Thứ ba, trên thế giới đã hình thành một số mô hình quản trị công ty (Hoàng Phương Anh, 2016) như: i) Mô hình quản trị lấy cổ đông làm trung tâm (gọi là mô hình Anglo- Saxon hay m[r]
Trang 1Áp dụng pháp luật quản trị công ty đối với
ngân hàng thương mại cổ phần: Thực trạng pháp luật và một số vấn đề đặt ra
CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH- TIỀN TỆ
Bùi Hữu Toàn
Ngày nhận: 24/01/2018 Ngày nhận bản sửa: 12/02/2018 Ngày duyệt đăng: 22/03/2018
Đặc thù của hoạt động quản trị ngân hàng thương mại cổ phần
(NHTMCP) liên quan đến cấp độ vi mô (các ngân hàng đơn lẻ) và
vĩ mô (sự ổn định hệ thống tài chính) Quản trị NHTMCP cần phải
hướng tới mục tiêu tăng cường sự ổn định của thị trường tài chính
thay vì chỉ quan tâm đến tối đa hóa lợi nhuận của cổ đông Tuy
nhiên, vấn đề quản trị công ty nói chung và đối với NHTMCP nói
riêng còn khá mới và đặt ra nhiều vấn đề đối với Việt Nam, trong đó
có khuôn khổ pháp luật về quản trị công ty Trong phạm vi bài viết,
tác giả đề cập đến quá trình phát triển quan niệm về quản trị công ty
tại Việt Nam, đánh giá khuôn khổ pháp luật và những vấn đề đặt ra
từ thực tiễn thực thi pháp luật về quản trị công ty đối với NHTMCP
ở Việt Nam hiện nay, là cơ sở cho các giải pháp hoàn thiện khuôn
khổ pháp luật và nâng cao vai trò quản trị các NHTMCP Việt Nam.
Từ khóa: Pháp luật quản trị công ty, ngân hàng thương mại cổ phần
1 Đặt vấn đề
Việt Nam, ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng
(TCTD) nhằm mục tiêu lợi nhuận (Khoản 3
Điều 4 Luật Các TCTD 2010) Về mô hình tổ
chức, “NHTM trong nước được thành lập, tổ
chức dưới hình thức công ty cổ phần” (Khoản
1 Điều 6 Luật Các TCTD 2010) Do đó, hoạt động quản trị NHTMCP vừa phải tuân thủ quy định pháp luật quản trị công ty (luật chung) và quy định của Luật Các TCTD (luật riêng áp dụng đối với doanh nghiệp có hoạt động ngân hàng), Luật Chứng khoán (luật riêng áp dụng đối với các doanh nghiệp có cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán) Hoạt động quản trị NHTMCP nhằm mục đích thiết lập cơ chế, quy trình để bảo đảm sự giám sát của cổ đông, nhà đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trang 2(NHNN) và thị trường đối với
hoạt động quản lý, điều hành
của người quản lý, điều hành
NHTMCP
Xuất phát từ đặc thù của
hoạt động ngân hàng, hoạt
động quản trị NHTMCP liên
quan đến cả hai cấp độ vi mô
(các ngân hàng đơn lẻ) và vĩ
mô (sự ổn định hệ thống tài
chính), bởi vì nó cung cấp
động lực để kiểm soát ngân
hàng, hiệu quả hóa việc kiểm
soát và khuyến khích niềm
tin của thị trường Ngoài ra,
trong thực tiễn thực hiện hoạt
động quản trị công ty, các
NHTMCP chịu sự can thiệp,
tác động trực tiếp từ phía cơ
quan giám sát ngân hàng- cơ
quan có nhiệm vụ đánh giá
lĩnh vực quản trị công ty của
từng ngân hàng, bao gồm cả
trình độ và đạo đức của các
nhà quản lý cấp cao (Hội đồng
quản trị, ban giám đốc) và cơ
quan này phải có đủ quyền
lực để can thiệp khi quản trị
công ty của ngân hàng bất
ổn Do đó, quản trị NHTMCP
cần phải hướng tới mục tiêu
tăng cường sự ổn định của
thị trường tài chính thay vì
tối đa hóa lợi nhuận của cổ
đông Khi tiếp cận quản trị
ngân hàng theo hướng này, cả
cộng đồng cũng như cổ đông
ngân hàng đều có lợi Đối với
cộng đồng, sự ổn định của
thị trường tài chính mang lại
những ảnh hưởng tích cực đối
với nền kinh tế và sau đó là
đối với toàn xã hội Đối với cổ
đông ngân hàng, việc không
hướng tới mục tiêu tối đa hóa
lợi nhuận đương nhiên mang
lại ít lợi nhuận hơn nhưng lại
tăng thêm tính an toàn cho các
khoản đầu tư của họ (Nguyễn Ngọc Cường, 2016) Trong phạm vi bài viết này, tác giả
đề cập đến quá trình phát triển quan niệm về quản trị công ty tại Việt Nam, đánh giá khuôn khổ pháp luật và những vấn
đề đặt ra từ thực tiễn thực thi pháp luật về quản trị công ty đối với NHTMCP ở Việt Nam hiện nay
2 Quá trình phát triển quan niệm về quản trị công ty: Những nội dung cần làm rõ
Trên bình diện quốc tế, các vấn đề về quản trị công ty không còn là vấn đề mới Các học thuyết, các mô hình quản trị công ty trên thế giới không ngừng vận động và cũng
từ đó, các lý thuyết mới về doanh nghiệp cũng xuất hiện nhằm phúc đáp những đòi hỏi
từ thực tiễn quản lý, điều hành các doanh nghiệp Ở khía cạnh kinh tế, các nghiên cứu
về quản trị công ty tập trung
hai mục tiêu chính là tối đa
hoá giá trị cổ đông và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông nhỏ và người có quyền lợi liên quan Quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lành mạnh, tạo nên sự hài hòa của một loạt các mối quan hệ giữa Ban Giám đốc công ty, Hội đồng quản trị, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan, từ
đó tạo nên định hướng và sự kiểm soát công ty Quản trị công ty tốt sẽ thúc đẩy hoạt động và tăng cường khả năng tiếp cận của công ty với các
nguồn vốn bên ngoài, góp phần tích cực vào việc tăng cường giá trị công ty, giảm thiểu rủi ro, tăng cường đầu
tư và phát triển bền vững cho doanh nghiệp và nền kinh
tế, từ đó góp phần thúc đẩy hoạt động và nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường vốn, giảm chi phí vốn và tăng giá trị tài sản, nâng cao uy tín của công ty Ở khía cạnh pháp lý, các nghiên cứu về quản trị công ty đề cập nhiều đến việc bảo đảm quyền cho các cổ đông; trách nhiệm của người quản lý, điều hành công ty
và phân định trách nhiệm của Hội đồng quản trị với Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc, nghĩa là phân định chức năng quản lý và chức năng điều hành và sự thể chế hóa những tiêu chuẩn, điều kiện, mô hình quản trị vào trong pháp luật doanh nghiệp và nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về xây dựng và thực thi pháp luật về quản trị công ty
Tại Việt Nam, vấn đề quản trị công ty và pháp luật quản trị công ty xuất hiện muộn Nếu lấy Luật Công ty năm 1990 làm mốc đánh dấu sự xuất hiện của pháp luật quản trị công ty thì quá trình lập pháp
về quản trị công ty của Việt Nam cũng đã đi được một phần tư thế kỷ với nhiều biến động, đan xen giữa cũ và mới, giữa quản lý chặt chẽ từ phía Nhà nước tới việc tăng cường tính độc lập, tự chịu trách nhiệm của người quản trị, điều hành công ty Những thất bại về quản trị doanh nghiệp
Trang 3nhà nước gây thất thoát nhiều
nghìn tỷ đồng cùng với những
yêu cầu của tiến trình hội
nhập quốc tế cũng như sự
vào cuộc tích cực của các nhà
nghiên cứu, người hoạt động
chính sách, khuôn khổ pháp
luật về quản trị công ty ở Việt
Nam đã có nhiều thay đổi để
đáp ứng những đòi hỏi ở trên
Các nghiên cứu về quản trị
công ty ở Việt Nam được
triển khai ở nhiều khía cạnh
khác nhau như: Nghiên cứu
các mô hình quản trị công ty
và khả năng tiếp nhận ở Việt
Nam (Bùi Xuân Hải, 2012);
bảo đảm sự tách bạch giữa
quyền sở hữu và quản lý điều
hành trong quản trị công ty
(Hà Thị Thanh Bình, 2015);
bảo đảm sự công bằng giữa
các cổ đông trong dự thảo
Luật Doanh nghiệp sửa đổi
(Nguyễn Thị Lan Hương,
2014); đảm bảo quyền lợi của
cổ đông công ty cổ phần theo
các nguyên tắc quản trị công
ty của OECD (Nguyễn Thị
Dung, Nguyễn Như Chính,
2009), hay bảo vệ quyền của
cổ đông công ty cổ phần theo
Luật Doanh nghiệp năm 2014
(Phan Ngọc Hoàng, 2016);
nghiên cứu pháp luật về quản
trị công ty đại chúng ở Việt
Nam theo quy định của Luật
Doanh nghiệp 2014 (Lê Minh
Toàn, 2015)… Nói chung, các
nghiên cứu, đánh giá pháp
luật về quản trị công ty ở Việt
Nam đã đạt được những kết
quả nhất định, các quy định
pháp luật về quản trị công ty
đã được điều chỉnhđáp ứng
các tiêu chuẩn, điều kiện về
quản trị công ty đã được điều
chỉnh đáp ứng các tiêu chuẩn,
điều kiện về quản trị công ty theo khuyến cáo của nhiều tổ chức quốc tế, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm sự minh bạch, công bằng, khách quan trong thực tiễn thực hiện nhiệm vụ quản trị công ty của người quản lý, điều hành Tuy nhiên, tổng kết những vấn đề
lý luận và thực tiễn về quản trị công ty với tính chất là nền tảng cho hoạt động quản trị công ty nói chung, quản trị NHTMCP nói riêng, cho thấy:
Thứ nhất, chưa có quan niệm
thống nhất về nội hàm khái niệm quản trị công ty Thực trạng này là do nguồn gốc thể chế luật pháp, đặc tính quốc gia, văn hóa và trình độ phát triển của thị trường tài chính tại mỗi nước… (Trần Hoàng Ngân, Phạm Quốc Việt, 2016)
và cũng chính sự khác biệt này đã làm ảnh hưởng đáng kể đến quyền của cổ đông, quyền của chủ nợ và thực thi quyền
sở hữu Quản trị công ty là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi các cơ cấu
và các quy trình, nhiều khi liên quan tới các bên có các lợi ích khác nhau, đôi khi là những lợi ích xung đột Quản trị công ty hướng tới việc giải quyết và đảm bảo sự cân bằng giữa những lợi ích xung đột này Điều này đặt ra đòi hỏi phân chia quyền lợi và trách nhiệm một cách phù hợp- và qua đó làm gia tăng giá trị lâu dài của các cổ đông Chẳng hạn như làm thế nào để các cổ đông nhỏ lẻ bên ngoài có thể ngăn chặn việc một cổ đông kiểm soát nào đó tư lợi thông qua các giao dịch với các bên liên quan, giao dịch ngầm hay
các thủ đoạn tương tự Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh quản trị công ty không chỉ liên quan đến cổ đông mà còn chi phối và ảnh hưởng đến các bên liên quan đến công
ty Vì vậy, các công ty (dù là niêm yết hay chưa niêm yết), khi xây dựng quy chế quản trị công ty, cần hết sức lưu ý đến những người liên quan đến công ty, bao gồm cổ đông, khách hàng, đối tác, chủ nợ, nhân viên, các cơ quan quản
lý nhà nước, cộng đồng… (Tổ chức Tài chính Quốc tế, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, 2010)
Thứ hai, một quy chế quản
trị công ty tốt, ngoài việc phải đáp ứng các yêu cầu bắt buộc trong pháp luật doanh nghiệp như Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và các văn bản dưới luật còn phải thể hiện được cách thức quản trị công
ty chuyên nghiệp, minh bạch
và hiệu quả cũng như đảm bảo được sự công bằng trong
cả quyền, nghĩa vụ và lợi ích của cổ đông, và sự hài hòa với lợi ích của các bên liên quan khác Như vậy, quản trị công
ty là hệ thống các cơ chế để bảo vệ nhà đầu tư bên ngoài tránh được những vấn đề phát sinh từ mâu thuẫn lợi ích giữa
cổ đông và người điều hành liên quan đến các cơ cấu, quy trình và cơ chế để định hướng
và quản lý công ty nhằm gia tăng giá trị cho cổ đông về lâu dài thông qua việc nâng cao trách nhiệm của người điều hành (Phạm Bảo Khánh, 2015) Cốt lõi của quản trị công ty là giải quyết mối quan
hệ giữa người quản lý, điều
Trang 4hành công ty với cổ đông, là
phương thức bảo đảm quyền
lợi cho cổ đông và kiểm soát
hiệu quả các hành vi lạm dụng
của người quản lý, điều hành
công ty từ đó góp phần gia
tăng tính tính minh bạch trong
công ty cổ phần
Thứ ba, trên thế giới đã hình
thành một số mô hình quản
trị công ty (Hoàng Phương
Anh, 2016) như: i) Mô hình
quản trị lấy cổ đông làm trung
tâm (gọi là mô hình
Anglo-Saxon hay mô hình quản trị
công ty Anh- Mỹ) Mô hình
này nhấn mạnh sự gia tăng
giá trị cho cổ đông, tuân thủ
luật pháp và quy định như là
mục tiêu chính của công ty
Trong mô hình Anglo-Saxon,
giám đốc điều hành có ảnh
hưởng đáng kể tới các thành
viên khác trong ban giám đốc,
kể cả giám đốc không điều
hành, những người có nhiệm
vụ giám sát các giám đốc điều
hành; ii) Mô hình quản trị lấy
các bên liên quan làm trung
tâm (Đức và một số quốc
gia Châu Âu) Mô hình này
nhấn mạnh hơn về tầm ảnh
hưởng của các bên liên quan
không phải là cổ đông, đặc
biệt là công đoàn lao động và
các ngân hàng quốc doanh
Đức xây dựng và thực hiện
mô hình quản trị hai tầng có
tách biệt rõ ràng vai trò giám
sát với vai trò điều hành; iii)
Mô hình Nhật Bản được xây
dựng dựa trên các mối quan
hệ kinh doanh với các ngân
hàng, khách hàng và nhà cung
cấp, tất cả đều ảnh hưởng tới
các quyết định quản trị; iv)
Mô hình của Hàn Quốc bắt
nguồn từ cuộc chiến tranh
Triều Tiên, trong khi mô hình của Trung Quốc phản ánh một
sự chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường Mô hình của Ấn Độ bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi lịch
sử sở hữu gia đình Tuy nhiên,
ở Việt Nam chưa hình thành được mô hình quản trị công
ty, đồng thời chưa định hình mức độ ảnh hưởng của các
mô hình quản trị công ty tiêu biểu Điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho việc thiết kế nội dung pháp luật và vận hành các mô hình quản trị trong thực tiễn
3 Thực trạng pháp luật cho quản trị ngân hàng thương mại cổ phần: Quá trình hướng tới khuôn khổ quản trị phù hợp với thông
lệ quốc tế và thực tiễn Việt Nam
Khi chuyển đổi mô hình ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp, các định chế tài chính trên thị trường dần được chuyển đổi sang cơ chế thị trường Khuôn khổ pháp luật về quản lý, điều hành các định chế tài chính theo đó cũng được hình thành Các quy định pháp luật về quản trị NHTMCP ở Việt Nam được ghi nhận lần đầu tiên ở Pháp lệnh NHTM, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm
1990, trong đó có sự phân biệt
về quản trị giữa TCTD quốc doanh và NHTMCP (Khoản
1, Khoản 2 Điều 15 Pháp lệnh NHTM, hợp tác xã tín dụng
và công ty tài chính ngày 23/5/1990), nhưng không cụ thể và còn mang đậm dấu ấn
của thời kỳ đầu chuyển đổi, các can thiệp trực tiếp của NHNN vào hoạt động quản trị, điều hành NHTMCP vẫn còn khá rõ nét
Luật Các TCTD 1997, sửa đổi, bổ sung 2004 dành Mục
3 từ Điều 36 đến Điều 40 quy định về quản trị, điều hành, kiểm soát TCTD Chính phủ ban hành Nghị định 59/2009/ NĐ-CP ngày 16/7/2009
của NHTM, trong đó dành Mục 2, Mục 3 từ Điều 16 đến Điều 55 để quy định về quản trị, điều hành, kiểm soát NHTM và NHTMCP NHNN cũng đã ban hành Thông tư 06/2010/TT-NHNN ngày 26/02/2010 Hướng dẫn về tổ chức, quản trị, điều hành, vốn điều lệ, chuyển nhượng cổ phần, bổ sung, sửa đổi Giấy phép, Điều lệ của NHTM hướng dẫn chi tiết quy định tại Nghị định số
59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 về tổ chức
và hoạt động của NHTM Trong điều kiện hội nhập và
mở cửa hoàn toàn lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, Luật Các TCTD 2010 được ban hành cho phù hợp hơn với những cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam và thông lệ quốc
tế trong hoạt động ngân hàng cũng như tạo ra được một
cơ sở pháp lý bảo đảm sự tự chủ trong kinh doanh của các TCTD, đồng thời bảo đảm sự chặt chẽ, thận trọng trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là nâng cao được khả năng kiểm soát, giám sát của NHNN đối với hoạt động của từng TCTD
và sự ổn định, an toàn của hệ thống ngân hàng đặt ra đòi hỏi
Trang 5phải luật hóa khuôn khổ pháp
luật về quản trị NHTMCP
để cập nhật các chuẩn mực
quản trị ngân hàng mới cũng
như bảo đảm sự thống nhất
với Luật Doanh nghiệp Nói
khác đi, các quy định cụ thể
về quản trị NHTMCP theo các
tiêu chuẩn, thông lệ của công
ty cổ phần chính thức được
luật hóa trong Luật Các TCTD
2010 Như vậy, trải qua hơn
20 năm chuyển đổi từ mô hình
ngân hàng một cấp sang mô
hình ngân hàng hai cấp, pháp
luật về quản trị NHTMCP mới
hình thành một cách có hệ
thống
Từ những phân tích trên, có
thể rút ra những nét chính
trong quá trình phát triển pháp
luật quản trị NHTMCP như
sau:
Một là, đã hình thành rõ nét
tư duy “doanh nghiệp” khi
quy định về TCTD Luật Các
TCTD 1997, sửa đổi 2004
không có quy định rõ ràng về
hình thức tổ chức của TCTD
mặc dù đã quy định TCTD
là doanh nghiệp Khắc phục
nhược điểm này, Luật Các
TCTD 2010 quy định rõ hình
thức tổ chức của TCTD, đồng
thời quy định cụ thể cơ cấu tổ
chức quản lý của TCTD Theo
đó, cơ cấu tổ chức quản lý của
TCTD được thành lập dưới
hình thức công ty cổ phần bao
gồm Đại hội đồng cổ đông,
Hội đồng quản trị, Ban kiểm
soát, Tổng giám đốc/ Giám
đốc Cơ cấu tổ chức quản lý
của TCTD được thành lập
dưới hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành
viên, công ty trách nhiệm hữu
hạn hai thành viên trở lên bao
gồm Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc/
Giám đốc Cơ cấu tổ chức quản lý của ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân bao gồm Đại hội thành viên, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc/ Giám đốc (Điều 32) Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc/ Giám đốc của ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân phải đáp ứng tiêu chuẩn
về trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và am hiểu
về hoạt động ngân hàng theo quy định của NHNN (Khoản 2 Điều 75)
Từ quy định của pháp luật hiện hành cho thấy, TCTD đã được tổ chức theo các mô hình doanh nghiệp và có cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành như một doanh nghiệp Những
“khác biệt” không cần thiết giữa doanh nghiệp và TCTD liên quan đến tổ chức và hoạt động dường như đã được xóa
bỏ Nói khác đi, Luật Các TCTD 2010 đã xác lập nền tảng quy tắc quản trị phù hợp với doanh nghiệp hoạt động ngân hàng- lĩnh vực kinh doanh đặc biệt có nhiều ảnh hưởng tới đời sống kinh tế xã hội quốc gia (Viên Thế Giang, Bùi Hữu Toàn, Nguyễn Trung Kiên, 2018)
Hai là, nhiều quy định liên
quan trực tiếp đến hoạt động quản trị NHTMCP đã được xây dựng đáp ứng các tiêu chuẩn quản trị NHTM của các
tổ chức quốc tế khuyến nghị (Viên Thế Giang, Nguyễn Trung Kiên, 2017)
Ba là, có hai đặc thù liên quan
đến quản trị NHTM là: i) Quản trị NHTM liên quan đến
cả hai cấp độ vi mô (các ngân hàng đơn lẻ) và vĩ mô (sự ổn định hệ thống tài chính), bởi
vì nó cung cấp động lực để kiểm soát ngân hàng, hiệu quả hóa việc kiểm soát và khuyến khích niềm tin của thị trường; ii) Khả năng can thiệp, tác động trực tiếp từ phía cơ quan giám sát ngân hàng- cơ quan
có nhiệm vụ đánh giá lĩnh vực quản trị công ty của từng ngân hàng- bao gồm cả trình độ và đạo đức của các nhà quản lý cấp cao (Hội đồng quản trị, ban giám đốc) và cơ quan này phải có đủ quyền lực để can thiệp khi quản trị công ty của ngân hàng bất ổn Do đó, quản trị NHTM cần phải hướng tới mục tiêu tăng cường sự ổn định của thị trường tài chính thay vì tối đa hóa lợi nhuận của cổ đông Khi tiếp cận quản trị ngân hàng theo hướng này, cả cộng đồng cũng như
cổ đông ngân hàng đều có lợi Đối với cộng đồng, sự ổn định của thị trường tài chính mang lại những ảnh hưởng tích cực đối với nền kinh tế và sau đó là đối với toàn xã hội Đối với cổ đông ngân hàng, việc không hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đương nhiên mang lại ít lợi nhuận hơn nhưng lại tăng thêm tính
an toàn cho các khoản đầu tư của họ (Nguyễn Ngọc Cường, 2016)
4 Các vấn đề đặt ra trong
từ thực tiễn pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 6Thứ nhất, vị trí, vai trò của
quản trị công ty trong việc bảo
đảm an toàn hoạt động ngân
hàng và hệ thống các TCTD:
Có thể khẳng định, xây dựng
và thực thi tốt các thiết chế
quản trị công ty sẽ góp phần
quan trọng vào việc bảo đảm
an toàn hoạt động ngân hàng
và hệ thống các TCTD Thực
tiễn đã chứng minh, cuộc
khủng hoảng tài chính châu
Á năm 1997 đã bộc lộ những
yếu kém trong thực tiễn hoạt
động quản trị công ty của các
ngân hàng ở châu lục này
Nguyên nhân của cuộc khủng
hoảng tài chính 2007 được chỉ
ra là do chính sách thù lao cho
giám đốc điều hành ngân hàng
không phù hợp Người ta đổ
lỗi cho giám đốc điều hành vì
lợi nhuận ngắn hạn mà chấp
nhận quá nhiều rủi ro và bỏ
qua lợi ích lâu dài của ngân
hàng và cổ đông (Trần Thị
Thanh Tú, Phạm Bảo Khánh,
2013) Vì vậy, thiết lập khuôn
khổ pháp luật quản trị NHTM
hiệu quả, phù hợp với đặc thù
của Việt Nam cần được nhìn
nhận là nhân tố quan trọng
nhất cho việc bảo đảm an toàn
hoạt động ngân hàng và hệ
thống các TCTD Vì các quyết
định kinh doanh đều do người
quản lý, người điều hành
TCTD thực hiện Các quyết
định này có ảnh hưởng trực
tiếp đến kết quả kinh doanh
của TCTD
Thứ hai, phân định giữa sở
hữu và quản lý, điều hành
NHTM: Đây là một trong
những vấn đề trọng tâm của
quản trị NHTMCP, vì sự tách
biệt này dẫn tới nhu cầu kiểm
soát hành vi của người quản
lý, người điều hành trong thực tiễn ra các quyết định kinh doanh Ý thức tôn trọng quyền cổ đông của người quản
lý, điều hành NHTMCP có
ý nghĩa quyết định đến hiệu quả bảo vệ cổ đông trong thực tiễn Đồng thời, sự chủ động, tích cực của cổ đông trong việc sử dụng quyền của mình
để buộc người quản lý, người điều hành phải tuân thủ nghĩa
vụ của người quản trị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
Nâng cao trách nhiệm giải trình của người quản lý, người điều hành và phát huy vai trò của Ban kiểm soát, Đại hội đồng cổ đông là điều kiện tiên quyết cho việc bảo vệ quyền
sở hữu của cổ đông cũng như chống lại các nguy cơ xâm phạm quyền lợi cổ đông của người quản lý, người điều hành NHTMCP
Thứ ba, nhu cầu giới hạn
sự can thiệp của NHNN vào thực tiễn quản trị NHTMCP:
Là cơ quan quản lý nhà nước
về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, đồng thời thực hiện chức năng ngân hàng trung ương, nên mục đích hoạt
động của NHNN là “nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các TCTD;
bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
(Khoản 1 Điều 4 Luật NHNN 2010) Để đạt được mục tiêu này, Luật Các TCTD hiện hành có khá nhiều quy định cho phép NHNN có các biện pháp can thiệp vào thực tiễn
quản trị NHTMCP Cụ thể là:
- Có quyền đình chỉ, tạm đình chỉ việc thực thi quyền, nghĩa
vụ của Chủ tịch, các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Trưởng ban, các thành viên Ban kiểm soát, người điều hành TCTD vi phạm quy định tại Điều 34 của Luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan trong quá trình thực hiện quyền, nghĩa vụ được giao; yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền miễn nhiệm, bầu, bổ nhiệm người thay thế hoặc chỉ định người thay thế nếu xét thấy cần thiết (Khoản 1 Điều 37 Luật các TCTD 2010)
- Hướng dẫn Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên quy định nhiệm vụ, quyền hạn Ủy ban quản lý rủi ro và Ủy ban nhân sự (Khoản 6 Điều 43
Luật Các TCTD 2010)
- Chấp thuận danh sách dự kiến những người được bầu,
bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc/ Giám đốc của TCTD (Điều 51 Luật Các TCTD 2010)
- Quyền yêu cầu Hội đồng quản trị của TCTD cổ phần triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường và quyết định về nội dung NHNN yêu cầu trong trường hợp xảy ra sự kiện ảnh hưởng đến an toàn hoạt động của TCTD cổ phần (Điều 60 Luật Các TCTD 2010)
Tuy nhiên, việc giới hạn hay xác định cơ sở cho những can thiện của NHNN vào thực tiễn quản trị NHTMCP Việt Nam
là rất cần thiết để xác định rõ
Trang 7hơn trách nhiệm của người
quản lý, điều hành trong thực
tiễn quản trị NHTMCP
Thứ tư, sự gia tăng đáng lo
ngại của tội phạm do người
quản lý điều hành thực hiện
với yêu cầu nâng cao hiệu
quả hoạt động giám sát của
NHNN và giám sát nội bộ
của NHTM Đây là vấn đề
nổi cộm trong thực thi pháp
luật quản trị NHTMCP ở Việt
Nam Điều này đặt ra đòi hỏi
phải thiết lập được hệ thống
kiểm soát nội bộ và phát huy
vai trò của Ban Kiểm soát
trong việc phát hiện sớm,
ngăn ngừa hiệu quả hành vi
phạm tội, nhất là khả năng cấu
kết giữa người quản lý, điều
hành với khách hàng để trục
lợi, gây tổn hại cho ngân hàng
và cổ đông
Thứ năm, văn hóa, đạo đức
kinh doanh với việc xây dựng
nền tảng đạo đức quản trị
kinh doanh ở Việt Nam: Đạo
đức kinh doanh ngân hàng đã
được khá nhiều nghiên cứu
thực hiện và làm rõ được một
số vấn đề lý luận và thực tiễn
của đạo đức kinh doanh ngân
hàng Các nghiên cứu về đạo
đức quản trị kinh doanh trong
hoạt động ngân hàng chưa
được đề cập một cách có hệ
thống Thực tiễn thực thi pháp
luật quản trị NHTMCP Việt
Nam thời gian qua cho thấy, nếu đạo đức quản trị ngân hàng được quan tâm thích đáng thì sẽ tạo được “rào chắn” vững chắc bảo đảm cho hoạt động quản trị NHTMCP trước những tác động của hành vi vi phạm Do vậy, xây dựng quy tắc đạo đức kinh doanh trong hoạt động quản trị cần phải được quan tâm thích đáng
5 Kết luận
Từ kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy, ở khía cạnh lý luận pháp luật của Việt Nam
về quản trị công ty nói chung, quản trị NHTMCP nói riêng
đã “du nhập” tương đối thành công các lý thuyết quản trị công ty hiện đại vào trong các quy định pháp luật Ở khía cạnh luật thực định, có thể dễ dàng nhận ra quá trình làm rõ tư cách doanh nghiệp của các TCTD nói chung, các NHTMCP nói riêng Và như thế, khuôn khổ pháp luật điều chỉnh hoạt động quản trị NHTMCP ở Việt Nam vừa phải tuân thủ pháp luật doanh nghiệp, vừa phải tuân thủ pháp luật về TCTD, trong đó
có NHTMCP Về cơ bản có thể nhận thấy, pháp luật quản trị NHTMCP ở Việt Nam đã
phản ánh được những yêu cầu đặc thù trong các quy định
về quản trị NHTMCP Các đặc thù này xuất phát từ đặc trưng của chính hoạt động ngân hàng- một lĩnh vực kinh doanh ẩn chứa nhiều rủi ro và
có tác động mạnh mẽ tới các mặt, khía cạnh của đời sống kinh tế xã hội quốc gia
Thực tiễn áp dụng pháp luật quản trị NHTMCP thời gian qua đã bộc lộ những nhược điểm được xem là căn nguyên dẫn tới tình trạng gia tăng tội phạm do người quản lý, người điều hành NHTMCP thực hiện Đồng thời, nhiều chuẩn mực quản trị NHTM chưa được cụ thể hóa hoặc hướng dẫn chi tiết, nhất là việc thực hiện trách nhiệm của người quản lý, người điều hành, vai trò của NHNN cũng như các chuẩn mực đạo đức, văn hóa trong kinh doanh ngân hàng
có tác động đến hiệu lực, hiệu quả quản trị NHTMCP Những vấn đề này cần phải được nhanh chóng nghiên cứu khắc phục để đạt được hiệu quả quản trị NHTMCP ở mức cao nhất, từ đó góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả hoạt động của các NHTMCP trên thị trường ngân hàng Việt Nam hiện nay ■
Tài liệu tham khảo
1 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010.
2 Luật Các Tổ chức tín dụng 2010.
3 Pháp lệnh Ngân hàng thương mại, hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính 1990.
4 Hoàng Phương Anh (2016), Quản trị doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán số 6/2016.
5 Hà Thị Thanh Bình (2015), Sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quản lý điều hành trong quản trị công ty, Tạp chí Nhà nước
và Pháp luật, số 10/2015
6 Nguyễn Ngọc Cường (2016), Những vấn đề hiện đại về quản trị ngân hàng, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, Tập 32, Số 1 (2016).