1. Trang chủ
  2. » Vật lí lớp 11

Emile Durkheim và những sai lệch xã hội trong xã hội học: Phần 2

20 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 391,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình thức sai lệch xã hội – đó chính là (hiện tượng) tội phạm , mặc dù tội phạm: có ở tất cả các xã hội của tất cả các kiểu loại; không tồn tại một xã hội mà không đụng chạm tới vấn [r]

Trang 1

Chương 3

NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG QUAN ĐIỂM

VÀ ĐÓNG GÓP CỦA E DURKHEIM VỀ SAI LỆCH XÃ HỘI

3.1 Biến đổi quan điểm trong 2 tác phẩm của E Durkheim

Trên cơ sở phân tích nội dung và quan điểm sai lệch xã hội trong

2 tác phẩm của E Durkheim, với rất nhiều điểm giống nhau và khác biệt, đặc biệt trong nội dung của mỗi tác phẩm, chúng tôi tiến hành

so sánh một số đặc điểm về hình thức và nội dung của 2 tác phẩm nói trên để tìm ra sự biến đổi trong quan điểm của E Durkheim về sai lệch xã hội, từ đó thấy được phần nào sự tiến hóa trong quan điểm về sai lệch xã hội của E Durkheim

3.1.1 So sánh đặc điểm hình thức của 2 tác phẩm

BẢNG 1 TÓM TẮT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC CỦA 2 TÁC PHẨM

2 Nguồn gốc văn bản Nguyên bản tiếng Nga Nguyên bản tiếng

Nga

3 Nguồn gốc bản dịch Từ tiếng Pháp Từ tiếng Pháp

4 Tên sách tiếng Nga О разделении

общественного труда

САМОУБИЙСТВО Социологический этюд

5 Tên sách (tạm) dịch sang tiếng Việt

“Về sự phân công lao động trong xã hội”

Tự tử Nghiên cứu xã hội học

Trang 2

6 Đề nghị gọi tên sách (như trên) “TỰ TỬ”

7 Nhà xuất bản (ở Nga) “Kanon” (Moscow) “Soyuz” (S

Peterburg)

8 Năm xuất bản (Nga) 1996 1998

9 Người dịch (ở Nga) A B Gofman A N Ilinski

10 Chỉ số thư mục (Nga) ISBN 5-88373-036-1 ISBN

5-87852-063-X

11 Tổng số trang dịch 432 trang 496 trang

12 Tổng số sách của t/p 3 sách (S) 3 sách (S)

14 Số chương/sách 7/S1; 5/S2; 3/S3 4/S1; 6/S2; 3/S3

15 Phần mở đầu Cho xuất bản lần 1

Cho xuất bản lần 2

(có)

dung)

17 Nội dung tóm tắt (không) (Có, ở đầu sách)

20 Chú giải và trích dẫn Ở cuối mỗi trang Ở cuối cuốn sách

21 Mục lục Ở cuối sách (chi tiết) Ở cuối sách

(tóm tắt)

Nhận xét: Sự khác biệt về hình thức của 2 tác phẩm là đương nhiên, bởi mỗi tác phẩm chuyển tải những nội dung khác nhau và xuất bản vào những thời điểm khác nhau Tuy nhiên, trong kết cấu của 2 tác phẩm có những điểm tương đồng, khi tác giả phân chia tác phẩm của mình theo 3 cuốn sách và mỗi cuốn sách thành các chương,

và mỗi chương đều nêu tóm tắt những ý trình bày chính Các tác

Trang 3

phẩm đều có phần mở đầu, dẫn luận và kết luận, có phần chú giải và nguồn gốc trích dẫn Phần mục lục đều được đặt ở cuối sách Điều này cũng nói lên sự nhất quán về mặt hình thức trong thể hiện ý tưởng và chuyển tải nội dung quan điểm của E Durkheim

3.1.2 So sánh đặc điểm nội dung của 2 tác phẩm

BẢNG 2 TÓM TẮT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA 2 TÁC PHẨM

1 Chủ đề tác phẩm Về sự phân công lao

động trong xã hội

Về hiện tượng tự tử trong xã hội

2 Ý chính của tác phẩm

Đoàn kết xã hội, sự phân công lao động trong xã hội, chức năng và những “hình thái phi chuẩn” của sự phân công lao động

Các kiểu tự tử, nguyên nhân tự tử

và phương thức mà nguyên nhân xã hội diễn ra, những mối quan hệ liên quan đến tự tử

3 Mục đích nghiên cứu vấn đề

Trình bày sự phát triển

và vấn đề đạo đức của

sự phân công lao động

Tìm hiểu bản chất đời sống xã hội và hành vi của con người

4 Định nghĩa sai lệch Là sự “phi chuẩn” về

phân công lao động

Tự tử là hành vi sai lệch xã hội đặc biệt

5 Phương pháp nghiên cứu

Phân tích và hệ thống Thống kê và loại trừ

6 Số hình thức sai lệch

3 kiểu sai lệch 4 kiểu sai lệch

7 Tên gọi các sai lệch

Phân công lao động:

1) Phi chuẩn; 2) Bắt buộc; 3) Không hoặc thiếu đồng bộ

1) Tự tử vị kỷ 2) Tự tử vị tha 3) Tự tử phi chuẩn 4) Tự tử định mệnh

Trang 4

8 Nguyên nhân sai lệch (tóm lược)

Các quan hệ không được thể chế hóa; cá nhân không hòa hợp với chức năng; hoạt động chức năng chưa đầy đủ;

Chủ nghĩa cá nhân cực đoan; hòa nhập nhóm quá mạnh; quy tắc xã hội không còn đúng; niềm tin

mù quáng;

9 Chức năng sai lệch (tóm lược)

- Liên kết các cá nhân, thống nhất xã hội, tạo lập đoàn kết và trật tự đạo đức;

- Tạo mối liên kết và đoàn kết xã hội; tăng cường ý thức tập thể và trật tự xã hội;

10 Phương pháp luận

nghiên cứu vấn đề

- Ý thức tập thể/cá nhân

- Đoàn kết xã hội

- Phân công lao động

- Hình thái phi chuẩn của phân công lao động

- Ý thức cá nhân/tập thể

- Hội nhập xã hội

- Chuẩn mực xã hội

- Hình thái phi chuẩn của hiện tượng tự tử

11 Kết luận vấn đề Sự phân công lao

động là quy luật của tự nhiên, thể hiện quy tắc đạo đức hành vi con người; phân công lao động làm nảy sinh và hình thành đoàn kết xã hội;

Bản chất xã hội của

tự tử; nguyên nhân

xã hội quyết định; ý nghĩa hội nhập hay đoàn kết xã hội đối

với cá nhân, cần

hướng đến những mục đích xã hội;

Nhận xét: Qua so sánh một số đặc điểm nội dung của 2 tác phẩm của E Durkheim, chúng ta thấy rất nhiều khác biệt liên quan đến cùng vấn đề sai lệch xã hội trong quan điểm của E Durkheim Sự khác biệt này giúp chúng ta thấy rõ những điều mới, những phát hiện thêm, sự tiến hóa trong quan điểm của E Durkhiem đối với sai lệch xã hội, thấy rõ hơn, đầy đủ hơn nội dung quan điểm sai lệch xã hội của ông, tầm quan trọng của vấn đề đối với đời sống xã hội và trong hành vi cá nhân con người Ông đã mở rộng, hay nói cách khác,

Trang 5

bổ sung thêm những hình thức sai lệch xã hội thông qua việc phân loại các kiểu tự tử Từ đó cũng chỉ thêm các nguyên nhân, chủ yếu là các nguyên nhân xã hội, dẫn đến các hành vi sai lệch xã hội Dưới đây chúng ta tìm hiểu thêm một công trình nữa của E Durkheim – bài báo “Bình thường và bệnh lý” để thấy được những điểm mới, những bước tiến hóa trong quan điểm về sai lệch xã hội của E Durkheim 3.2 Điểm mới trong quan điểm từ bài báo “Bình thường và bệnh lý” 3.2.1 Giới thiệu bài báo

Bài báo “Bình thường và bệnh lý” (1895) của E Durkheim được

in trong cuốn sách “Xã hội học tội phạm” (Các lý thuyết tư sản hiện đại) [118] - tuyển tập các bài báo viết về các vấn đề lý luận liên quan đến xã hội học tội phạm, nguyên bản bằng tiếng Nga Cuốn sách được Phó tiến sĩ Luật học A C Nhikiforov và Tiến sĩ Luật học A M Iacovlev dịch từ tiếng Anh, do Nhà xuất bản “Tiến bộ” (“Progress”) Matxcơva ấn hành vào năm 1966 Bài báo gồm 6 trang, từ trang 39 đến trang 44 của cuốn sách

Эмиль Дюркгейм Норма и патология Стр 39-44 (Социология преступности (Современные буржуарные теории) Сборник статей Перевод с английского А С Никифорова и А М Яковлева Под редакцией проф Б С Никифорова Издательство «Прогресс», Москва, 1966.)

Bài báo sau đó được E Durkheim đưa vào trong một tác phẩm rất nổi tiếng là “Các quy tắc của phương pháp xã hội học” (1895) để minh chứng và khẳng định cho phương pháp luận xã hội học của ông Cuốn sách “Các quy tắc của phương pháp xã hội học” đã được Nguyễn Gia Lộc dịch sang tiếng Việt và Nhà xuất bản Khoa học xã hội (Hà Nội) xuất bản vào năm 1993 [18] Mới đây nhất, năm 2012, tác phẩm trên của E Durkheim lại được dịch giả Đinh Hồng Phúc chuyển ngữ sang tiếng Việt và do Nhà Xuất bản Tri thức ấn hành trong “Tủ sách Tinh hoa” [19] Chúng tôi đều có tham khảo các bản dịch tiếng Việt này

Trang 6

3.2.2 Phân tích nội dung và quan điểm sai lệch xã hội trong bài báo Bài báo “Bình thường và bệnh lý” được viết từ rất lâu, nhưng những tư tưởng trong đó vẫn còn thể hiện được giá trị của mình cho đến ngày hôm nay Điều đó là ở chỗ, chủ đề về “tính vĩnh cửu” của tội phạm, bằng cách chung nhất, vẫn có thể “biện minh” cho sự tồn tại của tội phạm trong xã hội hiện đại ngày nay, cho đến tận hôm nay, và hoàn toàn chưa thể nghĩ đến việc nó sẽ kết thúc vào ngày mai, trong tương lai Chủ đề chính của bài báo là chứng minh “bản chất tự nhiên” của tội phạm, có tính vĩnh cửu và vốn có đối với bất

kỳ xã hội nào của con người Từ đầu bài báo, xuất phát từ sự tăng lên thường xuyên của tội phạm ở các nước tư bản, E Durkheim đã khẳng định rằng “tội phạm được thực hiện không chỉ ở phần lớn các xã hội của một kiểu nhất định nào đó, mà ở tất cả các xã hội của tất cả các kiểu loại Không tồn tại một xã hội mà không đụng chạm tới vấn đề tội phạm.” [118; 18; 19] Ông cũng kết luận rằng, “không có một hiện tượng nào mà có tất cả những dấu hiệu của một hiện tượng bình thường đến mức không cần phải tranh cãi” [118; 18; 19] như là hiện tượng tội phạm

E Durkheim đã cố gắng đi tìm câu trả lời cho “Tội phạm chủ yếu nghĩa là gì?” Trong bản chất của mối liên kết của sự đoàn kết xã hội Mối liên kết của sự đoàn kết xã hội, mà pháp luật hà khắc có liên quan, là một mối liên kết mà nếu bị phá vỡ sẽ gây ra tội ác Và “sự trừng phạt” sẽ diễn ra cho mọi hành động, dù ở bất cứ mức độ nào, chống lại mối liên kết này Đây cũng chính là nguyên nhân của “sự trừng phạt” E Durkheim khẳng định rằng, một hành động là tội phạm khi nó vi phạm các trạng thái vững mạnh và rõ ràng của các chuẩn mực lương tâm Không ai tranh cãi về lời phát biểu này, nhưng để hiểu đầy

đủ và chính xác ý nghĩa câu nói này thật không dễ dàng “Chúng ta xem như nó mô tả, không phải đặc điểm chủ yếu của tội ác, nhưng là một trong những hậu quả của tội ác” [118; 18; 19] – E Durkheim giải thích Rồi ông viết rõ thêm: “Chúng ta biết rất rõ là tội ác xâm phạm những tình cảm rất chung và mãnh liệt, nhưng chúng ta tin rằng tính chung chung và mạnh mẽ này bắt nguồn từ đặc điểm tội phạm của hành động là điều rốt cuộc vẫn còn cần định nghĩa” [88]

Trang 7

E Durkheim cho rằng, mọi người không phản đối ý kiến là nói chung mọi điều xâm phạm cần phải bị lên án, nhưng mọi người cũng thường đồng ý là việc kết án cho mỗi tội ác là bắt nguồn từ đặc điểm của lỗi vi phạm, tuy nhiên, theo E Durkheim, khi ấy chúng ta rất khó nói đặc điểm tội phạm nghĩa là gì, có phải nó được tìm ra qua lỗi đặc biệt nghiêm trọng hay không, mà xã hội khiển trách qua phương tiện trừng phạt có tổ chức và cấu thành tội phạm E Durkheim khẳng định rằng, tất cả mọi hình thức tội phạm có thể xuất phát từ chỉ một hay một vài đặc điểm chung Và ngay lập tức ông cũng chỉ ngay ra đặc điểm duy nhất của tất cả mọi hình thức tội phạm đó chính là sự đối đầu giữa một tội ác, dù nó có là gì, và những mối tình cảm tập thể nào đó Vì vậy, chính sự đối đầu này đã làm nên tội phạm hơn là nguồn gốc tội phạm Nói cách khác, “chúng ta không được quyền nói là một hành động gây sốc cho chuẩn mực lương tâm bởi vì nó là tội phạm, nhưng nên nói rằng nó là tội phạm bởi vì nó gây sốc cho chuẩn mực lương tâm Chúng ta không kết án nó bởi vì nó là tội ác, nhưng nó là tội ác bởi vì chúng ta kết án nó” [118; 18; 19] Về bản chất nội tại của các tình cảm này, ta không thể chỉ rõ chúng ra được, chúng có những mục đích đa dạng nhất và không thể được bao gồm trong một công thức riêng lẻ Chúng ta không thể nói rằng chúng liên quan đến những lợi ích căn bản của xã hội, hay liên quan đến mức công lý thấp nhất, bởi vì tất cả những định nghĩa như vậy đều không phù hợp Chúng ta chỉ có thể nhận biết nó qua một điều duy nhất – đó là tình cảm, dù cho nguồn gốc hay kết cục của nó là gì, được nhận thấy trong tất cả mọi khối óc với một độ sức mạnh và rõ ràng nào đó, và mọi hành động xâm phạm nó đều là tội ác… Như vậy, E Durkheim đưa ra khái niệm tội ác dựa vào tình cảm tập thể Ý thức đạo đức của xã hội được nhập tâm trong mỗi cá nhân và nó có sức sống để ngăn chặn mọi hành vi xúc phạm, và tội ác là một hành vi "xúc phạm đến những tình cảm tập thể" ấy Từ sự phân biệt cái bình thường và cái bệnh lý, E Durkheim nêu ra rằng tội ác là một hiện tượng rõ ràng nhất của những bệnh hoạn xã hội "Nếu một sự kiện mà tính chất bệnh lý của

nó không thể chối cãi được thì đó là tội ác" [118; 18; 19]

Dưới cách nhìn sự kiện xã hội như "một sự vật" thì E Durkheim coi tội phạm là một điều gì đó bình thường, "trước hết tội ác là bình

Trang 8

thường, bởi vì một xã hội hoàn toàn không có tội ác là không thể có được" [118; 18; 19] Tội phạm hiện diện trong hầu hết các xã hội, và trong mọi thời kỳ Ở những giai đoạn xã hội chuyển tiếp thì hiện tượng này có xu hướng tăng lên hay giảm xuống Sự tăng lên hay hạ xuống của tỷ lệ tội phạm, theo E Durkheim, cũng là bình thường, vì ông cho rằng ở mỗi xã hội khác nhau, mỗi trình độ văn minh đều có tính chất tội phạm riêng của nó E Durkheim đã đặt hiện tượng tội phạm trong sự phân biệt cụ thể về tính chất và mức độ phát triển xã hội Phát triển quan niệm của mình, E Durkheim đi đến sự công nhận tính lợi ích của tội phạm trong quá trình tiến hóa xã hội Ông còn có một kết luận có thể “gây sốc”: “Như vậy, tội phạm là cần thiết;

nó gắn bó bền vững với tất cả những điều kiện cơ bản của bất kỳ xã hội nào và chính vì điều đó nó (tội phạm) là có ích… Chính bản thân tội phạm không nên hiểu giống như “cái ác” mà phải đè bẹp nó (cái ác) bằng tất cả phương tiện có thể Nếu tội phạm rơi xuống thấp hơn mức độ trung bình một cách rõ ràng, thì chúng ta không thể chúc mừng mình điều gì, bởi vì chúng ta có thể hoàn toàn tin rằng, quá trình chuyển động như vậy gắn liền với sự rối loạn trật tự xã hội nhất định nào đó” [118; 18; 19]

Với luận điểm như vậy, E Durkheim cho rằng tội ác cũng có tính tương đối, mang tính chất của một hành vi lệch chuẩn Mức độ xúc phạm lương tri tập thể là mức độ lệch lạc, mức độ của sự phạm tội Ông lấy ví dụ

về hai hiện tượng là thiếu tế nhị và ăn cắp, thì ăn cắp sẽ bị trừng phạt

vì có mức độ làm tổn thương con người cao hơn Mức độ làm tổn thương đến tình cảm con người sẽ quyết định mức độ trừng phạt mà tập thể dành cho cá nhân đó Với khái niệm "xúc phạm đến lương tri tập thể" thì tội phạm hoàn toàn do con người định đoạt Người lương thiện thường hay phán xét mình ở những điều nhỏ nhặt nhất trong "toà án lương tâm", và cũng có những hình phạt cho mình Với một tu viện kiểu mẫu thì những hành vi của người trần tục gần như là một tội ác,

và nếu như tất cả những tổ chức xã hội nhỏ ấy được "vũ trang quyền phán xử và trừng trị, thì nó sẽ gọi những hành vi đó là tội ác và xử lý các hành vi đó như là những tội ác"[118; 18; 19] Nhìn về góc độ sự tác động trở lại của ý thức tập thể với cá nhân, cá nhân được xác định là tội phạm còn xuất phát từ nhu cầu của xã hội "Khi xã hội chịu khổ đau

Trang 9

nó cảm thấy cần tìm một ai đó để quy trách nhiệm cho căn bệnh của nó" [27] Những người thường xuyên có những hành vi chống lại tập thể thường phải chịu những trách nhiệm xoa dịu nỗi đau xã hội này Như vậy ngoài việc có hành vi xúc phạm đến tập thể đã được quy định sẵn, tội phạm còn là những cá nhân nhận phải sự xúc động nhất thời của tập thể Với quan điểm như vậy E Durkheim đã nhìn tập thể và cá nhân như hai chủ thể riêng biệt có quan hệ với nhau và xã hội cũng mang tất cả những đặc điểm của cá nhân

Theo E Durkheim, tội ác là hiện tượng không thể mất đi được, nhưng nó lại là một biểu hiện bệnh lý bình thường của cơ thể xã hội, chính vì vậy nó cũng có chức năng riêng, "gắn liền và cũng cần cho sự tiến hoá bình thường của đạo đức và pháp lý" [118; 18; 19] Tội phạm là một biểu hiện bệnh lý bình thường nhưng không phải những kẻ phạm tội

và những hành vi phạm tội là có thể chấp nhận được một cách bình thường,

"cá nhân căm thù sự đau đớn cũng như xã hội căm thù tội ác" [118; 18; 19]

E Durkheim nhìn nhận về hiện tượng tội phạm như một bệnh lý bình thường của xã hội Nhưng không phải vì vậy mà có thể đồng nghĩa với việc cho rằng tội phạm là điều tất yếu và có thể chấp nhận bình thường Với tính chất như vậy của hiện tượng tội phạm, nhiệm vụ của các nhà quản lý xã hội chỉ là điều khiển cho tình trạng này không trở nên nghiêm trọng nhất là trong những lúc có sự biến đổi xã hội

3.2.3 Những điều rút ra sau phân tích bài báo Hình thức sai lệch xã hội – đó chính là (hiện tượng) tội phạm, mặc

dù tội phạm: có ở tất cả các xã hội của tất cả các kiểu loại; không tồn tại một xã hội mà không đụng chạm tới vấn đề tội phạm; là một điều gì đó bình thường, một hiện tượng bình thường đến mức không cần phải tranh cãi; là cần thiết; là hiện tượng không thể mất đi được; như một bệnh lý bình thường của xã hội; [118]

Nguyên nhân của (hiện tượng) tội phạm: vi phạm các trạng thái vững mạnh và rõ ràng của các chuẩn mực lương tâm; xâm phạm những tình cảm rất chung và mãnh liệt; là điều xâm phạm cần phải bị lên án; là sự đối đầu giữa một tội ác và những mối tình cảm tập thể; là hành vi xúc phạm đến những tình cảm tập thể; là những hành vi chống lại tập thể; là một hiện

Trang 10

tượng rõ ràng nhất của những bệnh hoạn xã hội; mang tính chất của một hành vi lệch chuẩn: mức độ xúc phạm lương tri tập thể là mức độ lệch lạc, mức độ của sự phạm tội;… [118]

Chức năng của (hiện tượng) tội phạm: mối liên kết của sự đoàn kết xã hội; có liên hệ với các điều kiện căn bản của toàn bộ đời sống xã hội; gắn liền và cũng cần thiết cho sự tiến hoá bình thường của đạo đức và pháp lý; có lợi ích trong quá trình tiến hóa xã hội; tạo lập tình cảm tập thể; … [118; 18; 19] Như vậy, với 2 tác phẩm “Phân công lao động trong xã hội”, “Tự tử” và bài báo “Bình thường và bệnh lý” đã cho chúng ta cái nhìn mới khác biệt và thấy được quá trình tiến hóa trong quan điểm của E Durkheim về sai lệch xã hội

3.3 Những đóng góp của E Durkhiem đối với xã hội học Qua các tác phẩm đề cập trên đây, kết hợp với một số công trình nghiên cứu khác, quan điểm về sai lệch xã hội của E Durkheim dần dần được định hình Chúng ta xác định được 1) nội dung quan điểm sai lệch xã hội trong xã hội học của E Durkheim, khẳng định 2) các chức năng của sai lệch xã hội do E Durkheim đưa ra Chính những điều này thể hiện sự đóng góp to lớn của E Durkheim đối với xã hội học 3.3.1 Nội dung quan điểm sai lệch xã hội của E Durkheim Dưới đây chúng ta xem xét cụ thể hơn những quan điểm, khái niệm và hiện tượng, hay nói cách khác, những yếu tố tạo nên nội dung sai lệch xã hội của E Durkheim

Thứ nhất, sai lệch xã hội của E Durkheim được thể hiện qua quan điểm về Ý THỨC TẬP THỂ Lý thuyết xã hội học của ông tập trung vào vấn đề liên kết xã hội, hay như thuật ngữ ông thường dùng là

“đoàn kết xã hội” Nói cách khác, ông muốn tìm ra cái gì giúp các xã hội liên kết lại với nhau Ông kết luận rằng, liên kết xã hội ngay từ đầu là kết quả của một lực lượng nảy sinh do tham gia vào một hệ thống các niềm tin và các giá trị chung, và hệ thống này uốn nắn và kiểm soát hành vi cá nhân E Durkheim gọi đó là “tâm thần tập thể” hay là “ý thức tập thể” (“the collective conscience”)

Ngày đăng: 09/03/2021, 07:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w