Ví dụ, nếu thực hiện tốt khâu làm sạch nguyên liệu thô (cắt nhỏ tre trƣớc khi đem nấu, hoặc phân loại giấy phế liệu kỹ hơn trƣớc khi nghiền thuỷ lực) thì sẽ làm giảm lƣợng hóa chất, hơ[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
-
NGUYỄN VĂN YÊN
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG SẢN XUẤT SẠCH HƠN TRONG CƠ SỞ SẢN XUẤT GIẤY TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - 2012
Trang 2Đại học quốc gia hà nội
Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường - -
NGUYỄN VĂN YÊN
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn trong cơ sở sản xuất giấy trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội, năm 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
1.1 Tổng quan về sản xuất sạch hơn 9
1.1.1 Khái niệm sản xuất sạch hơn: 9
1.1.2 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan 10
1.1.3 Nhu cầu SXSH 12
1.1.4 Các kỹ thuật SXSH 15
1.1.5 Các lợi ích khi áp dụng sản xuất sạch hơn 16
1.2 Tổng quan công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy 20
1.2.1 Sơ lược về công nghệ sản xuất giấy và bột giấy 20
1.2.2 Chất thải trong công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy 25
1.2.3 Tổng quan về công nghiệp giấy và bột giấy Việt Nam 28
1.2.4 Vấn đề về ô nhiễm môi trường ngành công nghiệp giấy và bột giấy ở Việt Nam 29
1.2.5 Tổng quan công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 31
1.3 Tổng quan nghiên cứu về sản xuất sạch hơn ngành giấy trên thế giới và ở Việt Nam 35
1.3.1 Trên thế giới 35
1.3.2 Ở Việt Nam 37
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1 Địa điểm nghiên cứu 42
2.2 Thời gian nghiên cứu 42
2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 42
2.3.1 Phương pháp luận và 6 bước đánh giá SXSH 42
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 44
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
3.1 Tình hình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp tư nhân Anh Đức 46
3.1.1 Nhu cầu nguyên, nhiên liệu, hóa chất sản xuất 46
3.1.2 Hệ thống máy móc thiết bị phục vụ sản xuất 46
3.1.3 Quy trình công nghệ sản xuất của nhà máy 48
3.2 Đánh giá các công đoạn sản xuất chưa hợp lý của Doanh nghiệp để áp dụng sản xuất sạch hơn 50
3.3.1 Về bộ phận nồi hơi và cấp nhiệt cho lô xeo giấy 50
3.3.2 Về bộ phận bãi chứa than phục vụ cho lò hơi 50
3.3.3 Về hệ thống thông gió nhà xưởng 51
3.3.4 Hệ thống kho chứa nguyên liệu 51
Trang 43.3.5 Tận thu bột giấy thải làm giấy bao bì 51
3.4 Đánh giá cân bằng vật chất và năng lượng trong sản xuất 52
3.4.1 Nguyên liệu 52
3.4.3 Cân bằng năng lượng 54
3.4.4 Xác định tính chất dòng thải 55
3.5 Đánh giá công tác quản lý nội vi của doanh nghiệp 57
3.5.1 Quản lý sản xuất 58
3.5.2 Quản lý chất thải 58
3.6 Xác định nguyên nhân 64
3.6.1 Các nguyên nhân kỹ thuật 64
3.6.2 Các nguyên nhân quản lý 66
3.7 Đánh giá hiệu quả về môi trường và kinh tế nếu áp dụng SXSH 67 3.7.1 Hiệu quả kinh tế 67
3.7.2 Hiệu quả môi trường 69
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 5MỤC LỤC BẢNG
Bảng 1.1: So sánh tiêu thụ tài nguyên và tiềm năng cho các cơ hội SXSH 15
Bảng 1.2: Các nguồn nước thải từ các bộ phận và thiết bị khác nhau 25
Bảng 1.3: Ô nhiễm của nhà máy giấy và bột giấy điển hình tại Việt Nam 27
Bảng 1.4 Giá trị sản xuất công nghiệp giấy, bao bì và tổng giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo ngành công nghiệp cấp II trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm vừa qua 31
Bảng 1.5 Các cơ sở sản xuất giấy trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 32
Bảng 1.6 Tiềm năng áp dụng sản xuất sạch hơn của các cơ sở sản xuất giấy đã khảo sát 34
Bảng 1.7: Kết quả thu được sau 01 năm thực hiện SXSH tại nhà máy giấy và bột giấy Ashoka, Ấn Độ 36
Bảng 3.1: Nhu cầu nguyên, vật liệu phục vụ sản xuất 46
Bảng 3.2: Danh mục máy móc và thiết bị công nghệ 47
Bảng 3.3: Danh mục các thiết bị phụ trợ 47
Bảng 3.5: Bảng cân bằng nguyên liệu sản xuất 53
Bảng 3.6: Cân bằng lượng nước trước và sau khi sản xuất 53
Bảng 3.7: Cân bằng năng lượng lò hơi Doanh nghiệp tư nhân Anh Đức 55
Bảng 3.8: Bảng xác định tính chất dòng thải 56
Bảng 3.9: Danh mục các loại chất thải rắn, nguồn phát sinh và khối lượng 62
Bảng 3.10: Hệ số các chất ô nhiễm khi đốt than 69
Bảng 3.11: Lượng phát thải các chất ô nhiễm khi đốt cháy 90 tấn than 69
Trang 6MỤC LỤC HÌNH
Hình1-1 Sự phát triển các công nghệ sản xuất giấy và bột giấy 24
Hình 1-2 Xu thế tiêu thụ hoá chất tẩy trắng trong ngành bột giấy thế giới (trái) và công ty Weyerhaeuser (phải) 25
Hình 2-1: Phương pháp luận về đánh giá SXSH 43
Hình 3-1: Sơ đồ công nghệ sản xuất giấy từ bột giấy và giấy loại 49
Hình 3-2: Sơ đồ quy trình xử lý nước thải sinh hoạt 60
Hình 3-3: Sơ đồ hệ thống tuần hoàn nước trong quá trình sản xuất giấy từ bột và giấy cũ 60
Hình 3-4: Quy trình xử lý nước thải sản xuất 61
Trang 7MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, tỉnh Vĩnh Phúc đã và đang phát triển nhanh chóng ngành công nghiệp và dịch vụ Ngành công nghiệp trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Bên cạnh những ngành công nghệ cao, Vĩnh Phúc vẫn còn nhiều cơ sở sản xuất quy mô nhỏ lẻ, công nghệ sản xuất chưa tiên tiến Các cơ sở sản xuất này sử
dụng khá nhiều nguồn năng lượng (điện, than…), việc tận thu các phế liệu chưa
được chú trọng, công tác bảo vệ môi trường vẫn chưa được quan tâm đúng mức…
Việc nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại các cơ sở sản xuất được các
cơ quan quản lý nhà nước quan tâm và khuyến khích các cơ sở sản xuất áp dụng Trong thời gian qua, có một số cơ sở sản xuất ở Việt Nam đã triển khai áp dụng sản xuất sạch hơn và có những kết quả nhất định Tuy nhiên, các cơ sở đã triển khai áp dụng hầu hết là các cơ sở có quy mô sản xuất lớn; việc nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn ở các cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ hầu như chưa được triển khai thực hiện
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc chưa có nghiên cứu cụ thể về áp dụng sản xuất sạch hơn tại các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ và vừa, trong khi đó các cơ sở sản xuất giấy được đánh giá là một trong những loại hình sản xuất có mức độ gây ô nhiễm môi trường lớn nhất, đặc biệt là môi trường nước, bên cạnh đó nền công nghiệp sản xuất giấy vừa và nhỏ chưa có nhiều cải tiến về công nghệ Vì vậy, việc nghiên cứu
áp dụng sản xuất sạch hơn trong cơ sở sản xuất giấy trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc là cần thiết
Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn trong cơ sở sản xuất giấy sẽ góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và năng lượng
Trang 8Đề tài tập trung nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại cơ sở sản xuất của Doanh nghiệp tư nhân Anh Đức tại cụm công nghiệp Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc
Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan chức năng định hướng phát triển bền vững ngành sản xuất giấy; các cơ sở sản xuất giấy áp dụng sản xuất sạch hơn để cải tiến công nghệ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng, tăng cường sức cạnh tranh của sản phẩm
Luận văn được trình bày theo các chương, phần như sau:
- Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu;
- Chương 2 Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu;
- Chương 3 Kết quả nghiên cứu;
- Kết luận và kiến nghị;
- Tài liệu tham khảo
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về sản xuất sạch hơn
1.1.1 Khái niệm sản xuất sạch hơn:
Theo Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP, 1994) [8]:
Sản xuất sạch hơn là sự áp dụng liên tục chiến lược môi trường tổng hợp mang tính phòng ngừa trong các quy trình, sản phẩm, và dịch vụnhằm nâng cao hiệu suất và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường
- Với các quy trình sản xuất, SXSH bao gồm việc bảo tồn các nguyên liệu thô và năng lượng, loại bỏ các nguyên liệu thô độc hại, và giảm lượng và độ độc của tất cả các phát thải cũng như chất thải;
- Với các sản phẩm, SXSH bao gồm việc giảm thiểu các tác động tiêu cực trong vòng đời sản phẩm, từ khi khai thác nguyên liệu thô cho tới khi thải bỏcuối cùng; và
- Với các dịch vụ, SXSH là sự tích hợp các mối quan tâm về môi trường trong quá trình thiết kế và cung ứng dịch vụ
- SXSH đòi hỏi áp dụng các bí quyết, cải tiến công nghệ và thay ñổi thái độ
Sự khác biệt căn bản giữa cách tiếp cận xử lý cuối đường ống (EOP) hay còn gọi là kiểm soát ô nhiễm và SXSH là thời điểm Kiểm soát ô nhiễm là phương pháp tiếp cận sau khi vấn đề đã phát sinh, “phản ứng và xử lý”; trong khi đó, SXSH lại mang tính chủ động, theo "triết lý dự đoán và phòng ngừa" Phòng ngừa, như được thừa nhận rộng rãi, luôn luôn tốt hơn xử lý, như câu nói “phòng bệnh hơn chữa bệnh” Khi giảm thiểu chất thải và ô nhiễm thông qua SXSH thì đồng thời sẽ giảm tiêu thụ nguyên liệu và năng lượng SXSH luôn hướng tới hiệu suất sử dụng đầu vào gần tới 100% trong giới hạn về khả thi kinh tế Một điểm quan trọng cần nhấn mạnh rằng, SXSH không chỉ đơn thuần là thay đổi thiết bị mà SXSH đề cập tới thay đổi thái độ, quan điểm, áp dụng các bí quyết và cải tiến quy trình công nghệ sản xuất cũng như cải tiến sản phẩm
Trang 101.1.2 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan
1.1.2.1 Công nghệ sạch (Clean technology)
Bất kỳ biện pháp kỹ thuật nào được các ngành công nghiệp áp dụng để giảm thiểu hay loại bỏ quá trình phát sinh chất thải hay ô nhiễm tại nguồn và tiết kiệm được nguyên liệu và năng lượng đều được gọi là công nghệ sạch Các biện pháp kỹ thuật này có thể được áp dụng từ khâu thiết kế để thay đổi quy trình sản xuất hoặc là các áp dụng trong các dây chuyền sản xuất nhằm tái sử dụng sản phẩm phụ để tránh thất thoát (OCED, 1987)
1.1.2.2 Công nghệ tốt nhất hiện có (Best Available Technology - BAT)
Là công nghệ sản xuất có hiệu quả nhất hiện có trong việc bảo vệ môi trường nói chung, có khả năng triển khai trong các điều kiên thực tiễn về kinh tế, kỹ thuật,
có quan tâm đến chi phí trong việc nghiên cứu, phát triển và triển khai bao gồm thiết kế, xây dựng, bảo dưỡng, vận hành và loại bỏ công nghệ (UNIDO, 1992) BAT giúp đánh giá tiềm năng áp dụng SXSH
1.1.2.3 Hiệu quả sinh thái (Eco-efficiency)
Hiệu quả sinh thái (HQST) là sự tạo ra hàng hoá và dịch vụ có giá cả rẻ hơn trong khi giảm được tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng và các tác động môi trường trong suốt vòng đời của sản phẩm và dịch vụ (WBCSD, 1992) Nói cách khác, hiệu quả sinh thái chính là hiệu quả sử dụng các tài nguyên sinh thái để tạo ra sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của con người Hai khái niệm SXSH và HQST được xem như là đồng nghĩa
1.1.2.4 Phòng ngừa ô nhiễm (Pollution prevention)
Hai thuật ngữ SXSH và phòng ngừa ô nhiễm (PNÔN) thường được sử dụng thay thế nhau Chúng chỉ khác nhau về mặt địa lý Thuật ngữ PNÔN được sử dụng
ở Bắc Mỹ trong khi SXSH được sử dụng ở các khu vực còn lại trên thế giới
1.1.2.5 Giảm thiểu chất thải (Waste minimisation)
Khái niệm về giảm thiểu chất thải (GTCT) được đưa ra vào năm 1988 bởi Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ(US EPA) Hai thuật ngữ GTCT và PNÔN thường được sử dụng thay thế nhau Tuy nhiên, GTCT tập trung vào việc tái chế chất thải
Trang 11và các phương tiện khác để giảm thiểu lượng chất thải bằng việc áp dung nguyên tăc 3P (Polluter Pay Principle) và 3R (Reduction, Reuse, Recycle)
1.1.2.6 Năng suất xanh (Green productivity)
Năng suất xanh (NSX) là thuật ngữ được sử dụng vào năm 1994 bởi Cơ quan năng suất Châu Á (APO) để nói đến thách thức trong việc đạt được sản xuất bền vững Giống như SXSH, năng suất xanh là một chiến lược vừa nâng cao năng suất vừa thân thiện với môi trường cho sự phát triển kinh tế- xã hội nói chung
1.1.2.7 Kiểm soát ô nhiễm (Pollution control)
Kiểm soát ô nhiễm (KSÔN) là cách thể hiện khác của xử lý cuối đường ống
Sự khác nhau cơ bản KSÔN và SXSH, do đó, là ở thời gian “can thiệp” KSÔN là một cách tiếp cận từ phía sau (chữa bệnh), trong khi SXSH là cách tiếp cận từ phía trước, mang tích chất dự đoán và phòng ngừa [8]
- Kiểm soát chất ô nhiễm bằng các bộ
lọc, các hệ thống xử lý nước thải,
- Áp dụng khi các quá trình và sản phẩm
đã được phát triển và vấn đề đã nảy sinh
- Là yếu tố đóng góp vào chi phí, giá
thành
- Trách nhiệm giải quyết là bởi các
chuyên gia môi trường
- Cải thiện môi trường bằng giải pháp kỹ
- Chất thải được xem như nguồn tài
nguyên
- Trách nhiệm giải quyết là của tất cả mọi người trong công ty
- Cải thiện môi trường gồm cả tiếp cận
kỹ thuật và phi kỹ thuật
- Cải thiện môi trường là quá trình liên tục để đạt các tiêu chuẩn ngày càng cao hơn
- Chất lượng vừa là đáp ứng nhu cầu khách hàng, vừa là gây tác động thấp nhất lên sức khỏe và môi trường
Trang 121.1.2.8 Sinh thái công nghiệp (Industrial ecology)
Việc quảng bá và nâng cao nhận thức về SXSH đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể ở nhiều nơi trên thế giới Tuy nhiên, các nỗ lực về SXSH thường chỉ tập trung vào các quá trình sản xuất đơn lẻ, các sản phẩm cụ thể hoặc các vật liệu độc hại mang tính cách cá nhân hơn là một bức tranh toàn cảnh về các tác động môi trường do một hệ thống sản xuất công nghiệp gây ra Do vậy, song song với sự phát triển của SXSH, các nhà khoa học, các kỹ sư và các nhà quản lý công nghiệp đã
nhận ra rằng cần phải xây dựng một hệ thống sản xuất công nghiệp mang tính chất
tuần hoàn dẫn ñến việc tất cả các đầu ra của quá trình sản xuất này trở thành các đầu vào của các quá trình sản xuất khác để giảm thiểu tối đa lượng chất thải [8]
Chính các mối quan hệ phức tạp giữa các sinh vật và vật chất trong các hệ sinh thái tự nhiên đã cung cấp cho con người một bài học giá trị về việc làm thế nào
để thiết kế tốt hơn các hệ thống công nghiệp Tương tự như các hệ sinh thái trong tự nhiên mà ở đó chất thải của một sinh vật này trở thành nguồn thức ăn của một sinh vật khác, con người cần phải phát triển các hệ thống sản xuất mà trong đó không còn chất thải Chính ý tưởng này đã dẫn đến khái niệm về sinh thái công nghiệp (STCN) Điều này có nghĩa là tất cả các đầu ra của một quá trình sản xuất sẽ là các đầu vào của các quá trình sản xuất khác theo một vòng tuần hoàn [8]
1.1.3 Nhu cầu SXSH
Phương pháp kiểm soát cuối đường ống truyền thống khi áp dụng cho các cơ
sở sản xuất giấy và bột giấy quy mô vừa và nhỏlà rất tốt kém Trong một số trường hợp, chi phí cho một trạm xử lý chất thải lên tới 20% tổng chi phí vốn của nhà máy
và thiết bị Ngoài ra phí vận hành hàng năm có thểlên đến 12-15% tổng doanh thu của ngành Vì vậy một phương pháp tiếp cận tốt hơn sẽ là khai thác các cơ hội SXSH để giảm thiểu ô nhiễm tại nguồn rồi tiến hành kiểm soát phần ô nhiễm còn lại Tiếp cận này không chỉmang lại hiệu quảvềnguồn lực, giảm chi phí sản xuất, mà còn giảm thiểu cả chi phí xử lý dòng thải
Khái niệm về SXSH cũng cần thiết khi nhìn nhận từ các khía cạnh khác như [14]:
Trang 13Nhu cầu do các quy định pháp luật
Để đảm bảo các tiêu chuẩn quy định vềphát thải (lỏng, rắn hoặc khí) thì thường đòi hỏi các cơ sở sản xuất phải trang bị các hệ thống kiểm soát ô nhiễm phức tạp và tốn kém, ví dụ các trạm xử lý nước thải Sau khi áp dụng SXSH, việc
xử lý lượng chất thải còn lại trở lên dễ dàng và ít tốn kém hơn Sở dĩ làm được điều này là do SXSH đã giúp giảm thiểu chất thải về mọi mặt: khối lượng, trọng lượng,
và cả độ độc
Nhu cầu do việc triển khai hệ thống quản lý môi trường (EMS)
ISO 14000 là một quy trình cấp chứng nhận đối với EMS, nhằm đảm bảo rằng các công ty cam kết thực hiện cải tiến liên tục trong hoạt động môi trường của mình Chứng nhận này cũng thể hiện sự quan tâm của công ty đến môi trường Một
số nhà nhập khẩu luôn đòi hỏi chứng chỉ ISO của công ty trước khi họ đặt hàng SXSH sẽ giúp việc triển khai hệ thống quản lý môi trường như ISO 14000 dễ dàng hơn nhiều Sở dĩ như vậy là do hầu hết các công việc ban đầu đã được thực hiện thông qua đánh giá SXSH
Nhu cầu do mong muốn tiếp cận các cơ hội phát triển thị trường mới
Nhận thức của khách hàng về các vấn đề môi trường ngày càng nâng cao đã làm nảy sinh nhu cầu về các sản phẩm xanh trên thị trường quốc tế Kết quả là khi
nỗ lực thực hiện SXSH thì đã mở ra các cơ hội phát triển thị trường mới cho mình
và sản xuất ra các sản phẩm chất lượng cao hơn, có thể bán được với giá cao hơn
Nhu cầu do mong muốn tiếp cận dễ dàng hơn tới các nguồn tài chính
Các đề án đầu tư dựa vào SXSH sẽ chứa đựng thông tin chi tiết về tính khả thi môi trường, kỹ thuật và kinh tế của khoản đầu tư dự kiến Điều này tạo ra một cơ
sở vững chắc để giành được sự hỗ trợ tài chính từ các ngân hàng hoặc các quỹ môi trường Ví dụ: trong công nghiệp giấy và bột giấy, nếu một giải pháp SXSH là lắp đặt một chụp kiểm soát vận tốc ở bộ phận xeo giấy, thì cần phải tiến hành phân tích chi tiết về tiềm năng tiết kiệm hơi nước, tăng công suất sản xuất… Công ty có thể trình kết quả phân tích này lên các ngân hàng để xin vay vốn cho dự án lắp đặt chụp
Trang 14kiểm soát vận tốc Trên thị trường quốc tế, các tổ chức tài chính đang rất quan tâm đến vấn đề suy thoái môi trường và đang nghiên cứu đơn xin vay vốn theo quan điểm môi trường
Nhu cầu cần thiết cho việc cải thiện môi trường làm việc
Bên cạnh nâng cao hiệu quảmôi trường và kinh tế, SXSH còn có thể cải thiện các điều kiện về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp cho người lao động Ví dụ, việc giảm thiểu rò rỉ clo tại công đoạn tẩy trắng sẽ giảm mùi clo khó chịu trong không khí nhờ đó có thể nâng cao năng suất của người công nhân Các điều kiện làm việc thuận lợi có thể nâng cao tinh thần cho người lao động và đồng thời tăng cường sự quan tâm tới vấn đề kiểm soát chất thải Các hành động như vậy sẽ giúp cho công ty của bạn thu được lợi thế cạnh tranh
Nhu cầu do vấn đề bảo tồn tài nguyên
Bảo tồn nguyên liệu thô: Vì chi phí nguyên liệu đầu vào tăng nên không có nhà sản xuất công nghiệp nào có thể trang trải cho những tổn thất tài nguyên dưới dạng chất thải Suất tiêu hao các nguyên liệu này có thể giảm đi đáng kể khi áp dụng các giải pháp SXSH như tối ưu hóa quy trình, tuần hoàn và các biện pháp quản lý tốt nội vi
Bảo tồn nguồn nước:
Nước là nguồn tài nguyên đang bị cạn kiệt và một số cơ sở công nghiệp đang phải đối mặt với vấn đề thiếu nước Việc khai thác nguồn nước ngầm liên tục còn phải cộng thêm cả chi phí cho việc bơm hút nước Hơn thế nữa, một yếu tố rất quan trọng thường bị bỏ qua trong các ngành công nghiệp chế biến đó là càng sử dụng nhiều nước trong quy trình sản xuất thì chi phí cho hóa chất và năng lượng cũng càng nhiều
Bảo tồn năng lượng:
Ngày nay dưới sức ép về thay đổi khí hậu và hiện tượng nóng lên toàn cầu, các chương trình như: Cơ chế phát triển sạch và thương mại Carbon đang là cơ hội sẵn sàng để các cơ sở công nghiệp tận dụng bằng cách bán lượng phát thải khí nhà
Trang 15kính (GHG) mà họ đã giảm được qua các năm nhờ áp dụng các biện pháp bảo tồn năng lượng
Bảng 1.1 mô tả tình hình tiêu thụ tài nguyên trong các cơ sở sản xuất giấy và bột giấy ở Việt Nam so với các quốc gia khác, từ đó gợi ý tiềm năng có thể khai thác bằng việc áp dụng các nguyên lý của phương pháp luận SXSH
Bảng 1.1: So sánh tiêu thụ tài nguyên và tiềm năng cho các cơ hội SXSH
máy sử dụng phế thải nông nghiệp)
Nhà máy ở Bắc Âu (giấy bao bì tẩy trẳng – ỗmềm)
Tiềm năng
Xơ (sản lượng %) 44 – 55% 40 – 44% 55% Trung bình Hóa chất (kg/T) 80 – 150 71-135 75 Trung bình Nhiệt năng
Nguồn: Tài liệu hướng dẫn sản xuất sạch hơn trong ngành giấy và bột giấy, Trung
tâm sản xuất sạch Việt Nam, 2008
1.1.4 Các kỹ thuật SXSH
Sản xuất sạch hơn là phương pháp tiếp cận mới và sáng tạo để giảm mức độ
sử dụng tài nguyên trong quá trình sản xuất dựa vào một loạt các kỹ thuật Các kỹ thuật này có thể được phân thành 3 nhóm như sau:
Quản lý tốt nội vi
Trang 16Đây là kỹ thuật phòng ngừa các chỗ rò rỉ, chảy tràn thông qua bảo dưỡng phòng ngừa và kiểm tra thiết bị thường xuyên, cũng như kiểm soát việc thực hiện đúng hướng dẫn công việc hiện có thông qua đào tạo và giám sát phù hợp
Thay đổi quy trình
- Thay đổi nguyên liệu đầu vào: Thay thế nguyên liệu đầu vào bằng các
nguyên liệu tái tạo, ít độc hại hơn hoặc dùng các vật liệu phụ trợ có tuổi thọ hữu ích dài hơn
- Kiểm soát quy trình tốt hơn: Theo dõi việc tuân thủ thông số vận hành của
quy trình thiết kế, sửa đổi các quy trình làm việc, các hướng dẫn vận hành thiết bị
để đạt hiệu quả cao hơn hơn, giảm lãng phí và phát thải
- Cải tiến thiết bị: Cải tiến các thiết bị sản xuất và phụ trợ hiện có, ví dụ lắp
thêm bộ phận đo đạc kiểm soát nhằm vận hành các quy trình với hiệu quả cao hơn
và giảm tỉ lệ phát thải
- Thay đổi công nghệ: Thay thế công nghệ, trình tự trong quy trình và cách
thức tổng thể nhằm giảm thiểu lãng phí và phát thải trong quá trình sản xuất
Tuần hoàn và tái sử dụng
- Thu hồi và tái sử dụng tại chỗ: tái sử dụng các nguyên liệu bị lãng phí cho
công đoạn khác trong dây chuyền sản xuất hoặc cho một ứng dụng hữu ích khác trong công ty
- Sản xuất các sản phẩm phụ hữu dụng: Thay đổi quy trình phát sinh chất
thải nhằm biến nguyên liệu bị lãng phí thành một dạng nguyên liệu có thể được tái
sử dụng hoặc tuần hoàn cho ứng dụng khác ngoài công ty
Trang 17Tiếp cận tài chính dễ dàng: Cơ quan tài chính ngày một nhận thức rõ sự
nghiêm trọng của việc huỷ hoại môi trường và hiện đang nghiên cứu các dự thảo dự
án mở rộng hoặc hiện đại hoá mà trong đó các khoản vay đều được nhìn nhận từ góc độ môi trường Các kế hoạch hành động về sản xuất sạch hơn sẽ đem lại hình ảnh môi trường có lợi về doanh nghiệp của bạn tới các nhà cho vay, do đó sẽ tạo điều kiện tiếp cận dễ dàng hơn với các nguồn hỗ trợ tài chính
Các cơ hội thị trường mới: Việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về
các vấn đề môi trường đã dẫn đến sự bùng nổ nhu cầu về sản phẩm xanh trên thị trường quốc tế Chính vì vậy, khi bạn có những nỗ lực nhận thức về sản xuất sạch hơn, bạn sẽ có cơ hội thị trường mới và sản xuất các sản phẩm chất lượng cao, bán với giá cao hơn Các doanh nghiệp thực hiện sản xuất sạch hơn sẽ đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, ví dụ như ISO 14001, hoặc các các yêu cầu của thị trường như nhãn sinh thái
Tạo nên hình ảnh công ty tốt hơn: Sản xuất sạch hơn phản ánh và cải thiện
hình ảnh chung về doanh nghiệp của bạn Một công ty với hình ảnh “xanh” sẽ được
cả xã hội và và các cơ quan hữu quan chấp nhận dẽ dàng hơn
Môi trường làm việc tốt hơn: Việc nhận thức ra tầm quan trọng của môi trường làm
việc sạch và an toàn đang ngày một gia tăng trong lực lượng công nhân Bằng cách đảm bởi các điều kiện làm việc thích hợp thông qua thực hành sản xuất sạch hơn, bạn có thể làm tăng ý thức tiết kiệm năng lượng của người lao động, đồng thời xây dựng ý thức kiểm soát chất thải Các hoạt động như vậy giúp doanh nghiệp của bạn đạt được khả năng cạnh tranh
Tuân thủ luật môi trường tốt: Các tiêu chuẩn môi trường về phát thải các
chất thải (lỏng, rắn, khí) đang trở nên ngày càng chặt chẽ hơn Để đáp ứng được các tiêu chuẩn này thường yêu cầu việc lắp đặt các hệ thống kiểm soát ô nhiễm phức tạp
và đắt tiền Sản xuất sạch hơn hỗ trợ cho việc xử lý các dòng chất thải, do đó doanh nghiệp sẽ tuân thủ các tiêu chuẩn một cách dễ dàng, đơn giản và rẻ tiền hơn
1.1.6 Tổng quan về sản xuất sạch hơn tại Việt Nam trong thời gian qua:
Trang 18Ở nước ta bắt đầu đưa khái niệm này vào năm 1996 và theo Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam cho biết từ năm 1996 đến nay Chính phủ đã tiếp nhận 20 dự án quốc tế và đề tài cấp nhà nước về SXSH, giảm thiểu chất thải và các lĩnh vực liên quan Ngày 22/9/1999, Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã ký Tuyên ngôn quốc tế về SXSH Kế hoạch hành động quốc gia về SXSH (2001-2005)
đã được ban hành
Các hoạt động sản xuất sạch ở nước ta những năm gần đây chủ yếu tập trung vào các hoạt động chính như sau:
- Phổ biến thông tin và nâng cao nhận thức;
- Trình diễn kỹ thuật đánh giá SXSH tại doanh nghiệp nhằm thuyết phục giới công nghiệp tiếp cận SXSH vào hoạt động sản xuất kinh doanh;
- Đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng năng lực quốc gia về sản xuất sạch hơn
Từ năm 1999 đến nay, số doanh nghiệp thực hiện SXSH tăng lên theo từng năm Theo Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam, năm 1999 có 10 DN, đến năm 2005 có 45
DN và đã có trên 35 tỉnh triển khai thực hiện SXSH trong công nghiệp, đến năm
2008 thì con số này đã lên đến hàng trăm doanh nghiệp
Những con số trên quả là còn rất khiêm tốn so với tổng số DN trong cả nước nhất là trong tiến trình hội nhập hiện nay, các DN không ngừng phát triển cả về quy
mô và công nghệ sản xuất Tuy nhiên, SXSH trong công nghiệp cũng gặp không ít những rào cản như:
- Thiếu sự quan tâm và cam kết của các cơ sở công nghiệp với chiến lược SXSH;
- Thiếu các chuyên gia về SXSH cho các ngành công nghiệp khác nhau;
- Thiếu các thông tin về công nghệ tốt nhất hiện có và công nghệ tốt nhất có tính hấp dẫn về mặt kinh tế;
- Thiếu nguồn tài chính để đầu tư cho các công nghệ mới, sạch hơn Đặc biệt thiếu hệ thống quy định có tính chất pháp lý khuyến khích tiết kiệm;
- Quyết định đầu tư chưa được đặt ra trên cơ sở tính toán chi phí tổng thể bao gồm cả các chi phí môi trường
Trang 19Hiện nay, SXSH vẫn được xem như là một dự án chứ không phải là chiến lược thực hiện liên tục của một DN, công ty, mặc dù Bộ Công Thương đã xây dựng
và được Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về sản xuất sạch hơn trong công nghiệp, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để SXSH hơn thực sự phát triển và lan rộng trong các DN trên cả nước
Từ thực trạng môi trường trong công nghiệp cho thấy, tác động tổng hợp các chất thải ra môi trường là rất lớn và ngày càng nghiêm trọng Các loại chất thải không chỉ ảnh hưởng tới môi trường sản xuất kinh doanh của các DN mà tác hại lớn hơn là ảnh hưởng tới môi trường và đời sống nhân dân ở các khu vực xung quanh
Do vậy, việc áp dụng SXSH trong công nghiệp là rất cần thiết
Nếu tính theo từng công đoạn trong quá trình sản xuất thì hiệu quả và lợi ích
từ việc áp dụng SXSH trong công nghiệp là rất lớn cụ thể có thể tóm tắt các lợi ích
cơ bản như sau:
- Tiết kiệm chi phí thông qua giảm lãng phí năng lượng và nguyên liệu;
- Cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty;
- Chất lượng và độ đồng đều của sản phẩm tốt hơn;
- Thu hồi một lượng nguyên liệu bị hao phí trong quá trình sản xuất;
- Có khả năng cải thiện môi trường làm việc (sức khỏe và an toàn);
- Cải thiện hình ảnh của công ty;
- Tuân thủ các quy định môi trường tốt hơn;
- Tiết kiệm chi phí xử lý cuối đường ống;
- Có được các cơ hội thị trường mới và tốt hơn
Tài liệu của Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam đã có ví dụ thực tế về hiệu quả và lợi ích thu hồi bột giấy và nước sau xeo của một công ty Trước khi áp dụng SXSH, hệ thống xeo giấy sử dụng nước xong thải bỏ ngay Nhưng sau khi đã áp dụng SXSH công ty đã đầu tư một hệ thống bể lắng thu hồi bột và tuần hoàn nước quay về công đoạn xeo, giá thành đầu tư là 370 triệu đồng, thời gian hoàn vốn là 3,9 năm Hiệu quả thu hồi 152 tấn bột giấy/năm và 37.975m3
nước/năm Về mặt kinh
tế, tiết kiệm 94 triệu đồng/năm, về môi trường giảm thải 152 tấn bột giấy và
Trang 2037.975m3 nước thải/năm Một ví dụ khác về cô đặc thu hồi dung dịch crom, trước SXSH nước rửa sau bước mạ crom có nồng độ loãng và bị thải bỏ, sau SXSH công
ty này đã cô đặc dung dịch nước rửa và tuần hoàn trở lại bể mạ, giá thành đầu tư không đáng kể nhưng hiệu quả mang lại rõ rệt Đã giảm tiêu thụ 64kg crom/năm, tiết kiệm 2.359.000 đồng/năm, giảm thải 64kg crom/năm Như vậy, việc áp dụng SXSH trong DN đem lại nhiều lợi ích về kinh tế và môi trường cho các công ty
Hơn nữa, hiện nay nhận thức của người tiêu dùng ngày một tăng về các vấn
đề môi trường, tạo nên nhu cầu về các sản phẩm xanh trên thị trường quốc tế Điều này dẫn đến việc có thể mở ra một cơ hội thị trường mới và sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao với giá thành cạnh tranh hơn nếu tập trung nỗ lực vào SXSH Các
DN khi áp dụng SXSH hầu hết đều được tiếp nhận hỗ trợ tài chính của ngân hàng hoặc các quỹ môi trường Bên cạnh việc cải thiện hiện trạng kinh tế và môi trường, SXSH còn có thể cải thiện các điều kiện an toàn và sức khỏe nghề nghiệp cho nhân viên SXSH sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các DN thực hiện hệ thống quản lý môi trường như ISO 14000 Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới năm
2006 Đây là thử thách cho các DN Việt Nam khẳng định khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường Khả năng cạnh tranh không chỉ chịu ảnh hưởng của giá cả và chất lượng của sản phẩm mà còn có cả các yếu tố liên quan đến thái độ của DN đối với các vấn đề xã hội và môi trường Tiếp cận SXSH chính là công cụ và cơ hội giúp ngành công nghiệp hướng tới hiệu quả cao hơn trong sản xuất kinh doanh
1.2 Tổng quan công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy
1.2.1 Sơ lược về công nghệ sản xuất giấy và bột giấy
Bản chất của công nghiệp giấy và bột giấy (CNGBG) là từ các nguyên liệu chứa xellulô (tre nứa, gỗ .) bằng các tác nhân khác nhau ta loại bỏ phần không xellulô, phần bột xellulô thu được là bột giấy, tuỳ vào chủng loại của giấy sản phẩm, bột giấy có thể được tẩy trắng bằng hoá chất hoặc không tẩy trắng rồi được trộn với các thành phần khác (bột độn, bột màu, keo ) để xeo thành giấy
Các tác nhân để phân huỷ nguyên liệu tre, nứa, gỗ thường là xút, các hợp chất của lưu huỳnh (Na2S hoặc Na2SO4), cơ, nhiệt
Trang 21Các tác nhân tẩy trắng thường là các hợp chất chứa clo hoạt động như clo, nước javen, clođioxit, các hợp chất chứa ôxy hoạt như ôxy kỹ thuật, H2O2 Như vậy, điều tất yếu là nước thải của CN GBG tất yếu là chứa nhiều loại hoá chất độc hại, nhất là các hợp chất hữu cơ chứa clo và tất nhiên là một lượng lớn xút dư
So với các nghành công nghiệp khác, CN GBG được liệt vào nhóm 5 ngành
lớn (thép, nhôm, giấy, hoá chất, ximăng) về mặt tiêu hao năng lượng và gây ô
nhiễm môi trường Đối với môi trường nước, CN GBG thuộc loại thải nhiều số một
Như vậy, một nhà máy giấy hoàn chỉnh sẽ gồm các công đoạn sau:
Chuẩn bị nguyên liệu: băm, rửa nguyên liệu thành các mảnh nhỏ;
Nấu bột với các hoá chất thích hợp để hoà tan những phần không phải xellulô;
Rửa và tẩy bột;
Xeo giấy thành sản phẩm
Đối với những nhà máy hiện đại
Thu hồi hoá chất (xem sơ đồ kèm theo)
Ngành công nghiệp giấy và bột giấy là một trong những ngành sản xuất lâu đời nhất, tuy nhiên quá trình tẩy trắng bằng hoá chất có thể coi là sản phẩm của thế
kỷ 20 và đang có những bước ngoặt ở những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 này Quá trình tẩy trắng bột giấy (xenlulo thực vật) trải qua những bước tiến hoá sau:
1 Hipoclorua một giai đoạn (H): Ca(ClO)2 được điều chế bằng cách thổi khí
Cl2 qua huyền phù Ca (OH)2, sản phẩm thu được trộn với huyền phù 7% bột giấy ở
35 oC Tới những năm 1920, quá trình này đã là chủ đạo
2 Hipoclorua hai giai đoạn (HH): khoảng 70% của tổng H theo yêu cầu
được cho vào từ đầu khuấy trộn tới khi hết clo tự do, rửa sạch rồi cho nốt 30% còn lại vào HH tăng khả năng tẩy trắng và giảm thiểu ảnh hưởng của chất oxi hoá lên cường độ của sợi xenlulo
Trang 223, 4 Clo hoá bằng khí clo (C): khí Cl2 được áp dụng quy mô công nghiệp từ năm 1930, C tỏ ra là chất oxi hoá lignin chọn lọc (nghĩa là ôxy hoá lignin mạnh hơn trong khi ít oxi hoá xenlulo hơn) hiệu quả hơn H nhiều Đây là bước ngoặt trong kỹ thuật tẩy trắng Đặc biệt do C phân huỷ mạnh lignin nên khi kết hợp với xử lý kiềm
(ankali extraction - công đoạn E) hiệu quả tẩy lignin (delignin) rất lớn
Sự kết hợp CEH giảm thiểu chi phí H, tăng mạnh độ trắng, giảm thiểu ảnh hưởng tới cường độ sợi xenllulô (do ôxy hoá xellulô) Quá trình CEHH chính là công nghệ đang áp dụng ở nhà máy giấy lớn nhất nước ta là nhà máy giấy Bãi Bằng, trong đó
CE chủ yếu là quá trình lôi kéo lignin ra khỏi tế bào gỗ, HH tạo độ trắng của sản phẩm
5 Clorua dioxit (D): quá trình này được áp dụng từ 1940 D tỏ ra là tác nhân
tạo độ trắng chọn lọc hơn cả H Chất lượng giấy của dây chuyền CEHD tỏ ra cao hơn CEHH mà cường độ sợi ít bị ảnh hưởng lớn
6 Hydrogen peroxit (P): P tương tự D nghĩa là có tính tẩy trắng chọn lọc
cao Do lí do kinh tế, P thường đưa vào sau D khi mà lượng lignin còn ít Từ 1960, CEDEP trở nên tiêu chuẩn trong ngành bột giấy ở BaPaCo, quá trình D được đưa vào từ 1997 cùng với E
7 Oxygen (O): bắt đầu từ phát hiện của nhóm Robert (Pháp) về nghiên cứu
bảo vệ xenllulo bằng muối của Mg2+ Người ta thấy khi đó ôxy oxi hoá mạnh lignin trong khi không động tới xenllulo Quá trình này được thương mại hoá đầu tiên từ
1970 ở Nam Phi ở VN, BaPaCo có kế hoạch đưa công nghệ này vào trong kế hoạch
mở rộng nhà máy giai đoạn 1 (khoảng 2001) ở Thuỷ Điển phần lớn các nhà máy chuyển sang dùng O từ 1980 ở Bắc Mỹ thì bắt đầu chậm hơn
8 Ozon: về nguyên tắc, O3 mạnh hơn O và có thể tẩy hoàn toàn lignin, tuy nhiên nó cũng phá huỷ xenllulo Mãi 1992, vấn đề này mới được kiểm soát và nhà máy đầu tiên áp dụng là Union Camp Co., Virginia (1.000 tấn /ngày) sử dụng ozon
và D Tới 1995 có tổng số khoảng 15 nhà máy, chủ yếu ở Châu Âu áp dụng công nghệ này
Trang 23xuất hiện công nghệ ASAM (Alkaline -Sulfite-Antraquinon-Methanol) với 15%
sulfit, 5% NaOH (tính theo Na2O/gỗ) và 0,1% AQ hoà tan trong 80% nước và 20% methanol So với công nghệ nấu Kraft tăng cường, ASAM cho kết quả xử lý lignin tăng thêm 15-25%, hiệu suất xơ tăng 3%, cơ lý tính tốt hơn 20% Tuy nhiên, phương pháp này còn chưa thương mại hoá Bên cạnh thay đổi hoá chất, việc thay
đổi kỹ thuật nấu cũng góp phần tăng hiệu quả đề lignin, ví dụ công nghệ EMCC
(Extended Modified Continuous Cooking) Hệ quả của các công nghệ nấu mới này
là giảm chi phí hoá chất tẩy trắng và giảm tổng lượng thải vào môi trường
Gần đây, ở các nước công nghiệp đã nghiên cứu quá trình đề lignin bằng quá trình sinh hoá, người ta chờ đợi sự áp dụng kỹ thuật rất sinh thái này vào những năm đầu thế kỉ 21 Tóm tắt sự phát triển các công nghệ sản xuất giấy và bột giấy được biểu diễn ở hình 1-1 [6]
Trang 24Hình1-1 Sự phát triển các công nghệ sản xuất giấy và bột giấy
(3%L)
TÈy tr¾ng
Bét tÈy tr¾ng (0%L)
NÊu deL t¨ng c-êng
Thu håi
HC
*1950s: 100m 3 /t *1970s:
Bét (1,5%L)
(0%L)
NÊu deL t¨ng c-êng
Thu håi
Bét (1,5%L)
DÞc
h
®en
DEopP/ZEopP
Trang 25Hình 1-2 Xu thế tiêu thụ hoá chất tẩy trắng trong ngành bột giấy thế giới (trái)
và công ty Weyerhaeuser (phải)
1.2.2 Chất thải trong công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy
Nhà máy giấy và bột giấy sinh ra chất thải dạng nước thải, khí thải, và chất thải rắn Loại phát thải nổi bật nhất là nước thải, tiếp đó là khí thải và chất thải rắn
1.2.4.1 Nước thải
Các nhà máy giấy và bột giấy sinh ra một lượng lớn nước thải và nếu không được xử lý thì có thể ảnh hưởng tới chất lượng nguồn tiếp nhận Bảng 1.2 cho thấy các nguồn nước thải khác nhau trong một nhà máy giấy và bột giấy {14}
Bảng 1.2: Các nguồn nước thải từ các bộ phận và thiết bị khác nhau
Trang 26Bộ phận Các nguồn điển hình
� Rửa bột giấy chưa tẩy trắng
� Phần tách loại có chứa nhiều sơ, sạn và cát
� Phần lọc ra khi làm đặc bột giấy
� Nước rửa sau tẩy trắng có chứa chlorolignin
� Nước thải có chứa hypochlorite Chuẩn bị phối liệu
bột
� Rò rỉ và tràn các hoá chất / phụ gia
� Rửa sàn Xeo giấy � Phần tách loại từ máy làm sạch ly tâm có chứa
� Nước ngưng tụ chưa được thu hồi
� Nước thải hoàn nguyên từ tháp làm mềm
� Nước làm mát máy nén khí Thu hồi hóa chất � Nước ngưng tụ từ máy hóa hơi
� Dịch loãng từ thiết bị rửa cặn
� Dịch loãng từ thiết bị rửa bùn
� Nước bẩn ngưng đọng
� Nước ngưng tụ từ thiết bị làm mát và từ hơi nước
Nguồn: Tài liệu hướng dẫn sản xuất sạch hơn trong ngành giấy và bột giấy, Trung
tâm sản xuất sạch Việt Nam, 2008
Trang 27Phần lớn nước thải phát sinh là nước dùng trong quy trình tiếp xúc với nguyên liệu thô, với các sản phẩm và sản phẩm phụ, và chất dư thừa
Sản xuất giấy về căn bản là một quá trình vật lý (thuỷ cơ), nhưng các chất phụ gia trong quá trình xeo giấy như các hợp chất hồ và phủ, cũng là một trong những nguyên nhân gây ra ô nhiễm So với quá trình làm bột, nước thải từ các công đoạn sản xuất giấy có phần cao hơn về hàm lượng chất rắn lơ lửng nhưng hàm lượng BOD lại ít hơn Các chất ô nhiễm xuất phát từ nước trắng dư, phần tách loại
từ quá trình sàng, và do tràn xơ, các chất độn và chất phụ gia Chất ô nhiễm lơ lửng chủ yếu là xơ và hợp chất với xơ, các chất độn và chất phủ, chất bẩn và cát trong khi đó các chất ô nhiễm hòa tan là các chất keo từ gỗ, thuốc nhuộm, các chất hồ (tinh bột và gôm), và các phụ gia khác Tổng lượng nước thải và giá trị tải lượng ô nhiễm cho một tấn giấy khô gió trước khi xử lý của một nhà máy giấy và bột giấy tại Việt Nam được trình bày ở bảng 1.3
Bảng 1.3: Ô nhiễm của nhà máy giấy và bột giấy điển hình tại Việt Nam
Nguồn: Tài liệu hướng dẫn sản xuất sạch hơn trong ngành giấy và bột giấy, Trung
tâm sản xuất sạch Việt Nam, 2008 1.2.4.2 Khí thải
Một trong những vấn đề về phát thải khí đáng chú ý ở nhà máy sản xuất giấy
là mùi Quá trình nấu tạo ra khí H2S có mùi rất khó chịu, methylmercaptant, dimethylsulphide và dimethyl-disulphide Các hợp chất này còn thường được gọi là tổng lượng lưu huỳnh dạng khử (TRS) Các hợp chất này được thoát ra từ quá trình
Trang 28nấu, khi phóng bột Các hợp chất mùi phát sinh khác có tỉ lệ tương đối nhỏ hơn so với TRS và có chứa hydrocarbons
Một nguồn ô nhiễm không khí khác là do quá trình tẩy trắng bột giấy Tại đây, clo phân tử bị rò rỉ theo lượng nhỏ trong cả quá trình tẩy Tuy nồng độ ô nhiễm không cao nhưng loại phát thải này lại cực kỳ độc hại
Trong quá trình thu hồi hóa chất, một lượng SO2 nồng độ cao cũng bị thoát
ra ngoài Các ô-xít lưu huỳnh được sinh ra từ các nhiên liệu có chứa sulphur (như than đá, dầu FO, v.v ) được sử dụng cho nồi hơi để tạo hơi nước Phát thải bụi cũng được quan sát thấy tại một số lò hơi đốt than khi không có đủ các thiết bị kiểm soát bụi (cyclon, túi lọc, ESP, v.v ) Một lượng nhỏ bụi cũng được thoát ra khi cắt mảnh gỗ Bên cạnh những loại phát thải này còn có rất nhiều loại phát thải tức thời khác từ quá trình sản xuất
1.2.4.3 Chất thải rắn
Chất thải rắn gồm bùn, tro, chất thải gỗ, tạp sàng, phần tách loại từ quá trình làm sạch ly tâm, cát và sạn Nguồn chính của bùn là cặn của bể lắng, và cặn từ tầng làm khô của trạm xử lý nước thải Bên cạnh đó, đôi khi còn có cặn dầu thải từ thùng chứa dầu đốt Khi sử dụng than, xỉ và phần than chưa cháy từ lò hơi cũng là nguồn thải rắn cần phải được thải bỏ một cách an toàn Lượng thải rắn của các công đoạn/hoạt động khác nhau phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như quy mô hoạt động, thành phần nguyên liệu thô, v.v và rất khó ước tính
1.2.3 Tổng quan về công nghiệp giấy và bột giấy Việt Nam
CNGBG Việt Nam có qui mô vừa và nhỏ, tổng công suất và mức tiêu thụ so với khu vực và thế giới còn rất thấp Năm 1995 sản xuất giấy của thế giới là cỡ 300 triệu tấn so với mức tiêu thụ bình quân đầu người là 48,7 kg, nhịp độ tăng so với năm 91 là 3,15% Ở khu vực Đông Nam á (ĐNA) con số tương ứng là 6,85 triệu tấn; 16,9 kg và 61% Việt nam có năng lực sản xuất giấy là 239.000 tấn /năm đứng thứ 5 ở khu vực ĐNA (2,7%) chiến tỷ lệ 0,31% châu á và bằng 0,08% năng lực sản xuất giấy của thế giới Năm 1995 Việt nam sản xuất 201.000 tấn, tiêu thụ 250.000
Trang 29tấn giấy, tăng 130.000 tấn so với năm 1991 (108%), đây là mức tăng cao nhất ĐNA Tuy nhiên, mức tiêu thụ đầu người vẫn rất thấp: 3,4 kg/năm, bằng 20% ĐNA và 7% thế giới [Võ Quốc Lam, 1997] Là một nước nhiệt đới có tiềm năng lớn về nguyên liệu tre, nứa, gỗ , với xu thế phát triển nói trên có thể chờ đợi sự tăng trưởng vượt bậc của CNGB VN
Hiện nay, đã có một số dự án sản xuất bột giấy lớn được triển khai: dự án Nhà máy Giấy và bột giấy ở Thanh Hóa, công suất 50.000 tấn bột và 60.000 tấn giấy/năm; Nhà máy Bột giấy Phương Nam (Long An) 100.000 tấn /năm; Nhà máy Bột giấy An Hòa (Tuyên Quang) 130.000 tấn /năm; mở rộng Công ty Giấy Bãi Bằng giai đoạn 2, công suất 250.000 tấn /năm … Các nhà máy này sẽ đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu bột giấy cho nhiều doanh nghiệp sản xuất trong nước trong thời gian tới
Về công nghệ, hiện tại công nghệ sản xuất ngành giấy của Việt Nam còn nhiều cơ sở sản xuất có quy mô vừa và nhỏ, thiết bị của các cơ sở này khá lạc hậu, chính điều này đã làm năng suất không cao, chất lượng kém [6] Công nghệ của CN GBG VN nhìn chung là cũ Phần lớn các NMG sử dụng công nghệ kiềm hoặc Kraft, chỉ có Cogita sử dụng công nghệ bột cơ nhiệt (CTMP) Về trang thiết bị trừ Bapaco có trang bị đồng bộ kĩ thuật của những năm 1980, các nhà máy khác đều là
kĩ thuật của những năm 1960-1970 là chính Sự đổi mới thiết bị (ví dụ máy xeo 30.000 tấn/năm của Pháp -1990 ở Cogita; hệ cô-đốt thu hồi kiềm của Cogido -1997 ) chỉ là những trường hợp riêng Riêng các xí nghiệp nhỏ địa phương hoặc tư nhân hay xử dụng công nghệ “bán hoá-kiềm lạnh“ và thiết bị Đài Loan phát triển khá nhanh từ 1990 trở lại đây [6]
1.2.4 Vấn đề về ô nhiễm môi trường ngành công nghiệp giấy và bột giấy ở Việt Nam
Theo thống kê [11], cả nước có gần 500 doanh nghiệp sản xuất giấy, trong
đó chỉ có khoảng 10% doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn môi trường cho phép, còn hầu hết các nhà máy đều không có hệ thống xử lý nước thải hoặc có nhưng chưa đạt yêu
Trang 30cầu, vì thế tình trạng gây ô nhiễm môi trường do sản xuất giấy cũng đang là vấn đề được nhiều người quan tâm
So với nhiều ngành công nghiệp sản xuất khác, ngành giấy có mức độ ô nhiễm cao và dễ gây tác động đến con người và môi trường xung quanh do ô nhiễm
từ nguồn nước thải xử lý không đạt yêu cầu
Công nghệ sản xuất giấy ở Việt Nam còn rất lạc hậu Để sản xuất ra một tấn giấy thành phẩm, các nhà máy phải sử dụng từ 30-100 m3 nước, trong khi các nhà máy giấy hiện đại của thế giới chỉ sử dụng 7-15 m3/tấn giấy Sự lạc hậu này không chỉ gây lãng phí nguồn nước ngọt, tăng chi phí xử lý nước thải mà còn đưa ra sông, rạch lượng nước thải khổng lồ
Trong các cơ sở công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình 9 - 11, chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD), nhu cầu oxy hoá học (COD) cao, có thể lên đến 700mg/l và 2.500mg/l Hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép Đặc biệt nước có chứa cả kim loại nặng, lignin (dịch đen), phẩm màu, xút, các chất đa vòng thơm Clo hoá là những hợp chất có độc tính sinh thái cao và có nguy cơ gây ung thư, rất khó phân huỷ trong môi trường Có những nhà máy giấy, lượng nước thải lên tới 4.000 - 5.000m3/ngày, các chỉ tiêu BOD, COD gấp 10 – 18 lần tiêu chuẩn cho phép; lượng nước thải này không được
xử lý mà đổ trực tiếp vào sông [6]
Ngoài ra, trong công nghiệp xeo giấy, để tạo nên một sản phẩm đặc thù hoặc những tính năng đặc thù cho sản phẩm, người ta còn sử dụng nhiều hóa chất và chất xúc tác Những chất này nếu không được thu hồi hoặc xử lý mà xả thẳng ra sông ngòi thì vấn đề ô nhiễm là không tránh khỏi, làm mất cân bằng sinh thái trong môi trường nước
Hiện nay, ở các khu vực có cơ sở sản xuất giấy đang phải chịu sức ép nặng
nề về ô nhiễm môi trường, để sản xuất mỗi tấn bột giấy phải thải ra 10 tấn dịch đen Riêng khu vực sông Cầu, chỉ với 3.500 m3 nước xả mỗi ngày, nhưng ngành giấy đã
Trang 31là thủ phạm số một gây ô nhiễm nặng cho dòng sông này, trong đó nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ đứng đầu bảng [6]
Ở Bắc Ninh, mỗi ngày Phong Khê thải ra sông 4500m3
nước thải và theo thống kê của Sở Tài nguyên và Môi Trường [6], các chỉ số COD, BOD, coliform đều cao hơn mức cho phép 4- 6 lần Khói và bụi giấy đã làm cho bầu không khí ở Phong Khê bị ô nhiễm trầm trọng Chính lượng nước thải đã làm cho nhiều diện tích sản xuất nông nghiệp thành đất chết
Điều đặc biệt là việc đặt các nhà máy ở thượng nguồn sông Hậu như: Khu công nghiệp Trà Nóc II hay Thốt Nốt, Ô Môn, đã gây ô nhiễm nguồn nước trầm trọng, làm ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản
1.2.5 Tổng quan công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Cùng với quá trình phát triển nhanh các cơ sở sản xuất công nghiệp, nhu cầu
sử dụng giấy và bao bì cũng tăng Bởi vậy, công nghiệp sản xuất giấy của tỉnh Vĩnh Phúc thực sự đã phát triển trong mấy năm gần đây Tuy nhiên, các cơ sở sản xuất giấy chủ yếu là các cơ sở vừa và nhỏ, dây chuyền công nghệ chưa tiến tiến
Những đóng góp ngành công nghiệp sản xuất giấy trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc so với các ngành khác là chưa nhiều Cụ thể, giá trị sản xuất công nghiệp giấy, bao bì và tổng giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm vừa qua được thể hiện tại bảng 1.4
Bảng 1.4 Giá trị sản xuất công nghiệp giấy, bao bì và tổng giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo ngành công nghiệp cấp II trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc trong những năm vừa qua
Giá trị sản xuất công nghiệp
giấy và bao bì (triệu đồng)
Trang 32Tính đến tháng 10/2012, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 05 cơ sở sản xuất giấy, cụ thể như sau:
Bảng 1.5 Các cơ sở sản xuất giấy trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
(Số liệu điều tra tháng 7 năm 2012)
Công suất (tấn/năm)
Giấy bìa carton
2.000
3 Công ty TNHH
Bình Xuyên 2
KCN Bình Xuyên, huyện Bình Xuyên
Giấy bìa Duplex
a Công ty TNHH Bình Xuyên I
Đây là Công ty hoạt động trong lĩnh vực giấy bao bì, với tổng số lượng công nhân viên trong Công ty là 65 người; trong đó, số lao động làm việc gián tiếp làm công tác quản lý và làm việc tại văn phòng là 23 người, số lao động trực tiếp là 42 người
Nguồn nguyên liệu đầu vào chủ yếu là bao bì, giấy phế liệu, nhựa thông và sản phẩm của Công ty là giấy bìa carton
Trang 33Công nghệ sản xuất đa số được nhập ngoại đồng bộ (từ Trung Quốc), có một vài phần bổ sung thay thế sau được gia công trong nước Do hệ thống máy móc không đồng bộ nên hiệu quả sản xuất chưa cao Đồng thời quy trình quản lý sản xuất của Công ty chưa tốt nên lượng nguyên, nhiên vật liệu thất thoát tương đối cao,
đã làm giảm lợi nhuận và tăng chi phí sản xuất, gây ô nhiễm môi trường
b Công ty TNHH Giấy Việt Nhật
Công ty hoạt động sản xuất giấy bìa Duplex, với tổng số lượng công nhân viên trong Công ty là 60 người; trong đó, số lao động làm việc gián tiếp làm công tác quản lý và làm việc tại văn phòng là 9 người, số lao động trực tiếp là 52 người Nguồn nguyên liệu đầu vào chủ yếu là: bìa carton cũ, báo cũ, bột trắng, phèn đơn, nhựa thông đã chế biến
Toàn bộ dây chuyền công nghệ sản xuất của Công ty được nhập ngoại đồng
bộ nên trong quá trình hoạt động sản xuất chưa bị thất thoát nhiều nhiên liệu Tuy nhiên, việc bố trí điện chiếu sáng của nhà máy sản xuất chưa hợp lý, chưa tận dụng ánh sáng tự nhiên nên hàng tháng Công ty phải mất một khoản chi phí khá lớn cho nguồn năng lượng điện; công tác quản lý các sản phẩm hỏng chưa được quan tâm, lượng chất thải rắn chưa được kiểm soát qua các tháng làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh
c Công ty TNHH Bình Xuyên II
Đây là Công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất bao bì hộp carton, với tổng
số lượng công nhân viên trong Công ty là 121 người; trong đó, số lao động làm việc gián tiếp làm công tác quản lý và làm việc tại văn phòng là 19 người, số lao động trực tiếp là 102 người Nguồn nguyên liệu đầu vào của Công ty là: giấy cuộn, than, bột sắn Các dây chuyền sản xuất của Công ty được nhập ngoại đồng bộ (Trung Quốc), hơn nữa nhà máy mới đi vào hoạt động (khoảng 02 năm) nên quá trình sản xuất đạt hiệu quả cao
Trang 34d Đánh giá tiềm năng áp dụng sản xuất sạch hơn tại các cơ sở sản xuất giấy
- Cải tạo kho chứa nguyên liệu giấy để tránh thất thoát nguyên liệu và ô nhiễm môi trường cho khu tập kết nguyên liệu;
+ Nâng cao hiệu quả xử lý nước thải và tiết kiệm tài nguyên nước
- Hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải để đáp ứng yêu cầu
xử lý
- Tái sử dụng nước thải phục vụ sản xuất để tiết kiệm tài nguyên nước và giảm chi phí xử lý
- Nâng cao hiệu quả
- Nâng cao hiệu quả
sử dung tài nguyên
- Nâng cao hiệu quả quản lý nội vi
- Đo kiểm lại định mức điện
- Tiết kiệm điện năng
- Giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại nguồn
- Cải thiện điều kiện làm việc của công nhân
Trang 351.3 Tổng quan nghiên cứu về sản xuất sạch hơn ngành giấy trên thế giới
và ở Việt Nam
1.3.1 Trên thế giới
Ngày nay, sản xuất sạch hơn đã và đang xâm nhập rất nhiều vào lĩnh vực sản xuất cả trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Nhiều giải pháp, công nghệ sản xuất sạch hơn đã được ứng dụng hiệu quả
Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc (UNEP, 1998) đã xây dựng
một tài liệu hướng dẫn sản xuất sạch trong các nhà máy bột giấy và giấy Trong tài liệu đã đưa ra các cơ hội SXSH tại một số công đoạn của quá trình sản xuất bột giấy
và giấy Bên cạnh đó, UNEP còn trình bày chi tiết các cản trở đối với sản xuất sạch
và đưa ra các giải quyết những cản trở đó Đặc biệt quan tâm là UNEP trình bày về khái niệm xây dựng mức chuẩn và các số chỉ thị về sản xuất sạch Đây là một khái niệm khá mới mẻ, đòi hỏi nhiều thời gian nghiên cứu, nhưng lại giúp các doanh nghiệp có thể đánh giá đúng mức về tình hình sản xuất hiện tại để có thể áp dụng các biện pháp SXSH phù hợp Tài liệu đã minh họa một trường hợp áp dụng SXSH tại nhà máy giấy ở Ấn Độ và đã đạt được kết quả to lớn về môi trường và kinh tế, được tóm tắt dưới bảng sau:
Trang 36Bảng 1.7: Kết quả thu được sau 01 năm thực hiện SXSH tại nhà máy giấy và bột
giấy Ashoka, Ấn Độ
dụng SXSH
Sau khi áp dụng SXSH
Thay đổi (%)
SXSH trong một báo cáo trình cho Tập đoàn bảo vệ môi trường Australia Aquatech nhận định mức chuẩn có tiềm năng tạo điều kiện đánh giá khách quan các kết quả của SXSH Mức chuẩn cho phép so sánh hiệu suất giữa các ngành công nghiệp với nhau trong cùng một khu vực thực hiện theo một thời gian nhất định Aquatech đã thực hiện SXSH và áp dụng các chỉ số đo mức chuẩn, theo đó hiệu suất ngành giấy của Australia được so sánh với nước cụ thể khác như: Canada, Mỹ và Đức Kết quả
là có thể rút ra được các nhận xét về các mặt ưu, khuyết điểm của từng công đoạn sản xuất, từ đó có giải pháp cải tiến quy trình sản xuất hay thay đổi công nghệ sản xuất phù hợp
Ngoài ra còn nhiều nghiên cứu áp dụng SXSH khác cho ngành giấy ở các nước như: Trung Quốc, Canada, Mỹ, Đức
Trang 371.3.2 Ở Việt Nam
Như đánh giá ở phần trên, ngành sản xuất giấy có nhiều thuận lợi áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn để vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa bảo vệ được môi trường nếu đáp ứng được yêu cầu về sản xuất xanh trên thị trường quốc tế Đồng thời có cơ hội tiếp cận dễ dàng hơn tới các nguồn tài chính, cải thiện môi trường làm việc; tham gia vào công cuộc bảo tồn tài nguyên, bảo tồn nguồn nước và bảo tồn năng lượng Nếu làm tốt thì một cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ cũng có thể tiết kiệm từ 6-15% nguyên liệu thô (xơ và hóa chất tẩy), mang lại lợi ích khoảng
4 tỷ đồng mỗi năm Theo số liệu từ Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam, chỉ tính trên
9 doanh nghiệp sản xuất giấy và bột giấy tham gia chương trình đã giảm khối lượng tiêu thụ nguyên liệu thô 700 tấn tre, nứa mỗi năm; giảm tiêu thụ nhiên liệu than 217 tấn/năm; dầu FO giảm trên 788 nghìn lít; giảm 1.850 m3
nước/năm đồng thời giảm khối lượng nước thải 1.850.000 m3; lượng khí CO2 giảm 5.890 tấn/năm Số tiền các công ty tiết kiệm hàng năm là trên 10 tỷ đồng tương đương 720.000 USD trong khi tổng số tiền đầu tư cho sản xuất sạch hơn chỉ là 3,3 tỷ đồng với thời gian hoàn vốn ngắn dưới 1 năm {14}
Như vậy, nếu tính cả ngành công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy, tiềm năng tiết kiệm nước khoảng từ 15-20%, tương đương với khoản tiền chi phí mỗi năm là
275 triệu đồng Hiện nay, chi phí năng lượng trong ngành đang ở mức từ 12-15% tổng chi phí Chỉ cần áp dụng các biện pháp đơn giản và chi phí thấp, sẽ giảm được
từ 2 tới 3%; còn nếu thực hiện các giải pháp thay đổi công nghệ, có thể đạt tới mức bảo tồn năng lượng từ 20 - 25% Điều này được minh chứng rõ ràng, nếu so sánh mức độ tiêu thụ tài nguyên trong sản xuất giấy và bột giấy ở nước ta với các nước trên thế giới
Riêng lĩnh vực sản xuất bột giấy là nơi gây ô nhiễm nhiều nhất (chiếm khoảng 80% tải lượng ô nhiễm) lại càng có cơ hội áp dụng sản xuất sạch hơn nhất Bao gồm từ việc thay thế nguyên liệu thô, cải tiến công nghệ và tuần hoàn nước Theo tính toán, nếu thực hiện các giải pháp quản lý nội vi, thay đổi công nghệ, chỉ cần giảm 1% một số hóa chất, thu hồi từ 20 - 45kg xơ, tiết kiệm từ 20 - 60 m3
nước,
Trang 38giảm năng lượng hơi từ 0,2 - 0,6 tấn, giảm sử dụng hóa chất tẩy trắng từ 2-10 kg và tăng năng suất bột giấy từ 5 - 7 %, thì mỗi tấn giấy đã có thể giảm chi phí từ 9 tới 18,5 USD
Bên cạnh đó, có một số nghiên cứu nhằm tìm kiếm các giải pháp SXSH thích hợp và đạt hiệu quả cao [12] Viện công nghiệp giấy và xenlulo có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề này như:
- “Nghiên cứu sản xuất bột giấy bằng công nghệ sạch hơn đối với
nguyên liệu là cây ngắn ngày” – Đề tài cấp Bộ năm 1996
- “Nghiên cứu công nghệ tẩy trắng bột giấy sử dụng ôxy – kiềm” – Đề tài cấp nhà nước năm 2000 – 2001
- “Nghiên cứu công nghệ sản xuất bột giấy, lignin và đường xyloza từ
nguyên liệu bã mía và rơm lúa sử dụng môi trường dung môi hữu cơ
và chất xúc tác” – Đề tài cấp Bộ năm 2001
Nhìn chung, các giải pháp SXSH cho ngành giấy được tóm tắt trong sơ đồ sau:
Trang 39Hình 1-3: Sơ đồ tóm tắt các giải pháp thực hiện SXSH ngành giấy
(Nguồn: UNEP, nd)
- Tuần hoàn
nước đen và
nước trắng trong
khâu tẩy rửa bột,
tẩy và pha loãng
- Sử dụng sợi
ngắn/thải làm bìa
- Tạo biogas
từ chất thải hữu
cơ
- Sử dụng phế liệu từ khâu làm sạch nguyên liệu, làm nhiên liệu nồi hơi
- Sản xuất các loại giấy có chất lượng cao
- Sản xuất giấy không tẩy thay cho giấy tẩy
- Sửa chữa tất
cả rò rỉ
- Đóng chặt các van/vòi khi không
sử dụng
- Loại bỏ cặn vẩn trong sàng lưới và vòi phun nước
- Thay đổi nguyên liệu đầu vào: + Dùng thuốc nhuộm không độc
+ Tẩy bằng hydrogen peroxide
- Kiểm soát quy trình tốt hơn:
+ Tối ưu hóa quy trình nấu + Tinh chế ở mức độ ổn định bột cao nhất có thể
+ Dùng các hóa chất phụ trợ quá trình lưu để tận dụng tối đa thuốc nhuộm
- Cải biến thiết bị:
+ Lắp vòi phun nước hiệu quả + Có bể thổi kích cỡ hợp lý, tránh rỡi vãi bột
+ Cung cấp máy nghiền bột vụn + Dùng bộ thu gom sợi có áp lực cao trong máy làm sạch ly tâm + Dùng các bộ điện dung để nâng cao hệ số điện năng
+ Cung cấp các bộ nạo hốc có kích cỡ hợp lý
+ Lắp bộ điều chỉnh bộ ổn định
- Thay đổi công nghệ:
+ Cải biến quy trình nghiền bột + Cân nhắc các quy trình nghiền bột thay thế
+ Cải biến quy trình rửa và khử nước
+ Dùng các quy trình tẩy thay thế, như tẩy ozone/tẩy oxy
Bảo dưỡng tốt hàng ngày
Thay đổi quy trình
Trang 40Một số ví dụ tiêu biểu áp dụng SXSH trong ngành giấy
Cách đây hơn 10 năm các doanh nghiệp sản xuất giấy ở nước ta đã tiếp cận với mô hình SXSH [16] Các giải pháp SXSH không chỉ đơn thuần là thay đổi thiết
bị, công nghệ mà còn là thay đổi trong cách vận hành và quản lý doanh nghiệp Các giải pháp SXSH được chia thành các nhóm nhằm giảm chất thải tại nguồn, cải tiến sản phẩm, tận thu và tái sử dụng chất thải, tạo ra các sản phẩm phụ và tiết kiệm nguyên liệu Đến nay, đã có nhiều doanh nghiệp sản xuất giấy tham gia mô hình SXSH đạt kết quả đáng khích lệ [16]
Có thể kể một vài ví dụ tiêu biểu: Năm 2003, Nhà máy Giấy Bãi Bằng [16 ]
đã đầu tư công nghệ tiên tiến phục vụ xử lý chất thải Gần 20.000 m3
nước thải mỗi ngày mà nhà máy thải ra, đều được thu gom và xử lý triệt để qua hệ thống xử lý tập trung theo cả hai phương pháp hóa học và sinh học Chất lượng nước thải sau khi
xử lý đạt yêu cầu bảo vệ môi trường Công ty Giấy Việt Trì, Giấy Lửa Việt, Giấy Bãi Bằng, đã tham gia dự án trình diễn SXSH trong công nghiệp của Hợp phần SXSH trong công nghiệp (CPI), thời gian triển khai từ tháng 7/2005 đến hết năm
2010 Những kết quả thu được trong cách quản lý, vận hành sản xuất, tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, cải thiện môi trường làm việc cũng đang được nhân rộng Theo Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam, chỉ tính trên 9 doanh nghiệp sản xuất giấy
và bột giấy tham gia chương trình SXSH, đã tiết kiệm hàng năm từ nguyên liệu, than, dầu FO, nước sạch tổng cộng là trên 10 tỷ đồng, trong khi tiền vốn đầu tư cho SXSH chỉ là 3,3 tỷ đồng với thời gian hoàn vốn ngắn dưới 1 năm Đáng chú ý là 9 doanh nghiệp tham gia mô hình SXSH trong quá trình sản xuất đã giảm khối lượng nước thải hơn 1.800.000 m3/năm; lượng khí CO2 giảm gần 6.000 tấn/năm
Công ty Giấy Đồng Nai [16] đã vận hành và chuyển đổi công nghệ sản xuất giấy, quyết định ngưng hoạt động phân xưởng Bột, Hóa chất, Thu hồi kiềm, là những phân xưởng phát sinh nguồn ô nhiễm lớn về khí thải, nước thải Công ty còn lắp đặt hệ thống lọc bụi tĩnh điện tại lò đốt, thay đổi nồi cầu nấu bột bằng nồi đứng, giảm được chất thải rắn Hiện nay, Tổng công ty Giấy (Vinapaco) đang áp dụng các biện pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu, giảm chi