1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

Khảo sát cách dịch “Thoại đầu” tiếng Trung trong tác phẩm “Hồng Lâu Mộng”

7 29 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 479,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Thoại đầu” có rất nhiều chức năng khác nhau như: dẫn ra một quan điểm, dẫn ra tình hình mới hoặc chuyển ý… Bài viết khảo sát ngữ liệu của bản gốc và bản dịch, đối chiếu “thoại đầu” và[r]

Trang 1

NGUYỄN THỊ LUYỆN * ; PHAN THANH HOÀNG **

*Đại học Phúc Đán, Trung Quốc,  nguyenluyen1185@gmail.com

*Đại học Phúc Đán, Trung Quốc,  jack_lucky_phan@yahoo.com

Ngày nhận bài: 05/10/2018; ngày sửa chữa: 28/11/2018; ngày duyệt đăng: 25/02/2019

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

“Thoại đầu” (话头 huàtóu) theo “Từ điển quy

phạm tiếng Trung hiện đại” của Lý Hành Kiện cho

rằng “huàtóu là sự khởi đầu của lời nói hoặc chủ

đề của lời nói” (李行健, 2004, tr.565) Có thể thấy

ý nghĩa của “thoại đầu” giống như “khởi ngữ” của

tiếng Việt

Mặt khác, giới học giả ngôn ngữ Trung Quốc

lại cho rằng, “thoại đầu” là thành phần phụ ngoài

câu, thường xuyên đứng ở vị trí đầu câu hoặc đầu

mệnh đề, quan hệ của nó với toàn câu vô cùng rời

rạc, thậm chí lược bỏ nó, câu vẫn tồn tại, ý nghĩa

KHẢO SÁT CÁCH DỊCH “THOẠI ĐẦU” TIẾNG TRUNG TRONG TÁC PHẨM

“HỒNG LÂU MỘNG”

TÓM TẮT

“Thoại đầu” trong tiếng Trung là thành phần khởi ý, thành phần phụ trợ trong câu Quan hệ của nó với toàn câu rất rời rạc, thậm chí lược bỏ thành phần này, câu vẫn có thể tồn tại được “Thoại đầu”

có rất nhiều chức năng khác nhau như: dẫn ra một quan điểm, dẫn ra tình hình mới hoặc chuyển ý… Bài viết khảo sát ngữ liệu của bản gốc và bản dịch, đối chiếu “thoại đầu” và cách dịch sang tiếng Việt tương ứng của dịch giả Vũ Bội Hoàng và thu được kết quả như sau: “thoại đầu” tiếng Trung Quốc được dịch thành kết cấu chủ vị, kết cấu giới từ + danh từ, giới từ + đại từ + động từ, quan hệ từ, động từ và phó từ… Bài viết hy vọng cung cấp phương thức dịch mới, đóng góp phần nhỏ trong quá trình chuyển thể từ tiếng Trung Quốc sang tiếng Việt, vừa không mất đi ý nghĩa của nguyên tác vừa phù hợp với văn phong tiếng Việt

Từ khóa: dịch thuật, Hồng Lâu Mộng, ngữ pháp chức năng, thoại đầu

của câu vẫn trọn vẹn Thân Tiểu Long (1988, tr.366) cho rằng, “thoại đầu là thành phần khởi ý, mang tính phụ trợ cho toàn bộ câu” Lý Phương Kiệt (1992, tr.88) cho rằng, “thoại đầu thường đứng đầu câu hoặc trước phân đoạn, nhằm dẫn ra một quan điểm nào đó, nghị luận hoặc bàn luận

về một sự tình nào đó” Đổng Tú Phương (2007, tr.74) đã bàn về chức năng và hình thức của “只

见” trong văn viết tiếng Trung Quốc và cho rằng,

“thành phần đánh dấu ngôn ngữ này mang chức năng dẫn ra tình hình mới và luôn nằm ngoài kết cấu câu” Vương Ý (2015, tr.288) khi nghiên cứu

về quá trình diễn biến của “只见” đã kết luận rằng,

Trang 2

“ “只见” đã mất đi chức năng của động từ mà

chuyển hóa thành ký hiệu ngôn ngữ, vai trò chính

là nêu lên tính chủ quan của lời nói”

Bài viết xét “thoại đầu” tiếng Trung như thành

phần phụ của câu, không xét như “khởi ngữ” của

tiếng Việt Bài viết khảo sát ngữ liệu của bản gốc

và bản dịch, đối chiếu “thoại đầu” và cách dịch

sang tiếng Việt tương ứng của dịch giả Vũ Bội

Hoàng và thu được kết quả như sau: “thoại đầu”

chủ yếu được dịch thành kết cấu chủ vị, kết cấu

giới từ + danh từ, giới từ + đại từ + động từ, quan

hệ từ, động từ và phó từ

Bài viết không bàn sâu về vấn đề phiên dịch

ngữ nghĩa mà tập trung đối chiếu chức năng của

“thoại đầu” thông qua bản gốc và sự lý giải trong

bản dịch tiếng Việt để nhìn nhận sự lý giải của bản

dịch đối với “thoại đầu” tiếng Trung Quốc

2 “THOẠI ĐẦU” MANG CHỨC NĂNG

“DẪN QUAN ĐIỂM”

Nhóm “thoại đầu” mang chức năng dẫn ra

quan điểm nào đó thông thường bắt đầu câu bằng

các từ như: “依我看” (Theo tôi thấy), “据我看来”

(Như tôi thấy), “我想” (Tôi nghĩ), “我认为” (Tôi

cho rằng)…

Nhóm này xuất hiện khá nhiều trong tác phẩm

“Hồng Lâu Mộng”, thường được bắt đầu câu bằng

các cụm từ sau: “你知道” (Ông cũng biết đấy),

“你不知原故” (Cháu chưa biết rõ), “依我” (Theo

ta), “依我看来” (Cứ như tôi xem), “依我的话”

(Cứ như ý tao), “依我的主意” (Cứ ý ta), “依小

弟的意思” (Theo ý tôi), “依你说” (Cứ như cháu

nói), “但我想” (Nhưng tôi thiết tưởng), “你们不

知” (Các ông không biết), “据我看来” (Nhưng ta

xem), “据我看” (Theo tôi), “依我们愚见” (Theo

ý chúng tôi)…

Kết cấu của nhóm này có thể là kết cấu chủ vị,

như: “你知道” (Ông cũng biết đấy) hoặc “giới từ

+ danh từ” như: “依小弟的意思” (Theo ý tôi),

“依我的话” (Theo ý tôi) hoặc “giới từ + danh từ +

danh từ/đại từ + động từ”, như: “依你说” (Cứ như

cháu nói), “依我看来” ( Cứ như tôi xem)…

Ví dụ:

(1) 你知道,咱们都是老相与,不拘怎么 样,看着他爷爷的分上,胡乱应了。

Bản dịch: Ông cũng biết đấy, chỗ chúng tôi

chơi thân với nhau đã lâu, bất kỳ thế nào cũng nể mặt cha nó, nên tôi cứ nhận bừa

(2) “依小弟的意思,竟先看过脉,再说的 为是。

Bản dịch: Theo ý tôi, xem mạch trước đã, rồi

hãy kể bệnh

(3) 依我看来,这病尚有三分治得。

Bản dịch: Cứ như tôi xem, thì bệnh còn ba

phần có thể chữa được

Nhóm này có chức năng giống như “khởi ngữ” trong tiếng Việt Hiện nay, giới Việt ngữ học có hai quan điểm về “khởi ngữ”:

Nhóm thứ nhất cho rằng, “khởi ngữ” là thành phần thứ yếu (thành phần phụ) Nhóm các tác giả

có quan điểm này gồm Nguyễn Kim Thản, Hoàng Trọng Phiến, Trần Ngọc Thêm…

Nhóm thứ hai cho rằng, khởi ngữ là “từ - chủ đề, chủ đề” Nhóm này gồm các tác giả như: Trần Kim Phượng, Trương Văn Chình & Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Tài Cẩn, I.S.Bwsstrov, N.V.Xtankevich, Nguyễn Minh Thuyết…

Về từ loại của “khởi ngữ” các ý kiến chưa thống nhất Một số tác giả chủ trương chỉ có danh

từ mới có khả năng làm khởi ngữ: Nguyễn Tài Cẩn (1975, tr.180): “Từ - chủ đề….được biểu thị bằng danh từ…” Nguyễn Minh Thuyết (1981, tr.55) cho rằng: “Từ - chủ đề nêu chủ đề câu nói và được biểu thị bằng danh từ có giới từ hoặc không có giới từ” Một số tác giả khác chủ trương không chỉ danh từ

mà vị từ (động từ và tính từ) có thể làm khởi ngữ: Diệp Quang Ban (1981, tr.54) cho rằng, “động từ

và tính từ…cũng là khởi ngữ”; Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê (1963, tr.530) nhận định: “thể từ

và trạng từ đều có thể dùng làm chủ đề”

Trang 3

Nhóm “thoại đầu” tiếng Trung mang chức năng

“dẫn quan điểm” khi dịch sang tiếng Việt vẫn giữ

nguyên kết cấu, có thể là kết cấu chủ vị như: “Ông

(chủ ngữ) cũng biết đấy (vị ngữ)”, có thể là “giới

từ + danh từ” như: “Theo (giới từ) + ý tôi (danh

từ)”, có thể là “giới từ + đại từ + động từ”, như:

“cứ như (giới từ) + tôi (đại từ) + xem (động từ)”…

Những ví dụ trên phản ánh sự tương đồng từ

kết cấu, vị trí, từ loại và thậm chí sự ngắt nghỉ

giữa thành phần khởi ý với nòng cốt câu của bản

dịch và bản gốc Từ đó cho thấy, nhóm “thoại đầu”

mang chức năng “dẫn quan điểm” được hiểu đúng

trong bản dịch tiếng Việt Có thể kết luận, nhóm

“thoại đầu” này giống như “khởi ngữ” với chức

năng là thành phần phụ của tiếng Việt

3 “THOẠI ĐẦU” MANG CHỨC NĂNG

“DẪN RA TÌNH HÌNH MỚI”

Nhóm “thoại đầu” mang chức năng dẫn ra

hoàn cảnh mới, tình hình mới thì nội dung trọng

tâm nằm ở phía sau “thoại đầu” Trong “Hồng

Lâu Mộng”, nhóm này chủ yếu gồm các từ có

kết cấu sau: “忽/只 + 动词” đứng đầu câu hoặc

đứng trước mệnh đề Ở nhóm này, “只见” xuất

hiện nhiều nhất Vương Ý (2015, tr.301) cho rằng:

“chức năng của nó là dẫn ra tình hình mới, trọng

điểm của câu nằm ở phía sau “只见” Nhóm này

được dịch thành ba loại từ mang ba chức năng

khác nhau của tiếng Việt Loại thứ nhất là quan hệ

từ mang chức năng liên kết mệnh đề hoặc câu, loại

thứ hai là động từ làm vị ngữ trong câu, loại thứ ba

là phó từ làm thành tố phụ cho vị từ

3.1 Dịch thành quan hệ từ tiếng Việt

Nhóm “thoại đầu” mang chức năng “dẫn ra

tình hình mới” được dịch thành quan hệ từ tiếng

Việt chủ yếu có “只见”, thường đứng ở đầu câu

hoặc đầu phân đoạn thứ hai của câu Nhóm thoại

đầu này chủ yếu được dịch thành quan hệ từ “thì”,

có tác dụng liên kết mệnh đề hoặc câu Chúng tôi

cho rằng, quan hệ từ có vị trí khá quan trọng trong

câu tiếng Việt, vì quan hệ từ không chỉ có chức

năng biểu thị mối quan hệ cú pháp giữa các từ (cụm từ, câu) mà còn có chức năng biểu thị mối quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng

Hoàng Phê (2003, tr.937) cho rằng ““thì” biểu

thị quan hệ tiếp nối giữa hai sự việc, sự việc này xảy ra xong là tiếp nối ngay đến sự việc kia.” Trong bản dịch “Hồng Lâu Mộng”, các nhóm

từ này đã được dịch ra như sau:

(4) 正说着,只听丫鬟们说:

Bản dịch: Tập Nhân đương nói thì a hoàn vào báo.

(5) 正说着,只见一群人簇着凤姐出来了。

Bản dịch: Họ đương nói chuyện thì một đám

người đưa Phượng Thư ra

(6) 正说着,只见宝钗那边笑道:

Bản dịch: Đương nói thì Bảo Thoa ở đằng kia

cười nói:

Trong tác phẩm “Hồng Lâu Mộng”, một số từ

“只见” được dịch thành “thì”, ngoài ra còn xuất hiện bản dịch “thì (quan hệ từ) + có (động từ biểu

thị sự tồn tại)”

(7) 宝钗方欲说话时,只见王夫人房内的丫 头来说:

Bản dịch: Bảo Thoa đương muốn nói thêm, thì

có a hoàn bên Vương phu nhân đến nói.

Trong ví dụ (7), phía trước là nêu lên nội dung, phần quan trọng nằm ở phía sau, biểu đạt sự xuất hiện của một sự việc mới

Trong câu tiếng Trung của ví dụ (4), (5), (6), (7) thì nội dung trọng tâm của câu nằm ở phía sau

“只见” nhưng khi dịch sang tiếng Việt, nội dung câu trở nên bình đẳng giữa hai vế câu, nội dung toàn câu biến thành câu quan hệ, từ “thì” là tác nhân nối giữa các mệnh đề đó lại và biểu đạt các

sự việc xảy ra liên tiếp nhau

Trang 4

Theo quan điểm ngữ pháp chức năng của Cao

Xuân Hạo (1991, tr.126), những trường hợp bắt

buộc phải dùng “thì”: “Khi giữa các từ ngữ đặt ở

chỗ tiếp xúc giữa Đề và Thuyết có thể ngẫu nhiên

hình thành một mối quan hệ làm sai nghĩa của

câu, làm cho câu trở thành vô nghĩa, hoặc không

thành câu nữa”.

Từ những câu dịch tiếng Việt (4), (5), (6), (7)

cho thấy, từ “thì” dẫn ra mối quan hệ giữa hai

mệnh đề và không thể lược bỏ Trong ví dụ (5),

nếu lược bỏ từ “thì”: “Họ đương nói chuyện một

đám người đưa Phượng Thư ra” Câu này sẽ được

hiểu rằng: “Họ đang nói về câu chuyện một đám

người đưa Phượng Thư ra” Nội dung khác hoàn

toàn so với văn bản gốc trong “Hồng Lâu Mộng”

Từ đó cho thấy, câu dịch trong tiếng Việt tương đối

phụ thuộc vào quan hệ từ, nếu thiếu thành phần

này thì nghĩa câu sẽ thay đổi

Có thể nói, nhóm “thoại đầu” tiếng Trung

mang chức năng “dẫn ra tình hình mới” sau khi

dịch thành quan hệ từ “thì” đã biến đổi chức năng,

đồng thời làm thay đổi kết cấu và chức năng câu

Dịch như vậy là hiểu sai về “thoại đầu” Chúng tôi

cho rằng, trước hết phải hiểu đúng chức năng của

nhóm “thoại đầu” này, từ đó tìm được cách dịch

phù hợp với văn phong của người Việt

Với những “thoại đầu” mang chức năng “dẫn

ra tình hình mới” có thể dịch thành “bỗng”

Xét từ phương diện ngữ nghĩa, “bỗng” biểu đạt

hành động xảy ra đột nhiên, bất ngờ

Xét từ quan hệ ngữ pháp, “bỗng” có thể đứng

đầu câu hoặc giữa hai mệnh đề, không chỉ phù hợp

với văn phong người Việt, mà còn phù hợp với

chức năng “thoại đầu” tiếng Trung và giữ nguyên

được ý nghĩa trong bản gốc

3.2 Dịch thành động từ tiếng Việt

Kết cấu chính của nhóm “thoại đầu” này là

“忽/只 (phó từ) + 动词 (động từ)” Trong tiếng

Trung, nhóm này đã bị chuyển hóa mang chức

năng của “thoại đầu”, chứ không phải chức năng của “phó từ + động từ” nữa Tuy vậy, nhóm này đã được dịch thành động từ thính giác hoặc động từ thị giác tiếng Việt

Những “thoại đầu” được dịch thành động từ tiếng Việt gồm có “只见”, “只听”, “忽听”, “忽

见”… Thân Tiểu Long (1993) khi nghiên cứu “câu quan hệ” trong tác phẩm “Thủy Hử” cho rằng,

“只见” là một loại “thoại đầu” Ngoài ra, Lã Cát Ninh (2004) khi nghiên cứu “Hồng Lâu Mộng” đã kết luận rằng, những câu có “只见” đứng trước kết cấu câu và những câu không có “只见” đứng trước kết cấu câu đều có ý nghĩa giống nhau, “只

见” không có vai trò ngữ nghĩa Lý Tương (2007), Tăng Kiểm Hồng (2010) cũng đã chỉ ra rằng, “只

见” có chức năng “dẫn ra tình hình mới” Chúng tôi tiến hành đối chiếu “只 + động từ” với bản dịch tiếng Việt thì thấy phần lớn được dịch thành động từ thính giác, thị giác như: “nghe”, “thấy”,

“trông”, “trông thấy”… Ví dụ:

(8) 进入门来,只见有十数个大橱,皆用封 条封着。

Bản dịch: Đi vào trong cửa thấy mười mấy cái

tủ lớn đều niêm phong cẩn thận

(9) 翻身看时,只见袭人和衣睡在衾上。

Bản dịch: Giở mình trông ra, thấy Tập Nhân

mặc cả áo nằm ngủ trên đệm

(10) 一齐来至马前,只听苇中有人呻吟。

Bản dịch: Rồi cùng đến chỗ buộc ngựa, nghe

trong đám sậy có người rên rỉ

(11) 又行了半日,忽见街北蹲着两个大石 狮子,三间兽头大门,门前列坐着十来个华冠 丽服之人。

Bản dịch: Đi một lúc lâu, trông thấy đường

phía bắc có hai con sư tử đá quỳ, ba gian cổng chính có chạm đầu thú, trước cửa chừng mười người mũ áo chỉnh tề đứng xếp hàng

Trang 5

Trong tiếng Trung, nhóm “thoại đầu” này có

chức năng là dẫn ra “tình hình mới”, là thành phần

phụ trợ của câu Các “thoại đầu” sau khi được dịch

thành động từ đều đã biến đổi chức năng, biến

thành vị ngữ động từ, có chức năng thuật lại sự

việc Các động từ này còn có thể đứng trước kết

cấu chủ vị

Ngoài ra, nhóm “thoại đầu” này còn được dịch

thành kết cấu “chợt (phó từ) + động từ (thính

giác/thị giác)”, biểu thị hành động xảy ra nhanh,

chớp nhoáng

(12) 忽听唿的一声帘子响,晴雯又跑进来

问道:

Bản dịch: Chợt nghe tiếng rèm “soạt” một cái,

Tình Văn chạy vào hỏi:

(13) 这士隐正痴想,忽见隔壁葫芦庙内寄

村者走了出来。

Bản dịch: Sĩ Ẩn đương lúc vẩn vơ suy nghĩ,

chợt trông thấy một nhà nho nghèo, ở trọ trong

miếu Hồ Lô, bên cạnh nhà mình, họ Giả tên Hóa,

tên chữ là Thời Phi, biệt hiệu Vũ Thôn, đi đến

Từ những câu trên cho thấy, “thoại đầu” sau

khi được dịch thành động từ đã biến đổi chức

năng, “thoại đầu” đã trở thành động từ chính của

câu, phía sau đều là bổ ngữ

Thậm chí còn có trường hợp biến “thoại đầu”

thành vị ngữ động từ chi phối toàn bộ câu, phía

trước thêm vào chủ ngữ để làm rõ nghĩa câu:

(14) 一直到了宁国府前,只见府门洞开,

两边灯笼照如白昼,乱烘烘人来人往,里面哭

声摇山振岳。

Bản dịch: Đến phủ Ninh, Bảo Ngọc thấy cửa

phủ mở toang, đèn đuốc sáng như ban ngày, người

đi lại tấp nập Trong nhà tiếng khóc ầm lên, tưởng

như rung động cả rừng núi

Bản dịch thêm vào chủ ngữ “Bảo Ngọc” mà bản gốc không có, “thoại đầu” “只见” được dịch

thành “thấy” và chỉ đích danh Bảo Ngọc thấy “只

见” trong bản gốc có ý dẫn ra nội dung phía sau chứ không phải chỉ hành động của một đối tượng nào đó Chúng tôi cho rằng, sở dĩ bản dịch thêm vào chủ ngữ vì hiểu sai trong văn cảnh đó người

“thấy” là “Bảo Ngọc” và hiểu sai chức năng của

“只见” thành động từ chính của câu

Tương tự cách dịch có thể tham khảo phần 3.1, chúng tôi không nhắc lại Ngoài ra, khi biểu đạt chức năng “dẫn ra tình hình mới” có thể dùng từ

“chợt” cũng biểu đạt được ý nghĩa này Tuy nhiên

cần lưu ý về trật tự từ trong câu

3.3 Dịch thành phó từ

Nhóm “thoại đầu” mang chức năng này còn được dịch thành phó từ, nhưng có sự biến đổi về trật tự từ, vị trí của bản dịch và bản gốc khác nhau,

ví dụ:

(15) 忽见宝钗走来,因问:

Bản dịch: Bảo Thoa chợt đến hỏi.

Trong câu (15), “忽见” tu sức cho toàn bộ nội dung câu “宝钗走来,因问”, chứ không phải tu sức riêng “Bảo Thoa” hay động từ “đến hỏi” phía sau Chúng tôi đồng ý rằng, “忽见” dịch thành

“chợt” là đúng nhưng vị trí của “chợt” không phải

đứng sau “Bảo Thoa” mà nên đứng đầu câu

So sánh hai cách dịch:

Chợt Bảo Thoa đến hỏi (Tự dịch) (1) Bảo Thoa chợt đến hỏi (Bản dịch) (2) (宝钗

Hai cách dịch trên có sự khác biệt lớn: Câu

trong bản dịch (2) “chợt” nhấn mạnh đến động từ

phía sau, mà người tạo ra hành động ấy là “Bảo Thoa”, đây là câu chủ vị; còn câu trong bản dịch (1)

là câu vị từ, nhấn mạnh đến toàn bộ nội dung câu

phía sau “chợt”, giống chức năng trong bản gốc

Trang 6

Chúng tôi cho rằng, “忽见” có thể tham khảo

cách dịch 3.1 hoặc dịch thành “chợt” nhưng cần

lưu ý vị trí của “thoại đầu” trong bản gốc và bản

dịch Sự so sánh trên đây cho thấy, trật tự từ trong

câu quyết định đến việc hiểu ý nghĩa của câu tiếng

Trung và tiếng Việt

4 “THOẠI ĐẦU” MANG CHỨC NĂNG

“CHUYỂN Ý”

Nhóm này thường gồm các từ sau đây: “却说”,

“如今且说”, “话说”, “且说”… Ví dụ:

(16) 却说娇杏这丫鬟,便是那年回顾雨村

者。

Bản dịch: Nói đến Kiều Hạnh là người năm

trước đã ngoảnh lại nhìn Giả Vũ Thôn

(17) 如今且说林黛玉自在荣府以来,贾母

万般怜爱,寝食起居,一如宝玉、迎春、探

春、惜春三个亲孙女倒且靠后。

Bản dịch: Nay nói Lâm Đại Ngọc từ khi đến phủ

Vinh, được Giả mẫu thương yêu muôn phần, ăn ở đi

đứng, nhất nhất đều như Bảo Ngọc, ngay Nghênh

Xuân, Thám Xuân, Tích Xuân cũng không bằng

(18) 且说次日午间,人回道:“请的那张先

(Bản dịch: Trưa hôm sau, người gác cửa vào

trình: “Trương tiên sinh đã đến”)

(19)话说史湘云跑了出来,怕林黛玉赶

上,宝玉在后忙说:

(Bản dịch: Sử Tương Vân sợ Đại Ngọc đuổi

theo, chạy đi ngay Bảo Ngọc ở đằng sau nói:)

Trong số những từ được dịch thì đa số dịch

thành “nói đến” hoặc “nay nói” Trong cụm từ

này, “nói” là động từ trung tâm, “nói đến” là chỉ

hướng, hướng câu chuyện, hướng đến người hoặc

sự vật cần nhắc đến

Trong tiếng Việt, “nói đến” thường hướng đến

sự việc không tích cực hoặc dùng ở thể phủ định

Ví dụ:

Nói đến thế mà nó vẫn không nghe (Hoàng

Phê, 2003, tr.310)

“Nói đến” còn thường đi kèm luôn thể phủ định để tạo nên cụm từ “nói gì + đến”:

Anh em nó còn chẳng giúp, nói gì đến người

dưng (Hoàng Phê, 2003, tr.733)

Chúng tôi cho rằng, với nhóm có chức năng

“chuyển ý” rất khó để tìm kiếm được một từ ngữ phù hợp về cả chức năng và nghĩa Nhóm này mang tính chất khá đặc thù trong ngôn ngữ của người Trung Quốc, trong tiếng Việt rất hiếm khi

sử dụng nên việc lược dịch nhóm này tương đối hợp lý

5 KẾT LUẬN

Khảo sát cho thấy, “thoại đầu” được dịch thành: kết cấu chủ vị, kết cấu giới từ + danh từ (tương đương khởi ngữ tiếng Việt), quan hệ từ, động từ

và phó từ Về mặt chức năng, chỉ có “khởi ngữ” là mang trọn vẹn nội dung của “thoại đầu”, các cách dịch khác tuy hợp văn phong Việt Nam nhưng khi đối chiếu với bản gốc đã đánh mất ý nghĩa ban đầu

và không đúng chức năng của “thoại đầu”

“Thoại đầu” có chức năng “dẫn ra quan điểm” được bản dịch lý giải đúng và không làm biến đổi chức năng câu

“Thoại đầu” có chức năng “dẫn ra tình hình mới” được dịch thành quan hệ từ, động từ và phó

từ Điều này cho thấy, bản dịch chưa lý giải đúng chức năng của nhóm này Khi dịch thành quan hệ

từ trong câu đã biến “thoại đầu” thành từ liên kết giữa các mệnh đề hoặc các câu với nhau; khi dịch thành động từ đã biến “thoại đầu” thành vị ngữ chính của câu; khi dịch thành phó từ, vị trí của

“thoại đầu” và bản dịch không giống nhau, vì thế,

“thoại đầu” trở thành thành tố phụ cho vị từ Sự

lý giải như vậy đều làm biến đổi chức năng của

Trang 7

AN INVESTIGATION ON HOW TO TRANSLATE “CHINESE HUATOU”

IN “THE DREAM OF RED MANSIONS”

NGUYEN THI LUYEN, PHAN THANH HOANG Abstract: Chinese “Huatou” is the starting element in the sentence Its relationship to the whole

sentence structure is very fragmentary, even if this component is excluded, the sentence can still exist “Huatou” has many different functions such as: expressing a viewpoint, introducing

a new situation or transfering of new ideas The article explores the use of “Huatou” in several authentic Chinese texts and its equivalents in the translated versions by Vietnamese translator Vu Boi Hoang The research results demonstrate that “Huatou” is used in various structures such as preposition + adjective, adjective + adjective + verb, conjuctives, verbs and adverbs The article hopes to provide a new translation method, contributing a small part in Chinese-Vietnamese translation vice versa, without losing the intended meaning of the original texts, in accordance with Vietnamese style

Keywords: translation, the Dream of Red Mansions, functional grammar, huatou

Received: 05/10/2018; Revised: 28/11/2018; Accepted for publication: 25/02/2019

“thoại đầu” tiếng Trung và biến đổi loại hình câu

Chúng tôi cho rằng, khi gặp nhóm “thoại đầu” này

có thể dịch thành “bỗng”, “bỗng nhiên” hoặc

“chợt” nhưng cần lưu ý về vị trí của “thoại đầu”

trong bản gốc và bản dịch

“Thoại đầu” có chức năng “chuyển ý” khó tìm

được từ ngữ vừa giữ được chức năng của “thoại

đầu” vừa phù hợp cách biểu đạt của tiếng Việt

Chúng tôi cho rằng, nhóm này nên lược dịch

Tiêu chuẩn của dịch là Tín, Đạt, Nhã nhưng

để đạt được Đạt và Nhã thì trước hết cần phải Tín

Bài viết xem xét cách dịch thông qua ngữ pháp

chức năng, hy vọng đóng góp phần nhỏ trong quá

trình chuyển thể nguyên tác từ tiếng Trung sang

tiếng Việt, vừa không mất đi ý nghĩa của nguyên

tác, vừa phù hợp với văn phong tiếng Việt./

Tài liệu tham khảo:

Diệp Quang Ban (1981), Bàn về vấn đề khởi ngữ (hay

chủ đề) trong tiếng Việt, NXB Đại học và Trung học

chuyên nghiệp, Hà Nội.

Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng -

Từ ghép - Đoản ngữ, NXB Đại học và Trung học

chuyên nghiệp, Hà Nội.

Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng: Quyển 1, NXB khoa học xã hội, Hà Nội Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963), Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, Đại học Huế, Huế Hoàng Phê (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng,

Đà Nẵng.

董秀芳 (2007), 汉语书面语中的话语标记“只见”, 南

开语言学刊 , (02):74-78+155。 李芳杰 (1992), 说“话头”,语言教学与研究, (03):

88-107。

与研究出版社,语文出版社,北京。

学出版社,长春。

究集刊,(02):298-311+360。

Ngày đăng: 09/03/2021, 07:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w