quan hệ với việc hạch toán kế toán của một số mặt hàng tại một thời điểm, (2) để cho thấy các biến động của mức độ so sánh và việc đạt được mức độ hài hoà, (3) các biến động của mức đ[r]
Trang 1NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
đo lưƠøng tÍnh so sánh đưỢc của
thông tin Báo cáo tài chÍnh
ThS NGUYỄN VĩNH KHƯơNG*
*Khoa Kế tốn, Kiểm tốn - Đại học Kinh tế - Luật
khác biệt giữa các phương pháp kế tốn được sử dụng cĩ thể cĩ một tác động tiêu cực đến khả năng so sánh của báo cáo tài chính Do đĩ, cĩ nhiều nghiên cứu tìm kiếm cách thức đo lường tính so sánh được nhằm tăng tính hữu ích của thơng tin báo cáo tài chính được cung cấp đến người sử dụng Mục đích của bài viết đưa ra các chỉ số thường được các nhà nghiên cứu sử dụng
để đo lường Bài viết sử dụng các chỉ số được chấp nhận chung (C, H, I) và những ví dụ minh họa, quan điểm khác nhau của nhiều tác giả đưa ra nhằm chứng minh sự phổ quát của chỉ số chung Mặc dù cĩ nhiều tranh cãi của thống kê các chỉ số sử dụng cho mục đích đo lường nhưng các chỉ số là cần thiết để phát triển một chỉ số được chấp nhận rộng rãi giúp cho quá trình hài hịa, hội tụ của hệ thống chuẩn mực kế tốn.
Từ khĩa: tính so sánh được, đặc điểm định tính nâng cao, khuơn mẫu lý thuyết.
Measuring the comparability of financial reporting information
The usefulness of financial information is enhanced if that information is comparable The difference between the accounting methods used may have a negative impact on the comparability of financial statements Consequently, many studies seek to measure comparability in order to increase the usefulness
of financial reporting information provided to users The purpose of the article is to provide indicators commonly used by researchers to measure The article uses generally accepted indicators (C, H, I) and illustrated examples and views of various authors to demonstrate the universality of the overall index Although there are many controversies over the statistics of indicators used for measurement purposes, indicators are needed to develop a widely accepted index that helps harmonize the convergence of the accounting standard system
keywords: Comparability, qualitative characteristics, theoretical models.
1 Đặt vấn đề
Người sử dụng Báo cáo tài chính quyết định lựa
chọn nhiều phương án, ví dụ bán hay nắm giữ các
khoản đầu tư hoặc đầu tư vào đơn vị này hay đơn vị
khác Do đĩ, thơng tin về đơn vị báo cáo sẽ hữu ích
hơn nếu cĩ thể so sánh các thơng tin tương tự với
đơn vị khác hoặc các thơng tin tương tự của đơn vị
mình giữa các kỳ và các ngày khác nhau
Khả năng so sánh khơng phải là đồng nhất Thơng tin cĩ thể so sánh phải đảm bảo sự tương đồng giữa các khoản mục, chỉ tiêu tương tự và
sự khác biệt giữa các khoản mục, chỉ tiêu khơng tương tự Khả năng so sánh của thơng tin tài chính
sẽ khơng được đảm bảo nếu các khoản mục, chỉ tiêu khơng tương tự được trình bày giống nhau hoặc các khoản mục, chỉ tiêu tương tự lại trình bày
Trang 2khác nhau Khác với các đặc điểm định tính khác,
khả năng so sánh không liên quan đến một khoản
mục đơn lẻ mà yêu cầu ít nhất là hai khoản mục
Ngày càng có nhiều cuộc tranh luận về việc cần
thiết phải đo lường và xác định tác động của tính
so sánh được đến quyết định của người sử dụng
thông tin BCTC Vì vậy, vấn đề đo lường tính so
sánh được là rất cần thiết
2 Tính so sánh được
Theo khuôn mẫu lý thuyết kế toán, khả năng so
sánh là đặc điểm định tính giúp người sử dụng Báo
cáo tài chính nhận biết và hiểu được sự giống nhau
và khác nhau của các khoản mục
Cần có sự phân biệt giữa so sánh “theo thời
gian’’ và so sánh “giữa khác nhau’’ của các công ty
trong cùng một nước và - do sự toàn cầu trên toàn
thế giới Để cung cấp thông tin tài chính có hữu ích
cho các mục đích ra quyết định, lý thuyết kế toán
(Belkaoui, 2004) đề cập đến một số đặc tính ngoài
hai đặc điểm cơ bản là tính thích hợp và trình bày
trung thực thì tính dễ hiểu và so sánh là những đặc
điểm định tính quan trọng Để đạt được sự so sánh
này, các thông tin tài chính nên dựa trên sự thích
hợp Tính nhất quán có nghĩa là các công ty nên
sử dụng các phương pháp kế toán tương tự cho
các khoản mục liên quan theo thời gian Mặt khác,
các so sánh nên tồn tại tính đồng nhất và tính linh
hoạt Tính đồng nhất có nghĩa là cùng một phương
pháp kế toán được áp dụng bởi các công ty khác
nhau Tuy nhiên, những khác biệt về hoàn cảnh
sẽ dẫn đến phương pháp khác nhau Bài viết này không tập trung vào việc so sánh theo thời gian mà dựa trên sự so sánh của báo cáo tài chính giữa các công ty và giữa các quốc gia
Sterling (1969) lập luận rằng sự thay đổi trong phương pháp kế toán không phải là nguyên nhân duy nhất của sự biến đổi trong các con số xuất hiện trên báo cáo tài chính Nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng các ước tính khác nhau cho thời gian hữu ích của tài sản hình thành một nguồn thứ hai của sự thay đổi và cũng quan trọng như các vấn
đề linh hoạt Thậm chí, nếu trong cùng công ty, tất
cả sử dụng cùng một phương pháp kế toán, một
số biến đổi nhất định sẽ vẫn còn Sự thay đổi này
có thể là kết quả của những hoàn cảnh khác nhau trong hoạt động của công ty, kinh nghiệm cá nhân
và xét đoán của nhà quản lý Do đó, điều quan trọng là phải xác định ở cấp độ so sánh nào được
sử dụng
3 Đo lường mức độ so sánh được
Một số phương pháp tiếp cận để đo lường mức
độ so sánh sử dụng ba chỉ số khác nhau: (1) Chỉ
số H để đo lường sự so sánh trong nước, (2) Chỉ
số C để đo lường sự so sánh trong nước với nhiều
hệ thống báo cáo và (3) Chỉ số I để đo lường sự so sánh quốc tế Hầu hết các nghiên cứu quan trọng
đo lường mức độ so sánh đều dựa trên tư duy của Tas(1988) mặc dù trong những năm gần đây xuất hiện các phương pháp tiếp cận có nguồn gốc từ các nghiên cứu cơ bản và mở rộng từ tư duy của Tas
Bảng 1: Tổng quan các nghiên cứu trước đây đã sử dụng các chỉ số
Tác giả H C C(modified) I I(modified)
Tay and Parker (1990, 1992)
Archer, Delvaille and McLeay (1996) X
Trang 3NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
Vì vậy, tư duy của Tas (1988,1992) là một hướng
khởi đầu quan trọng trong quá trình làm rõ các chỉ
số được chấp nhận chung để đo lường sự so sánh
Khả năng so sánh cĩ thể được coi là sự gia tăng tính
nhất quán trong việc lựa chọn các phương pháp kế
tốn khác nhau cho các khoản mục của báo cáo tài
chính Việc gia tăng tính nhất quán cĩ thể bị bắt
buộc, khuyến khích hoặc tự giác thực hiện Trong
trường hợp thứ nhất, những quy định bắt buộc cho
phép hoặc ngăn cấm một hay nhiều phương pháp
kế tốn Trong trường hợp thứ hai những quy định
được khuyến khích sử dụng một hay nhiều phương
pháp kế tốn Trong trường hợp thứ ba, sự gia tăng
tính nhất quán cĩ thể khơng được đưa vào những
quy định bắt buộc hoặc tùy chọn (Tas, 1988)
Khi xác định mức độ so sánh kế tốn, những
mục của tác giả Nair-Frank (1981) thường được
sử dụng để đo lường và cơng bố: (1) yêu cầu (sử
dụng các phương pháp kế tốn hoặc thực hiện cơng
bố một số thơng tin được yêu cầu), (2) thực hiện
theo chỉ thị, (3) việc thực hiện khơng quan trọng
(4) khơng sử dụng hoặc (5) khơng cho phép (Tas,
1992) Khả năng so sánh tăng lên khi doanh nghiệp
chuyển từ lựa chọn giữa các phương pháp kế tốn
khác nhau sang tập trung vào một hoặc giới hạn
một số phương pháp kế tốn (Tas,1988)
Roberts và cộng sự (2008) đã đề cập đến các dữ
kiện cho rằng cĩ rất nhiều cách khác nhau để đo
được mức độ tập trung, nhưng phương pháp được
chấp nhận chung đĩ là sử dụng chỉ số Herfindahl
(chỉ số H) Chỉ số H được sử dụng để đo lường khả
năng so sánh của các phương pháp kế tốn dùng
trong việc lập báo cáo tài chính Về cơ bản chỉ số H
là một phương pháp đơn giản để đo lường khả năng
so sánh mà bỏ qua các thơng tin phụ từ các báo cáo
tài chính, và bởi vì các chỉ số cĩ tính đơn giản nêu
trên cho phép nhiều cách giải thích kết quả và kết
quả này sẽ khơng đầy đủ Chỉ số H cĩ dạng:
Trong đĩ:
- Pi : là tỷ lệ các doanh nghiệp cĩ sử dụng phương pháp kế tốn
- n: là số lượng lớn nhất cĩ thể của phương pháp
kế tốn hiện cĩ
Nhược điểm chính của chỉ số H là cĩ những khĩ khăn nhất định trong việc tính tốn mức độ quan trọng của sự so sánh và khơng cĩ khả năng
áp dụng nhiều phương pháp đo lường khác nhau (Tas, 1992) Biên độ dao động của chỉ số H theo Tas (1988) là từ 0 (khơng hịa hợp với rất nhiều phương pháp khác nhau) đến 1 (hịa hợp ở các doanh nghiệp sử dụng cùng một phương pháp) biên độ của chỉ số H biến động trong một khoảng nào đĩ
sẽ cho thấy mức độ (khơng) tuân thủ
Ví dụ: Cĩ thể trình bày trong báo cáo tài chính việc sử dụng ít nhất hai phương pháp khác nhau (A
và B) Giả sử rằng cĩ 50 đơn vị kinh doanh trong nhĩm 100 doanh nghiệp áp dụng phương pháp A trong giai đoạn 1 Các đơn vị kinh doanh cịn lại sử dụng phương pháp B Trong giai đoạn 2, cĩ 70 đơn
vị sử dụng phương pháp A so với 30 đơn vị hạch tốn theo phương pháp B Trong giai đoạn 3, tỷ lệ là 90:10 nghiêng về phương pháp A Tần số tương đối
và chỉ số H cĩ thể được tĩm tắt như sau:
Bảng 2 Cách tính của chỉ số H
Phương pháp
A B Giai đoạn Chỉ số H
1 0,5 0,5 0,52 + 0,52 = 0,50
2 0,7 0,3 0,72 + 0,32 = 0,58
3 0,9 0,1 0,92 + 0,12 = 0,82
Nguồn: Tas (1988)
Bên cạnh đĩ, Tas cịn phân biệt hai cấp độ của chỉ số H: (1) chỉ số C và (2) chỉ số I Walton và cộng
sự (2003) đưa ra gợi ý cho Tas về mức độ so sánh vào năm 1988, (mở rộng vào năm 1992) bằng cách
sử dụng chỉ số C trong thời gian báo cáo tài chính được cơng bố và những thay đổi trong chính sách
Nguồn: Baker & Barbu (2007)
Trang 4như là bằng chứng về các đối tượng không báo cáo
theo quy định Mức độ so sánh được đo bằng chỉ
số C khi đơn vị kinh doanh cung cấp thông tin kế
toán về việc sử dụng phương pháp kế toán thay
thế cho phương pháp kế toán hiện tại (Mustaţă và
Matis, 2007) So sánh chỉ số C trên nhiều báo cáo
tài chính với nhau cho thấy khả năng hòa hợp giữa
các quốc gia và việc đo lường giữa hai quốc gia sử
dụng cùng một phương pháp kế toán hoặc cung
cấp đầy đủ thông tin cho phép việc so sánh lẫn
nhau Sau đó, hai bản báo cáo tương thích nhau sẽ
so sánh với tổng số các cặp theo cách sau: (Roberts
và cộng sự, 2008)
Trong đó:
- ni: số lượng đơn vị kinh doanh áp dụng
phương pháp i
- N: tổng số các đơn vị kinh doanh
Ví dụ: Xét hai khoản mục kế toán ((1) khấu hao
(2) đánh giá hàng tồn kho) và ba phương pháp đo
lường khác nhau ( phương pháp đường thẳng, tịnh
tiến và số dư giảm dần hoặc phương pháp FIFO,
bình quân gia quyền và thực tế đích danh) tại 20
doanh nghiệp được thể hiện trong bảng 3
Bảng 3 Cách tính của chỉ số C
Nguồn: Roberts và cộng sự (2008)
Biên độ dao động của chỉ số C, theo Tas (1988),
dao động từ 0 (không hòa hợp với nhiều phương
pháp khác nhau) đến 1 (hòa hợp tại tất cả các doanh
nghiệp sử dụng cùng một phương pháp), bởi vậy
chỉ số C biến động trong một khoảng nào đó cho
đáp ứng ba tiêu chí: định lượng mức độ so sánh
có liên quan trực tiếp đến khả năng so sánh, cho phép nhiều báo cáo và các thông tin trên thuyết minh báo cáo tài chính và nó có thể tính toán sự biến động của mức độ so sánh bằng cách sử dụng thử nghiệm (phân tích hồi quy) Chỉ số C đo lường mức độ so sánh của từng khoản mục dựa trên số lượng báo cáo tài chính có thể so sánh được Giả
sử rằng hai báo cáo tài chính trên so sánh với một loại giao dịch hoặc một sự kiện Như vậy, không
so sánh được giữa hai báo cáo tài chính kể từ khi chỉ có một loại giao dịch hay sự kiện được đưa vào chung khoản mục (Tas, 1992)
Có nhiều lý do cho việc thiếu đo lường sự so sánh một phần đối với các giao dịch và sự kiện tổng hợp, nhưng đối với từng loại giao dịch hoặc sự kiện riêng biệt thì ngược lại (1) Đo lường một cách riêng biệt cung cấp kết quả chính xác hơn vì nó có khả năng đo lường mức độ so sánh cho từng loại giao dịch hoặc sự kiện được trình bày trong báo cáo tài chính, trong khi đo lường mức độ so sánh cho tất cả các loại giao dịch hoặc sự kiện chỉ cung cấp kết quả tổng hợp, do đó rất khó để rút ra kết luận về chính sách đo lường và (2) việc đo lường mức độ so sánh của các giao dịch hoặc các sự kiện tổng hợp đòi hỏi một danh sách chi tiết của các loại giao dịch, sự kiện và việc đo lường riêng biệt mức
độ so sánh vật chất cho từng loại giao dịch hoặc sự kiện sẽ thuận tiện hơn.(Tas, 1992)
Tas (1988) nhấn mạnh việc đo lường mức độ so sánh một phần trong quốc tế phải đáp ứng hai điều
kiện Thứ nhất, so sánh quốc
tế là khả năng so sánh của báo cáo tài chính doanh nghiệp tại quốc gia đó có nghĩa là đo lường sự so sánh nên đi chủ yếu từ sự so sánh quốc gia Thứ hai, so sánh quốc tế tồn tại ở một mức độ cụ thể của sự hội tụ hai hay nhiều quốc gia liên quan đến việc thực hiện các hoạt động kế toán trong việc lập báo cáo tài chính Mức độ so sánh một phần trong quốc tế cho thấy mức độ mà các doanh nghiệp ở một quốc gia áp dụng phương pháp kế toán giống nhau hoặc chỉ có một số phương
Trang 5NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
pháp kế tốn khác so với các doanh nghiệp ở các
quốc gia khác Theo Hermann và Thomas (1995)
chỉ số I đo lường mức độ so sánh quốc tế hoặc mức
độ so sánh trong hoạt động kế tốn giữa hai hay
nhiều quốc gia Chỉ số này được tính bằng cách gia
tăng các thủ tục của doanh nghiệp đối với một lựa
chọn phương pháp kế tốn thay thế cụ thể và tập
hợp các quy tắc thay thế tổng thể cho đến khi các
yếu tố điều chỉnh, thể hiện trong các số mũ, được
sử dụng khi kiểm tra một số quốc gia Các chỉ số
chung cĩ thể được biểu diễn dưới dạng tốn học
như sau:
- m: phương pháp kế tốn thay thế m
- n: quốc gia n
- Pmn: tần số phương pháp kế tốn m ở quốc
gia n
Biên độ dao động của chỉ số I theo Tas (1988)
dao động từ 0 (khơng hịa hợp với nhiều phương
pháp khác nhau) đến 1 (hịa hợp với các doanh
nghiệp sử dụng cùng một phương pháp) và từ cách
tính chỉ số này cho thấy mức độ (khơng) tuân thủ
Ví dụ, Giả sử cho rằng hai nước (A và B) trong một
khoảng thời gian quy định áp dụng hai phương
pháp khác nhau (phương pháp 1 và phương pháp
2) Việc sử dụng phương pháp nào của chỉ số I
được thể hiện trong Bảng 4
Bảng 4 Cách tính của chỉ số I
Nguồn: Tas (1988)
4 Ưu điểm và nhược điểm các chỉ số đo lường
Các ứng dụng định lượng đo lường mức độ so
sánh: (1) để xác định mức độ so sánh trong mối
quan hệ với việc hạch tốn kế tốn của một số mặt hàng tại một thời điểm, (2) để cho thấy các biến động của mức độ so sánh và việc đạt được mức
độ hài hồ, (3) các biến động của mức độ so sánh
cĩ thể do sự ra đời hoặc sửa đổi các quy định bắt buộc về báo cáo tài chính hoặc do mức độ so sánh được phát triển từ các lý thuyết kế tốn và các sự kiện quốc tế, (4) để xác định các khoản mục cĩ vấn
đề trong báo cáo tài chính (đối tượng với mức độ
so sánh thấp) và (5) các tổ chức đang đối phĩ với mức độ so sánh của báo cáo tài chính cĩ thể sử dụng phương pháp đo lường để thiết lập các mục tiêu liên quan đến mong muốn mức độ so sánh cho một khoản mục trong báo cáo tài chính Để đạt được mức độ so sánh cần so sánh với các chuẩn mực kế tốn (Tas, 1988) Tay và Parker (1992) đang thực hiện các phương pháp thay thế để đo lường
sự so sánh mặc dù họ đồng ý với quan điểm của Tas(1988) Hoạt động so sánh tập trung vào việc
so sánh các kết quả từ các nước khác nhau và các nghiên cứu đo lường tập trung thực hiện những báo cáo về mức độ so sánh khơng hồn tồn, so sánh hồn tồn Mức độ so sánh cĩ thể được định lượng bằng cách sử dụng chỉ số tập trung So sánh mức độ so sánh trong các giai đoạn khác nhau sẽ cho thấy sự so sánh và khơng so sánh Mức độ so sánh cĩ thể được đo lường bằng các phương pháp thay thế như thử nghiệm thống kê phi tham số, đo lường tập trung, đo dữ liệu chọn mẫu, phương sai của logarit, chỉ số Hannah-Kay, kiểm định t-test Tas(1992) bác bỏ những nỗ lực của Tay và Parker (1992) đã nĩi rằng các chỉ số H được tính theo bình phương các tần số tương đối thay thế phương pháp
đo lường cho một loại giao dịch
Mức độ tập trung của các đơn
vị kinh doanh được đo bằng chỉ
số H xung quanh một hoặc một số phương pháp thay thế dẫn đến mức
độ so sánh của chỉ số H ngày càng tăng Tay và Parker dựa theo quan điểm của họ trên thực tế về chỉ số H
là một chỉ số đo mức độ tập trung đã được thực hiện qua các thử nghiệm khơng quan trọng đồng nghĩa với những thay đổi (thống kê) khơng quan trọng hoặc
cĩ thay đổi quan trọng trong giá trị của chỉ số Tiếc
là, Tay và Parker khơng thảo luận về phương pháp thực tế đo lường sự so sánh của chỉ số Chỉ số C
Trang 6tính bằng thương số của số lượng các cặp so sánh
được của báo cáo tài chính và tổng số các cặp của
các báo cáo tài chính Điều này xác nhận không
tồn tại các vấn đề trong việc áp dụng, các cuộc thử
nghiệm thống kê thông thường có ý nghĩa Ưu
điểm của chỉ số C là: (1) sự tham gia của việc đo
lường mức độ so sánh không hoàn toàn có ảnh
hưởng đến nhiều báo cáo và công bố thông tin bổ
sung trong các thuyết minh báo cáo tài chính cho
phép người dùng khác nhau hiểu được báo cáo tài
chính, (2) sự biến động của chỉ số C cho thấy tầm
quan trọng của các thử nghiệm
Tay và Parker (1992) đã không trình bày và nghĩ
ra một phương pháp khác Các phương pháp này
được mô tả khá phức tạp và để lại một số câu hỏi
chưa được trả lời, chẳng hạn như tầm quan trọng
của các thử nghiệm, đo lường mức độ tập trung
và làm thế nào để áp dụng phương pháp tập trung
trong việc phát hiện vấn đề Tầm quan trọng của
các thử nghiệm không có nghĩa là kiểm tra sự quan
trọng của biến động mức độ so sánh, nhưng tập
trung vào mức độ quan trọng của sự so sánh Tầm
quan trọng của sự biến động mức độ so sánh chưa
được thử nghiệm một cách phù hợp vì các phương
pháp đo lường được đưa ra có nhược điểm nhất
định như chỉ số H Nhược điểm nữa của phương
pháp Tay & Parker là không thể ảnh hưởng đến
nhiều báo cáo hoặc bổ sung thông tin trong các
thuyết minh để đo lường sự so sánh không hoàn
toàn từ một báo cáo tài chính được lập chỉ bằng
một phương pháp thay thế của phép đo lường
Có thể kết luận rằng để đo lường mức độ so sánh
không hoàn toàn của các chỉ số C thì phương pháp
của Tay và Parker chắc chắn không phải là tốt nhất
Tay và Parker (1992) nhận xét tư duy của Tas
(1992) như sau: vấn đề chung liên quan đến việc
sử dụng mức độ tập trung để định lượng sự so
sánh bắt nguồn từ tiềm ẩn của các doanh nghiệp
(c) về một hoặc nhiều hơn các phương pháp lựa
phương pháp thay thế So sánh tăng lên khi c tăng hoặc giảm khi n tăng Tuy nhiên, rất khó để dự đoán cách đo sự hòa hợp phản ứng khi biến đổi (c,n) cùng lúc theo nhiều hướng khác nhau Vấn
đề trên có thể được khắc phục bằng cách đo lường tập trung như chỉ số H và đo lường entropy (đo sự bất định trong cấu trúc của hệ thống(E)) áp dụng phương pháp entropy là không phù hợp vì nó gần như là không thể, lấy mẫu để thử nghiệm, tính xác suất của việc không sử dụng một trong các phương pháp kế toán có sẵn và giá trị tương đối của việc
đo lường entropy là không phù hợp với các giá trị tuyệt đối Với điều này có thể kết luận rằng chỉ số H
là biện pháp đáng tin cậy hơn trong việc đo lường mức độ so sánh Vấn đề chung với các giá trị của chỉ số C là đánh giá những thay đổi chỉ số trọng yếu của sự so sánh với những thay đổi trong công
bố thông tin đó xuất hiện cùng một lúc
5 Minh họa đo lường mức độ so sánh
Nghiên cứu của Hermann và Thomas (1995)
cố gắng để xác định mức độ so sánh của kế toán trong Liên minh châu Âu (EU27) bằng cách xem xét thực tiễn sự đo lường nhất định trong khoảng thời gian từ năm 1992 đến năm 1993 cho các báo cáo hàng năm của tám quốc gia thành viên EU (Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ireland, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Vương quốc Anh) Sự so sánh đã được thử nghiệm bằng cách sử dụng thử nghiệm chia bình phương và đo bằng chỉ số “I” Kiểm định t-test xem xét sự tương đương của các phương pháp kế toán đối với các nước này, trong khi chỉ số đo mức độ tập trung xoay quanh các phương pháp đo lường kế toán riêng biệt được lựa chọn để thử nghiệm
Bảng 5 cho thấy các kết quả nghiên cứu của Hermann và Thomas Mức độ tuân thủ cao nhất là trong lĩnh vực giao dịch ngoại tệ ở thị trường trong nước và xác định giá trị hàng tồn kho
Bảng 5 Tóm tắt các chỉ số và kiểm định chi bình phương.
Chỉ số I kiểm định T-test
Giao dịch ngoại tệ 0,8494 6,88
Xác định giá trị hàng tồn kho 0,7943 17,89
Trang 7NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
6 kết luận
Mục đích của bài viết này là để hỗ trợ các nhà
nghiên cứu trong việc lựa chọn phương pháp thích
hợp nhất để đo lường khả năng so sánh của báo cáo
tài chính Bài viết chỉ đề cập việc sử dụng các chỉ
số để đo lường tính so sánh được Người sử dụng
các chỉ số cĩ xu hướng thích đồng nhất và cho rằng
việc so sánh tối đa tồn tại khi tất cả các cơng ty sử
dụng cùng phương pháp kế tốn Ngồi ra, cịn cĩ
thể sử dụng mơ hình thống kê Các mơ hình thống
kê thích sự linh hoạt và cho rằng việc so sánh tối đa
tồn tại khi các cơng ty cĩ thể sử dụng các phương
pháp kế tốn thích hợp nhất bất kể quốc gia nào
Việc lựa chọn phương pháp tùy thuộc vào cách tiếp
cận khái niệm tính so sánh được Dựa trên các yêu
cầu này, các phương pháp thích hợp nhất sau đĩ cĩ
thể được lựa chọn Bất kể phương pháp được lựa
chọn, nghiên cứu thêm là cần thiết để đo lường khả
năng so sánh các báo cáo tài chính để kết luận rằng
các báo cáo tài chính cĩ thể so sánh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Aisbitt (2001), Measurement of harmony
of financial reporting within and between
countries: the case of the Nordic countries,
European Accounting Review, Volume 10,
Issue 1, pp 51 – 72.
2 Archer, S., Delvaille, P., McLeay, S., (1995),
The Measurement of Harmonisation and the
Comparability of Financial Statement Items:
Within-Country and Between-Country
Effects, Accounting & Business Research,
25(98), pp 67-80.
3 Baker and Barbu, (2007), Trends in
research on international accounting
harmonization, The International Journal
of Accounting, Volume 42, Issue 3.
4 Belkaoui, A (2004), Accounting Theory, 5th
ed., p.598, Thomson.
5 Emenyonu, E N., Gray, S J., (1992), EC
accounting harmonization, an empirical
study of measurement practices in France,
Germany and UK, Accounting and Business Research, 23(89), pp 49–58.
6 Fontes, A., Rodrigues, L L., Craig, R., (2005), Measuring convergence of National Accounting Standards with International Financial Reporting Standards, Accounting Forum, Volume 29, Issue 4, pp 415-436.
7 Herrmann and Thomas, (1995), Harmonisation of Accounting Measurement Practices in the EuropeanCommunity, Accounting&Business Research, 25(100): 253-265 p.264.
8 Mustata, R V., Matis, D., (2007), Measurement
of need for harmonization between national accounting standards and international financial reporting standards, Journal of International Business and Economics, 3(VII), pp 23-46.
9 Rahman, A., Perera, H., Ganeshanandam, S., (1996), Measurement of formal harmonisation
in accounting: an exploratory study, Accounting and Business Research, 26(4), pp 325–339.
10 Roberts, C., Weetman, P., Gordon, P., (2008), International corporate reporting – a comparative approach, 4th Edition, Prentice Hall
11 Sterling, R., (1969), A test of the uniformity hypothesis, Abacus, Vol 5, No 1, pp.37–47.
12 Tas, L (1988), Measuring Harmonisation
of Financial Reporting Practice Accounting&Business Research, 18(70), pp 157-169.
13 Tas, L., (1992), Evidence of EC financial reporting practice harmonization: The case
of deferred taxation, European Accounting Review, 1(1), pp 69–104.
14 Tas, L., (1995), International accounting harmonization: American hegemony or mutual recognition with benchmarks?, European Accounting Review, 4(2), pp 255–260.
15 Tay, J S W., Parker, R H., (1990), Measuring international harmonization and standardization, Abacus,26, pp 71–88.
16 Walton, P., Haller, A., Raffournier, B., (2003), International Accounting, 2nd Edition, Cengage LearningEMEA.
Nguồn: Herrmann and Thomas (1995)