắc của hội viên, tìm ra giải pháp trong tháng tiếp theo, tổ chức thăm hỏi động viên kịp thời những hội viên khi ốm đau, thân nhân qua đời Trong 5 năm, CLB đã kết hợp với các dự án, ban, ngành tổ chức được 13 buổi tập huấn với 655 lượt người tham gia Qua các lớp tập huấn này các hội viên đã nắm được một số kỹ thuật cơ bản để thâm canh tăng năng suất chè Xây dựng được

5 mô hình bón phân vi sinh và 13 mô hình thâm canh năng suất có 11/18 hộ tham gia, các hộ tham gia đều thực hiện đúng theo mục tiêu đề ra nên kết quả đạt cao Tuy nhiên, hoạt động này gặp một số khó khăn là, một số hội viên chưa có khả năng đầu tư cho cây chè theo đúng quy trình kỹ thuật, do giá cả thị trường không ổn định, lên xuống thất thường, thời tiết diễn biến phức tạp, thiếu hệ thống giám sát đánh giá, chưa có qui trình chuẩn để áp dụng

Trung tâm Tài nguyên môi trường miền núi, Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên cùng với trường đại học IGCI Newtheland phối hợp với Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng Công ty Chè Việt Nam đã tiến hành chương trình nghiên cứu Hệ thống sản xuất chè an toàn ở tỉnh Thái Nguyên, Miền Bắc Việt Nam (2001- 2003) nhằm giải quyết một số vấn đề chính giúp cho BNN và PTNT có

cơ sở để phát triển hệ thống sản xuất nông sản hữu cơ, giúp cho người trồng chè vùng Tân Cương và Sông Cầu có đủ năng lực tự sản xuất chè an toàn và các nông sản đáp ứng cho thị trường nông sản khác

Tại công ty chè Mỹ Lâm (Tuyên Quang), Viện Nghiên cứu Chè (nay là Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc) đã phối hợp xây dựng mô hình sản xuất chè theo hướng không phun thuốc trừ sâu, tăng bón hữu cơ và phân hỗn hợp, không bón phân hoá học dạng đơn trên diện tích 5 ha Tuy nhiên, khi triển khai đã gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì mô hình do chưa giải quyết được

Trang 30

những vấn đề khoa học công nghệ có tính hệ thống trong sản xuất chè và đặc biệt là chi đầu vào cao, song giá bán lại chưa được cải thiện

Trên địa bàn huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái có một công ty chè chủ doanh nghiệp là người Đài Loan, thuê đất của Yên Bái để thành lập doanh nghiệp chè Phú Tài Công ty này thuộc loại hình doanh nghiệp nhỏ, diện tích chè hiện nay có khoảng gần 30 ha Chè được trồng 100% là giống của Đài Loan (giống Vân Xương, Kim Tuyên và lượng không nhiều giống Ôlong Thanh Tâm)

Thiết bị chế biến được đưa từ Đài Loan sang để chế biến các loại chè cao cấp Toàn bộ công nghệ áp dụng từ trồng trọt đến chế biến theo công nghệ Đài Loan Trồng trọt theo quy trình canh tác hữu cơ (không sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hoá học, chỉ sử dụng phân khô dầu, đậu tương, mật mía do Công ty chế biến tại chỗ) Sản phẩm chè chế biến rất đa dạng (Chè Ôlong, Chè hòa tan, chè túi lọc, chè bánh ) Hàng năm Công ty đều đưa sản phẩm đi tham gia hội chợ giới thiệu sản phẩm trên thị trường Trung Quốc Sản phẩm chủ yếu là tiêu thụ ở Đài Loan và Trung Quốc, giá bình quân trên 1.000.000 VNĐ /1kg

Ngành chè Việt Nam đang xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 9001, HACCP, GMP Tuy nhiên, các hệ thống tiêu chuẩn chỉ mới áp dụng được ở nhà máy, còn khâu sản xuất nguyên liệu đang gặp rất nhiều khó khăn Trước tình hình đó, Chính phủ đã ban hành các quy định nhằm quản lý thống nhất ngành chè hướng đến các sản phẩm chè an toàn Cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã raQuyết định 43/2007/QĐ-BNN ngày 16/05/2007 về việc ban hành Quy định quản lý sản xuất, chế biến và chứng nhận chè an toàn, hiện văn bản này đã được sửa đổi thành Quyết định 84/2008/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Quy chế chứng nhận Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) cho rau, quả và chè an toàn và Thông tư 59/2012/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về quản lý sản xuất rau, quả và chè an toàn

Nhận xét

Để đáp ứng yêu cầu về VSATTP ngày càng tăng của người tiêu dùng đối với sản phẩm chè ở cả thị trường trong và ngoài nước, nhiều mô hình sản xuất chè an toàn đã được hình thành và bước đầu cung cấp những sản phẩm chè an toàn theo

Trang 31

các tiêu chuẩn kỹ thuật đã được thừa nhận rộng rãi Tuy nhiên, phần lớn các mô hình này không thể duy trì lâu dài do những nguyên nhân sau:

 Thiếu khả năng đầu tư cả về vốn, giống và lao động

 Đầu ra không ổn định, giá bán không chênh lệch nhiều so với sản phẩm chè thông thường

 Thiếu hệ thống giám sát đánh giá việc áp dụng các quy trình kỹ thuật trồng chè an toàn

 Hệ thống tiêu chuẩn chỉ mới áp dụng được ở khâu chế biến trong nhà máy, còn khâu sản xuất nguyên liệu đang gặp rất nhiều khó khăn

Trang 32

CHƯƠNG 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu đề tài được chọn là xã Tân Cương, Thành phố Thái Nguyên là một trong 3 xã điển hình gồm Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân thuộc thành phố Thái Nguyên sản xuất nhiều chè an toàn nhất, có điều kiện tự nhiên và khí hậu đặc trưng để phát triển hệ sinh thái nông nghiệp vùng chè Đời sống người dân phụ thuộc lớn vào cây chè Tân Cương cũng là xã đầu tiên triển khai mô hình

sản xuất chè an toàn mang lại thu nhập cao cho người dân (xem sơ đồ khu nghiên

44’00’’- 1050

46’00’’ kinh độ Đông Tổng diện tích tự nhiên của xã là 15km2, diện tích lúa là 200ha, diện tích chè là 450ha, có các vị trí tiếp giáp:

+ Phía Bắc giáp với xã Phúc Trìu - thành phố Thái Nguyên

+ Phía Nam giáp với xã Bình Sơn - thị xã Sông Công

+ Phía Đông giáp với xã Thịnh Đức - thành phố Thái Nguyên

+ Phía Tây giáp với xã Phúc Tân - huyện Phổ Yên

Đặc điểm địa hình

Địa hình tại xã Tân Cương chủ yếu có dạng gò đồi và bát úp, độ cao trung bình 30 m - 100 m so với mực nước biển, rải rác có một số đồi đình tròn, cao khoảng 150m Ở phía Tây Bắc và Tây Nam có dẫy núi thấp, độ cao trên 200m (nhưng chè ở vùng Tân Cương chỉ trồng được ở độ cao dưới 200m) Địa hình nghiêng dần từ tây bắc đến bờ sông Công và từ tây nam xuống bờ sông Công, có độ dốc 70

- 200 Ranh giới phái tây nam được giới bạn bới dẫy núi Tam Đảo Xen lẫn trong vùng gò đồi và núi là những thung lũng nông được bồi tụ

Đặc điểm đất trồng chè ở xã Tân Cương

Trang 33

Đất thích hợp cho trồng chè không yêu cầu nghiêm ngặt về loại đất nhưng đất thích hợp nhất là loại đất giầu hữa cơ, chua, tơi xốp, có tầng canh tác dày, mực nước ngầm sâu Các loại đất phù hợp trồng chè là các loại đất đỏ vàng phát triển trên đá sét, biến chất, đá baazan, phù sa cổ Cây chè phát triển tốt cho năng suất cao trên các loại đất tốt có hàm lượng hữu cơ trung bình – giầu (>2%), N tổng số giầu (>0,2%), kali dễ tiêu trung bình (10-15mg/100g đất); lân dễ tiêu giầy (30-32mg/100g đất) và có đủ các nguyên tố vi lượng như Mn, Al, Zn,

Trang 34

Hình 2: Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu

Trang 35

Đất thích hợp cho chè Tân Cương cũng là loại đất hiện đang được khai thác trồng chè nhiều nhất là đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp) và đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất (Fs)

Bảng 1: Phân loại đất vùng chè đặc sản Tân Cương

Đất nâu vàng trên phù sa cổ (ký hiệu Fp): được phát triển trên mẫu chất phù

sa hiện nay do kiến tạo nâng lên kết hợp với quá trình phong hoá tự nhiên nên tính chất đất khác nhiều so với đất phù sa hiện đại, địa hình gợn sóng với độ dốc thấp Loại đất này chiếm 11,43% diện tích; đất chủ yếu có độ dốc dưới 15o, tầng đất dày trên 70cm, có nhiều sỏi sạn và thoát nước tốt Số liệu phân tích lý hoá tính cho thấy

đất có phản ứng từ chua đến rất chua (pHKCl trung bình tầng mặt 4,07 cao nhất 4,76 thấp nhất 3,67) Hàm lượng hữu cơ trung bình (Trung bình tầng mặt 1,44% cao nhất 2,63% thấp nhất 0,44%) Đạm tổng số nghèo (trung bình tầng mặt 0,12% cao nhất 0,21% thấp nhất 0,04%) Dung tích hấp thu trung bình, hàm lượng sắt và

nhôm di động cao, hàm lượng Ca++ rất thấp Thành phần cơ giới thịt nhẹ - trung bình Đất có nhiều sỏi sạn và kết von

Đất đỏ vàng trên đá sét (ký hiệu Fs): là đất được hình thành do quá trình phong hoá tự nhiên của đá trầm tích lục nguyên (đá phiến sét và đá biến chất) qua quá trình phát triển lâu đời có thể đá cũng bị thay đổi và tính chất hoá học, đất hình thành trên đá này có địa hình chủ yếu là đồi bát úp với độ dốc đa dạng từ thấp đến cao Loại đất này chiếm 73,62% diện tích, đất chủ yếu phân bố ở độ dốc <15o chiếm

Trang 36

68,2% diện tích loại đất này Tuy nhiên, diện tích đất có tầng dày >70cm và độ dốc

<15o chiếm 12,2% diện tích Đất có nhiều sỏi sạn và kết von, thoát nước tốt.Loại đất

này có phản ứng chua đến rất chua (pHkcl trung bình tầng mặt = 4,08 cao nhất

4,68, thấp nhất 3,57) Hàm lượng hữu cơ trung bình ở tầng mặt (OM trung bình

=1,72% cao nhất 3,29%, thấp nhất 0,73%) ở các tầng dưới ở mức nghèo đến rất

nghèo Đạm tổng số ở tầng mặt khá (Trung bình =0,13% cao nhất 0,25%, thấp nhất

0,07%), giảm đến nghèo và rất nghèo ở các tầng Dung tích hấp thu trung bình trong

đó hàm lượng sắt và nhôm di động chiếm tỷ lệ lớn (thích hợp với cây chè), hàm

lượng Ca++ rất thấp

Về tính chất lý hoá học thông thường của đất ở Tân Cương không có sự khác biệt so với đất ở các vùng chè khác Nhưng có một điểm khác biệt rõ rệt là đất ở vùng chè Tân Cương có tỷ lệ đá lẫn, kết von lớn

Bảng2: So sánh nhu cầu sinh thái của cây chè đối với một số yếu tố tự nhiên xã

Tân Cương, Thành phố Thái Nguyên [13]

Yếu tố Nhu cầu sinh thái Điều kiện của xã Tân Cương

Phân bố Cận nhiệt đới nóng, ẩm mưa

nhiều

Á nhiệt đới nóng, ẩm mưa nhiều

Khí hậu Khí hậu cận nhiệt đới

Nhiệt độ bình quân năm: 15 –

280C Lượng mưa: 1000- 4000 mm/năm

Độ ẩm tương đối không khí:

>75 – 80%

Khí hậu á nhiệt đới Nhiệt độ bình quân năm: 20,7 –

280C Lượng mưa: 2200 mm/năm Độ ẩm không khí: 82%

Đất đai Đất Fs, Fa, Fv, Fp, Fj, Fk

Tầng đất mịn >70cm Đất chua

Tơi xốp Giầu mùn

Đất Fs, Fp Tầng đất mịn >70cm Đất chua đến rất chua Tơi xốp, nhiều đá lẫn, sỏi cát Mùn trung bình

Trang 37

Xã Tân Cương có vị trí nằm ở khu vực á nhiệt đới, nhiệt độ trung bình là

27-28oC, lượng mưa trung bình là 2200 mm, độ ẩm không khí là 82% cho thấy điều kiện thời tiết gần tương tự với khí hậu cận nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều để phù hợp với nhu cầu sinh thái cần thiết để cây chè sinh trưởng và phát triển tốt nhất Do cây chè có nguyền gốc ở những vùng cận nhiệt đới, nên giới hạn nhiệt độ thích hợp là từ 15- 28oC Nhiệt độ giới hạn cho sự sinh trưởng cây chè là dưới 10oC thì cây chè tạm ngừng sinh trưởng, nhiệt độ 15-18oC búp chè sinh trưởng chậm, trên 20o

C chè sinh trưởng mạnh, trên 30oC búp chè sinh trưởng chậm lại và nêu cao quá cây chè có thể

bị héo úa, không phát triển

Xã Tân Cương chủ yếu gồm loại đất đỏ vàng trên phiến xét và đất nâu vàng trên phù sa cổ, đây là 2 trong số 6 loại đất chính giúp cây chè sinh trưởng tốt, độ chua đến rất chua cũng rất phù hợp vì:

+ Đặc tính thứ nhất: Chất dịch trong rễ cây chè có chứa nhiều axít chanh, axít táo, axit hổ phách Do dịch cây được tạo ra từ các axít hữu cơ đó nên cây chè rất ưa môi trường chua và không thích hợp với môi trường kiềm Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng về khả năng thích nghi đặc biệt với môi trường chua của cây chè

+ Đặc tính thứ hai: Loại đất đó chứa các ion nhôm, tính chua càng mạnh thì ion nhôm càng nhiều hơn Còn trong đất kiềm hay trung tính, do nhôm không thể hoà tan trong môi trường đó được nên không thể tồn tại các ion nhôm.Cây chè là cây yêu cầu nhôm nhiều hơn, mà đất chua đủ khả năng đáp ứng yêu cầu đó

+ Đặc tính thứ ba: Đất chua chứa ít canxi, Canxi là một nguyên tố thiết yếu cho sự sinh trưởng của thực vật và chè cũng vậy Nhưng chè yêu cầu lượng canxi không nhiều, nếu nồng độ Ca++

trong đất lớn hơn 0,2% thì cây chè có thể bị ngộ độc và chết Nhưng nói chung đất chua có hàm lượng canxi phù hợp với yêu cầu này, nên nó rất thích hợp cho việc trồng chè

+ Đặc tính thứ tư: Trên rễ cây chè có chỗ nổi lên những nốt sần, những nốt này giống những nốt sần trên rễ những cây thuộc họ đậu, bên trong có chứa rất nhiều vi sinh vật Quan hệ giữa cây chè và những nốt sần này là quan hệ cộng sinh,

Trang 38

hai bên cùng có lợi Vi khuẩn trong nốt sần hấp thụ chất dinh dưỡng và nước ở trong đất, những phần dư thừa được chuyển cho cây chè, do đó cải thiện được rất nhiều điều kiện dinh dưỡng và thuỷ phần đối với cây chè Nhưng bản thân vi khuẩn lại không thể tự sản xuất ra được các hợp chất cacbua, lượng hợp chất này mà có cần phải có lại hầu như đều phải dựa vào cây chè cung cấp, do vậy mối quan hệ giữa chúng là quan hệ cộng sinh, cho nên cây chè càng phát triển tốt thì vi khuẩn càng phát triển tốt; môi trường thuận lợi nhất cho vi khuẩn phát triển cũng là môi trường đất chua Chính vì vậy, đất chua là điều kiện sinh trưởng thích hợp của cây chè và cũng là môi trường cộng sinh lý tưởng cho chính loài vi khuẩn cộng sinh đó

Đặc điểm khí hậu thời tiết

Vùng chè Tân Cương mang đặc trưng của vùng nhiệt đới ẩm, gió mùa với 2 mùa rõ rêt: Mùa hạ trùng với gió mùa đông nam từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình từ 25- 270C Cường độ mưa lớn (263mm/tháng), tổng lượng mưa trung bình của cả mùa là 1844mm, chiếm 91% lương mua cả năm, lượng bốc hơn là 87,2mm/tháng, độ ẩm tương đối là 83,4% Mùa đông trùng với gió mùa đông bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình 180

C, lượng bốc hơi thấp là 73mm/tháng nhưng cao hơn lượng mưa hàng năm gây nên hạn hán Trong các tháng 11,12 và tháng 1, độ ẩm không khí thấp, khô hanh và kèm theo sương muối, độ ẩm tương đối 80,8%

Thủy văn

Khu vực xã Tân Cương rất gần hồ Núi Cốc, có Sông Công chảy qua theo hướng Tây Bắc – Đông Nam nên rất thuận về nguồn cung cấp nước tưới tiêu cho toàn khu vực và hệ thống sông ngòi đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều hòa chế độ nước mặt, nước ngầm của đất cũng như việc tạo ra các yếu tốt vi khí hậu thuận lợi cho cây chè phát triển

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội

Diện tích tự nhiên của xã là 15km2, diện tích lúa là 200ha, diện tích chè là 450ha Xã có 16 xóm với 1370 hộ với 6200 nhân khẩu gồm 6 dân tộc và 2 tôn giáo cùng sinh sống trong đó đồng bào theo đạo thiên chúa giáo là 45% Tổng thu nhập

Trang 39

toàn xã trung bình 69 tỷ đồng/năm và thu nhập bình quân mỗi hộ gia đình là 60 triệu đồng /năm Xã Tân Cương được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được Tỉnh và Thành Phố chọn xây dựng là mô hình xã điển hình về công nghiệp hóa và hiện địa hóa nông thôn

Diện tích trồng chè của xã Tân Cương là 450 ha (chiếm 27,2% tổng diện tích đất tự nhiên) Xã có 1.150 hộ sản xuất chè Hàng năm đã sản xuất được 1.345 tấn chè thành phẩm

Về cơ cấu giống: Giống chè Trung Du vẫn chiếm diện tích lớn nhất (360 ha tương đương 89,2% tổng diện tích chè của toàn xã) Các giống chè mới: TRI777, PH1, LDP1, Kim Tuyên, Am Tích, Bát Tiên, chỉ chiếm 10,8% (tương ứng với 43,5 ha)

90%

2% 1%1% 0%

Hình 3: Cơ cấu giống chè tại xã Tân Cương

Hiện trạng nguồn nhân lực

Tổng dân số xã Tân Cương năm 2011 là 6200 người, chủ yếu là dân số vùng nông thôn (một số vùng ven đô thị), tốc độ tăng dân số bình quân 1,61% Như vậy nguồn nhân lực tham gia trực tiếp sản xuất chè trên địa bàn vẫn là dân số nông thôn, trong những năm tới cần tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc chè cho các hộ trồng chè theo các tiêu chuẩn kỹ thuật dùng cho xuất khẩu

Trang 40

Mức sống dân cư: mức sống dân cư đã đi vào ổn định, một bộ phận được cải thiện rõ rệt, tốc độ đô thị hoá nhanh, các chương trình xoá đói, giảm nghèo, phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình có tác dụng rõ nét, các chương trình khuyến công, khuyến nông, các mô hình kinh tế được triển khai sâu rộng, mạnh mẽ đã góp phần đưa mức sống dân cư của khu vực nông thôn tăng lên 20% hộ giàu, 30% hộ khá, hộ nghèo giảm còn ở mức 1,06%, không còn hộ đói, tình hình an ninh chính trị, trật tự

an toàn xã hội của Tân Cương được giữ vững, ổn định

Quy mô lực lượng lao động và lao động có việc làm: Trong giai đoạn

2004-2011, lực lượng lao động của Thành phố tăng bình quân 2,35%/năm Năm 2004-2011, lực lượng lao động Thành phố có 141,1 nghìn người, chiếm 22,4% lực lượng lao động toàn Tỉnh Số lao động có việc là 131,5 nghìn người, tăng trung bình 2,6%/năm trong cùng giai đoạn, cao hơn tốc độ tăng lực lượng lao động, điều này cho thấy tỷ

lệ thất nghiệp đã giảm đi

Xét về cơ cấu, số lượng lao động phi nông nghiệp của Thành phố tăng liên tục từ năm 2004 đến nay (bình quân tăng 3,53%/năm giai đoạn 2004-2011), phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố theo hướng công nghiệp, hiện đại Tỷ trọng lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động làm việc tăng tương ứng từ 80,4% năm 2005 lên 84,2% năm 2009 và 85,4% năm 2011, cao hơn so với toàn Tỉnh

Mặc dù tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động trung bình hàng năm của Thành phố không phải là thấp nhưng trong tương lai nếu chỉ duy trì ở mức như hiện nay thì số lượng lao động tăng thêm có khả năng sẽ không đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh Thành phố, nhất là trong giai đoạn trước mắt

Do vậy, vấn đề đặt ra cho Thành phố là cần chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng lực lượng lao động tăng thêm không nhiều này bằng cách đào tạo nâng cao chất lượng, áp dụng các công nghệ và kỹ thuật mới để nâng cao năng suất lao động Đồng thời, Thành phố cũng cần có định hướng cụ thể về việc tiếp nhận lao động từ các địa phương khác, đặc biệt là lao động có kỹ năng, phục vụ cho phát triển công nghiệp và dịch vụ trong tương lai bởi đây là một xu thế tất yếu đối với các đô thị

Ngày đăng: 09/03/2021, 07:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Hiệp hội chè Việt Nam (2007),tạp chí thế giới chè, các số năm 2007, 2008 6. Lê Văn Khoa và cộng sự (1999) Nông nghiệp và môi trường. NXB Giáo dục HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tạp chí thế giới chè
Tác giả: Hiệp hội chè Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2007
11. Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên. 2008. Báo cáo kết quả thực hiện dự án ứng dụng khoa học công nghệ “Xây dựng mô hình sản xuất - chế biến chè an toàn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện dự án ứng dụng khoa học công nghệ “Xây dựng mô hình sản xuất - chế biến chè an toàn
13. Viên quy hoạch và thiết kế nông nghiệp. 2007. Báo cáo đề tài Hoàn thiện cơ sở dữ liệu và thủ tục bảo hộ “chỉ dẫn địa lý Tân Cương” cho chè Tân Cương Tỉnh Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: chỉ dẫn địa lý Tân Cương
14. Barua. D. N. (1989),Science and Practice in Tea Culture, Calcutta – Jorhat, India, First Published, pp. 81 -82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Science and Practice in Tea Culture
Tác giả: Barua. D. N
Năm: 1989
16.. FAO (1967),A Practical Manual of Soil Microbiology Laboratory Methods, Rome Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Practical Manual of Soil Microbiology Laboratory Methods
Tác giả: FAO
Năm: 1967
17. International Plant Genetic Resources Institute (IPGRI) (March, 1997),Descriptors for Tea (Camellia Sinensis) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Descriptors for Tea
18. Đỗ Hương, Vực dậy ngành chè từ chính cây chè. http://baodientu.chinhphu.vn. Ngày truy cập: 17/08/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vực dậy ngành chè từ chính cây chè
19. AGROINFO, Chè Việt Nam: “Có tiếng nhưng... ít miếng”. http://agro.gov.vn. Ngày truy cập: 12/10/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chè Việt Nam: “Có tiếng nhưng... ít miếng”
1. Lê Trọng Cúc, A. Terry Rambor, 1990, Hệ sinh thái nông nghiệp trung du miền núi phía Bắc Khác
2. Lê Trọng Cúc (1995). Sinh thái học và sinh thái nhân văn, Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường Khác
4. Nguyễn Đình Hòe, 2005, Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu môi trường và phát triển Khác
12. Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên 12/2009. 2011. Báo cáo tổng hợp quy hoạch vùng chè đạn sản Tân Cương thành phố Thái Nguyên theo hướng an toàn gian đoạn 2008- 2010 và đến năm 2020 Khác
12. Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên. 2011. Đề án phát triển vùng chè đặc sản Tân Cương thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2015 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm