Tuy nhiên, nếu các công cụ CSTT có thể kiểm soát được lãi suất ngắn hạn và thị trường tiền tệ phát triển, sẽ không có lý do gì để NHTW quay trở lại sử dụng mục tiêu hoạt động dựa t[r]
Trang 1Tổng quan về cơ chế điều hành lãi suất tại một số quốc gia
THỰC TIỄN & KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Bùi Quốc Dũng
Phạm Vũ Thăng Long
Ngày nhận: 01/11/2017 Ngày nhận bản sửa: 03/11/2017 Ngày duyệt đăng: 10/11/2017
Trong bài viết này, nhóm tác giả trình bày về kinh nghiệm
điều hành lãi suất của một số quốc gia điển hình, là ngân
hàng trung ương (NHTW) các quốc gia có cơ chế điều hành
lãi suất tiên tiến nhất trên thế giới, hoặc có quan hệ thương
mại chính với Việt Nam, hoặc trong cùng khu vực châu Á
hoặc ASEAN có điều kiện địa lý hoặc chính trị tương đồng
Bài viết tập trung phân tích cơ chế lãi suất đặt trong khuôn
khổ chung của chính sách tiền tệ (CSTT), được phân loại
dựa trên mục tiêu của CSTT theo định nghĩa của Quĩ Tiền tệ
Quốc tế (IMF) năm 2016 Cụ thể, cơ chế lãi suất của NHTW
các quốc gia Singapore, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines,
Hàn Quốc, Thụy Điển và Mỹ trong khuôn khổ CSTT dựa vào
neo tỷ giá, tổng cung tiền mục tiêu, lạm phát mục tiêu hoặc
đa mục tiêu, tùy theo điều kiện phát triển để đảm bảo tối
ưu hóa được các mục đích trong bộ ba tam giác bất khả thi
(lãi suất, tỷ giá, và dòng vốn) tại NHTW các nước này Kinh
nghiệm của các NHTW những nước này sẽ là bài học giá trị
để Việt Nam thao khảo, vận dụng trong xây dựng, điều hành
CSTT quốc gia.
Từ khóa: Cơ chế điều hành lãi suất, cơ chế truyền dẫn chính
sách tiền tệ
1 Giới thiệu
rong khung khổ
CSTT, NHTW sử
dụng các công cụ
CSTT (phương tiện thanh khoản, nghiệp vụ thị trường
mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc…) để đạt được mục tiêu hoạt động,
từ đó hướng tới mục tiêu trung
gian và cuối cùng là mục tiêu của CSTT là ổn định giá cả (lạm phát), tăng trưởng GDP
Cụ thể, từ mục tiêu trung gian (bao gồm ba loại hình chính theo phân loại của IMF là mục tiêu tỷ giá, mục tiêu tiền tệ và mục tiêu lạm phát), NHTW sẽ thiết lập mục tiêu hoạt động của CSTT, tương ứng với mục tiêu trung gian, thường
là thông qua những công cụ/ biến số CSTT mà NHTW có thể tác động mạnh và tức thì
để nhằm qua đó đạt được mục tiêu trung gian Mục tiêu hoạt động được chia làm hai loại chính, mục tiêu dựa vào giá (thông qua công cụ lãi suất qua đêm và ngắn hạn khác), mục tiêu dựa vào khối lượng tiền tệ Theo Andrea (2001), mục tiêu hoạt động dựa vào giá (thông qua lãi suất ngắn hạn) có thể được sử dụng cho bất cứ mục tiêu trung gian nào, tuy nhiên, mục tiêu hoạt động dựa trên khối lượng chỉ phù hợp cho mục tiêu trung gian là tiền tệ, và trong một
số trường hợp, là mục tiêu tỷ giá Nghiên cứu của Ho (2008)
Trang 2cho 17 NHTW các quốc gia
được cho là có tính đại diện
cao (bao gồm các nước phát
triển, mới nổi, đang phát triển
và trải đều ở các châu lục) cho
thấy trừ các nước có độ mở
kinh tế rất lớn, không kiểm
soát dòng vốn (Hong Kong,
Macao, Singapore) và áp dụng
CSTT theo mục tiêu tỷ giá (do
đó không thể áp đặt các mục
tiêu lãi suất một cách độc lập),
thì ở các nước còn lại, bất kể
mục tiêu hoạt động là gì, đều
sử dụng mục tiêu hoạt động
dựa vào giá (lãi suất) Ngay cả
Trung Quốc đang kết hợp cả
mục tiêu hoạt động theo giá
và lượng, thì các công cụ điều
hành lãi suất ngày càng trở
nên quan trọng
2 Vai trò của việc lựa chọn
mục tiêu trung gian trong
việc quyết định mục tiêu
hoạt động của chính sách
tiền tệ
Dưới khung khổ tỷ giá mục
tiêu và tài khoản vốn mở (ví
dụ như Singapore), lãi suất
được điều chỉnh để duy trì
neo tỷ giá, hoặc khi NHTW
thực hiện chính sách can thiệp
không trung hòa (làm thay đổi
cung tiền)
Dưới khung khổ mục tiêu
tiền tệ, mục tiêu hoạt động
dựa theo khối lượng tiền tệ là
lựa chọn phù hợp đối với các
quốc gia có thị trường tiền tệ
còn kém phát triển và NHTW
không có các công cụ lãi suất
mục tiêu, và trong trường hợp
lạm phát cao, sự liên kết giữa
tăng trưởng cung tiền và lạm
phát là gần và nhanh chóng
hơn Do nguồn tạo tiền là
từ tăng trưởng tín dụng của
NHTW cho chính phủ hoặc khu vực ngân hàng, việc kiểm soát lạm phát yêu cầu giảm tăng trưởng tiền cơ sở Mục tiêu hoạt động dựa vào giá (lãi suất ngắn hạn) được lựa chọn khi hệ số nhân tiền dao động mạnh và làm suy yếu mối liên
hệ giữa tiền cơ sở và tổng cung tiền
Một số quốc gia khi chuyển đổi từ cơ chế tỷ giá cố định sang cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn, NHTW sử dụng đồng thời khung khổ mục tiêu tỷ giá và tiền tệ Khi sự quan tâm của CSTT là mục tiêu tỷ giá, mục tiêu hoạt động phù hợp nhất
là lãi suất ngắn hạn; khi biên
độ tỷ giá được nới rộng và sự quan tâm hướng về tổng cung tiền, NHTW có thể cân nhắc
sử dụng khối lượng tiền tệ mục tiêu Tuy nhiên, nếu các công cụ CSTT có thể kiểm soát được lãi suất ngắn hạn và thị trường tiền tệ phát triển, sẽ không có lý do gì để NHTW quay trở lại sử dụng mục tiêu hoạt động dựa trên khối lượng
Dưới khung khổ mục tiêu lạm phát, mục tiêu hoạt động dựa
vào giá (lãi suất ngắn hạn) là lựa chọn tối ưu
3 Cơ chế điều hành lãi suất tại một số quốc gia điển hình
3.1 Ngân hàng trung ương Singapore (MAS)
Kể từ năm 1981, CSTT của Singapore tập trung vào quản
lý tỷ giá Mục tiêu hàng đầu của CSTT của MAS là ổn định giá cả, làm nền tảng cho tăng trưởng bền vững Theo MAS,
mục tiêu tỷ giá cho thấy là một công cụ trung gian lý tưởng
của CSTT, trong bối cảnh một
nền kinh tế nhỏ và mở như Singapore Mục tiêu này có thể được kiểm soát bằng cách can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối và có một mối quan hệ ổn định và dự báo được giữa mục tiêu tỷ giá với
ổn định giá cả (lạm phát), là mục tiêu cuối cùng của CSTT trong trung hạn.
Do MAS không kiểm soát mục tiêu lãi suất, lãi suất cho vay
và tiền gửi đối với phương tiện
hỗ trợ thanh khoản (Standing facility) của MAS được quyết định bởi thị trường Cụ thể, lãi suất tham chiếu là lãi suất tiền gửi trung bình của các thành viên tạo lập thị trường chính (primary dealers) trên thị trường tiền tệ cho khoản tiền gửi 500 triệu SGD qua đêm
Để không khuyến khích các tổ chức tài chính dựa vào phương tiện hỗ trợ thanh khoản, lãi suất cho vay của phương tiện thanh khoản là lãi suất trần, cao hơn 0,5% lãi tham chiếu, trong khi đó lãi suất tiền gửi hỗ trợ thanh khoản là lãi suất sàn, thấp hơn 0,5% lãi suất tham chiếu, nhưng không thấp hơn 0%, tạo hành lang lãi suất Các giao dịch
vay bằng phương tiện thanh khoản phải có tài sản đảm bảo, thường là chứng khoán chính phủ Singapore (Singapore Government Securities)
Theo MAS, cơ chế điều hành CSTT dựa vào tỷ giá đã chứng
tỏ là một công cụ kiềm chế lạm phát hiệu quả cho nền kinh tế Singapore Trong vòng vài chục năm kể từ khi áp dụng khuôn khổ này, lạm phát trong nước được duy trì ở mức khá thấp, trung bình 1,9%/năm
Trang 3cho giai đoạn 1981-2010 Do
kết quả của việc duy trì được
tỷ lệ lạm phát thấp trong thời
gian dài, kỳ vọng vào ổn định
giá cả ngày càng trở nên vững
chắc
3.2 Ngân hàng Nhân dân
Trung Quốc (PBoC)
PBoC bắt đầu chức năng
NHTW năm 1984, và kể từ đó,
CSTT được sử dụng để cân
bằng cung cầu tiền tệ Thời
điểm đó, kiểm soát tín dụng
trực tiếp thông qua các biện
pháp hành chính được sử dụng
để điều hành CSTT, ví dụ
kiểm soát tín dụng và tiền mặt
để kiểm soát và điều chỉnh nền
kinh tế, để ngăn ngừa lạm phát
và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
Kể từ những năm 90, phương
pháp quản lý tài chính vĩ mô
đã bắt đầu thay đổi Với việc
bỏ trần tín dụng vào tháng
1/1998, và sự mở rộng hoạt
động thị trường mở, CSTT
cũng chuyển từ kiểm soát tín
dụng trực tiếp, thiên về hành
chính, sang các biện pháp
gián tiếp, dựa trên thị trường
Trong giai đoạn chuyển đổi
này, các mục tiêu trung gian
và hoạt động cũng chuyển
sang cung tiền (mục tiêu
trung gian) và tiền cơ bản,
với sự phối hợp của các công
cụ CSTT như nghiệp vụ thị
trường mở, yêu cầu về dự trữ
bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu
và cho vay, lãi suất cơ bản của
NHTW Đồng thời cùng với
sự phát triển của thị trường
tiền tệ, cơ chế truyền dẫn từ
“NHTW sang thị trường tiền
tệ, tổ chức tài chính, doanh
nghiệp (cá nhân)” dần được
định hình, và nhiều tiến bộ đã
đạt được trong việc phát triển
cơ chế truyền tải gián tiếp, sử dụng các công cụ tiền tệ để ảnh hưởng mục tiêu hoạt động,
từ đó ảnh hưởng các mục tiêu trung gian và cuối cùng là đạt
được mục tiêu cuối cùng- ổn định giá trị đồng tiền và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Kết
quả là, hệ thống quản lý CSTT được cải thiện
Các CSTT kể từ những năm
90 đến nay của PBOC có thể
xem là sự kết hợp các công
cụ điều hành theo khối lượng (quantity-based) và theo giá (price-based) Các công cụ
chính sách chính mà thị trường theo dõi bao gồm tỷ lệ dự trữ bắt buộc (RRR), lãi suất cho vay và tiền gửi, các công cụ trên thị trường mở (OMO), và chỉ tiêu cho vay (loan quotas), cũng như các công cụ khác ít được theo dõi hơn bao gồm can thiệp trên thị trường ngoại hối, và các biện pháp hành chính khác
Cũng như các NHTW khác, PBoC thay đổi lãi suất mục tiêu, nhưng không giống các NHTW ở các nước phát triển chỉ quản lý lãi suất ngắn hạn của đường cong lãi suất (ví dụ như lãi suất Fed fund rates), PBoC có xu hướng kiểm soát hầu hết các kỳ hạn lãi suất và loại lãi suất (cả cho vay và huy động) Sự kiểm soát hoàn toàn này được nới lỏng khi sàn lãi suất cho vay được gỡ
bỏ vào tháng 7/2013 Trước
đó, vào tháng 10/2004, PBoC
đã bỏ trần lãi suất cho vay
và sàn lãi suất huy động Lãi suất huy động là khâu trọng yếu nhất của cơ chế lãi suất,
do vậy tự do hóa lãi suất huy động sẽ được thực hiện cuối
cùng khi điều kiện chín muồi
để giảm thiểu rủi ro, tháng 10/2015 trần lãi suất huy động
là sự hạn chế cuối cùng cũng
đã được dỡ bỏ, tạo điều kiện cho việc hình thành một hành lang lãi suất, là cốt lõi cho việc định hình một khuôn khổ CSTT mới tại PBoC Việc chính thức hình thành được hành lang lãi suất sẽ hoàn tất quá trình PBoC chuyển đổi khuôn khổ CSTT từ dựa theo khối lượng sang theo giá (lãi suất)
Mặc dù vậy, Trung quốc vẫn tiếp tục thiếu vắng lãi suất chuẩn trong giai đoạn đầu của tự do hóa lãi suất, chưa thiết lập được đường cong lãi suất đáng tin cậy để làm tham chiếu cho thanh khoản, rủi ro
và lãi suất Việc thiếu vắng lãi suất chuẩn sẽ làm cho sự hình thành của cơ chế truyền dẫn lãi suất trở nên khó khăn (cơ chế truyền dẫn hiệu quả
về cơ bản sẽ gồm các bước sau: lãi suất tham chiếu của PBOC sẽ ảnh hưởng đến lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, làm thay đổi lãi suất cho vay trên thị trường tín dụng bán lẻ, và cuối cùng ảnh hưởng tới nền kinh tế thực) Cuối cùng là vấn đề với việc PBoC phải thực hiện đa mục tiêu, thay vì chỉ tập trung vào mục tiêu duy nhất là lạm phát hoặc có nhiệm vụ rõ ràng là bình ổn giá cả và tối ưu hóa
tỷ lệ việc làm PBoC có sáu (06) mục tiêu: lạm phát thấp, tăng trưởng kinh tế hợp lý, tạo việc làm, cán cân thanh toán cân bằng, ổn định tài chính và cải tổ cấu trúc Do đó, phương pháp tiếp cận của PBoC phải dựa trên mức độ cấp bách và
Trang 4quan trọng của từng mục tiêu
để điều chỉnh chính sách cho
phù hợp
3.3 Ngân hàng trung ương
Thái Lan (BOT)
BOT đã công bố áp dụng
khuôn khổ lạm phát mục tiêu
vào tháng 5/2000, với mục tiêu
chính là ổn định giá cả Kèm
theo đó là yêu cầu về sự cải
tổ thể chế để khuôn khổ lạm
phát mục tiêu có thể hoạt động
thành công, BOT nhìn nhận
rằng lạm phát mục tiêu sẽ giúp
tái thiết sự tin tưởng và độ tin
cậy của NHTW và CSTT
Sau khi Hội đồng CSTT
(Monetary Policy Board-
MPB) đưa ra mục tiêu lạm
phát, BOT điều chỉnh lãi suất
chính sách để đạt được mục
tiêu này bởi các công cụ trên
thị trường mở Lãi suất chính
sách thay đổi sẽ ảnh hưởng
toàn bộ nền kinh tế thông qua
05 kênh truyền dẫn chính, bao
gồm kênh lãi suất, tài sản, tín
dụng, tỷ giá và kênh kỳ vọng,
nhằm giữ lạm phát ở mức mục
tiêu
Trong khuôn khổ lạm phát
mục tiêu, BOT sử dụng lãi
suất của hợp đồng Repo song
phương (bilateral repurchase
agreement- BRP) kỳ hạn 14
ngày là lãi suất chính sách
giai đoạn 2000- 2006, kể từ
năm 2007, BOT đã chuyển
sang sử dụng kỳ hạn 01 ngày
(qua đêm) là lãi suất chính
sách Sự thay đổi này nhằm
giúp lãi suất chính sách có thể
phản ánh tốt hơn sự quản lý
thanh khoản kỳ hạn ngắn của
các tổ chức tài chính trong
thị trường tiền tệ và cho phép
lãi suất ngắn hạn có thể dịch
chuyển cùng với kỳ vọng của thị trường MPB đưa dấu hiệu thay đổi CSTT bằng cách đưa
ra thông báo về việc thay đổi lãi suất chính sách trên OMO
Với việc lạm phát kỳ vọng trong năm 2017 và 2018 được
dự báo ở mức thấp (lần lượt là 0,8% và 1,6%), MPB đã biểu quyết để duy trì lãi suất chính sách ở mức 1,5% nhằm tiếp tục thực hiện CSTT nới lỏng
để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đưa lạm phát về mức mục tiêu
BOT sử dụng nhiều công cụ CSTT để thực hiện quyết định
về lãi suất của MPB, chủ yếu bao gồm: yêu cầu dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở,
và phương tiện hỗ trợ thanh khoản (standing facilities),
trong đó nghiệp vụ thị trường
mở là công cụ cơ bản được sử dụng để duy trì lãi suất chính sách BOT có 4 loại OMO:
hợp đồng mua bán lại (repo) song phương (BRP- là công cụ xác định lãi suất chính sách), phát hành trái phiếu/ tín phiếu BOT, hoán đổi tỷ giá, và mua đứt bán đoạn chứng khoán nợ (outright purchase/sale of debt securities)
Lãi suất của phương tiện hỗ trợ thanh khoản qua đêm được duy trì ở biên độ ±0,5%/
năm quanh lãi suất chính sách (lending facility- lãi suất cho vay qua đêm là lãi suất trần- cap, deposit facility- lãi suất tiền gửi qua đêm là lãi suất sàn- floor) Việc áp mức lãi suất trần- sàn cho các phương tiện hỗ trợ thanh khoản này được thiết kế để đảm bảo hành lang lãi suất đủ rộng để khuyến khích các thành viên thị trường tự điều chỉnh thanh khoản trên thị trường liên ngân
hàng (giữa các thành viên), đồng thời đủ hẹp để lãi suất thị trường sẽ dao động trong một khoảng chấp nhận được
Tóm lại, trong lịch sử phát triển của BOT, họ đã không ngừng cải tổ các cơ chế cũng như công cụ truyền dẫn CSTT tương ứng, từ việc neo đồng THB trước năm 1997, đến việc thả nổi đồng THB sau năm
1997 và áp dụng CSTT theo cung tiền mục tiêu (điều khiển theo lượng) và cuối cùng là
áp dụng lạm phát mục tiêu kể
từ 2000 đến nay, ngay cả khi
áp dụng lạm phát mục tiêu, họ cũng không ngừng thay đổi các công cụ CSTT cũng như các chỉ tiêu về lạm phát, từ lạm phát cơ bản cho đến lạm phát toàn phần Tương tự như
ở nhiều nước phát triển khác, kênh truyền dẫn lãi suất vẫn
là kênh có nhiều tác động nhất đến nền kinh tế thực qua các chỉ số lạm phát và sản lượng,
và kênh giá tài sản đang ngày càng trở nên quan trọng hơn
3.4 Ngân hàng trung ương Philippines (BSP)
Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, khung khổ điều hành CSTT của một
số nước chuyển từ khung khổ mục tiêu tiền tệ sang khung khổ lạm phát mục tiêu để nâng cao hiệu lực điều hành CSTT
và phù hợp với điều kiện thực
tế trong và ngoài nước thay đổi Từ tháng 1/2002, CSTT của Philippines được điều hành theo khung khổ lạm phát mục tiêu, theo đó, mục tiêu CSTT của BSP là “thúc đẩy sự
ổn định về giá để tăng trưởng kinh tế cân bằng và bền vững”
Trang 5Để đạt được mức lạm phát
mục tiêu, BSP sử dụng một
bộ công cụ CSTT để điều
hành CSTT Lãi suất mua lại
nghịch đảo (RRP) hay lãi suất
đi vay là công cụ CSTT quan
trọng hàng đầu của BSP Dù
chuyển sang khung khổ lạm
phát mục tiêu với công cụ điều
hành chủ yếu là hành lang lãi
suất nhưng BSP vẫn tiếp tục
sử dụng một số công cụ CSTT
khác bao gồm: Cơ chế đấu giá
tiền gửi có kỳ hạn (TDF); Cho
vay qua đêm (OLF) và tiền gửi
qua đêm (ODF); Dự trữ bắt
buộc; Mua/bán chứng khoán
của chính phủ do BSP nắm
giữ
Ngày 3/6/2016, BSP đã chính
thức thông qua khung khổ
điều hành CSTT là hệ thống
hành lang lãi suất là để định
hướng các lãi suất thị trường
ngắn hạn theo lãi suất mua
lại nghịch đảo qua đêm (lãi
suất chính sách) của BSP Lãi
suất trần là cho vay qua đêm
(hiện là 3,5%/năm), lãi suất
sàn là lãi suất tiền gửi qua đêm
(2,5%/năm) và lãi suất trung
tâm là lãi suất cho vay nghịch
đảo qua đêm (3%/năm)
Khi triển vọng lạm phát có
khả năng vượt lạm phát mục
tiêu, BSP tăng lãi suất RRP
khiến lãi suất thị trường tăng
để hạn chế tiêu dùng và đầu
tư, từ đó tác động giảm tổng
cầu và giảm lạm phát Ngược
lại, khi triển vọng lạm phát
thấp hơn hoặc trong phạm vi
lạm phát mục tiêu, BSP giảm
lãi suất RRP, dẫn đến lãi suất
thị trường giảm nhằm khuyến
khích tiêu dùng và đầu tư, từ
đó tác động tăng tổng cầu và
tăng lạm phát
3.5 Ngân hàng trung ương Hàn Quốc (BOK)
Trước khủng hoảng tiền tệ năm 1997, mục tiêu trung gian của CSTT của BOK là tổng cung tiền theo M1 hoặc M2
Sau khủng hoảng tiền tệ, Hàn Quốc đã phải chấp nhận gói giải cứu tài chính của IMF với điều kiện về thay đổi CSTT, theo đó, BOK đã áp dụng tổng cung tiền theo M3 Đồng thời, Hàn Quốc đã sửa Luật BOK vào cuối năm 1997, áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu,
và công bố mục tiêu lạm phát
Kể từ năm 2016, lạm phát được đặt ở khoảng 2% với biên độ dao động được phép là
±0,5%, thay vì neo theo một con số cố định, tạo ra sự linh hoạt Sau nhiều lần điều chỉnh,
kể từ giai đoạn 2007 đến nay, chỉ số lạm phát được sử dụng
là chỉ số giá tiêu dùng toàn phần- headline CPI
Lãi suất cơ bản (Base rate) được BOK sử dụng làm lãi suất chính sách tham chiếu,
áp dụng cho các giao dịch trên OMO giữa BOK và các
tổ chức tài chính đối với các hợp đồng Repo (repurchase agreements) và các khoản tiền gửi và cho vay điều chỉnh thanh khoản của BOK (BOK’s liquidity adjustment deposits and loans) Lãi suất cơ bản là lãi suất đối với các hợp đồng Repo kỳ hạn 7 ngày mà BOK bán cho (vay) các tổ chức tài chính, và là lãi suất tối thiểu
mà BOK mua hợp đồng Repo
kỳ hạn 7 ngày Theo đó, lãi suất tiền gửi (lãi suất sàn) và cho vay (lãi suất trần) điều chỉnh thanh khoản của BOK được đặt lần lượt ở mức 100
điểm cơ bản dưới và trên lãi suất cơ bản Đây là hai công
cụ chính của phương tiện hỗ trợ thanh khoản (lending and deposit facilities) Mức lãi suất này khuyến khích các tổ chức tài chính cho vay hoặc huy động trên thị trường liên ngân hàng trước khi tìm đến BOK, giúp tạo ra một hành lang lãi suất (interest rate corridor), đồng thời tạo ra van
an toàn cho hệ thống (safety valve).
Hội đồng CSTT của BOK (Monetary Policy Board- MPB) họp 08 lần trong 1 năm để quyết định lãi suất cơ bản, dựa trên các yếu tố về sự chuyển động của giá cả, tình hình thị trường tài chính và nền kinh tế trong và ngoài nước cũng như các yếu tố khác
Lãi suất cơ bản có tác động tức thì lên lãi suất qua đêm liên ngân hàng (call rate), và điều này dẫn tới sự thay đổi của lãi suất ngắn và dài hạn, lãi suất huy động và cho vay, do vậy
có tác động lên các hoạt động của nền kinh tế thực
BOK sử dụng hoạt động OMO chủ yếu để điều chỉnh lãi suất qua đêm liên ngân hàng, là mục tiêu hoạt động của CSTT của BOK Cụ thể, hoạt động
OMO được sử dụng để điều chỉnh thiếu hụt hoặc dư thừa vốn tạm thời bởi các tổ chức tài chính xung quanh “lãi suất
cơ bản”, thông qua 3 cách thức: giao dịch chứng khoán, phát hành và mua lại Trái phiếu ổn định tiền tệ (MSBs- Monetary Stabilization Bonds), và thông qua các khoản tiền gửi của ngân hàng thương mại tại Tài khoản ổn định tiền tệ (MSA- Monetary
Trang 6Stability Account).
Nghiên cứu của Soyoung Kim
và Yung Chul Park (2006)
đã chỉ ra rằng chính sách lạm
phát mục tiêu, thông qua kiểm
soát lãi suất qua đêm liên ngân
hàng (call rate) bằng các công
cụ trên OMO, đã đạt hiệu quả
trong việc duy trì ổn định giá
cả Mức độ cũng như sự biến
động của lạm phát đã giảm sau
khi áp dụng khuôn khổ lạm
phát mục tiêu
3.6 Ngân hàng trung ương
Thụy Điển (Riksbank)
Sau thời kỳ tăng trưởng nóng,
lạm phát tăng mạnh, thị trường
ngoại hối và tỷ giá biến động,
ngày 19/11/1992, Riksbank
đã từ bỏ chính sách tỷ giá cố
định, chuyển sang chính sách
tỷ giá thả nổi, cho phép tỷ giá
đồng krona dao động và được
xác định trên thị trường ngoại
hối Từ ngày 15/01/1993,
Riksbank công bố điều hành
CSTT nhằm đạt mục tiêu ổn
định giá cả Tuy nhiên sau
khi tỷ giá được thả nổi, krona
bị giảm giá so với các đồng
tiền khác, đồng thời thuế gián
thu có một số thay đổi đã gây
áp lực lên lạm phát, do đó
Riksbank tuyên bố sẽ bắt đầu
áp dụng khung khổ lạm phát
mục tiêu từ năm 1995
Lãi suất repo là lãi suất cho vay
của các ngân hàng và lãi suất
các loại chứng khoán bị tác
động bởi cả lãi suất repo thực tế
và lãi suất repo dự kiến
Việc điều chỉnh lãi suất repo
tác động đến lạm phát và nền
kinh tế theo cơ chế truyền
dẫn Cơ chế truyền dẫn thực
tế không phải là một mà nhiều
cơ chế tương tác với nhau
Tùy theo cơ chế truyền dẫn
mà tác động đến lạm phát với mức độ và thời gian hiệu lực nhất định Về cơ bản, việc điều chỉnh lãi suất repo có ảnh hưởng lớn nhất đến lạm phát sau một đến hai năm
Ngay khi Riksbank thay đổi lãi suất repo, lãi suất qua đêm các ngân hàng vay mượn nhau trong ngày cũng thay đổi theo
Với mục đích làm cho CSTT
có thể dự đoán được, Riksbank thường xuyên xuất bản dự báo lãi suất repo để tác động đến kỳ vọng về CSTT trong tương lai
Lãi suất cho vay của các ngân hàng và lãi suất các loại chứng khoán bị tác động bởi cả lãi suất repo thực tế và lãi suất repo dự kiến Nếu dự kiến lãi suất repo sẽ tăng, lãi suất thị trường có thể tăng trước khi lãi suất repo chính thức được điều chỉnh Sau đó, khi lãi suất repo được nâng lên sẽ không nhất thiết có bất cứ tác động nào lên lãi suất thị trường nếu
mà chỉ đơn thuần là xác nhận
kỳ vọng của thị trường
3.7 Khuôn khổ chính sách tiền tệ đa mục tiêu: Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed)
Tại Mỹ, Cục Dự trữ liên bang
Mỹ (FED)- với vai trò là NHTW, thực hiện điều hành CSTT nhằm đạt được 3 mục tiêu theo Luật định là “tối đa hóa việc làm, ổn định giá cả, lãi suất dài hạn ở mức vừa phải” Điều này yêu cầu CSTT hướng tới mục tiêu rộng hơn
đó là thúc đẩy nền kinh tế Mỹ phát triển và ổn định
Trong khi các mục tiêu CSTT của Mỹ được giữ nguyên trong nhiều năm thì các công cụ và
cách thức điều hành đã có sự thay đổi và phát triển theo thời gian Trước những năm 1990s, FED điều hành CSTT thông qua các công cụ truyền thống, bao gồm mua bán trái phiếu chính phủ trên OMO, tái cấp vốn cho các ngân hàng thông qua kênh chiết khấu, điều chỉnh dự trữ bắt buộc nhằm tác động lên mục tiêu trung gian là cung tiền Từ năm 1993, FED chính thức công bố chuyển mục tiêu điều hành CSTT từ cung tiền sang mục tiêu lãi suất mà cụ thể là lãi suất định hướng thị trường liên ngân hàng (Federal Funds Target Rate)
Trên thị trường liên ngân hàng, khi bị thiếu hụt tạm thời tiền gửi dự trữ bắt buộc tại Fed, các TCTD thường vay lẫn nhau từ phần vốn dự trữ bắt buộc dư thừa với mức lãi suất qua đêm (FFR- federal fund rate) Mức lãi suất cho vay qua đêm giữa TCTD đi vay và TCTD cho vay được hai bên thỏa thuận và xác định Bình quân gia quyền mức lãi suất các ngân hàng giao dịch với nhau được gọi là lãi suất cho vay qua đêm hiệu lực (The effective federal funds rate) Lãi suất cho vay qua đêm về
cơ bản do thị trường quyết định nhưng chịu tác động của Fed thông qua các hoạt động nghiệp vụ thị trường mở để hướng mức lãi suất này về mức lãi suất mục tiêu Trên thị trường tài chính Mỹ, FFR là mức lãi suất trung tâm, nó tác động đến các loại lãi suất khác như lãi suất cơ bản (là lãi suất các TCTD áp dụng đối với các khách hàng có xếp hạng tín nhiệm cao) Ngoài ra, FFR còn
Trang 7gián tiếp tác động đến các mức
lãi suất dài hạn như lãi suất
thế chấp, lãi suất tiết kiệm và
cho vay Việc điều chỉnh mức
lãi suất định hướng thị trường
liên ngân hàng và kỳ vọng của
các nhà đầu tư về việc Fed
nâng hoặc hạ mức lãi suất định
hướng trong tương lai tạo ra
sự thay đổi của hàng loạt các
mức lãi suất thị trường
Để hỗ trợ nền kinh tế trong
cuộc khủng hoảng tài chính
bắt đầu vào năm 2007 và trong
thời kỳ suy thoái kinh tế tiếp
theo, FED đã giảm mức lãi
suất định hướng thị trường liên
ngân hàng xuống gần bằng 0
vào cuối năm 2008 Sau đó
FED bắt đầu sử dụng những
công cụ phi truyền thống
bao gồm mua khối lượng lớn
chứng khoán dài hạn của chính
phủ để giảm áp lực lên lãi suất
dài hạn Ngoài ra, việc công
bố Báo cáo của FED về đánh
giá triển vọng nền kinh tế và
các dự định liên quan đến lãi
suất định hướng thị trường
liên ngân hàng đã trở thành
một công cụ chính sách quan
trọng Vào cuối năm 2014, khi
nền kinh tế có những cải thiện
đáng kể về việc làm, FED đã
công bố các yếu tố chính trong
kế hoạch bình thường hóa
CSTT khi đến thời điểm thích
hợp Vào cuối năm 2015, FED
bắt đầu chu kỳ điều chỉnh tăng
lãi suất định hướng thị trường
liên ngân hàng sau khi công
bố các điều kiện và triển vọng kinh tế đã đảm bảo để thực hiện quá trình bình thường hóa chính sách và nâng lãi suất từ mức 0-0,25%/năm lên mức 0,25-0,5%/năm FED tiếp tục thực hiện tăng lãi suất thêm
2 lần vào cuối năm 2016 và tháng 3/2017
Để đạt được các mục tiêu về tối đa hóa việc làm, ổn định giá cả, lãi suất dài hạn ở mức vừa phải theo luật định, FED thực thi CSTT phù hợp với điều kiện và triển vọng kinh
tế FED thay đổi CSTT chủ yếu bằng cách nâng hoặc hạ lãi suất định hướng thị trường liên ngân hàng, mức lãi suất cho vay qua đêm giữa các ngân hàng Giảm lãi suất định hướng là “nới lỏng”, còn tăng lãi suất định hướng là thắt chặt chính sách CSTT Khi các điều kiện trong nền kinh tế thay đổi, FED thường điều chỉnh lãi suất định hướng thị trường liên ngân hàng, từ đó tác động trực tiếp đến lãi suất của nền kinh
tế và tác động gián tiếp đến giá cổ phiếu, giá tài sản và tỷ giá hối đoái
Thông qua các kênh trực tiếp
và gián tiếp, CSTT tác động đến quyết định chi tiêu của các hộ gia đình và đầu tư của doanh nghiệp, do đó tác động đến tăng trưởng kinh tế, việc làm và lạm phát
4 Kết luận
Bài viết phác họa tóm tắt các nét chính về kinh nghiệm điều hành lãi suất ở một số quốc gia điển hình trên thế giới Qua
đó rút ra, thứ nhất, không có
khung khổ điều hành CSTT cũng như khung khổ điều hành lãi suất nào là tối ưu cho tất
cả các nước, mà tùy theo điều kiện thực tế của từng nước về đặc điểm của nền kinh tế, mức
độ phát triển của thị trường tài chính, nhất là thị trường tiền tệ, mà các quốc gia tự xây dựng cho mình khung khổ CSTT và lãi suất phù hợp cho
từng thời kỳ phát triển Thứ hai, cơ chế điều hành lãi suất
phụ thuộc vào sự lựa chọn của mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động của CSTT (theo giá- lãi suất, hoặc theo khối lượng), cùng với sự phát triển của hệ thống tài chính, cơ chế điều hành theo khối lượng sẽ dần mất đi vai trò và cơ chế điều hành theo mục tiêu lãi suất sẽ ngày càng được sử
dụng nhiều hơn Cuối cùng,
Việt Nam có thể vận dụng kinh nghiệm của các nước nêu trên trong quá trình chuyển đổi CSTT sang cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn, và sử dụng nhiều các công cụ về lãi suất hơn, trước mắt là trong việc thiết lập hành lang lãi suất và lãi suất tham chiếu cho thị trường ■
Tài liệu tham khảo
1 Andrea Schaechter (2001) “Implemenation of monetary policy and the central bank’s balance sheet”, IMF working paper, WP/01/149.
2 BIS (2008) Transmission mechanisms for monetary policy in emerging market economies, Monetary and Economic
Department, BIS Papers No.35.
3 BIS (2012) Foreign exchange policy and intervention under inflation targeting in Thailand, BIS Papers No.73
4 BOK (2016) Monetary Policy Report, Oct 2016.
5 BOT (2015) Monetary Policy Instruments, Monetary Operations Strategy Team, Financial Markets Operations Group, Feb 2015
6 BOT (2017) Monetary Policy Report, June 2017
7 Bank of Thailand, https://www.bot.or.th