- Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho cán bộ công nhân viên trong thời gian thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ và thời gian người lao động được nghỉ hưởng theo chế độ
Trang 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO
LƯƠNG
1.1 Một số vấn đề chung về tiền lương và các khoản trích theo lương
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, chức năng của tiền lương
1.1.1.1 Khái niệm tiền lương
Tiền lương là một phạm trù kinh tế phức tạp, mang tính lịch sử có ý nghĩa chính trị, kinh tế và xã hội to lớn Ngược lại, bản thân tiền lương cũng chịu tác động mạnh mẽ của xã hội
Cụ thể là trong xã hội Tư bản, tiền lương là sự biểu hiện bằng tiền của sức lao động, là giá cả của sức lao động
Trong xã hội chủ nghĩa, tiền lương không phải là giá cả của sức lao động,
mà là một phần giá trị trong tổng sản phẩm xã hội dùng để phân phối cho người lao động theo nguyên tắc “ làm theo năng lực, hưởng theo lao động” Tiền lương mang ý nghĩa tích cực, tạo sự cân bằng trong phân phối thu nhập quốc dân
Ở Việt Nam, trong thời kỳ bao cấp, một phần thu nhập quốc dân được tách
ra làm quỹ lương và phân phối cho người lao động theo kế hoạch Tiền lương chịu tác động của quy luật phát triển cân đối có kế hoạch, chịu sự chi phối trực tiếp của Nhà nước thông qua các chế độ, chính sách tiền lương do Hội đồng Bộ trưởng ban hành (nay là Chính phủ) Tiền lương cụ thể bao gồm hai phần: Phần trả bằng tiền dựa trên hệ thống thang lương, bảng lương và phần trả bằng hiện vật thông qua chế độ tem phiếu, sổ (phần này chiếm tỷ trọng lớn) Theo cơ chế này thì tiền lương không gắn chặt với số lượng và chất lượng lao động, không phản ánh đúng giá trị của sức lao động đã tiêu hao của từng người lao động, không đảm bảo cuộc sống ổn định cho nhân dân Vì vậy, nó không tạo ra một động lực trong sản xuất Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, khi thị trường, giá cả được
Trang 2thừa nhận rộng rãi thì “Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động
mà người cung ứng sức lao động được nhận theo nguyên tắc cung, cầu giá
cả thị trường và luật pháp hiện hành của Nhà nước” Tiền lương vừa là phạm trù của phân phối, vừa là phạm trù trao đổi tiêu dùng
Trên thực tế, cái mà người lao động yêu cầu không phải là một khối lượng tiền lương lớn mà họ quan tâm đến khối lượng tư liệu sinh hoạt mà họ nhận được thông qua tiền lương Vấn đề này liên quan đến hai khái niệm về tiền lương đó là: Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế
- Tiền lương danh nghĩa: Là khối lượng tiền trả cho cán bộ công nhân viên dưới hình thức tiền tệ, đó là số tiền thực tế mà người lao động nhận được Tuy vậy, cùng với một số tiền như nhau, người lao động sẽ mua được khối lượng hàng hoá dịch vụ khác nhau ở các thời điểm, địa điểm khác nhau do sự biến động thường xuyên của giá cả
- Tiền lương thực tế: Là số lượng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ mà người lao động mua được bằng tiền lương danh nghĩa Tiền lương thực tế phụ thuộc hai yếu tố sau:+ Tổng số tiền nhận được (tiền lương danh nghĩa)
+ Chỉ số giá cả hàng hoá tiêu dùng dịch vụ
Như vậy, tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế có mối quan hệ khăng khít với nhau và được thể hiện qua công thức sau:
Tiền lương danh nghĩa
Tiền lương thực tế =
Chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ
Khi chỉ số tiền lương danh nghĩa tăng nhanh hơn chỉ số giá cả, điều này có nghĩa là thu nhập thực tế của người lao động tăng lên, khi chỉ số tiền lương danh nghĩa tăng chậm hơn chỉ số giá cả thì tiền lương không đảm bảo được đời sống của cán bộ công nhân viên chức Khi đó, tiền lương không hoàn thành chức
Trang 3năng quan trọng đó là tái sản xuất sức lao động Điều này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải luôn quan tâm đến tiền lương thực tế.
Về phương diện hạch toán, tiền lương công nhân doanh nghiệp sản xuất được chia làm hai loại, đó là : Tiền lương chính và tiền lương phụ
- Tiền lương chính: Là tiền lương phải trả cho cán bộ công nhân viên trong thời gian thực hiện nhiệm vụ chính của họ bao gồm tiền lương trả theo cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo (phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực)
- Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho cán bộ công nhân viên trong thời gian thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ và thời gian người lao động được nghỉ hưởng theo chế độ (nghỉ phép, nghỉ vì ngừng sản xuất )
Việc phân chia tiền lương chính và tiền lương phụ có ý nghĩa quan trọng đối với công tác kế toán và phân tích tiền lương trong giá thành sản phẩm Tiền lương chính của công nhân sản xuất được hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất của từng loại sản phẩm Tiền lương phụ của công nhân do không gắn với quá trình sản xuất sản phẩm nên hạch toán gián tiếp vào chi phí sản xuất
Qua các khái niệm về tiền lương, ta có thể nhận thấy bản chất của tiền lương chính là sự biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương đúng và đầy đủ sẽ vừa kích thích sản xuất phát triển, vừa
là vấn đề xã hội trực tiếp tác động đến đời sống vật chất, tinh thần của người lao động.1.1.1.2 Đặc điểm của tiền lương
- Tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền với lao động, tiền tệ và nền sản xuất hàng hoá
- Trong điều kiện tồn tại nền sản xuất hàng hoá và tiền tệ, tiền lương là một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh cấu thành nên giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ
- Tiền lương là một đòn bẩy kinh tế quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng năng suất lao động, có tác dụng động viên khuyến khích người lao động tích cực lao động, nâng cao hiệu quả công tác
- Lao động là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất, nó tác động đến kết quả sản xuất trên hai mặt là: Mặt số lượng lao động và chất lượng lao động Số
Trang 4lượng lao động được phản ánh trên sổ theo dõi lao động do Phòng Tổ chức hành chính lập Sổ này ghi chép tập trung cho toàn doanh nghiệp và từng bộ phận để tiện theo dõi Chất lượng lao động được phản ánh qua bậc thợ, chất lượng lao động, năng suất của người lao động.
1.1.1.3 Chức năng của tiền lương
- Chức năng thước đo giá trị: Là biểu hiện giá cả sức lao động, là cơ sở điều
chỉnh giá cả cho phù hợp mỗi khi giá cả biến động
- Chức năng tái sản xuất sức lao động: Đây là chức năng quan trọng nhất của
tiền lương đúng với nghĩa của nó Tiền lương phải đảm bảo tái sản xuất, tức là nuôi sống người lao động, duy trì sức lao động, năng lực làm việc lâu dài,
có hiệu quả trên cơ sở tiền lương đảm bảo bù đắp được sức lao động đã hao phí cho người lao động Vì vậy, tiền lương được tính toán trên ba mặt:
+ Mặt thứ nhất: Duy trì, phát triển sức lao động của chính bản thân người lao động
+ Mặt thứ hai: Sản xuất ra sức lao động mới (nuôi dưỡng thế hệ sau).+ Mặt thứ ba: Tích luỹ kinh nghiệm, hoàn thành kỹ năng lao động, nâng cao trình độ tay nghề (tăng cường chất lượng lao động)
- Chức năng kích thích sức lao động: Tiền lương là động lực chủ yếu thúc đẩy
hoạt động kinh tế của người lao động Nếu được trả lương đúng với giá trị sức lao động sẽ kích thích người lao động làm việc tích cực hơn, thúc đẩy người lao động cải cách một cách có hệ thống các phương pháp tổ chức lao động, sử dụng tốt và hiệu quả ngày công lao động, máy móc thiết bị, tiết kiệm nguyên vật liệu, phát huy sáng kiến, nâng cao trình độ tay nghề của cán bộ công nhân viên, từ đó giúp họ làm việc có hiệu quả nhất với mức tiền lương xứng đáng nhất
Ngược lại, nếu tiền lương quá rẻ mạt không tương xứng với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra thì người lao động sẽ làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm, uể oải, rút ngắn thời gian lao động, năng suất thấp
Trang 5Có thể nói, tiền lương chính là lợi ích thiết thực mà người sử dụng lao động trao cho người lao động để đổi lấy sức lao động của họ Do đó, tiền lương
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác quản lý kinh tế nói chung và trong việc kích thích lợi ích vật chất đối với người lao động nói riêng
Phần lương cơ bản là cơ sở để xác định phần phụ cấp ngoài lương cho công nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sản xuất, hoặc có sáng kiến phát minh khoa học, tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Tiền thưởng là một trong những công cụ quản lý có hiệu quả nhất, khắc phục những thiếu sót của lương cơ bản, nhằm tăng cường hơn nữa sự quan tâm vật chất của công nhân viên trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất lao động
- Chức năng công cụ quản lý của Nhà nước: Tiền lương với chế độ của nó là
những đảm bảo có tính chất pháp lý của Nhà nước buộc người sử dụng lao động phải trả theo công việc đã hoàn thành của người lao động, đảm bảo quyền lợi tối thiểu mà người lao động được hưởng Từ đó ,mới phát huy được chức năng kích thích người lao động Căn cứ vào yêu cầu cơ bản này thông qua thực tiễn tình hình kinh tế - xã hội mà Nhà nước đặt ra chế độ tiền lương phù hợp như một văn bản quy định bắt buộc đối với người sử dụng lao động Các cơ sở kinh doanh lấy một phần thu nhập của mình để trả lương Người lao động được giới hạn giữa mức tối thiểu do Nhà nước quy định và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì điều này buộc người sử dụng lao động phải biết tiết kiệm sức lao động cũng như những chi phí khác
- Chức năng điều tiết lao động: Thông qua hệ thống bảng lương, thang lương và
các chế độ phụ cấp được xác định cho từng ngành, từng vùng với mức tiền lương đúng đắn và thoả mãn thì người lao động sẽ tự nguyện nhận công việc được giao Tiền lương tạo ra động lực và là công cụ điều tiết giữa các ngành, các vùng trên toàn lãnh thổ, góp phần tạo ra một cơ cấu lao động hợp lý, đó là điều kiện cơ bản để Nhà nước thực hiện kế hoạch cân đối vùng - ngành - lãnh thổ
1.1.2 Các hình thức trả lương
Trang 6Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở các thành phần kinh tế khác nhau thì có rất nhiều loại lao động khác nhau Tính chất, vai trò của từng loại lao động đối với mỗi quá trình sản xuất kinh doanh lại khác nhau Vì vậy, mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn hình thức trả lương cho người lao động sao cho hợp
lý, phù hợp với đặc điểm công nghệ, phù hợp với trình độ năng lực quản lý.Hiện nay, việc trả lương trong các doanh nghiệp phải thực hiện theo luật Lao động và theo Nghị định số 03/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm
2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tại điều 58 Bộ Luật Lao động của nước ta Các doanh nghiệp có thể áp dụng hai hình thức trả lương như sau:
- Hình thức trả lương theo thời gian
- Hình thức trả lương theo sản phẩm
1.1.2.1 Hình thức trả lương theo thời gian
Là hình thức tiền lương tính theo thời gian làm việc, cấp bậc kỹ thuật và thang lương của người lao động Do tính chất lao động khác nhau mà mỗi ngành nghề cụ thể có bảng lương riêng, mỗi bảng lương được chia thành nhiều bậc lương theo trình độ thành thạo nghiệp vụ kỹ thuật chuyên môn Hình thức này bao gồm các loại sau:
- Lương thời gian giản đơn:
Lương ngày = Lương cơ bản x Hệ số cấp bậc
Trang 7- Lương thời gian có thưởng:
Là hình thức trả lương theo thời gian kết hợp với chế độ tiền lương trong sản xuất Hình thức này tác dụng thúc đẩy công nhân viên tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu và đảm bảo chất lượng sản phẩm Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng thường áp dụng cho công nhân phụ, làm công việc phụ hoặc công nhân chính làm ở nơi có độ cơ khí hoá tự động cao
1.1.2.2 Hình thức trả lương theo sản phẩm
Đây là hình thức trả lương chủ yếu hiện nay mà các doanh nghiệp thường
áp dụng Tiền lương công nhân viên phụ thuộc vào đơn giá tiền lương của một đơn vị sản phẩm và số sản phẩm sản xuất ra Chế độ trả lương theo sản phẩm gồm các hình thức sau:
+ Trả lương theo sản phẩm trực tiếp
+ Trả lương theo sản phẩm gián tiếp
+ Trả lương theo sản phẩm tập thể
+ Trả lương theo sản phẩm có thưởng
+ Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến
+ Trả lương khoán khối lượng hoặc khoán công việc
+ Trả lương khoán gọn theo sản phẩm cuối cùng
- Trả lương theo sản phẩm trực tiếp : Hình thức này được áp dụng cho công nhân sản xuất trực tiếp Tiền lương được trả cho công nhân được tính bằng số lượng sản phẩm đã hoàn thành theo đúng quy cách, phẩm chất đã quy định
Trang 8- Trả lương theo sản phẩm gián tiếp : Hình thức này được áp dụng cho bộ phận đội công nhân không trực tiếp sản xuất như vận chuyển nguyên vật liệu, vận chuyển sản phẩm, công nhân bảo dưỡng, sửa chữa máy móc thiết bị của đơn vị Lao động của những công nhân này thường không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm mà họ phục vụ Do vậy, người ta căn cứ vào kết quả Trả lương theo sản phẩm trực tiếp : Hình thức này được áp dụng cho công nhân sản xuất trực tiếp Tiền lương được trả cho công nhân được tính bằng số lượng sản phẩm đã hoàn thành theo đúng quy cách, phẩm chất đã quy định.
- Trả lương theo sản phẩm gián tiếp : Hình thức này được áp dụng cho bộ phận đội công nhân không trực tiếp sản xuất như vận chuyển nguyên vật liệu, vận chuyển sản phẩm, công nhân bảo dưỡng, sửa chữa máy móc thiết bị của đơn vị Lao động của những công nhân này thường không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm mà họ phục vụ Do vậy, người ta căn cứ vào kết quả lao động của người công nhân trực tiếp sản xuất để tính trả lương cho những công nhân phục vụ
- Trả lương theo sản phẩm tập thể : Theo cách trả lương này thì trước hết lương sản phẩm được tính chung cho cả tập thể sau đó tính và chia lương cho từng người trong tập thể Tuỳ theo tính chất công việc sử dụng lao động, doanh nghiệp có thể sử dụng các cách sau:
+ Chia lương theo các cấp bậc và thời gian làm việc
+ Chia lương theo bình quân chấm điểm
+ Chia lương theo cấp bậc và thời gian làm việc kết hợp với bình quân chấm điểm
- Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến : Theo hình thức này thì ngoài tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp, còn căn cứ vào số sản phẩm vượt định mức để tính Thêm số tiền lương vào tỷ lệ luỹ tiến, số lượng sản phẩm hoàn thành vượt định mức càng cao thì tiền lương tính thêm càng nhiều
- Trả lương theo sản phẩm có thưởng : Đây là hình thức trả lương theo sản phẩm kết hợp với chế độ tiền thưởng trong sản xuất như : thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm, thưởng tăng năng suất lao động, thưởng cho tiết kiệm nguyên vật liệu
Trang 9- Trả lương theo khoán công việc : Hình thức này áp dụng cho công việc có tính giản đơn đột xuất.
- Trả lương khoán gọn cho sản phẩm cuối cùng : Hình thức này thường áp dụng đối với đơn vị đã có biên chế lao động Doanh nghiệp tính toán quỹ tiền lương chế độ của tổng số lao động trong định mức biên chế và giao khoán cho từng phòng, từng ban, từng bộ phận theo nguyên tắc phải hoàn thành công việc Nếu chi phí ít, bộ phận gián tiếp ít thì thu nhập của công nhân sẽ cao và ngược lại.Ngoài việc trả lương theo thời gian và theo sản phẩm, doanh nghiệp còn áp dụng các cách trả lương khác để tính cho ngày công, giờ công làm thêm, ngày công, giờ công ngừng vắng Bên cạnh đó, công nhân còn được hưởng chế độ tiền thưởng Tiền thưởng có thể được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh (nếu mang tính chất thường xuyên), có thể trích từ quỹ khen thưởng của doanh nghiệp Trong doanh nghiệp xây dựng có các loại tiền thưởng như : Thưởng tiết kiệm vật tư, thưởng hoàn thành trước tiến độ xây dựng
Căn cứ vào bảng lương thống nhất do Nhà nước quy định còn có các khoản phụ cấp : Phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp độc hại Chế độ phụ cấp đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập, khuyến khích những công nhân làm thêm ở những nơi khó khăn, nguy hiểm thì tiền công họ nhận được phải cao hơn công việc bình thường
Trong việc tính lương cho công nhân còn phải tính lương cho ngày nghỉ phép năm của công nhân, nhưng do việc nghỉ phép của công nhân không đều đặn giữa các tháng nên để tránh khỏi đột biến trong giá thành thì doanh nghiệp
có thể thực hiện trích trước tiền lương công nhân nghỉ phép để đưa vào chi phí sản xuất kinh doanh
trích trước
Trang 10Tỷ lệ trích trước được tính như sau:
1.1.3 Quỹ lương và các khoản trích theo lương
- Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương mà doanh nghiệp trả cho tất cả lao động thuộc doanh nghiệp quản lý Thành phần quỹ lương bao gồm nhiều khoản khác nhau như: Lương thời gian, lương sản phẩm, các khoản phụ cấp theo lương, tiền thưởng trong sản xuất
Bên cạnh quỹ lương, người lao động trong các doanh nghiệp còn được hưởng các khoản trợ cấp từ các quỹ khác như quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ
- Quỹ BHXH: Theo chế độ hiện hành tại Nghị định 12 CP ngày 15 tháng 01 năm
1995, quỹ BHXH được hình thành bằng cách trích tỷ lệ 20% trong tổng quỹ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp thường xuyên của người lao động thực tế trong kỳ hạch toán Người lao động phải nộp 15% trong tổng quỹ lương tính vào chi phí kinh doanh còn 5% trong tổng quỹ lương do người lao động trực tiếp đóng góp (trừ trực tiếp vào thu nhập người lao động) Khi người lao động được nghỉ hưởng BHXH, kế toán phải lập phiếu nghỉ hưởng BHXH, phải lập bảng thanh toán BHXH BHXH trích được trong kỳ sau khi trừ đi các khoản trợ cấp cho người lao động tại doanh nghiệp (được cơ quan BHXH ký duyệt), phần còn lại phải nộp vào quỹ BHXH tập trung
- Quỹ BHYT: Quỹ được sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám, chữa bệnh, viện phí, thuốc thang cho người lao động trong thời gian ốm đau, sinh đẻ Quỹ này được hình thành bằng cách tính theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương
và phụ cấp của người lao động thực tế phát sinh trong tháng Tỷ lệ trích BHYT
Trang 11hiện hành là 3%, trong đó 2% tính vào chi phí kinh doanh và 1% trừ vào thu nhập của người lao động Theo chế độ hiện hành, quỹ BHYT thống nhất quản lý
và trợ cấp cho người lao động thông qua mạng lưới y tế Vì vậy, khi tính được mức trích BHYT các doanh nghiệp phải nộp toàn bộ cho cơ quan BHYT
- KPCĐ: Để có nguồn chi phí cho hoạt động công đoàn hàng tháng, doanh nghiệp còn phải trích quỹ KPCĐ Nguồn này được hình thành do việc trích lập và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hàng tháng theo tỷ lệ quy định là 2% tính trong tổng số tiền lương thực tế phải trả công nhân viên trong
kỳ
Các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ cùng với tiền lương phải trả công nhân viên hợp thành chi phí nhân công trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh Quản lý việc tính toán, trích lập và chỉ tiêu sử dụng quỹ lương và các khoản trích theo lương có ý nghĩa không những với tính toán chi phí sản xuất kinh doanh mà còn cả với việc đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong doanh nghiệp
1.2 Yêu cầu, nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương 1.2.1 Yêu cầu của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
Xuất phát từ đặc điểm và chức năng của tiền lương trong quá trình sản xuất kinh doanh, yêu cầu của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương là phải dựa trên văn bản quy định của Nhà nước, các thông tư của Bộ Lao động và Thương binh xã hội, Bộ Y tế hướng dẫn để giải quyết các chế độ của người lao động như: Chế độ tiền lương, Chế độ thanh toán BHXH, BHYT, các khoản trích KPCĐ khi người lao động nghỉ việc, ốm đau, tai nạn
- Dựa theo trình tự kế toán để thực hiện các khoản chi
- Phải đảm bảo tính đúng, tính đủ theo các quy định của chế độ Nhà nước
- Chứng từ kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương phải rõ ràng, cụ thể để đảm bảo cho việc lưu trữ hồ sơ và thanh toán cho người lao động
1.2.2 Nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
Trang 12Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương được tổ chức tốt là một trong những điều kiện để quản lý tốt quỹ lương và quỹ bảo hiểm xã hội, bảo đảm cho việc trả lương và bảo hiểm xã hội đúng nguyên tắc, đúng chế độ, có tác dụng khuyến khích người lao động tăng năng suất lao động, đồng thời tạo điều kiện tính và phân bổ chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương vào giá thành sản phẩm chính xác Chính vì vậy, kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu về số lượng lao động, thời gian lao động, kết quả lao động của từng người, từng bộ phận một cách chính xác, kịp thời
- Tính và phân bổ chính xác tiền lương và các khoản trích theo lương cho các đối tượng sử dụng
- Hướng dẫn, kiểm tra các nhân viên hạch toán phân xưởng, tổ đội các phòng ban thực hiện đầy đủ các chứng từ hạch toán ban đầu về lao động tiền lương,
mở sổ sách cần thiết và hạch toán các nhiệm vụ về lao động tiền lương đúng chế
độ, đúng phương pháp
- Lập báo cáo về lao động và tiền lương kịp thời, chính xác
- Tham gia phân tích tình hình quản lý, sử dụng lao động về cả số lượng, thời gian, năng suất Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng lao động
- Phân tích tình hình quản lý, sử dụng quỹ tiền lương, xây dựng phương án trả lương hợp lý nhằm kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm
1.3 Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương
1.3.1 Chứng từ, sổ sách kế toán sử dụng trong hạch toán tiền lương và các
khoản trích theo lương
1.3.1.1 Chứng từ kế toán
Công việc tính lương, tính thưởng và các khoản phải trả cho người lao động được thực hiện tập trung tại phòng kế toán của doanh nghiệp
Trang 13Để tiến hành hạch toán tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp BHXH kế toán trong các doanh nghiệp phải sử dụng đầy đủ các chứng từ kế toán quy định theo Quyết định số 1141-QĐ/CĐKT ngày 01 tháng 01 năm 1995 của Bộ Tài chính, các chứng từ kế toán bao gồm:
- Bảng chấm công: Dùng để theo dõi ngày công thực tế làm việc, nghỉ việc, nghỉ hưởng BHXH của cán bộ công nhân viên và là căn cứ để tính trả lương cho người lao động trong cơ quan
- Bảng thanh toán tiền lương: Là chứng từ căn cứ để thanh toán tiền lương, phụ cấp cho từng cán bộ công nhân viên đồng thời để kiểm tra việc thanh toán tiền lương cho người lao động trong doanh nghiệp
- Phiếu nghỉ hưởng BHXH: Là phiếu xác nhận số ngày được nghỉ do ốm đau, tai nạn, thai sản của người lao động và là căn cứ để tính trợ cấp BHXH trả thay lương theo chế độ đã quy định
- Bảng thanh toán BHXH: Là căn cứ tổng hợp và thanh toán trợ cấp BHXH trả thay người lao động, lập báo cáo quyết toán BHXH với cơ quan quản lý BHXH
- Bảng thanh toán tiền thưởng: Căn cứ vào bảng này để có thể biết được số cán bộ công nhân viên làm việc như thế nào trong tháng để có hình thức khen thưởng
- Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành: Là chứng từ xác nhận số sản phẩm hoặc công việc hoàn thành của đơn vị hoặc cá nhân người lao động và
là cơ sở để lập bảng thanh toán tiền lương cho người lao động
- Phiếu báo làm thêm giờ: Là chứng từ xác nhận số giờ công, đơn giá và số tiền làm thêm được hưởng của từng công việc, là cơ sở để tính trả lương cho người lao động
- Hợp đồng giao khoán: Là văn bản ký kết giữa người giao khoán và người nhận khoán về khối lượng công việc, thời gian làm việc, trách nhiệm và quyền lợi mỗi bên khi thực hiện công việc đó, đồng thời là cơ sở thanh toán tiền công lao động cho người nhận khoán
Thời gian để tính lương, tính thưởng và các khoản khác phải trả cho người lao động được tính theo tháng Căn cứ để xác định, tính là các chứng
Trang 14từ hạch toán thời gian lao động, kết quả lao động và các chứng từ khác có liên quan (như giấy nghỉ ốm, biên bản ngừng việc ) Tất cả các chứng từ trên phải được kế toán kiểm tra trước khi tính lương, tính thưởng và phải đảm bảo được các yêu cầu của chứng từ kế toán.
Sau khi đã kiểm tra các chứng từ tính lương, tính thưởng, tính trợ cấp, phụ cấp thì kế toán tiến hành việc tính toán phải trả cho người lao động theo hình thức trả lương, trả thưởng đang áp dụng tại doanh nghiệp và lập bảng thanh toán tiền lương, tiền thưởng Thông thường tại các doanh nghiệp, việc thanh toán tiền lương và các khoản khác cho người lao động được chia làm hai kỳ: Kỳ một lĩnh lương tạm ứng, kỳ hai sẽ nhận số tiền còn lại sau khi đã trừ vào các khoản phải khấu trừ vào thu nhập Các khoản thanh toán lương, thanh toán BHXH, bảng kê danh sách những người chưa lĩnh lương cùng với các chứng từ và báo cáo thu chi tiền mặt phải chuyển kịp thời cho phòng kế toán kiểm tra
số liệu tổng hợp lập báo cáo về tiền lương và các khoản trích theo lương của từng bộ phận
1.3.2 Hạch toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương
1.3.2.1 Tài khoản sử dụng
Để hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương, kế toán sử dụng các tài khoản sau:
Trang 15∗ Tài khoản 334 “Phải trả người lao động”: Dùng để phản ánh các khoản thanh
toán với người lao động của doanh nghiệp về tiền lương, tiền công, phụ cấp BHXH, tiền thưởng và các khoản khác về thu nhập của họ
Bên Nợ:
- Các khoản khấu trừ vào thu nhập của người lao động
- Các khoản đã trả cho người lao động
- Kết chuyển tiền lương người lao động chưa lĩnh
Bên Có: Các khoản phải trả cho người lao động
Dư Có: Các khoản còn phải trả cho người lao động
Dự Nợ (nếu có): Phản ánh khoản trả thừa cho người lao động
Tài khoản 334 được phân tích thành 2 tài khoản cấp 2:
+ Tài khoản 3341 “Phải trả công nhân viên”: Dùng để phản ánh các khoản thanh toán với người lao động của doanh nghiệp
+ Tài khoản 3342 “Phải trả người lao động khác”: Dùng phản ánh tình hình thanh toán với lao động thuê ngoài
∗ Tài khoản 338 “Phải trả, phải nộp khác”: Dùng để phản ánh tình hình thanh
toán các khoản phải trả, phải nộp khác ngoài các khoản đã phản ánh ở các tài khoản thanh toán nợ phải trả (từ tài khoản 331 đến tài khoản 337) như tình hình trích nộp và sử dụng kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tình hình giá trị tài sản thừa chờ xử lý; về doanh thu chưa thực hiện; về các khoản nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn
Bên Nợ:
- Các khoản đã nộp cho cơ quan quản lý các quỹ
- Các khoản đã chi về kinh phí công đoàn
- Xử lý giá trị tài sản thừa
- Kết chuyển doanh thu chưa thực hiện tương ứng
- Các khoản đã trả, đã nộp khác
Bên Có:
- Trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định
Trang 16- Các khoản phải nộp, phải trả hay thu hộ
- Giá trị tài sản thừa chờ xử lý
- Tổng số doanh thu chưa thực hiện phát sinh trong kỳ
- Số đã nộp, đã trả lớn hơn số phải nộp, phải trả được hoàn lại
Dư Có: Phản ánh số tiền còn phải trả, phải nộp hay giá trị tài sản thừa chờ
xử lý
Dự Nợ (nếu có): Phản ánh số trả thừa, nộp thừa, vượt chi chưa được thanh toán.Tài khoản 338 chi tiết làm 8 tài khoản cấp 2:
+ Tài khoản 3381 “Tài sản thừa chờ giải quyết”
+ Tài khoản 3382 “Kinh phí công đoàn”
+ Tài khoản 3383 “Bảo hiểm xã hội”
+ Tài khoản 3384 “Bảo hiểm y tế”
+ Tài khoản 3385 “Phải trả về cổ phần hoá”
+ Tài khoản 3386 “Nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn”
+ Tài khoản 3387 “Doanh thu chưa thực hiện”
+ Tài khoản 3388 “Phải trả, phải nộp khác”
1.3.2.2 Phương pháp hạch toán
- Hàng tháng, tính ra tổng số tiền lương và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương theo quy định phải trả cho người lao động (bao gồm tiền lương, tiền công, phụ cấp khu vực, chức vụ ) và phân bổ cho các đối tượng sử dụng, kế toán ghi:
Nợ TK 241: Phải trả cho bộ phận lao động thực hiện công tác XDCB,
sửa chữa lớn, sửa chữa nâng cấp TSCĐ
Nợ TK 622 (chi tiết đối tượng): Phải trả cho CNTTSX, chế tạo sản
phẩm hay thực hiện dịch vụ
Nợ TK 623 (6231): Phải trả lao động trực tiếp sử dụng máy thi công.
Nợ TK 627 (6271-chi tiết phân xưởng): Phải trả nhân viên quản lý
phân xưởng sản xuất
Nợ TK 641 (6411): Phải trả nhân viên bán hàng.
Nợ TK 642 (6421): Phải trả cho bộ phận nhân công quản lý doanh nghiệp.
Có TK 334: Tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất
tiền lương phải trả
- Trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định:
Nợ TK 241: Phần tính vào chi phí XDCB, mua sắm hay sử dụng TSCĐ.
Trang 17Nợ TK 622 (chi tiết đối tượng): Phần tính vào chi phí nhân công trực tiếp.
Nợ TK 623 (6231): Phần tính vào chi phí sử dụng máy thi công.
Nợ TK 627 (6271): Phần tính vào chi phí sản xuất chung.
Nợ TK 641 (6411): Phần tính vào chi phí bán hàng.
Nợ TK 642 (6421): Phần tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp.
Nợ TK 334: Phần trừ vào thu nhập của người lao động.
Có TK 338: Tổng số BHXH, BHYT, KPCĐ phải trích.
- Có TK 3382: Trích KPCĐ.
- Có TK 3383: Trích BHXH.
- Có TK 3384: Trích BHYT.
- Số tiền ăn ca phải trả cho người lao động trong kỳ:
Nợ TK 241: Phải trả cho bộ phận lao động thực hiện công tác XDCB,
sửa chữa lớn, sửa chữa nâng cấp TSCĐ
Nợ TK 622 (chi tiết đối tượng): Phải trả cho CNTTSX, chế tạo sản phẩm
hay thực hiện dịch vụ
Nợ TK 623 (6231): Phải trả lao động trực tiếp sử dụng máy thi công.
Nợ TK 627 (6271-chi tiết phân xưởng): Phải trả nhân viên quản lý
phân xưởng sản xuất
Nợ TK 641 (6411): Phải trả nhân viên bán hàng.
Nợ TK 642 (6421): Phải trả cho bộ phận nhân công quản lý doanh nghiệp.
Nợ TK 431 (4312): Số chi tiền ăn ca vượt mức quy định.
Có TK 334: Tổng số tiền ăn ca phải trả.
- Số tiền thưởng phải trả cho người lao động từ quỹ khen thưởng (thưởng thi đua, thưởng cuối quý, thưởng cuối năm):
Nợ TK 431 (4311): Thưởng thi đua từ quỹ khen thưởng.
Có TK 334: Tổng số tiền thưởng phải trả cho người lao động.
- Số bảo hiểm xã hội phải trả trực tiếp cho công nhân viên trong kỳ (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động):
Nợ TK 338 (3383): Giảm quỹ bảo hiểm xã hội.
Có TK 334: Tăng số phải trả cho người lao động.
- Các khoản khấu trừ vào thu nhập của người lao động:
Nợ TK 334: Tổng số các khoản khấu trừ.
Có TK 333 (3335): Thuế thu nhập cá nhân phải nộp.
Có TK 141: Số tạm ứng trừ vào lương.
Có TK 138: Các khoản bồi thường vật chất,
- Thanh toán thù lao (tiền công, tiền lương ), bảo hiểm xã hội, tiền thưởng cho cán bộ công nhân viên chức:
+ Nếu thanh toán bằng tiền:
Nợ TK 334: Các khoản đã thanh toán.
Có TK 111: Thanh toán bằng tiền mặt.
Có TK 112: Thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng.
+ Nếu thanh toán bằng vật tư, hàng hoá:
Trang 18BT1) Ghi nhận giá vốn vật tư, hàng hoá:
Nợ TK 632: Tăng giá vốn hàng hoá bán trong kỳ.
Có TK liên quan (152,153,154,155 )
BT2) Ghi nhận giá thanh toán:
Nợ TK 334: Tổng giá thanh toán (cả thuế GTGT).
Có TK 152: Giá thanh toán không có thuế GTGT.
Có TK 3331 (33311): Thuế GTGT đầu ra phải nộp.
- Nộp BHXH, BHYT, KPCĐ cho cơ quan quản lý hay mua thẻ bảo hiểm xã hội cho người lao động:
Nợ TK 338 (3382, 3383, 3384): Giảm số phải nộp.
Có TK liên quan (111,112 )
- Chi tiêu kinh phí công đoàn để lại doanh nghiệp:
Nợ TK 338 (3382): Giảm kinh phí công đoàn.
Có TK 111,112, : Số tiền chi tiêu.
- Cuối kỳ kế toán, kết chuyển số tiền công nhân đi vắng chưa lĩnh:
Nợ TK 334: Giảm số phải trả người lao động.
Nợ TK 335: Phải trả CNTTSX sản phẩm.
Nợ TK liên quan (627, 641, 642): Phải trả cho bộ phận quản lý
phân xưởng, bộ phận bán hàng và bộ phận quản lý doanh nghiệp
Có TK 334: Tổng số lương phép phải trả cho người lao
động trong kỳ
- Hàng tháng căn cứ vào dự toán chi phí, kế toán phản ánh số tiền lương phép của lao động trực tiếp sản xuất trích trước vào chi phí bằng bút toán:
Nợ TK 622 (chi tiết đối tượng): Tăng chi phí nhân công trực tiếp.
Có TK 335: Trích trước lương phép của CNTTSX theo kế hoạch.
1.3.3 Tổng hợp phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương
Trang 19Sơ đồ 01: Sơ đồ hạch toán thanh toán với người lao động.
Tiền lương phải trả cho NCTT
TK 141
Số tạm ứng trừ v o l à ương
TK 138, 338
Các khoản khấu trừ v o l à ương
Sơ đồ 02: Sơ đồ hạch toán BHXH, BHYT, KPCĐ
TK 622
Trang 20Trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định (19%)
TK 334
Khấu trừ v o thu nh à ập của người lao động (6%)
TK 111, 112
Số vượt chi về KPCĐ, BHXH
được cấp bù Trả BHXH cho người lao động được hưởng trợ cấp Nộp BHXH, BHYT, KPCĐ bằng tiền mặt
TK 111
TK 112
Nộp BHXH, BHYT, KPCĐ bằng tiền gửi ngân h ng à
TK 622, 623, 627, 641, 642
TK 338
TK 334
Trang 21CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG
VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG
TẠI CÔNG TY SÔNG MÃ
2.1 Giới thiệu chung về Công ty Sông Mã
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Sông Mã
Công ty Sông Mã là doanh nghiệp Nhà nước, được thành lập theo Quyết định số 450 TC/UBTH ngày 26/03/1993 của UBND tỉnh Thanh Hóa với tên ban đầu là Công ty Kinh doanh nhà Thanh Hóa
Có trụ sở đóng tại: 469- đường Lê Hoàn- P Ngọc Trạo- TP Thanh Hoá.Công ty Kinh doanh nhà Thanh Hóa tiền thân là Ban quản lý xây dựng cơ bản và sau chuyển thành Công ty dịch vụ và phát triển nhà ở Thị xã Thanh Hóa Đơn vị lúc đó quy mô còn nhỏ, với 13 CBCNV
Trong quá trình phát triển về quy hoạch đô thị nhiệm vụ phục vụ nhu cầu nhà và đất ngày càng có nhu cầu cao Để đáp ứng nhu cầu của nhân dân Thành phố và thực hiện nghiêm chỉnh quy hoạch đô thị góp phần làm cho Thành phố ngày một khang trang, sạch đẹp, ngày 26/03/1993, Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh Hóa
đã ra quyết định số 450/QĐ- UBTH thành lập Công ty Kinh doanh nhà Thanh Hóa với chức năng nhiệm vụ:
1* Quản lý và kinh doanh nhà
2* Xây dựng nhà ở
3* Xây dựng khác
4* Kinh doanh vật liệu xây dựng
Ban đầu khi mới được thành lập, Công ty gặp không ít khó khăn, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, vốn để kinh doanh còn quá ít (chỉ có 48 triệu đồng vốn lưu động) Công ty phải huy động vốn vay của CBCNV trong đơn vị để chi trả lương và tìm kiếm việc làm Được sự giúp đỡ của các cấp, các ngành trong Tỉnh cùng sự đoàn kết , phấn đấu vượt mọi khó khăn của toàn thể CBCNV trong Công
ty đã đưa đơn vị vượt qua thời kỳ khó khăn nhất, SXKD bắt đầu khởi sắc
Trang 22Thời kỳ 1994-1995: Công ty đã bắt tay vào thực hiện các mặt bằng quy hoạch được UBND Tỉnh phê duyệt như khu dân cư phường Phú Sơn và khu dân
cư 1A phường Đông Vệ Nhiệm vụ chủ yếu lúc bấy giờ là san lấp mặt bằng, chia
lô, xây dựng móng nhà và bán cho khách hàng có nhu cầu
Thời kỳ 1996-1999: Thời kỳ này, Công ty đã có những kinh nghiệm nhất định trong SXKD Nhờ có chuẩn bị trước nên Công ty đã bắt tay vào thực hiện mặt bằng quy hoạch khu dân cư Nam Cầu Hạc một cách thuận lợi, công tác SXKD đem lại hiệu quả cao, nguồn vốn được tích luỹ tăng thêm và đầu năm
1996 đơn vị đã xây dựng được trụ sở làm việc khang trang đồng thời mua sắm thêm được nhiều trang thiết bị máy móc phục vụ cho công tác SXKD
Thời kỳ 2000-2001: Tiếp tục phát huy khả năng của đơn vị, tận dụng triệt
để sự ủng hộ của Tỉnh và Thành phố, Công ty đã có bước vươn lên rõ rệt Công ty đã lập và thực hiện một số khu dân cư trên địa bàn Thành phố như khu dân cư phường Đông thọ, khu dân cư Tân Sơn 1,2; khu dân cư Hồ Thành Công; Nam Đại lộ Lê Lợi; khu dự án Mai Xuân Dương; khu Đông Vệ 1,2,3,4 Các khu dân cư do Công ty thực hiện đảm bảo quy hoạch chung của Thành phố
và các chế độ hiện hành của Nhà nước
Để đứng vững trong cơ chế cạnh tranh của thị trường, trong hơn 10 năm qua, Công ty đã không ngừng tăng cường đội ngũ CBCNV lao động cả về số lượng và chất lượng, đồng thời bổ sung thêm nhiều ngành nghề kinh doanh mới Nhằm phù hợp với chức năng nhiệm vụ SXKD đa ngành nghề, Công ty có tờ trình xin được đổi tên và được Chủ tịch UBND Tỉnh phê duyệt đồng ý đổi tên Công ty Kinh doanh nhà Thanh Hóa thành Công ty Sông Mã theo Quyết định
số 1050/QĐ-CT ngày 05 tháng 04 năm 2004
Như vậy, từ đơn vị tiền thân là Ban quản lý xây dựng cơ bản, đến nay Công ty Sông Mã đã phát triển với trên 400 CBCNV có đầy đủ chuyên môn nghiệp vụ Công ty là nơi tập hợp đông đảo đội ngũ các nhà quản lý, các kỹ sư chuyên ngành: Xây dựng, kiến trúc, giao thông, các cử nhân kinh tế, tài chính, quản trị kinh doanh, các công nhân và thợ lành nghề đã có kinh nghiệm SXKD
Trang 23trong các lĩnh vực xây dựng dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, san nền
Trong những năm thực hiện công cuộc chuyển đổi nền kinh tế, tới nay Công ty đã đạt được những thành tựu quan trọng trong SXKD và đang trên đà phát triển mạnh mẽ tại địa bàn Tỉnh Thanh Hóa
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty Sông Mã
2.1.2.1 Chức năng của Công ty:
- Xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi và công nghiệp
- San lấp mặt bằng công trình
- Tư vấn xây dựng, dịch vụ mua bán, cho thuê nhà ở, cơ sở SXKD
- Kinh doanh dịch vụ cho thuê máy móc, thiết bị xây dựng
- Khảo sát địa hình, địa chất, thiết kế quy hoạch xây dựng
- Lập dự án đầu tư xây dựng và thiết kế xây dựng công trình
- Quản lý và kinh doanh nhà
2.2.2.2 Nhiệm vụ của Công ty:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh sản xuất của Công
ty theo quy chế hiện hành
- Nghiên cứu khả năng sản xuất, nhu cầu trong nước để có biện pháp đẩy mạnh SXKD của Công ty
- Tuân thủ các chính sách, chế độ, luật pháp của Nhà nước và quản lý kinh tế, tài chính Thực hiện nghiêm chỉnh các hợp đồng kinh tế và các cam kết mà Công ty
Trang 242.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy trong Công ty Sông Mã
Sơ đồ 03: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy Công ty Sông Mã
Quan hệ chức năng
:
Trang 25Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty Sông Mã có dạng trực tuyến chức năng, cơ cấu hình thành từ việc kết hợp cơ cấu tổ chức theo chức năng và
cơ cấu tổ chức trực tuyến nhằm phát huy những ưu điểm và khắc phục những nhược điểm
Ban giám đốc Công ty gồm: 1giám đốc và 2 phó giám đốc.
5* Giám đốc Công ty: Tổ chức và điều hành mọi hoạt động của Công ty, là đại diện cho toàn bộ CBCNV của Công ty, thay mặt Công ty trong các mối quan hệ với các bạn hàng, là đại diện cho mọi quyền lợi và nghĩa vụ của Công ty trước pháp luật và các cơ quan quản lý của Nhà nước
6* Các phó giám đốc Công ty: gồm có Phó giám đốc kỹ thuật và Phó giám đốc kinh doanh Các phó giám đốc tham mưu giúp việc cho giám đốc, thay mặt giám đốc giải quyết các công việc được phân công và chịu trách nhiệm trước giám đốc về lĩnh vực công tác đó
Bộ máy giúp việc của Ban giám đốc:
Bộ máy giúp việc gồm các phòng, ban chuyên môn nghiệp vụ có chức năng tham mưu giúp giám đốc quản lý và điều hành công việc phù hợp với điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty; chấp hành và kiểm tra việc chấp hành các chế
độ chính sách của Nhà nước cũng như của Công ty, các chỉ thị, mệnh lệnh của Ban giám đốc; tham gia đề xuất với Ban giám đốc Công ty những chủ trương, biện pháp tăng cường công tác quản lý sản xuất kinh doanh và giải quyết những khó khăn vướng mắc trong Công ty theo quyền hạn và trách nhiệm của từng phòng.Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của các phòng, ban trong Công ty Sông
Mã như sau:
7* Phòng Tổ chức - Hành chính: Có nhiệm vụ tham mưu cho Ban giám đốc trong việc thực hiện chính sách đối với CBCNV, sắp xếp bố trí mạng lưới điều hành, điều động CBCNV phù hợp với tình hình SXKD của Công ty, tổ chức hình thức
Trang 26công tác văn thư lưu trữ, quản lý con dấu và tiếp khách đến giao dịch làm việc với Công ty.
8* Phòng Kế toán: Tổ chức thực hiện mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong Công
ty theo đúng pháp lệnh kế toán thống kê hiện hành Từ đó đề xuất với Ban giám đốc các biện pháp nhằm đảm bảo và tăng cường công tác quản lý tài chính trong đơn vị, phát huy tốt hiệu quả sử dụng vốn; kịp thời làm các báo cáo quyết toán tài chính theo quy định; đảm bảo tính chính xác của số liệu quyết toán; tham mưu cho Giám đốc trong việc thực hiện các chế độ tài chính và thực hiện đúng nghĩa vụ nộp Ngân sách Nhà nước
9* Phòng Kỹ thuật: Tham mưu và chịu trách nhiệm trước Ban giám đốc về công tác quản lý kỹ thuật, xây dựng các dự án, thiết kế, dự toán kịp thời, chính xác; quản lý chặt chẽ các mặt bằng quy hoạch được giao, đảm bảo các công trình xây dựng của đơn vị đúng thiết kế và quy hoạch được duyệt; quản lý chặt chẽ, đầy đủ hồ
sơ các công trình xây dựng của Công ty; giám sát chặt chẽ các công trình xây dựng, đôn đốc thi công đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về chất lượng và thiết kế dự toán công trình
10* Phòng Kế hoạch -Kinh doanh: Tham mưu cho Ban giám đốc trong việc xây dựng kế hoạch SXKD và đôn đốc kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch SXKD của Công ty; chủ động tìm kiếm, khai thác quỹ đất, quy hoạch các khu chung cư, dân cư; tham mưu và chịu trách nhiệm pháp lý trước Ban giám đốc trong việc ký kết các hợp đồng kinh tế, các bản giao khoán công việc; tổ chức đền bù, giải phóng mặt bằng đúng chế độ và tiến độ được giao
11* Các đội xây dựng: Có nhiệm vụ thi công và theo dõi thi công công trình
do Công ty giao, chịu trách nhiệm về chất lượng công trình, mức độ an toàn của công nhân và tiến độ thi công của công trình
2.2 Đặc điểm công tác kế toán ở Công ty Sông Mã
2.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán
Trang 27Tại các công trình thi công, nhân viên quản lý của Công ty tiến hành công việc ghi chép, lập các chứng từ ban đầu Việc lập và cấp phát các tài liệu phụ thuộc vào nhu cầu sản xuất thi công và kế hoạch cung ứng vật tư của Công ty cho từng công trình Việc nhập, xuất vật tư đều được cân, đo, đong, đếm cụ thể
từ đó lập các phiếu nhập kho, xuất kho, bảng tổng hợp nhập - xuất - tồn kho, sau
đó gửi lên Phòng Kế toán của Công ty
Các công nhân điều khiển máy thi công, hàng ngày theo dõi tình hình hoạt động của máy, tình hình cung cấp nhiên liệu cho máy làm cơ sở cho việc hạch toán chi phí sử dụng máy thi công Các đội trưởng, tổ trưởng quản lý theo dõi tình hình lao động trong đội, phân xưởng để lập bảng chấm công, bảng theo dõi tiền công, bảng theo dõi khối lượng hoàn thành công việc, sau đó gửi lên Phòng Kế toán để làm căn cứ hạch toán và thanh toán chi phí nhân công Phòng Kế toán sau khi đã nhận được các chứng từ ban đầu, kế toán viên tiến hành kiểm tra, phân loại và ghi vào các sổ có liên quan Việc lập báo cáo tài chính đều do Phòng Kế toán Công ty đảm nhận
Sơ đồ 04: Sơ đồ tổ chức cơ cấu bộ máy kế toán của Công ty Sông Mã
Kế toán trưởng
Kế toán vật tư,TSCĐ
Kế toán tổng hợp
Kế toán TGNH
Kế toán tiền lương
Hiện nay, bộ máy kế toán của Công ty Sông Mã gồm có:
12* Kế toán trưởng: Tổ chức bộ máy kế toán trên cơ sở xác định đúng khối lượng công tác kế toán, điều hành, kiểm soát hoạt động của bộ máy kế toán, chịu trách nhiệm về nghiệp vụ chuyên môn kế toán tài chính của đơn vị, thay mặt Nhà nước kiểm tra việc thực hiện chế độ kế toán tại Công ty
Trang 2813* Kế toán vật tư và TSCĐ: Theo dõi phản ánh kịp thời tình hình nhập , xuất, tồn kho từng loại nguyên vật liệu; giám sát quá trình cung cấp, chi dự trữ, tính toán giá thực tế vật liệu thu mua và nhập kho trong kỳ, thường xuyên đối chiếu
số liệu trên sổ kế toán với thủ kho; đồng thời theo dõi tình hình tăng, giảm TSCĐ, tình hình khấu hao TSCĐ, giám sát việc thanh lý nhượng bán sửa chữa TSCĐ và XDCB
14* Kế toán tổng hợp: Tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm,quản lý theo dõi tình hình thực hiện các định mức kinh tế, kỹ thuật, đồng thời theo dõi việc thanh toán công nợ của khách hàng
15* Kế toán tiền lương: Kiểm tra, theo dõi việc thanh toán các khoản tiền lương, tiền thưởng, BHXH với cán bộ công nhân viên ,đồng thời trích lập và sử dụng các quỹ
16* Kế toán tiền gửi ngân hàng: Hạch toán tổng hợp và chi tiết tình hình thu, chi tiền gửi ngân hàng đồng thời theo dõi các khoản vay tiền gửi và làm các thủ tục vay, trả ngân hàng đúng hạn và đảm bảo an toàn về vốn
2.2.2 Tổ chức ghi sổ kế toán ở Công ty Sông Mã
Công ty Sông Mã tổ chức ghi sổ kế toán theo hình thức nhật ký chung Hàng ngày căn cứ vào chứng từ gốc hợp lệ, số liệu được nhập vào sổ nhật ký chung, các sổ chi tiết và sổ cái
Cuối kỳ, kế toán viên tiến hành đối chiếu sự khớp đúng số liệu ghi trên sổ
để điều chỉnh, lập bảng cân đối số phát sinh các tài khoản từ đó lập báo cáo tài chính