Mục tiêu thứ hai của việc biên soạn là cung cấp cho người học môi trường dịch khá sát với thực tiễn cả về nội dung lẫn hình thức, làm cơ sở cho người học biết cách vận dụng tổng hợp [r]
Trang 11 MỞ ĐẦU
Môn dịch nói là môn học được thiết kế cho
chuyên ngành cử nhân ngoại ngữ giai đoạn năm
thứ 3 và thứ 4 Theo một số nghiên cứu, “ở các
khoa ngoại ngữ trong nhiều trường đại học tại Việt
Nam, việc dạy dịch (nói và viết) thường chú trọng
đối chiếu giữa hai ngôn ngữ, luyện kỹ năng nghe,
nói, đọc, viết Riêng với dịch nói, sinh viên thực
hành các mẫu câu trong các tình huống thuộc các
lĩnh vực khác nhau ” (Hồ Đắc Túc, 2012, tr.197)
Thực tế này xuất phát từ việc biên soạn giáo trình
dịch nói đã đặt trọng điểm vào việc nâng cao
năng lực ngoại ngữ cho người học, từ đó lấy câu
TỐNG VĂN TRƯỜNG *
* Học viện Khoa học Quân sự, ✉ tongtruong@hotmail.com
Ngày nhận bài: 04/01/2018; ngày sửa chữa: 06/02/2018; ngày duyệt đăng: 28/02/2018
PHƯƠNG PHÁP BIÊN SOẠN GIÁO TRÌNH
DỊCH NÓI TIẾNG TRUNG QUỐC TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ
và phương pháp đối chiếu ngôn ngữ làm đơn vị phân tích và phương pháp giảng giải Tuy nhiên, không thể đồng nhất giữa năng lực ngôn ngữ và năng lực dịch nói, việc biên soạn giáo trình nếu chỉ chú trọng các vấn đề ngôn ngữ trong dịch nói mà xem nhẹ các nội dung về kỹ năng dịch nói, thì giáo trình cũng trở nên không toàn diện
Cùng với đó, ở một số giáo trình dịch nói, việc biên soạn lại chỉ chú trọng vào rèn luyện kỹ năng dịch nói Thực tế giảng dạy cho thấy, mô hình giáo trình này cũng cần phải có thêm nội dung hướng dẫn về kiến thức ngôn ngữ, trọng điểm của giáo trình dịch nói là bồi dưỡng kỹ năng nhưng cũng
TÓM TẮT
Trước sự phát triển của lý luận dịch nói cũng như yêu cầu thực tiễn, việc biên soạn giáo trình dịch nói tiếng Trung Quốc không còn đơn thuần là dựa trên một mô hình giáo trình có sẵn, mà phải xác định rõ cơ sở lý luận, tìm tòi mô hình, từ đó đưa ra định hướng về phương pháp Bài viết đi sâu
phân tích lý luận về dịch nói, lấy thuyết Cảm ý và trường phái coi phiên dịch là quá trình động là
nền tảng quan trọng, có tính khả thi cao trong việc chỉ đạo công tác biên soạn giáo trình dịch nói Trên cơ sở lý luận đã được chắt lọc và phân tích, bài viết đưa ra các định hướng về phương pháp cho việc biên soạn giáo trình dịch nói tiếng Trung Quốc tại Học viện Khoa học Quân sự, bao gồm: xác định mục tiêu, yêu cầu của việc biên soạn; đưa ra các định hướng về cấu trúc giáo trình, về lựa chọn và tổ chức ngữ liệu nhằm đảm bảo chất lượng và tính khoa học của giáo trình
Từ khóa: giáo trình dịch nói tiếng Trung Quốc, phương pháp biên soạn, định hướng
Trang 2không được bỏ qua nhân tố bồi dưỡng năng lực
ngôn ngữ
Tại Học viện Khoa học Quân sự, môn dịch nói
mới được đưa vào giảng dạy, việc biên soạn giáo
trình, tài liệu liên quan đang được triển khai Biên
soạn giáo trình tài liệu không chỉ đơn thuần là dựa
trên một mô hình giáo trình cụ thể có sẵn, mà còn
phải làm rõ cơ sở lý luận cũng như định hướng
về phương pháp Việc lựa chọn, xác định cơ sở lý
luận và định hướng về phương pháp không chỉ có
vai trò quan trọng quyết định đến chất lượng, tính
khoa học, hiện đại của giáo trình dịch nói sắp được
biên soạn, mà còn là nhân tố bảo đảm hàm lượng
nội dung quân sự phù hợp với đối tượng đào tạo cử
nhân cấp phân đội
2 CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN
Lý luận về dịch nói được nghiên cứu trong
hơn 6 thập kỷ với nhiều lý thuyết khác nhau, có
thể kể đến như thuyết Cảm ý, trường phái coi dịch
nói là quá trình tri nhận, trường phái nghiên cứu
hoạt động ngôn ngữ của hệ thần kinh, trường phái
nghiên cứu hoạt động tương tác trong hội thoại,
trường phái coi dịch nói là quá trình động Tổng
quan các lý thuyết và trường phái trên, chúng tôi
nhận thấy nội dung của thuyết Cảm ý và trường
phái coi dịch nói là quá trình động có tính khả thi
cao trong việc chỉ đạo hoạt động dịch nói thực tiễn
cũng như có ý nghĩa thiết thực trong vận dụng vào
công tác giảng dạy và biên soạn giáo trình
2.1 Thuyết Cảm ý 1
Seleskovitch là người đầu tiên đặt nền móng
cho sự ra đời của thuyết Cảm ý – một học thuyết
được ứng dụng rộng rãi trong dịch ứng đoạn (dịch
đuổi) và dịch song hành (dịch cabin) Nhiều học
giả cho rằng “việc đào tạo phiên dịch ở Bắc Mỹ và
Châu Âu ngày nay sẽ khác đi nhiều nếu không có
sự đóng góp cả về kinh nghiệm lẫn lý thuyết của
Seleskovitch” (Hồ Đắc Túc, 2012, tr.203)
Thuyết Cảm ý ra đời vào thập niên 1970, được
coi là phương pháp dịch thuật dựa theo trình tự ba
(3) “Tái diễn ý” (reformulation/re-expression)
(赛莱丝科维奇, 1992, tr.8)
thuật Thuyết Cảm ý coi dịch thuật là một hành vi truyền đạt: dịch là để truyền đạt thông điệp, hay
ý của người nói (hoặc văn bản) Ý của người nói được xây dựng và thoát thai từ ngôn từ, bối cảnh
và kiến thức nền
Ly từ là quan niệm hạt nhân thuyết Cảm ý, ly
từ có nghĩa là quên từ ngữ và cấu trúc ngôn ngữ nguồn, coi từ ngữ trong ngôn ngữ nguồn chỉ là phương tiện chuyển tải, từ phương tiện đó nhận ra
ý nghĩa chính Nói cách khác, đây là giai đoạn giải mã: người dịch không chú tâm ghi nhớ từ ngữ do người nói ngôn ngữ nguồn sử dụng mà đi giải mã
ý định của người nói Người dịch lắng nghe người nói, nắm chắc ý định của người nói rồi chuyển ý
đó qua ngôn ngữ đích
Bước thứ ba trong quá trình dịch là tái cấu trúc
ý của ngôn ngữ nguồn bằng ngôn ngữ đích, sao cho cách dùng từ, biểu đạt, phù hợp và tự nhiên trong ngôn ngữ đích Thuyết Cảm ý coi ngôn ngữ
là ký hiệu Dịch không phải là chuyển ký hiệu này qua ký hiệu khác mà dịch là chuyển ý nghĩa của
ký hiệu Vì vậy trong quá trình dịch, người dịch tái cấu trúc ý chứ không tái cấu trúc ngôn ngữ Khi tái cấu trúc ý, người dịch quên hết cấu trúc của ngôn ngữ nguồn, chỉ giữ lại ý và chuyển tải ý đó sao cho phù hợp với cách nói trong ngôn ngữ đích
Hồ Đắc Túc (2012) cho rằng, thuyết Cảm ý
“rất hữu ích cho những người muốn thực tập phương pháp dịch ứng đoạn và dịch song hành”
Áp dụng vào việc biên soạn giáo trình dịch nói, lý thuyết này có thể giải quyết được hai vấn đề lớn,
đó là xác định đơn vị dịch và phương pháp phân tích được sử dụng trong giáo trình dịch nói Thuyết Cảm ý cho rằng dịch là vấn đề chuyển ý chứ không chuyển chữ, cụ thể khi nghe, người nghe không nghe từng chữ mà nắm bắt từng nhóm thông tin do một số lượng từ cấu thành Thuyết Cảm ý gọi các cụm (chunk) thông tin này là đơn vị nghĩa (units of meaning) Mỗi đơn vị nghĩa không phải có một số
Trang 3từ bằng nhau, mà hình thành từ kiến thức tổng thể
của người nghe kết hợp với một số lượng từ nào
đó tạo nên nghĩa Do vậy, đơn vị giảng giải, phân
tích trong giáo trình dịch nói nên là đơn vị nghĩa,
không nên thuần túy là đơn vị câu hay đoạn Đơn
vị nghĩa ở đây chính là các ý của thông điệp, do
đó, giáo trình dịch nói cần lấy nội dung này làm
trọng tâm, thiết kế để rèn luyện cho người học các
kỹ năng như bắt ý, phân tích ý, lập sơ đồ ý Trong
quá trình nghe hiểu, ngôn ngữ nguồn dần dần được
biến đổi thành các đơn vị ý, các đơn vị ý này được
tồn tại không cần dựa vào ngôn ngữ Người dịch
thông qua thính giác nắm được các thông tin và ý
nghĩa ương ứng, đồng thời với việc đưa các thông
tin và ý nghĩa này ghi nhớ vào não thì cũng quên đi
hình thức ngôn ngữ của ngôn ngữ nguồn đã được
xử lý Do đó, người dịch nói không có điều kiện và
cũng không có khả năng dựa vào hình thức ngôn
ngữ nguồn để tiến hành dịch từng từ, từng câu,
càng không thể có khả năng tiến hành so sánh hình
thức ngôn ngữ của ngôn ngữ nguồn với ngôn ngữ
đích Vì vậy, việc phân tích hình thức kết cấu giữa
hai ngôn ngữ theo phương thức ngôn ngữ học đối
chiếu để hướng dẫn người học tiến hành dịch là
không phù hợp với giáo trình dịch nói
2.2 Trường phái coi phiên dịch là quá
trình động
Đã từ lâu, dưới ảnh hưởng của ngôn ngữ học
cấu trúc, các ý tưởng được nêu ra khi xây dựng nền
tảng lý luận cho khoa học dịch thuật, từ Nida của
Mỹ hay Wells của Đức, đa số các học giả đều coi
nguyên văn và bản dịch là hai đối tượng nghiên cứu
chủ yếu Đây là những nghiên cứu về dịch nhìn từ
góc độ tĩnh, vấn đề quan tâm nhiều hơn vẫn là chất
lượng sản phẩm dịch, “trọng điểm nghiên cứu tập
trung vào tiêu chuẩn dịch, đặc trưng ngôn ngữ và
sự chuyển đổi về mặt ngôn ngữ” (王瑞昀, 2004,
tr.68) Tuy nhiên, dịch có hai tầng nghĩa, một là ý
nghĩa tĩnh, tức là kết quả dịch; hai là ý nghĩa động,
tức là quá trình dịch Trường phái coi trọng trạng
thái động của dịch cho rằng: “Ngôn ngữ dựa theo
chủ nghĩa cấu trúc là hệ thống tĩnh và khép kín, là
quy luật của những ký hiệu máy móc, còn trong
dịch thực tế thì những thứ mà mọi người xử lí và
tiếp xúc lại là ngôn ngữ sống động, là những sản phẩm, là những chủ thể và ngữ cảnh khác nhau” (吕俊, 2002, tr.49)
Ngoài ra đặc điểm tính động của hoạt động dịch nói càng đòi hỏi phải xem xét đánh giá vấn
đề dịch nói từ góc độ động, nhận thức sâu hơn về bản chất của quá trình dịch nói, từ đó ứng dụng vào thực tế dịch nói cũng như vào lĩnh vực dạy học
và biên soạn giáo trình Lưu Hòa Bình từng chỉ ra
“nghiên cứu trạng thái động của dịch nói lại có thể giúp chúng ta nhận thức được cả quá trình dịch nói, từ đó tìm ra lời giải cho sự thành công của người dịch, đồng thời có thể vận dụng vào biên soạn giáo trình dạy học” (刘和平, 2003, tr.8) Lấy ý nghĩa của ngôn ngữ làm phương thức để nhận thức sâu hơn về quá trình dịch, Bell (2001) trong khi phân tích các đặc điểm của hoạt động dịch nói để xây dựng mô hình quá trình dịch nói,
đã chỉ ra rằng, người dịch thực sự đóng vai trò là người giao tiếp; trong quá trình dịch nói, người dịch thực tế là đang thực hiện các hành vi giao tiếp Bell miêu tả các bước tiến hành hành vi giao tiếp xuyên ngôn ngữ này như sau: (1) Người dịch tiếp nhận các tín hiệu thông tin 1; (2) phân tích nhận biết các mã 1; (3) giải mã tín hiệu 1, (4) tìm kiếm thông tin, (5) lí giải thông tin, (6) người dịch lựa chọn mã 2, (7) thông qua mã 2 để biên tập lại thông tin, (8) lựa chọn kênh thông tin, (9) truyền tải tín hiệu thông tin 22
Xuất phát từ quan điểm cho rằng, tính động của dịch nói thể hiện trong hoạt động tư duy của người dịch, Lưu Hòa Bình (2003) cho rằng, việc chuyển hóa từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác không phải là một hoạt động máy móc, mà là một quá trình thao tác trí tuệ diễn ra liên tục Từ nghe hoặc nhìn đến hiểu một cách chuẩn xác, từ việc bắt
ý và ghi nhớ ý của não bộ sau khi hiểu thông tin đến dùng một ngôn ngữ khác biểu đạt lại nội dung
đã hiểu được, đòi hỏi người dịch phải có sự phân tích tư duy một cách toàn diện Trong tác phẩm
“Kỹ xảo dịch nói – Phương pháp dạy học khoa học tư duy và suy luận dịch nói”, Lưu Hòa Bình
đã chỉ rõ mối quan hệ giữa tư duy với quá trình
Trang 4dịch nói, cho rằng bản thân quá trình dịch nói là
quá trình tư duy, trong đó suy luận lôgic chi phối
toàn bộ quá trình lý giải và biểu đạt, đồng thời thiết
kế các dạng bài tập rèn suy luận logic và phát huy
tính năng của não bộ trong các hoạt động thu nhận,
phân tích, tổng hợp, phản ứng
Từ những phân tích về thứ tự hành vi giao tiếp
trong hoạt động dịch nói của Bell và mối quan hệ
giữa tư duy với quy trình dịch nói của Lưu Hòa
Bình, có thể thấy rõ đặc trưng mang tính quá trình
của hoạt động dịch nói Đây không phải là sự hoán
đổi ngôn ngữ đơn thuần, ngược lại hành vi dịch của
người dịch sẽ thay đổi cùng với sự thay đổi của mỗi
trình tự, mỗi đối tượng trong suốt quá trình dịch
Nếu lý giải từ góc độ quá trình thì dịch nói trên
thực tế là quá trình động thay đổi theo sự thay đổi
đồng thời của một hay nhiều biến lượng trong quá
trình dịch nói, và sâu hơn đó là các hoạt động của
tư duy Đây cũng chính là cơ sở cho việc phân chia
và rèn luyện các kỹ năng riêng lẻ cũng như kỹ năng
tổng hợp hoạt động dịch nói trong biên soạn giáo
trình dịch nói, khắc phục tình trạng coi trọng rèn
luyện ngôn ngữ, xem nhẹ rèn luyện tư duy lôgic,
hoặc đưa ra kỹ năng, kỹ xảo dịch nói vào giáo
trình nhưng chỉ dừng lại ở giai đoạn kinh nghiệm
3 PHƯƠNG PHÁP BIÊN SOẠN GIÁO
TRÌNH DỊCH NÓI TIẾNG TRUNG QUỐC
TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ
3.1 Mục tiêu, yêu cầu của việc biên soạn
giáo trình dịch nói tiếng Trung Quốc
3.1.1 Mục tiêu của việc biên soạn giáo trình
dịch nói tiếng Trung Quốc
Hiện nay theo khảo sát trên thị trường sách
Việt Nam, chưa hề có giáo trình, tài liệu liên quan
đến dịch nói tiếng Trung Quốc được xuất bản, việc
giảng dạy môn Thực hành dịch nói tiếng Trung
Quốc tại các trường đại học chủ yếu được thực
hiện qua tập bài giảng của giáo viên Môn dịch nói
là môn thực hành, việc dạy học trên lớp chủ yếu
thông qua các đoạn băng hình cho sẵn, các kỹ năng
dịch nói được phân tích kết hợp trong quá trình
dịch, do đó thiếu tính hệ thống và bài bản Mục
tiêu đầu tiên của việc biên soạn giáo trình dịch nói tiếng Trung Quốc cần xác định là cung cấp kiến thức về kỹ năng dịch nói Trung - Việt, Việt - Trung, bao gồm các kỹ năng như nghe hiểu, bắt ý và kết cấu lại ý, ghi nhớ, ghi chép, chuyển đổi ngôn ngữ, biểu đạt ; đồng thời cung cấp phương pháp để người học rèn luyện các kỹ năng trên Mục tiêu thứ hai của việc biên soạn là cung cấp cho người học môi trường dịch khá sát với thực tiễn cả về nội dung lẫn hình thức, làm cơ sở cho người học biết cách vận dụng tổng hợp các kỹ năng và biết cách xử lý các tình huống dịch trong thực tiễn, từ
đó hình thành nên ý thức về công tác dịch nói cho người học như biết cách tập trung chú ý, khởi động công năng tri nhận của đại não, thoát ly lớp vỏ ngôn ngữ nguồn, nắm ý đồ người nói, rèn yếu tố tâm lý, xử lý tình huống
Mục tiêu chính của giáo trình dịch nói không phải là nâng cao khả năng ngoại ngữ của người học; tuy nhiên, đặt trong bình diện là một giáo trình dạy ngoại ngữ thì việc biên soạn giáo trình dịch nói cũng cần nhằm đến mục tiêu cung cấp các kiến thức về ngôn ngữ có liên quan, giúp người học nâng cao khả năng biểu đạt ngôn ngữ, đương nhiên, các kiến thức ngôn ngữ này không phải là trọng tâm của việc biên soạn Cần phải nhấn mạnh
là các kiến thức ngôn ngữ ở đây không chỉ đơn thuần là cung cấp từ mới, rèn luyện kỹ năng nghe
và kỹ năng nói mà cao hơn đó là tư duy song ngữ phục vụ trực tiếp cho quá trình dịch nói
Mục tiêu biên soạn này cần được gắn với đối tượng đào tạo là học viên quân sự với yêu cầu của công việc sau này là phục vụ trong quân đội Do
đó mục tiêu biên soạn cần hướng tới các nội dung đối ngoại quốc phòng, đàm phán quân sự, các bài phát biểu trong lĩnh vực quốc phòng giúp người học nắm bắt được các kỹ năng dịch nói trong lĩnh vực quân sự Ngoài ra, nhiệm vụ và yêu cầu của quân đội không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt các thông tin quân sự mà còn phải bao quát hầu hết các ngành nghề trong xã hội Các nội dung mà người dịch phải tiếp xúc rất đa dạng, phong phú, trong
đó kinh tế, chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật
là những vấn đề quan trọng trong xã hội hiện đại
Trang 5Việc tổng hợp một cách hợp lý các nội dung này
và đưa vào giáo trình cũng phải được đặt ra đối với
công tác biên soạn
3.1.2 Yêu cầu của việc biên soạn giáo trình
dịch nói tiếng Trung Quốc
Việc biên soạn giáo trình dịch nói tiếng Trung
Quốc cần đáp ứng các yêu cầu cơ bản như sau:
Trước hết, giáo trình phải cụ thể hóa nội dung
kiến thức, kỹ năng và thái độ được quy định
trong chương trình đào tạo đối với môn học Dịch
nói tiếng Trung Quốc, đáp ứng yêu cầu đổi mới
phương pháp giáo dục đại học và việc kiểm tra,
đánh giá chất lượng đào tạo Nội dung giáo trình
phải phù hợp với mục tiêu, chương trình đào tạo,
đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng và chuẩn đầu ra
đã ban hành Cụ thể tại Học viện Khoa học Quân
sự, chương trình môn dịch nói tiếng Trung Quốc
được bố trí với thời lượng 75 tiết Mục tiêu yêu
cầu của môn học là rèn luyện cho người học các
kỹ năng cần thiết trong dịch nói, giúp người học
nắm được quy trình dịch nói, đồng thời thông qua
thực hành dịch nói, giúp người học làm quen với
môi trường gần giống với thực tế, bước đầu làm
quen với các hình thức dịch nói như dịch xã giao
thông thường, dịch đàm phán hợp tác, dịch hội
đàm ngoại giao, dịch bài phát biểu… trong đó chú
trọng các nội dung liên quan đến lĩnh vực quân sự
Về phương pháp giảng dạy đang có sự đổi mới từ
phương pháp coi trọng kết quả (sản phẩm dịch)
sang phương pháp coi trọng quá trình, trong đó
đang áp dụng mô hình phát huy năng lực tự chủ
trong học tập của người học
Thứ hai, kiến thức trong giáo trình được trình
bày khoa học, logic, đảm bảo cân đối giữa lý luận
và thực hành, phù hợp với thực tiễn và cập nhật
những tri thức mới nhất về dịch nói Nội dung của
giáo trình chia thành 2 phần chính, bao gồm phần
lý thuyết, rèn luyện kỹ năng riêng lẻ và phần thực
hành rèn kỹ năng dịch nói tổng hợp Phần lý thuyết
nên thiết kế với khoảng 40% dung lượng của giáo
trình và không đi sâu mô tả các kỹ năng dịch nói
dưới góc độ bản thể luận mà chủ yếu giới thiệu kỹ
năng và phương pháp tập thành kỹ năng đó Phần
thực hành tổng hợp cần đưa vào các nội dung sát thực tiễn như hợp tác quốc phòng, đối ngoại quốc phòng với các hình thức như đàm phán, hội thảo, phát biểu
Thứ ba, các bài cụ thể cần được thiết kế dưới dạng các hoạt động khác nhau, nhằm giúp người học lĩnh hội dần các kỹ năng thông qua cách giải quyết các tình huống, tạo cho người học có nhiều
cơ hội được trải nghiệm, chủ động, sáng tạo Nội dung các bài ngoài hình thức dịch đuổi và dịch cabin theo băng hình các bài diễn thuyết, bài phát biểu , cũng cần chú trọng đến đặc điểm giao tiếp của dịch nói, trong đó nên phát huy vai trò sáng tạo của người học, người học đóng vai trò là người nắm kịch bản, là người “diễn” các vai người nói, là người dịch góp phần tạo không khí sôi nổi, hứng thú cho người học, tạo điều kiện để người học lĩnh hội và nắm bắt kỹ năng Việc biên soạn giáo trình cần tính đến việc tạo tình huống và không gian cho người học, góp phần kéo gần khoảng cách giữa
“dịch học đường” và dịch nói trong thực tiễn Thứ tư, hệ thống các bài thực hành và bài tập
có tính thực tiễn cao, gần gũi với thực tiễn, phát huy được tối đa cơ sở vật chất kỹ thuật, đồng thời vừa sức với người học Nguyên tắc đầu tiên của việc xây dựng hệ thống bài tập thể hiện ở việc tăng dần độ khó Độ khó tăng dần theo 3 hướng: các thao tác và hành động phức tạp dần; điều kiện thực hiện các thao tác và hành động phức tạp dần (tăng dần tốc độ, trong cùng một thời gian phối hợp nhiều thao tác và hành động); tài liệu ngôn ngữ phức tạp dần (lượng từ và cấu trúc ngữ pháp, cấu trúc ý phức tạp dần) Việc tăng độ khó phải diễn ra dần dần, không có bước nhảy vọt đột biến Nguyên tắc thứ hai là cần phân chia hệ thống bài tập thành hai nhóm lớn: bài tập chuẩn bị và bài tập luyện Các bài tập này đều nhằm phát triển những tố chất cần thiết để lĩnh hội những kỹ năng, kỹ xảo của dịch nói, rèn giũa những kỹ năng, kỹ xảo cụ thể của dịch nói và cuối cùng là hình thành những kỹ năng phối hợp các thao tác và hành động riêng lẻ thành một quá trình hoạt động thống nhất Nguyên tắc thứ ba nhằm xây dựng hệ thống bài tập có liên quan đến việc lựa chọn thời gian xử lý từng bài tập
Trang 6và việc phát huy với cơ sở vật chất như màn hình
chiếu, phòng hội đàm, phòng dịch cabin
Ngoài những yêu cầu trên thì giáo trình dịch
nói tiếng Trung Quốc cũng cần đảm bảo các yêu
cầu của giáo trình ngoại ngữ thông thường như nội
dung được trích dẫn có nguồn gốc và chú thích rõ
ràng, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về quyền tác giả
theo quy định hiện hành; hình thức và cấu trúc của
giáo trình đảm bảo tính đồng bộ và tuân thủ các
quy định cụ thể của các cấp có liên quan
3.2 Định hướng phương án kết cấu giáo trình
Xác định phương án kết cấu giáo trình là một
trong những bước không thể thiếu của công tác
thiết kế giáo trình Tất cả các yếu tố đã được xác
định như mục tiêu biên soạn, nguyên tắc biên soạn,
ý tưởng biên soạn đều được thể hiện ở kết cấu giáo
trình Việc xác định phương án kết cấu giáo trình
dịch nói tiếng Trung Quốc bao gồm một số công
việc cụ thể sau:
- Định vị giáo trình: Giáo trình dịch nói tiếng
Trung Quốc là giáo trình phục vụ cho công tác
giảng dạy môn Dịch nói tiếng Trung Quốc, nằm
trong hệ thống giáo trình Thực hành dịch tiếng
Trung Quốc Trước khi vào học học phần dịch nói,
học viên đã học các học phần tương ứng với các
giáo trình Thực hành dịch tổng hợp 1, 2, 3, 4 và
một phần giáo trình Thực hành dịch tiếng Trung
Quốc quân sự Nói cách khác, giáo trình dịch nói
tiếng Trung Quốc cần kế thừa và tiếp tục các giáo
trình thực hành dịch tổng hợp và thực hành dịch
tiếng Trung Quốc quân sự, đảm bảo các nội dung
có lôgic hệ thống và không bị trùng lặp
- Xác định dung lượng của giáo trình: Dung
lượng của giáo trình được thể hiện ở số trang, số
bài, độ dài các đoạn video Đối với giáo trình thực
hành dịch, tùy theo nội dung chủ đề và thể loại văn
bản đơn giản hay phức tạp để xác định dung lượng
của một bài Thông thường ở những bài đầu, các
văn bản và băng hình được lựa chọn nên có độ khó
ngôn ngữ vừa phải để hướng người học tập trung
nỗ lực chính vào việc hình thành những phẩm
chất, tâm lý cần thiết và tạm thời quên đi những
vấn đề thuộc bình diện ngôn ngữ Trên thực tế, tất
cả những bài tập chuẩn bị và bài tập luyện đầu tiên đều có thể được biên soạn trên cơ sở 5-6 bài phát biểu của diễn giả, mỗi bài kéo dài từ 5 đến 10 phút Trong ngữ liệu sử dụng ở giai đoạn hai của giai đoạn luyện tập thực hành dịch nói, cần có nhiều chủ đề đa dạng hơn và lớp từ phong phú hơn
- Xác định qui mô giáo trình: Giáo trình thực hành dịch nói tiếng Trung Quốc được biên soạn theo chương trình học phần Xét theo độ dài tăng dần của các bài và để tiện cho việc triển khai giảng dạy và thi kiểm tra cũng như việc in ấn, mượn tài liệu học tập của học viên, giáo trình nên chia thành
2 cuốn, cuốn dành cho học viên và cuốn dành cho giảng viên, trong đó cuốn của giảng viên có trích dẫn nguyên văn các tư liệu dịch nói được thực hiện trên lớp và yêu cầu về đáp án
- Phương thức kết cấu của giáo trình: Giáo trình thực hành dịch nói được thiết kế kết hợp giữa
lý thuyết với thực hành, giữa rèn kỹ năng độc lập với rèn kỹ năng tổng hợp Xuất phát từ hai loại hình cơ bản của dịch nói là dịch đuổi và dịch cabin nên nội dung giáo trình sẽ phải đề cập đến cả hai loại hình này, tuy nhiên hai loại hình này có chung một số kỹ năng, các kỹ năng này được trình bày
ở phần dịch đuổi, nội dung phần dịch cabin chỉ giới thiệu các kỹ năng riêng biệt của loại hình dịch nói này Giáo trình ngoài phần nhập môn, nên chia thành hai phần: phần giới thiệu lý thuyết và rèn kỹ năng độc lập; phần thực hành tổng hợp
- Xác định kết cấu từng bài: Ở phần lý thuyết
và rèn các kỹ năng độc lập, mỗi bài được chia thành 3 phần cơ bản: giới thiệu lý thuyết, bài thực hành rèn kỹ năng trên lớp và phần bài tập Ở phần thực hành tổng hợp, mỗi bài được chia thành 3 phần: phần chuẩn bị, bài khóa để luyện tập trên lớp và phần bài tập Phần chuẩn bị cung cấp nội dung liên quan đến bối cảnh hoặc có liên quan về ngôn ngữ đến bài khóa chính giúp người đọc có
sự chuẩn bị về kiến thức nền và ngôn ngữ phục vụ cho công việc dịch bài khóa chính Bài khóa chính không trùng lặp với phần chuẩn bị được lựa chọn
để người học thực hành trên lớp
Trang 73.3 Định hướng phương án lựa chọn và tổ
chức ngữ liệu
3.3.1 Nguyên tắc lựa chọn ngữ liệu
Ngữ liệu được lựa chọn đưa vào giáo trình phải
có tính chính xác cao, có nguồn gốc rõ ràng, chính
thống Đặc biệt về nội dung, ngữ liệu chủ yếu đề
cập đến vấn đề quân sự nhưng không được liên
quan đến các bí mật quân sự, bí mật quốc gia, hoặc
các ngữ liệu có quan điểm trái với đường lối chủ
trương của Đảng và nhà nước, đặc biệt các chủ
trương về đối ngoại quân sự, không liên quan đến
các vấn đề nhạy cảm chính trị, quân sự
Ngữ liệu dùng để rèn luyện cho kỹ năng dịch
nói riêng lẻ thì phải có tính điển hình và tính minh
họa cao cho kỹ năng đó Ví dụ, khi lựa chọn ngữ
liệu minh họa cho kỹ năng ghi nhớ bằng hình ảnh
thì nên chọn ngữ liệu giàu hình ảnh, khi lựa chọn
ngữ liệu minh họa cho kỹ năng nghe bắt ý người
nói thì nên sử dụng ngữ liệu có lôgic và tầng bậc ý
nghĩa chặt chẽ
Ngữ liệu có độ khó vừa sức với đối tượng
người học Để làm được điều này thì đầu tiên phải
phân tích kỹ trình độ và nhu cầu của người học
Không lựa chọn ngữ liệu ở lĩnh vực quá chuyên
sâu có nhiều thuật ngữ chuyên ngành, hoặc lĩnh
vực quá mới mẻ với người học Một biện pháp
nữa để xác định độ khó cho phù hợp và thông qua
việc làm đáp án Trong quá trình làm đáp án, người
biên soạn có thể phát hiện ra những điểm khó,
thách thức cao với người học Đối với các điểm
khó ngôn ngữ mang tính thách thức với người học
trong nguyên văn cần được xuất hiện trong các
phần mang tính phụ trợ để người học có thể chuẩn
bị trước Đối với các điểm khó về tư duy song ngữ,
tư duy chuyển đổi cần trở thành các điểm trọng
tâm giảng giải trên lớp
Ngữ liệu dùng cho dịch nói đa số là các file
hình ảnh và âm thanh Một yêu cầu đặt ra cho việc
lựa chọn là chất lượng của âm thanh và hình ảnh,
đặc biệt là chất lượng âm thanh Yêu cầu âm thanh phải rõ ràng, đảm bảo người nghe phải nghe được Tùy theo yêu cầu của từng nội dung rèn luyện mà người biên soạn phải biên tập lại các file âm thanh
và hình ảnh này như điều chỉnh tốc độ nói, cho thêm tạp âm… Trong dịch đuổi, với nội dung dịch diễn thuyết, người nói thường nói liền trong một khoảng thời gian khá dài, người biên tập phải tách
ra thành các đoạn nhỏ và có khoảng thời gian dừng
để cho người học tập dịch Việc biên tập thành các đoạn nhỏ này phải dựa trên cơ sở mạch ý hoặc lôgic của người nói, cần tách thành những đoạn nhỏ có ý trọn vẹn, phù hợp với tư duy của người nói, đồng thời phải phù hợp với khả năng nghe, ghi nhớ, chuyển đổi ngôn ngữ của đối tượng người học Ngữ liệu nên mang tính thời sự, nên là các nội dung có liên quan đến các vấn đề “nóng” đang diễn
ra, có lợi cho việc thu nhận và phân tích thông tin của người học, đặc biệt là với việc khởi động công năng tri nhận và sử dụng kiến thức ngoài ngôn ngữ
để lý giải thông tin Tính thời sự ở đây không hẳn
là thời gian đưa ra thông tin mà chủ yếu chỉ đây là vấn đề nóng thu hút nhiều sự quan tâm, người học
ít nhiều cũng đã có những hiểu biết nhất định làm bối cảnh cho việc dịch thông tin
Ngữ liệu cần thể hiện tính hoàn chỉnh của nội dung phát ngôn Đa số các ngữ liệu sẽ được biên soạn lại tạo độ ngừng cho người dịch, việc ngừng ngắt không được tạo ra trở ngại cho việc lý giải
Do đó nên lựa chọn các ngữ liệu có nội dung mạch lạc, các tầng bậc ý nghĩa có cấu trúc rõ ràng, các đơn vị diễn ngôn trọn vẹn
Ngữ liệu cần phục vụ trực tiếp cho công việc của người học sau khi tốt nghiệp Học viên Học viện Khoa học Quân sự sau khi ra trường, nếu có làm công việc liên quan đến dịch nói thì chủ yếu
là dịch nói cho hoạt động đối ngoại, thăm viếng quốc phòng, các hoạt động tuần tra chung, giao lưu biên phòng, các buổi hội thảo, hội đàm, bồi dưỡng nghiệp vụ… Do đó cần ưu tiên lựa chọn ngữ liệu về các nội dung này