Nói tóm lại, trong quá trình giảng dạy, giảng viên đảm trách môn phải chú trọng lựa chọn nội dung trọng điểm để giảng dạy, áp dụng phương pháp giảng dạy linh hoạt, phù h[r]
Trang 1ĐỖ TIẾN QUÂN * ; NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO **
* Học viện Khoa học Quân sự, quandovn@yahoo.com
** Học viện Khoa học Quân sự, fangcao1075@gmail.com
Ngày nhận bài: 10/5/2019; ngày sửa chữa: 04/6/2019; ngày duyệt đăng: 10/8/2019
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nâng cao chất lượng dạy học là vấn đề trung
tâm của hoạt động giảng dạy Có rất nhiều nhân tố
ảnh hưởng đến mục tiêu giảng dạy, ví dụ như quan
niệm dạy, nội dung dạy, phương pháp dạy, giảng
viên và học viên, sinh viên,… trong đó, phương
pháp dạy là nhân tố ảnh hưởng nổi bật nhất trong
quá trình hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy, đồng
thời cũng có tác động vô cùng quan trọng đối với
việc bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học
viên, sinh viên
Là môn kiến thức chuyên ngành ngôn ngữ
Trung Quốc, “Tiếng Trung Quốc cổ đại” nhằm bồi
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN “TIẾNG TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI” TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ
TÓM TẮT
Là môn kiến thức chuyên ngành, “Tiếng Trung Quốc cổ đại” nhằm bồi dưỡng, nâng cao năng lực đọc và phân tích văn bản cổ, nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Trung Quốc cổ đại, bổ sung vốn kiến thức văn hóa thời cổ đại của Trung Quốc cho học viên, sinh viên Do đó, việc cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản để hiểu đúng môn tiếng Trung Quốc cổ đại, đặt nền móng vững chắc cho để phát triển các kỹ năng khác trong giai đoạn đại học là vô cùng quan trọng Bằng phương pháp thực chứng và phương pháp lịch sử, dựa trên cơ sở thực tiễn, chúng tôi đưa ra một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn "Tiếng Trung Quốc cổ đại" tại Học viện Khoa học Quân sự dưới góc độ người dạy
Từ khóa: chất lượng, phương pháp dạy, tiếng Trung Quốc cổ đại
dưỡng, nâng cao năng lực đọc và phân tích văn bản cổ, nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Trung Quốc cổ đại, bổ sung vốn kiến thức văn hóa thời
cổ đại của Trung Quốc cho học viên, sinh viên Nói một cách chính xác, nội dung để học tập
và nghiên cứu trong môn “Tiếng Trung Quốc cổ đại” là “Ngôn ngữ viết thời thượng cổ được hình thành từ cơ sở khẩu ngữ thời kỳ trước triều đại Tần và trong các tác phẩm mô phỏng phong cách
cổ đại của các tác gia sau này, mà hiện nay hay được chúng ta gọi là Văn ngôn (文言)” (李玲
璞, 1990, tr 1) Trên cơ sở đó, các trường đại học Trung Quốc cũng đã xuất bản nhiều giáo trình Trong đó, giáo trình “Tiếng Trung Quốc cổ đại”
Trang 2(古代汉语)do Từ Tông Tài, Lí Văn (徐宗
才、李文) chủ biên, là tài liệu tham khảo hàng
đầu cho hầu hết các giảng viên trong và ngoài
Trung Quốc khi giảng dạy các kiến thức có liên
quan đối với người nước ngoài học tiếng Trung
Quốc hiện nay Đối với Học viện Khoa học Quân
sự (HVKHQS) nói riêng và các trường Đại học
có chuyên ngành ngôn ngữ Trung Quốc của Việt
Nam nói chung, giáo trình này nhìn chung cũng
luôn là lựa chọn số một cho giảng viên đảm trách
môn “Tiếng Trung Quốc cổ đại” tham khảo Ngoài
ra, căn cứ vào chương trình, mục tiêu, yêu cầu đào
tạo đặc thù, HVKHQS cũng biên soạn, xuất bản
cuốn giáo trình “Tiếng Trung Quốc cổ đại” Đây
là cuốn giáo trình do giảng viên có kinh nghiệm
lâu năm của Khoa tiếng Trung Quốc, HVKHQS
biên soạn Do đó, việc lựa chọn hai bộ giáo trình
này vào dạy môn “Tiếng Trung Quốc cổ đại”
cho học viên, sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ
Trung Quốc tại HVKHQS là hoàn toàn có cơ sở
Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, hai bộ
giáo trình trên còn có những hạn chế nhất định,
như: Tỉ lệ các dạng bài còn có sự chênh lệch; quy
phạm chưa thống nhất, một số dạng bài có độ khó
tương đối cao, lượng bài quá nhiều và chưa phù
hợp với thời lượng chương trình đào tạo…Ngoài
ra, “Tiếng Trung Quốc cổ đại” là môn học ngôn
ngữ, nội dung học tập và nghiên cứu là ngôn ngữ,
hơn nữa lại là thứ ngôn ngữ có thời gian cách xa
hiện tại Thêm vào đó là những vấn đề như thời
gian lên lớp của môn học tương đối ít (01 học
phần, 02 đơn vị học trình, 45 tiết), nội dung cần
dạy nhiều, môi trường giảng dạy còn bị hạn chế,
người học không thích học, hoặc thấy khó học…
Vậy làm thế nào để giải quyết thỏa đáng các vấn
đề trên, đồng thời nâng cao được tính tích cực và
chủ động của học viên, sinh viên, đó đều là những
câu hỏi hiện hữu mà mỗi một giảng viên đảm trách
môn “Tiếng Trung Quốc cổ đại’ phải đối mặt Điều
này đòi hỏi người dạy phải tìm ra phương pháp
phù hợp nhất để mang tới chất lượng đào tạo cao
hơn, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đào tạo
2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN “TIẾNG TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI” TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ
2.1 Lựa chọn nội dung trọng điểm
Theo chương trình chi tiết môn học, “Tiếng Trung Quốc cổ đại” là môn học nhằm bồi dưỡng, nâng cao năng lực đọc và phân tích văn bản cổ, nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Trung Quốc
cổ đại, bổ sung vốn kiến thức văn hóa thời cổ đại của Trung Quốc cho học viên, sinh viên
Nội dung gồm: giới thiệu các kiến thức chung
về tiếng Trung Quốc cổ đại, tuyển giảng một số tác phẩm tiếng Trung Quốc cổ đại, trên cơ sở đó phân tích cách dùng từ loại(词类), các hiện tượng ngữ pháp đặc trưng, so sánh sự tương đồng và dị biệt với tiếng Trung Quốc hiện đại trên các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
Với lượng lớn các bài và kiến thức trong giáo trình, tài liệu (20 bài, 20 tác phẩm cùng với những kiến thức liên quan trong giáo trình chính), cùng với số lượng giờ lên lớp có hạn, việc lựa chọn các nội dung trọng điểm để giảng dạy là hết sức cấp thiết Ví dụ, đối với 20 tác phẩm tiếng Trung Quốc
cổ đại cách xa hiện nay hàng nghìn năm trong giáo trình chính, đây là những tác phẩm tiếng Trung Quốc cổ đại có sự khác biệt lớn đối với tiếng Trung Quốc hiện đại, vì thế trong quá trình giảng dạy, nên chọn và giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu của thời kỳ này, như chỉ lựa chọn các trích giảng trong “Tả truyện” (左传), “Chiến quốc sách” (战国策), “Quốc ngữ” (国语), “Lão Tử” (老
子), “Luận ngữ” (论语), “Sử ký” (史记) làm trọng điểm giảng dạy, do các trích đoạn này đã mang đầy
đủ các các kiến thức cơ bản về các mặt như ngữ pháp, từ vựng, chữ viết, âm vận, tu từ,…Đối với các tác phẩm khác như Trang Tử (庄子), Mạnh Tử (孟子), Hán Thư (汉书),… thì chỉ cần tìm những trích dẫn, ví dụ trong giáo trình chính và tài liệu tham khảo phù hợp với trọng điểm giảng dạy để minh họa thêm cho vấn đề, mà giảng viên thấy phù hợp và cần thiết Như vậy, với 6 trích giảng và
Trang 3các vấn đề trọng điểm tương ứng, sẽ đáp ứng được
yêu cầu về thời lượng cũng như nội dung cần giải
quyết của học phần
2.2 Lựa chọn các điểm ngữ pháp nổi bật
Tiếng Trung Quốc là ngôn ngữ đơn lập, từ
không có sự thay đổi về hình thái, do đó các hư từ
và trật tự từ cực kỳ quan trọng để thể hiện quan hệ
ngữ pháp và ý nghĩa ngữ pháp Một trong những
điểm nổi bật về sự khác biệt của tiếng Trung Quốc
cổ đại và hiện đại là sự thay đổi trật tự từ giữa dạng
thức nghi vấn, dạng thức phủ định và ngữ điệu
Đơn cử như trong tiếng Trung Quốc thời Tiên Tần,
đại từ làm tân ngữ trong câu phủ định luôn đặt ở
phía trước động từ, và sau từ phủ định, ví dụ:
(1)三岁贯汝,莫我肯顾。(《诗经·魏
风·硕鼠》)(Tam tuế quán nhữ, mạc ngã khẳng
cố/ Bao nhiêu năm nay ta đã nuôi dưỡng ngươi,
nhưng ngươi lại không thèm để ý đến sự sống chết
của ta)
Đại từ nghi vấn làm tân ngữ trong đa số các
trường hợp luôn đứng trước động từ trong câu nghi
vấn, ví dụ:
隐公元年》(Vương giả thục vị? vị Văn Vương dã/
Nói đến quốc vương là nói đến ai? Chính là nói
đến Văn Vương)
Đại từ nghi vấn làm tân ngữ không đứng phía
trước chỉ trong một số trường hợp sau:
Một là, khi làm tân ngữ của động từ “云”,
hoặc trong câu có sử dụng động từ“谓”, ví dụ:
Hạ vân hà?/ Tử Hạ nói gì?)
僖公十五年》)(Tần Bá viết: Quốc vị quân hà?/
Tần Vương nói: “Người trong nước cho rằng quốc
vương của các người sẽ bị đối xử như thế nào?”)
Hai là, khi làm tân ngữ của giới từ “于”, ví dụ:
(Lễ khởi vu hà dã?/ Lễ được sinh ra trong tình huống như thế nào?)
Ba là, khi “何” độc lập làm tân ngữ của các động từ “如”, “若”, tạo thành một kết cấu cố định thì tân ngữ này có thể đứng trước, cũng có thể đứng sau động từ, ví dụ:
渊》)(Sĩ hà như tư khả vị chi đạt hĩ/ Kẻ sĩ làm thế nào mới được gọi là đạt?)
公二十年》)(Cổ nhi vô tử, kỳ lạc nhược hà?/ Giả dụ cổ nhân không chết, thì có phải vui vẻ biết bao nhiêu không?)
Sau thời Hán, xu thế đặt đại từ nghi vấn làm tân ngữ không đứng trước động từ trở nên nhiều hơn, ngoài các tình huống như đã nói ở trên, các trường hợp khác cũng có thể không cần đặt tân ngữ trước động từ, ví dụ:
(《史记·儒林列传》)(Thang, Vũ bất đắc dĩ nhi lập, phi thọ mệnh vi hà?/ Thành Thang, Chu
Vũ Vương bất đắc dĩ mới tự lên làm thiên tử, đó không phải là theo ý trời thì là gì?)
Giảng viên phải nhấn mạnh vấn đề này thành một trọng điểm trong quá trình lên lớp Đồng thời việc giảng dạy không nên chỉ dừng lại ở việc chỉ
ra hiện tượng tân ngữ nằm ở phía trước, mà còn phải giải thích nguyên nhân tạo ra hiện tượng đó, tức là không thể chỉ nói “đó là cái gì”, mà còn phải giải thích “tại sao lại như vậy” Các nhà nghiên cứu hiện nay cũng đã đưa ra nhiều cách suy luận, giải thích cho nguyên nhân của sự thay đổi trật tự
từ này, tựu chung lại có bốn giả thuyết chính: Thứ nhất là giả thuyết về trật tự từ dạng S-O-V trong tiếng Trung Quốc cổ đại được bảo tồn cho đến ngày nay, đại diện cho giả thuyết này là Chương Thái Viêm, Hình Công Vãn, Vương Lực, Du Mẫn; Thứ hai là giả thuyết về nguyên nhân phức tạp hóa của vị ngữ, đại diện cho giả thuyết này là Ngụy Bồi Nguyên; Thứ ba là giả thuyết về trọng âm, đại
Trang 4diện cho giả thuyết này là Phùng Thắng Lợi; Thứ
tư là giả thuyết về sự lựa chọn phương thức biểu
đạt trọng điểm, đại diện cho giả thuyết này là Từ
Kiệt, Lí Anh Triết,…(刘志刚, 2008)
Chúng tôi cho rằng, cách giải thích của giả
thuyết thứ tư tương đối phù hợp với thực tiễn tiếng
Trung Quốc Sau khi khảo sát một lượng lớn các
ngôn ngữ, Từ Kiệt phát hiện thấy, các ngôn ngữ
thường áp dụng hai phương thức là “đưa thành
phần trọng điểm lên phía trước” và “thêm vào từ
đánh dấu trọng điểm” để thể hiện trọng điểm biểu
đạt, và cho rằng, trung tâm của phủ định là trọng
điểm của câu(路广,2004; 刘志刚,2008) Do
tiếng Trung Quốc thời kỳ Tiên Tần không có từ
phán đoán rõ rệt, cho nên lựa chọn phương thức
thứ nhất, tức là thành phần tân ngữ đưa lên phía
trước, tạo thành kết cấu SOV, nhằm nhấn mạnh ý
nghĩa trọng điểm trong câu Cùng với sự phát triển
của ngôn ngữ Hán từ văn ngôn sang bạch thoại,
hiện tượng đảo tân ngữ ngày càng ít gặp và cấu
trúc SOV chuyển thành SVO, tuy nhiên khi cần
nhấn mạnh vẫn có thể đưa tân ngữ lên trước Ví dụ:
(9) 酒喝了,饭也吃了,现在让我回去吧。
Như vậy, nếu giảng viên giảng dạy và phân
tích quy luật ngữ pháp về trật tự từ đặc biệt trên
trong tiếng Trung Quốc thời Tiên Tần như thế, học
viên, sinh viên sẽ hiểu được sâu hơn về nội dung
vấn đề cần học
2.3 Chú trọng giảng dạy từ vựng
Khi tìm hiểu nghĩa của các văn bản, điều quan
trọng nhất là tìm hiểu nghĩa của từ vựng, do đó,
phải đưa từ vựng trở thành một trong những trọng
điểm của việc giảng dạy Việc giảng dạy chữ Hán
cổ cũng nên chỉ là phần phụ trợ cho phần giảng
dạy từ vựng Trọng điểm của giảng dạy từ vựng là
làm cho học viên, sinh viên nắm được cách dùng
những từ thông dụng Bởi vì trong sự biến đổi và
phát triển của các yếu tố ngôn ngữ, yếu tố từ vựng
có sự biến đổi và phát triển nhanh nhất, sự khác
biệt giữa tiếng Trung Quốc cổ đại và tiếng Trung
Quốc hiện đại về ngữ nghĩa của từ, đặc biệt là các từ
thường dùng cũng rõ rệt nhất Như liên từ “所以” biểu thị mối quan hệ nhân quả trong tiếng Trung Quốc hiện đại, thế nhưng trong tiếng Trung Quốc
cổ đại, “所以” không phải là một từ, mà là một kết cấu gồm đại từ “所” và giới từ “以”, biểu thị nơi chốn, địa điểm xảy ra hành động; phương thức, phương pháp mà hành động áp dụng; nguyên nhân xảy ra một hành động, hành vi nào đó Ví dụ:
三 代 共 之 , 皆 所 以 明 人 伦 也 。 《 孟 子.滕文 公下》 (Hạ viết Hiệu, Thương viết Tự, Chu viết Tường; học tắc tam đại cộng chi, giai sở dĩ minh nhân luân dã/ Thời Hạ gọi là “Hiệu”, thời Thương gọi là “Tự”, thời Chu gọi là “Tường”, còn đối với nội dung học, thì ba thời này đều giống nhau, đều
là nơi làm cho con người hiểu được luân thường đạo lý) (Biểu thị địa điểm dạy con người hiểu được
quan hệ luân thường đạo lý)
之。《左传.襄公三十一年》。(Đại quan, đại
ấp sở dĩ tý thân dã, ngã viễn nhi mạn chi/ Quan lớn, đất lớn để dùng bảo vệ cho bản thân mình, tôi lại không màng đến và coi thường điều đó) (Biểu
thị phương thức bảo vệ bản thân);
《韩非子.存韩第二》(Kế giả, sở dĩ định sự dã, bất khả bất sát dã/ Mưu kế là phương pháp quyết định sự thành bại của công việc, không thể không tính toán kỹ)(Biểu thị phương pháp quyết định
sự việc);
dĩ văn loạn pháp, hiệp dĩ vũ phạm cấm, nhi nhân chủ kiêm lễ chi, thử sở dĩ loạn dã/ Nho giáo dùng văn để loạn pháp, kẻ võ hiệp thì dùng vũ lực để vi phạm lệnh cấm, mà chúa công lại dùng lễ để đối đãi, đó là nguồn gốc của bạo loạn quốc gia) (Biểu
thị nguyên nhân sản sinh sự hỗn loạn)
Nghiên cứu của Uông Duy Huy chỉ ra, bắt đầu
từ cuối thời Hán, đầu triều đại Ngụy Tấn, “所以” được dùng như một liên từ biểu thị quan hệ nhân
Trang 5quả Giai đoạn diễn biến của nó kéo dài trong suốt
thời kỳ Nam Bắc triều, cho đến nửa đầu thế kỷ thứ
8 thì hoàn tất, lúc này “所以” hoàn toàn trở thành
một liên từ biểu thị quan hệ nhân quả trong khẩu
ngữ tiếng Trung Quốc, cách dùng của nó không
khác gì so với “所以” trong tiếng Trung Quốc hiện
đại (汪维辉,2002,tr 31)
Xét tiếp ví dụ sau, tương đương với từ “eye”
trong tiếng Anh, tiếng Trung Quốc cổ đại dùng từ
“目”:
《诗经.国风.卫风》(Tần thủ nga mi, xảo tiếu sai
hề, mỹ mục phán hề/ Trán rộng mày nhỏ cong tinh
tế, nụ cười má lúm đồng tiền, đôi mắt đẹp đầy tình ý)
矣。《左传.文公十二年》(Sứ giả mục động nhi
ngôn tứ, cụ ngã dã, tướng độn hĩ/ Sứ giả tròng mắt
chuyển động liên hồi, ngôn ngữ bất thường, chứng
tỏ đang sợ chúng ta, và sắp tháo chạy đến nơi)
Thời Chiến Quốc xuất hiện từ “眼”, thế nhưng
trước thời Tây Hán, từ “眼” và từ “目” có sự khác
biệt về ngữ nghĩa, từ “眼” đa số dùng để chỉ nhãn
cầu, ví dụ:
《庄子.盗跖》(Tỉ Can phẫu tâm, Tử Tư quyết
nhãn, trung chi họa dã/ Tỉ Can bị moi tim, Tử Tư
bị móc mắt, đó đều là tai họa do chữ Trung).
吴也。《史记.吴世家》(Quyết ngô nhãn, chí chi
Ngôn đông môn, dĩ quan Việt chi diệt Ngô dã/ Hãy
móc mắt ta treo trên cửa Đông thành nước Ngô,
để ta chứng kiến ngày nước Việt diệt nước Ngô).
Theo nghiên cứu của Uông Duy Huy, sau thời
Đông Hán, không còn sự khác biệt về ngữ nghĩa
của “眼” và “目”, cuối thời Hán, “眼” đã thay thế
“目” trong khẩu ngữ, sau thời Lục Triều, sự thay
thế này đã hoàn tất trong ngôn ngữ viết Thế nhưng
sau đó “目” không hoàn toàn biến mất khỏi hệ
thống từ vựng văn viết văn ngôn Thời Đường bắt
đầu nói “眼睛”, tiếng Trung Quốc hiện đại thường
dùng “眼睛”, cũng có lúc chỉ dùng “眼”.(汪维 辉,2000,tr 31)
Hoặc xét trường hợp từ “谁” trong tác phẩm
“Sử ký” của Tư Mã Thiên.“谁” là từ hay xuất hiện trong tiếng Trung Quốc cổ đại, trong “Sử ký” cũng vậy Theo thống kê, từ “谁” được Tư Mã Thiên dùng tổng cộng 79 lần, trong đó có 66 lần dùng đơn, có 5 lần dùng trong từ phức, 8 lần dùng trong các kết cấu cố định khác
Trong 66 trường hợp dùng đơn lẻ, nếu xét theo ngữ nghĩa, có 7 trường hợp biểu thị sự lựa chọn,
ví dụ:
(18)天下谁最爱我者乎?(Thiên hạn thùy tối
ái ngã giả hồ?/ Trong thiên hạ ai là người yêu quý
ta nhất?) (19)三子之才能,谁最贤哉?(tam tử chi tài năng, thùy tối hiền tai?/ Tài năng của ba người này, ai là người hiền minh nhất?)
Xét về ý nghĩa, có 78 trường hợp “谁” dùng
để chỉ người, và chỉ có 1 câu dùng để chỉ vật (tên người), đó là:
也,主名为谁。(Chiếu triệu vấn sở vi trị bệnh
tử sinh nghiệm giả kỷ nhân dã, chủ danh vi thùy/ Hoàng đế hạ chiếu thư hỏi ông đã chữa trị bệnh, cứu sống hoặc làm chết bao nhiêu người, tên của
họ là gì).
Qua so sánh với từ “孰”, có thể thấy, trong thời Tiên Tần, “谁” được dùng chỉ người hơn khoảng 1,4 lần so với “孰”(胡继明,2005) Còn trong
“Sử ký”, qua trình bày ở phần trên, chúng tôi đã thấy có 78 lần “谁” được dùng chỉ người, 56 lần
“孰” được dùng chỉ người, vậy tỉ lệ này trong hai thời kỳ là tương đương nhau Về phương diện chỉ vật, thời Tiên Tần, “孰” được dùng nhiều hơn
“谁” (胡继明,2005) Trong “Sử ký”, chỉ có 01 lần “谁” được dùng chỉ vật, 25 lần “孰” được dùng chỉ vật, tỉ lệ này có sự chênh lệch áp đảo, đây cũng
là cách dùng phổ biến cho đến tận ngày nay Khi
biểu thị sự lựa chọn, trong “Sử ký” có 7 lượt dùng
Trang 6“谁”, đều dùng để chỉ người, có 16 lượt dùng “孰”,
số lượng này nhiều hơn 2 lần so với “谁” (Đỗ
Tiến Quân, 2017, tr 95)
Với cách giảng dạy những từ thường dùng xuất
phát từ góc độ lịch sử và so sánh như vậy, giảng
viên có thể giúp học viên, sinh viên có kiến thức
tương đối rõ ràng về diễn biễn ngữ nghĩa của các
từ thông dụng, từ đó có thể đọc, hiểu một cách
chính xác hơn các văn bản cổ, tiếp thu vốn văn hóa
cổ Trung Quốc một các tốt hơn
Ngoài ra, đối với các bài văn dài, như bài số
2 “Tô Tần dĩ liên hoàng thuyết Tần” (苏秦以连
横说秦), phải lựa chọn một số đoạn tiêu biểu để
giảng dạy, các đoạn còn lại được giải quyết qua các
buổi thảo luận, buổi tự học ngoài giờ chính khóa
Đối với các bài có liên quan đến thơ ca, như bài
17 “Quy viên điền cư”(归园田居), có thể lược
giảng phần văn trích, chú trọng giảng giải phần
luật thơ, luật từ, luật khúc Phần thường thức về
văn hóa cổ đại có thể làm tài liệu tham khảo, yêu
cầu học viên, sinh viên tự nghiên cứu
Nói tóm lại, trong quá trình giảng dạy, giảng
viên đảm trách môn phải chú trọng lựa chọn nội
dung trọng điểm để giảng dạy, áp dụng phương
pháp giảng dạy linh hoạt, phù hợp với từng nội
dung cụ thể, chú trọng đến nguyên tắc kết hợp giữa
nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, dẫn dắt và
giúp học viên, sinh viên tổng hợp những tri thức
tản mát, phi hệ thống về tiếng Trung Quốc cổ đại
trước đây trở thành một vốn tri thức mang tính hệ
thống, đồng thời cũng cần phải chú ý gợi mở cho
học viên, sinh viên từ góc độ lịch sử, bồi dưỡng
quan niệm lịch sử về ngôn ngữ cho người học
2.4 Phối kết hợp với các môn học khác
Trong chương trình đào tạo cử nhân ngoại
ngữ ngành ngôn ngữ Trung Quốc, các môn học
về cơ bản đã có tính liên kết và bổ trợ chặt chẽ
cho nhau Vì thế, việc phối kết hợp với các môn
học khác trong quá trình giảng dạy môn “Tiếng
Trung Quốc cổ đại” là điều phải được các giảng
viên suy nghĩ và tính toán đến một cách thấu
đáo Ví dụ như khi giảng về văn tự (文字), có nội dung nguồn gốc của văn tự, kết cấu, hình dạng, diễn biến của hình, âm và nghĩa chữ Hán, trong
đó, phần quan hệ giữa hình, âm và nghĩa rất quan trọng, nhưng môn “Ngữ âm-văn tự Trung Quốc” cũng có những nội dung như thế, hoặc nội dung
về chữ giản thể, phồn thể, ngữ pháp,…thì môn học “Từ vựng học tiếng Trung Quốc”, “Cú pháp học tiếng Trung Quốc” cũng có một số phần liên quan Vì thế, nếu giảng viên không nắm bắt được chỉnh thể chương trình đào tạo của chuyên ngành
và những kiến thức có liên quan đã được trình bày trong các môn học khác của chuyên ngành, từ đó không lựa chọn được các trọng điểm để giảng dạy Đồng thời không chú ý đến sự phối hợp với các môn học khác, thì nội dung giảng dạy tất yếu sẽ trở thành quá sức, chồng chéo, nặng nề, nhưng lại không thể đi sâu vào vấn đề chính, làm cho người học mệt mỏi, khó hiểu, hoặc quá sức để hiểu và nắm bắt, vận dụng Trên thực tế, khi biên soạn các giáo trình, tài liệu, để đảm bảo tính hệ thống, thống nhất, thì các vấn đề có liên quan đến tiếng Trung Quốc cổ đại chắc chắc sẽ được các tác giả đưa vào Nhưng khi thiết kế và thực hiện chương trình chi tiết môn học, giảng viên phải đứng trên góc độ tổng thể bao quát vấn đề chuyên ngành giảng dạy,
từ đó lựa chọn hoặc lược bỏ các vấn đề giảng dạy cho phù hợp Ví dụ như khi đề cập đến nội dung các tác phẩm tiếng Trung Quốc cổ đại trong giảng dạy, chúng tôi đề nghị người học trước khi đọc các bài nguyên tác trong giáo trình “Tiếng Trung Quốc
cổ đại”, thì phải xem lại, đọc lại các bài nguyên tác trong “Giáo trình văn học cổ đại Trung Quốc”
Do hai cuốn giáo trình này có nhiều bài trùng lặp, nên người học có thể dùng cảm quan và góc độ tìm hiểu tác phẩm văn học để tìm hiểu, nắm bắt về nguyên tác dưới góc độ từ vựng, tu từ, cú pháp,… của tiếng Trung Quốc cổ đại Việc đọc lại các tác phẩm đã học trong “Giáo trình văn học cổ đại Trung Quốc” giúp người học ôn lại những tri thức
đã học, từ đó khắc phục được tâm lý sợ khó, mở rộng nội dung đọc, tăng lượng đọc hiểu, đồng thời
bổ sung những lượng kiến thức cần thiết khác về văn bản tiếng Trung Quốc cổ đại Như thế, việc giảng dạy văn bản trong giáo trình “Tiếng Trung
Trang 7Quốc cổ đại” sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian
hơn, chú trọng hơn về những phần trọng điểm như
từ vựng, sự khác biệt về ngữ pháp…
2.5 Sử dụng các phương pháp giảng dạy
hiện đại
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin nói riêng
và khoa học công nghệ nói chung đang tác động
mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành
trong đời sống xã hội Trong bối cảnh đó, để công
tác giảng dạy môn “Tiếng Trung Quốc cổ đại” đáp
ứng được đòi hỏi cấp thiết của công tác giáo dục
trong thời đại mới, chúng ta cần cải cách phương
pháp giảng dạy môn học này theo hướng vận dụng
công nghệ thông tin, phương tiện truyền thông đa
phương tiện và các trang thiết bị dạy học hiện đại
phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực
hành để nâng cao chất lượng dạy học
Theo chương trình đào tạo, chỉ có 45 tiết dành
cho môn “Tiếng Trung Quốc cổ đại, nhưng giáo
trình “Tiếng Trung Quốc cổ đại” của HVKHQS
lại gồm 20 bài, giáo trình “Tiếng Trung Quốc cổ
đại” dùng để bổ trợ của Từ Tông Tài, Lí Văn gồm
25 bài Như thế, thời gian giảng viên giảng các
nội dung chính và thời gian mà học viên, sinh
viên suy nghĩ để tiếp thu kiến thức đã học sẽ là
quá ít Cứ như thế, giảng viên luôn thấy rằng thời
gian dạy quá gấp gáp, học viên, sinh viên thì cho
rằng nội dung học quá nhiều Nếu được trang bị
các phương tiện giảng dạy hiện đại, như đưa vào
sử dụng máy chiếu, màn hình cảm ứng, các phần
mềm hỗ trợ,… ở khắp các tiết học, đưa các nội
dung trọng điểm, khung bài giảng và lượng lớn
các ví dụ bổ sung thành PPT cho học viên, sinh
viên quan sát trên màn hình lớn, sẽ không chỉ tiết
kiệm được thời gian viết bảng, làm nổi bật được
nội dung giảng dạy, mà còn có thể cung cấp một
môi trường đọc văn bản cổ cho học viên, sinh viên
Ví dụ như trong phần trên, khi giảng dạy đến trật
tự từ trong tiếng Trung Quốc cổ đại, giảng các từ
ngữ “所以”, “眼”, “目” và các ví dụ có liên quan,
giảng viên có thể đưa đầy đủ lịch sử diễn biến của
từ, ngữ nghĩa, cách dùng và các ví dụ vào PPT để
chiếu cho học viên, sinh viên quan sát, dẫn dắt gợi
mở cho họ dùng phương pháp quy nạp, so sánh đối
chiếu để rút ra kết luận, thời gian ghi chép thường nhật sẽ được dùng để suy nghĩ thực hiện các thao tác thực tế
Kỹ thuật đa phương tiện là công nghệ hiện đại kết hợp chữ viết, âm thanh, hình ảnh thành một khối thống nhất, nếu biết tận dụng đầy đủ điều này,
có thể đạt được hiệu quả cao đến không ngờ Các tác phẩm thời trước Tần thường xuất hiện các đồ vật như đỉnh (鼎), cái đỉnh lớn (鼐), chén (爵), bát (豆), bát làm bằng trúc (笾), nếu chỉ dựa vào sự miêu tả qua ngôn ngữ, thì rất dễ nghe nhầm, hiểu nhầm, thế nhưng khi đưa hình ảnh những đồ vật
đó lên màn hình, cùng với ngữ nghĩa từ vựng được giải thích một cách ngắn gọn ngay ở phía dưới, người học sẽ có nhận thức sâu sắc hơn về hình dáng, kích thước, công dụng của chúng, hiểu rõ hơn về nghĩa của từ Ví dụ như cung (宫), thương (商), giác (角), chủy (徵), vũ (羽) là cách gọi của người Trung Quốc cổ đại đối với ngũ âm, nếu chỉ dựa vào sự miêu tả bằng ngôn ngữ thì học viên, sinh viên sẽ thấy quá khó hiểu, mông lung, mơ hồ, nhưng nếu giảng viên có thể dùng âm thanh kết hợp với hình ảnh diễn tả chữ và nghĩa bằng phầm mềm để miêu tả ý nghĩa của 5 từ này, học viên, sinh viên sẽ dễ dàng lĩnh hội được ngữ nghĩa của chúng, đồng thời cũng làm tăng hứng thú học tập Khi giảng đến các văn bản thư tịch cổ, vì không thể có điều kiện cho học viên, sinh viên tiếp xúc trực tiếp với bản gốc, nếu có điều kiện, giảng viên nên tìm kiếm, tổng hợp và trình chiếu các hình ảnh, băng đĩa tư liệu về các văn bản thư tịch
cổ này trên lớp, điều này giúp học viên, sinh viên quan sát được hình ảnh gốc của văn bản, thư tịch
cổ, từ đó nảy sinh hứng thú tìm hiểu những kiến thức trong văn bản, thư tịch cổ đó, điều quan trọng
là trong các thư tịch cổ này, các câu chưa được đánh dấu câu và phân chia một cách rõ rệt, học viên, sinh viên có thể tận dụng điều đó để luyện tập đọc và phân tích câu, góp phần nâng cao kỹ năng đọc và khả năng tìm hiểu văn bản, thư tịch cổ của bản thân
Tất nhiên, việc áp dụng các thao tác đa phương tiện như trên cũng phải căn cứ vào nội dung cụ thể của từng bài học Đồng thời, chúng tôi kiến