Nghiên cứu tìm thấy các yếu tố có mối quan hệ nghịch chiều với rủi ro phá sản ngân hàng như: Tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ dự phòng nợ xấu, tỷ lệ thu nhập lãi thuần, vốn chủ sở hữu trên tổ[r]
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
NGUYỄN QUÝ QUỐC
Hu ế, tháng 4 năm 2020
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Lớp: K50 Tài chính
Khóa: 2016 - 2020
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI CẢM ƠN v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ viii
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 2
4.2 Phương pháp phân tích số liệu 3
5 Kết cấu đề tài 3
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1.1.1 Khái quát chung về ngân hàng thương mại 4
1.1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 4
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 41.1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 4
1.1.1.3 Các hoạt động chính của ngân hàng thương mại 5
1.1.2 Khái niệm về sự ổn định tài chính 6
1.1.3 Ổn định tài chính đối với các ngân hàng thương mại 8
1.1.4 Phương pháp đo lường sự ổn định tài chính 11
1.1.5 Nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính hệ thống ngân hàng thương mại 12
1.1.5.1 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu 12
1.1.5.2 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản 12
1.1.5.3 Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế 13
1.1.5.4 Quy mô tổng tài sản 13
1.1.5.5 Tỷ lệ dư nợ trên tiền gửi khách hàng 13
1.1.5.6 Tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản 14
1.1.5.7 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên 14
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 15
1.2.1.Tổng quan về nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018
15
1.2.1.1 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tăng trưởng kinh tế 15
1.2.1.2 Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 16
1.2.2 Các nghiên cứu về sự ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng thương mại .17
1.2.2.1 Các nghiên cứu trong nước 17
1.2.2.2 Các nghiên cứu nước ngoài 20
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 51.3.2.1 Đo lường sự ổn định tài chính bằng Z-score 25 1.3.2.2 Đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của hệ thống
Ngân hàng thương mại Việt Nam 26
1.3.2.3 Mô hình nghiên cứu 27
2.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 32 2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016 – 2018 33
2.2.1 Tình hình tài sản của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2016 - 2018
2.3 ĐO LƯỜNG SỰ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH CÁC NHÂN
TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 42
2.3.1 Tổng quan mẫu nghiên cứu 42
2.3.1 Đo lường sự ổn định tài chính của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt
Trang 62.3.1.2 So sánh sự ổn định tài chính của các ngân hàng niêm yết và chưa niêm
yết trên sàn chứng khoán 47
2.3.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018 49
2.3.2.1 Phân tích tương quan 49
2.3.2.2 Kết quả hồi quy 50
2.3.2.3 Kiểm định khuyết tật mô hình 52
2.3.2.4 Khắc phục các khuyết tật bằng mô hình ước lượng bình phương nhỏ nhất khái quát hóa 53
2.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 54
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH NHẰM NÂNG CAO SỰ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 57
3.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 57
3.2 Đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam 58
PHẦN 3: KẾT LUẬN 61
1 Kết quả chính của đề tài 61
2 Hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 69
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và tri ân sâu sắc, lời cảm ơn trước tiên tôi xin gửi đến quýThầy - Cô Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế nói chung và quý Thầy - Cô trongKhoa Kế toán - Tài chính đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích, quý báu trongthời gian học tập tại Nhà trường Xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo Phan Khoa Cương –
người Thầy đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình từ những bước đầu chọn đề tài
cũng như quá trình nghiên cứu để tôi thực hiện tốt khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo, các anh chị nhân viên của Ngân hàngTMCP Sài Gòn Thương Tín - PGD An Cựu đã tạo điều kiện, giúp đỡ và hướng dẫn tôitrong suốt thời gian thực tập, bên cạnh đó còn chia sẻ những kiến thức, những kinhnghiệm bổ ích để giúp tôi hoàn thành tốt đợt thực tập cuối khóa
Xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn đồng hành, quan tâm giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Cuối cùng, xin kính chúc quý Thầy - Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong
sự nghiệp trồng người
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Huế, ngày 19 tháng 4 năm 2020
Sinh viên
Nguyễn Quý Quốc
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DNTG Tỷ lệ dư nợ khách hàng trên tiền gửi khách hàng
DNTTS Tỷ lệ dư nợ khách hàng trên tổng tài sản
EA Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
ΔEAT Phần trăm tăng trưởng lợi nhuận sau thuế
FEM Mô hình hồi quy tác động cố định
GLS Phương pháp bình phương bé nhất khái quát hóa
NIM Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
REM Mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên
ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
ROE Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
SIZE Quy mô của ngân hàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Diễn giải biến phụ thuộc và các biến độc lập 26
Bảng 2.1: Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam năm 2018 32Bảng 2.2: Tình hình tổng tài sản hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2016 – 2018 33
Bảng 2.3: Vốn tự có của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2016 – 2018 35Bảng 2.4: Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2016
giai đoạn 2016 – 2018 40
Bảng 2.8: Thống kê mô tả các biến của mô hình nghiên cứu 41
Bảng 2.9: Ma trận tương quan giữa các biến số 49
Bảng 2.10: Tóm tắt kết quả hệ số hồi quy của mô hình Pooled OLS, FEM và REM 51
Bảng 2.11: Kết quả các kiểm định khuyết tật mô hình 52
Bảng 2.12: Kết quả mô hình hồi quy theo phương pháp GLS 53Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: GDP(PPP) Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018 16
Hình 1.2: Mức tăng CPI giai đoạn 2014 – 2018 17
Hình 2.1: Z-score bình quân của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018 43
Hình 2.2: Z-score bình quân của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018 44
Hình 2.3: Z-score bình quân của NHTM có vốn nhà nước và NHTM cổ phần 45
Hình 2.4: Bình quân chỉ số Z-score của các NHTM niêm yết và chưa niêm yết giai đoạn 2014 – 2018 47
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Sự ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại là vấn đề hết sức quan trọng
đối với bất kỳ hệ thống tài chính nào trên thế giới Các nhà quản lý hệ thống tài chính
hiểu rằng, việc mất niềm tin của dân chúng vào hệ thống ngân hàng có thể dẫn đến hậuquả nghiêm trọng cho toàn bộ hệ thống tài chính Vì lý do này, sự ổn định tài chínhcủa hệ thống NHTM luôn là mục tiêu hàng đầu cho các nhà hoạch định chính sáchgiám sát và quản lý
Nâng cao năng lực và đảm bảo sự ổn định tài chính của hệ thống NHTM là một
trong những mục tiêu quan trọng của Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2018 Trongnhững năm qua, việc mua bán, sáp nhập và cơ cấu lại hoạt động của các NHTM đãdiễn ra mạnh mẽ theo đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-
2015” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 01/03/2012, trong đó ưu tiên xử lý
các TCTD yếu kém; triển khai sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD trên nguyên tắc tựnguyện; tăng vốn điều lệ và xử lý nợ xấu của các TCTD và từng bước tái cơ cấu hoạt
động, quản trị, điều hành Giai đoạn 2016 – 2018, NHNN tiếp tục thực hiện cơ cấu lại
hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu; đẩy mạnh công tác thanh tra, giámsát và hoàn thành hành lang pháp lý về an toàn trong hoạt động ngân hàng, quản trị rủi
ro Kể từ năm 2016, nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng làm cho cơ cấu tíndụng theo kỳ hạn dần thay đổi khi tín dụng ngắn hạn tăng trưởng mạnh, tín dụng trungdài hạn có xu hướng tăng chậm lại Việc mua bán, sáp nhập một số NHTM và mở rộnghoạt động tín dụng nhanh chóng đã làm cho vấn đề ổn định tài chính của hệ thốngNHTM Việt Nam ngày càng thu hút được sự quan tâm của các cấp quản lý, giới đầu tư
và các nhà nghiên cứu
Bên cạnh đó, nghiên cứu liên quan đến vấn đề ổn định tài chính của hệ thốngNHTM Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng hiện vẫn còn khá ít Do đó, thực hiệnnghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của hệ thống NHTM có ýnghĩa thực tiễn và cấp thiết Kết quả nghiên cứu cũng sẽ là cơ sở để giúp cho nhữngnhà quản trị ngân hàng và các nhà hoạch định chính sách cùng các bên liên quan có thểtham khảo để từ đó có những chiến lược và giải pháp nhằm đảm bảo và nâng cao sự ổn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12nêu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên c ứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam” làm Khóa luận tốt
nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính
của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018, khóa luận đề xuất một số hàm
ý chính sách nhằm nâng cao sự ổn định tài chính của hệ thống NHTM Việt Nam trong
Đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao sự ổn định tài chính của hệ
thống NHTM Việt Nam trong tương lai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự ổn định tài chính của hệ thống ngân hàngthương mại Việt Nam
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Về không gian: Việt Nam hiện có 31 NHTM cổ phần, 03 NHTM cổ phần Nhà
nước nắm trên 50% cổ phần và 09 NHTM 100% vốn từ nước ngoài Ngoài ra, nhóm
NHTM 100% vốn nhà nước và 100% vốn nước ngoài gặp nhiều khó khăn trong việcthu thập số liệu Do vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn 19 NHTM cổ phần đểthu thập dữ liệu phục vụ nghiên cứu (xem danh sách phụ lục 1)
Về thời gian: nghiên cứu trong giai đoạn 2014 – 2018.
4 Phương pháp nghiên cứu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 1319 NHTM cổ phần đã được công bố và từ Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam
Dữ liệu về tăng trưởng GDP và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được thu thập từ cácBáo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Tổng cục Thống kê
Tham khảo thông tin từ website của Ngân hàng nhà nước và các NHTM ViệtNam và các website liên quan khác
4.2 Ph ương pháp phân tích số liệu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, chúng tôi sử dụng một số phươngpháp sau đây:
Thống kê mô tả, so sánh: tác giả sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản và
so sánh sự thay đổi qua từng năm đối với các dữ liệu thu thập được Ngoài
ra, phương pháp này còn cung cấp những tóm tắt đơn giản nhất về các biến
trong mẫu nghiên cứu
Phân tích hồi quy gồm: mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất thôngthường gộp (Pooled Ordinary Least Squares - Pooled OLS); mô hình hồi
quy tác động cố định (Fixed Effects Model - FEM); mô hình hồi quy tác
động ngẫu nhiên (Random Effects Model - REM) và mô hình hồi quy vớiphương pháp bình phương bé nhất (General Least Squares - GLS) Mô hình
FEM và mô hình REM là hai mô hình được sử dụng rộng rãi đối với dữ liệudạng bảng Còn mô hình GLS được sử dụng để khắc phục nếu xảy ra cáchiện tượng khuyết tật trong hai mô hình trên
Việc xử lý, tính toán số liệu được thực hiện với sự hỗ trợ của máy tính bằngphần mềm Excel và phần mềm Stata 13
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần Đặt vấn đề và Kết luận, Nội dung nghiên cứu của khóa luận được
bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề ổn định tài chính
của hệ thống ngân hàng thương mại;
Chương 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của hệ
thống NHTM Việt Nam;
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Chương 3: Một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao sự ổn định tài chính của
hệ thống NHTM Việt Nam
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH TÀI
CHÍNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Khái quát chung về ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái ni ệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế chuyên thực hiện các hoạt động
động trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng Nghiệp vụ kinh doanh cơ bản của NHTM là thực
hiện huy động vốn từ khách hàng có tiền nhàn rỗi đồng thời cung cấp vốn cho kháchhàng cần vay vốn, hay nói cách khác là NHTM thực hiện luân chuyển vốn từ những
người có đến những người cần Ngoài ra, nghiệp vụ kinh doanh của NHTM còn rất đa
dạng và phong phú để đáp ứng thị hiếu luôn thay đổi của khách hàng
Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới: “Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận
tiền gửi chủ yếu ở dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm
Trong đó: các ngân hàng thương mại, chỉ tham gia vào các hoạt động nhận tiền gửi,
cho vay ngắn hạn và trung dài hạn.”
Theo nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của
NHTM: “NHTM là TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạtđộng kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các
tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”
1.1.1.2 Ch ức năng của ngân hàng thương mại
Tầm quan trọng của NHTM được thể hiện qua các chức năng của nó Cụ thể,
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15nền kinh tế phát triển Theo đó, NHTM đóng vai trò nhận tiền gửi rồi sửdụng nguồn vốn này để cho vay và hưởng lợi nhuận là chênh lệch giữa lãisuất huy động và lãi suất cho vay Khi thực hiện chức năng này, NHTM
đóng vai trò là cấu nối giữa nơi thặng dư vốn với nơi thâm hụt vốn trong
nền kinh tế
Chức năng trung gian thanh toán: NHTM đóng vai trò như là thủ quỹ khi
các cá nhân và doanh nghiệp có nhu cầu, thực hiện các thanh toán giao hoặcnhận tiền theo yêu cầu của khách hàng, như trả tiền mua hàng hóa cho chủhàng khách hàng hoặc nhận tiền thanh toán của đối tác khách hàng Hiện
nay, các NHTM đang cung cấp nhiều phương tiện thanh toán rất đa dạng để
phù hợp với từng nhu cầu riêng biệt của khách hàng Chức năng này của
NHTM đã giúp tiết kiệm cho xã hội về chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ
luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa
Chức năng tạo tiền: chức năng này được thể hiện khi các NHTM thực hiện
các hoạt động tín dụng và chức năng thanh toán Với chức năng này, NHTM
vô hình chung đã làm gia tăng tổng phương tiện thanh toán trên nền kinh tế,
đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội
1.1.1.3 Các ho ạt động chính của ngân hàng thương mại
Hoạt động huy động vốn:
- Ngân hàng nhận tiền gửi thanh toán của các cá nhân hay tổ chức gửi vào
ngân hàng để thực hiện chức năng giữ hộ, thanh toán
- Ngân hàng nhận tiền gửi có kì hạn và tiền gửi tiết kiệm của các cá nhân, tổchức, doanh nghiệp, hộ gia đình và chi trả lãi cho người gửi tiền
- Ngân hàng phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu hay các giấy tờ có
Trang 16- Ngoài ra, với nhu cầu tín dụng của nền kinh tế ngày càng đa dạng, các loạihình cung cấp tín dụng của NHTM vì vậy cũng phong phú để đáp ứng cácnhu cầu đó Có thể kể đến các nghiệp vụ: bảo lãnh, cho vay tài chính, chiếtkhấu giấy tờ có giá, v.v.
Các hoạt động khác: ngoài những hoạt động kể trên, NHTM còn tham gia
vào các hoạt động như cung cấp dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính, kinhdoanh ngoại tệ, chứng khoán phái sinh, nhận ủy thác và ủy thác v.v
1.1.2 Khái niệm về sự ổn định tài chính
Từ trước đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “ổn định
tài chính”, cụ thể như sau:
Hyman Minsky (1919 – 1996), một nhà kinh tế trường phái Keynes, nổi tiếngvới lý thuyết về sự bất ổn tài chính Lập luận của giả thuyết bất ổn tài chính bắt đầu từ
đặc tính thời bấy giờ của nền kinh tế tư bản với tài sản vốn đắt đỏ và hệ thống tài chính
phức tạp Vấn đề kinh tế này được xác định theo Keynes (1930) là "sự phát triển vốncủa nền kinh tế" Định lý đầu tiên của giả thuyết bất ổn tài chính là nền kinh tế có cácchế độ tài chính ổn định và không ổn định Định lý thứ hai của giả thuyết này là trongthời kỳ thịnh vượng kéo dài, nền kinh tế chuyển từ quan hệ tài chính tạo nên một hệthống ổn định sang quan hệ tài chính tạo nên một hệ thống không ổn định TheoMinsky, có một thời điểm hệ thống tài chính sẽ thay đổi từ trạng thái ổn định sangtrạng thái không ổn định, thường được gọi là khoảnh khắc Minsky (thời điểm Minsky)
Cụ thể, các tổ chức sau đó buộc phải thanh lý tài sản của mình để trả nợ vay, tạo ra sựsụt giảm mạnh trên toàn thị trường tài chính Thời điểm Minsky là khi các tổ chức bắt
đầu đối mặt với các vấn đề về dòng tiền do các khoản nợ gây ra bởi việc đầu tư có rủi
ro cao, cho dù họ đang ở trong bất kỳ chu kỳ tín dụng hay kinh doanh nào Tại thời
điểm này, làn sóng bán tháo đã diễn ra, dẫn đến thanh khoản sụt giảm nghiêm trọng và
Trang 17Theo Davis (2001), bất ổn tài chính là rủi ro có thể làm tăng nguy cơ khủnghoảng tài chính dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tài chính và không thể cung cấp dịch
vụ thanh toán cho nền kinh tế hoặc phân bổ tín dụng đến các cơ hội đầu tư hiệu quả.Các cuộc khủng hoảng tài chính sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế do đó thúc
đẩy sự ổn định tài chính là tương đương với quản trị rủi ro hệ thống
Nout Wellink (2002) cho rằng, một hệ thống tài chính ổn định khi có khả năngphân bổ hiệu quả các nguồn lực và hấp thụ những cú sốc, ngăn chặn những tác độngxấu đến nền kinh tế và hệ thống tài chính Ngoài ra, hệ thống tài chính không được lànguồn gốc phát sinh các cú sốc Theo Buiter (2008), ổn định tài chính sẽ được đảmbảo nếu không xuất hiện các tình trạng sau: (i) bong bong giá tài sản; (ii) tình trạngthiếu thanh khoản; (iii) tình trạng vỡ nợ của các thể chế tài chính đe dọa sự ổn địnhcủa hệ thống
Theo Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc, ổn định tài chính có thể được địnhnghĩa là một điều kiện trong đó cả ba thành phần của hệ thống tài chính bao gồm: (i) tổchức tài chính, (ii) thị trường tài chính và (iii) cơ sở hạ tầng tài chính – được ổn định
Cụ thể, đối với tính ổn định của các tổ chức tài chính được đảm bảo khi các tổ chức tàichính đủ mạnh để thực hiện đầy đủ chức năng trung gian tài chính, mà không cần sựtrợ giúp từ các tổ chức bên ngoài ngay cả chính phủ Tiếp theo, ổn định thị trường tàichính là khi không có sự gián đoạn giao dịch trên thị trường, không có sự sai lệch đáng
kể về giá tài sản tài chính từ các nền tảng kinh tế, từ đó cho phép các tổ chức kinh tế
huy động và đầu tư vốn một cách tự tin Cuối cùng, tính ổn định của cơ sở hạ tầng tài
chính, đề cập đến một điều kiện trong đó hệ thống tài chính có cấu trúc tốt để đảm bảohoạt động, đồng thời cả mạng lưới an toàn tài chính cùng hệ thống thanh toán đượchoạt động một cách hiệu quả Ngoài ra, sự ổn định tài chính có thể được định nghĩarộng hơn là một điều kiện trong đó hệ thống tài chính có thể tạo điều kiện thuận lợicho các hoạt động kinh tế thực sự diễn ra suôn sẻ và có khả năng điều chỉnh sự mấtcân đối tài chính phát sinh từ các cú sốc
Theo Cục dự trữ Liên bang Mỹ, sự ổn định tài chính là về một hệ thống tàichính có thể hoạt động và có thể tiếp nhận tất cả những hiện tượng dù tốt hay xấu, xảy
ra trong nền kinh tế, trong bất cứ lúc nào; một hệ thống tài chính tốt không phải làngăn chặn sự thất bại của thị trường hay ngăn sự thất thoát tiền bạc của các đối tượng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18trong hệ thống Mà hệ sự ổn định tài chính chỉ là sự hoạt động liên tục, hiệu quả của cả
hệ thống ngay cả khi các sự kiện như trên xảy ra Một hệ thống tài chính được coi là
ổn định khi nó đáp ứng được nhu cầu vay tiền của các hộ gia đình để phục vụ cuộc
sống như mua xe, xây nhà, nghỉ hưu hoặc giáo dục Tương tự như vậy, các doanhnghiệp cần phải vay vốn để đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất Tất cả những điềunày đòi hỏi một hệ thống tài chính hoạt động tốt và ổn định
Tóm lại, hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể cho thuật ngữ “ổn định tài
chính”, bên cạnh một thực tế là các tiền nghiên cứu có xu hướng thích tiếp cận vớiđịnh nghĩa “bất ổn định tài chính” Tuy nhiên, cách tiếp cận này lại chứa ít hướng dẫn
thực tiễn cho các tổ chức đang cố gắng thực hiện và duy trì mục tiêu ổn định tài chính.Các định nghĩa về “ổn định tài chính” tuy ít thuyết phục hơn về mặt khái niệm, nhưng
có thể dễ dàng quan sát trực tiếp hơn Trên quan điểm đó, tác giả cho rằng: ổn định tàichính là trạng thái mà hệ thống tài chính có khả năng (i) chống đỡ các cú sốc kinh tế
và không tự gây ra các cú sốc, (ii) đủ khả năng để thực hiện trơn tru các chức năng cơbản của nó, bao gồm: trung gian của các tổ chức tài chính, quản lý rủi ro và sắp xếpthanh toán
1.1.3 Ổn định tài chính đối với các ngân hàng thương mại
Hiện nay, vẫn chưa có một sự thống nhất về định nghĩa chính xác cho kháiniệm “ổn định tài chính” đối với các ngân hàng Bên cạnh cách trực tiếp để đánh giá
sự “ổn định tài chính” của các ngân hàng, các tiền nghiên cứu cũng thường thông quakhái niệm “bất ổn tài chính” Theo đó, có nhiều định nghĩa về cả hai khái niệm trên
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19yếu tố quyết định ổn định ngân hàng Các tài liệu thực nghiệm ghi lại một số yếu tốkinh tế, cấu trúc tài chính, quy định và các yếu tố thể chế có ảnh hưởng đến sự ổn địnhngân hàng Ngoài ra, sự ổn định tài chính của ngân hàng cũng có thể được xem là sựvắng mặt của sự gián đoạn bất thường trong cung cấp tín dụng, hệ thống thanh toán vàdịch vụ ngân hàng (Ozili và Thankom, 2018).
Còn bất ổn tài chính của các NHTM thường gắn liền với một cơn hoảng loạnkhách hàng khi họ không có thông tin chính xác và nghi ngờ giá trị tài sản của ngânhàng thấp hơn giá trị nợ của ngân hàng nên đồng loạt rút tiền gửi để tránh rủi ro Do đa
số các khoản tiền gửi của khách hàng đều được ngân hàng đem đi cho vay nên khi gặptình trạng khách hàng muốn rút đột ngột một lượng tiền lớn, các ngân hàng sẽ rơi vàotình trạng mất thanh khoản, khi khách hàng thấy ngân hàng gặp khó khăn trong việctrả lại tiền gửi, họ càng có niềm tin rằng ngân hàng đang gặp khó khăn và lặp lại vòngluẩn quẩn khiến sự tháo chạy ngân hàng diễn ra tồi tệ hơn cho đến khi ngân hàng lâmvào cảnh phá sản Chính khách hàng sẽ chịu tổn thất trừ khi họ nhận được bảo hiểmtiền gửi Sự tháo chạy ngân hàng sẽ lan rộng ra làm gia tăng tình trạng khủng hoảngmang tính hệ thống Trong quá khứ đã diễn ra nhiều sự tháo chạy của các ngân hàng,chẳng hạn như các ngân hàng tại Mỹ những năm 1930, hay sự sụp đổ của ngân hàng
đầu tư Bear Stearns năm 2008
Tương tự, Diamond và Dybvig (1983) đã mô tả mô hình của sự tháo chạy ngân
hàng rằng những người gửi tiết kiệm sẽ rút tiền khỏi ngân hàng bởi vì họ sợ rằngngười khác cũng làm như vậy Vấn đề khó khăn ở một số ngân hàng làm cho nhữngngười gửi tiền ở những ngân hàng khác lo lắng dẫn đến việc rút tiền ồ ạt và có thể kéotheo bất ổn cả hệ thống ngân hàng Còn Lai (2002) cho rằng, nguyên nhân cơ bản dẫn
đến tình trạng bất ổn tài chính của ngân hàng là khủng hoảng thanh khoản do nhu cầu
về thanh toán ngắn hạn vượt quá dự trữ tài sản thanh khoản cao, xuất phát từ mất cân
đối giữa tài sản và nguồn vốn của ngân hàng khi tài sản nợ của ngân hàng có xu hướng
ngắn hạn trong khi tài sản có có xu hướng dài hạn và thanh khoản thấp Barth và cộng
sự (2013) chỉ ra rằng, sự bất ổn định ngân hàng có thể gây ra bởi những quy địnhkhông đầy đủ hoặc sự giám sát không hiệu quả mặc dù cả hai đều có liên quan vàkhông thể được kiểm tra một cách độc lập Trong nghiên cứu thực nghiệm của họ chothấy sự giám sát chặt chẽ không giúp gia tăng sự ổn định của các ngân hàng; Čihàk và
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20Tieman (2007) cho rằng, những kết quả mâu thuẫn này là do sự khác biệt về chấtlượng giám sát giữa các quốc gia.
Tình trạng thiếu hụt thanh khoản của ngân hàng có thể là do suy giảm chấtlượng tài sản, nợ xấu của ngân hàng tăng cao trong khi khả năng thu hồi thấp và nguồnvốn sử dụng chủ yếu là nguồn tiền huy động Các khách hàng gửi tiền sẽ ồ ạt rút tiền
để đảm bảo nguồn tài chính của mình an toàn khi nắm bắt được thông tin tình hình tài
chính của ngân hàng suy yếu, dẫn đến làm trầm trọng thêm những bất ổn của ngânhàng Bên cạnh đó, tình trạng thu hẹp tín dụng đột ngột cũng có thể là một nguyênnhân dẫn đến sự bất ổn Điều này xảy ra khi các ngân hàng buộc phải thắt chặt các
điều kiện cho vay khi lo ngại rằng không đủ nguồn vốn để cho vay hoặc do phải đápứng các chính sách từ ngân hàng trung ương Dù ở bất kì mức lãi suất nào thì vẫn có
thể xảy ra hiện tượng thu hẹp tín dụng Khi đó, ngân hàng chính là tác nhân gây nênbất ổn tài chính và khủng hoảng tài chính Trong thực tế, cuộc khủng hoảng cho vay
và tiết kiệm ở Mỹ vào những năm 1980 đã dẫn đến sự thu hẹp tín dụng cũng được xem
là một tác nhân chính của cuộc suy thoái Mỹ ở 1990 – 1991
Sự không tương thích về kỳ hạn giữa nợ và tài sản cũng là một nguyên nhândẫn đến sự bất ổn của các ngân hàng Khi các ngân hàng thương mại tích cực huy
động tiền gửi ngắn hạn hoặc không kỳ hạn và có thể rút tiền bất cứ lúc nào nhưng cho
phép các doanh nghiệp hoặc các hộ gia đình vay các khoản vay dài hạn Sự không phùhợp giữa nợ ngắn hạn và tài sản dài hạn của ngân hàng được coi là một trong những lý
do dẫn đến việc tháo chạy khỏi ngân hàng khi người gửi tiền lo lắng và quyết định rúttiền với tốc độ nhanh hơn thời gian ngân hàng thu hồi các khoản vay
Sự bất ổn tài chính của các ngân hàng thương mại có thể nhanh chóng lan ratoàn bộ hệ thống ngân hàng Chỉ cần một ngân hàng rơi vào tình trạng bất ổn, các ngânhàng khác có nguy cơ rơi vào tình huống tương tự Nếu giám sát tín dụng ngân hàngtrung ương không hiệu quả tạo điều kiện cho mối quan hệ tín dụng chồng chéo giữacác ngân hàng, sự sụp đổ của một tổ chức tài chính có thể kéo theo nhiều tổ chức tàichính khác và dẫn đến rủi ro cho toàn hệ thống Sự bất ổn tài chính của một ngân hàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 211.1.4 Phương pháp đo lường sự ổn định tài chính
Sự ổn định tài chính riêng lẻ của từng ngân hàng có thể được đo lường bằngkhoảng cách tới phá sản hoặc ngưỡng phá sản Cụ thể, các nhà nghiên cứu thường sửdụng chỉ số Z-score, là chỉ số được cả giới học thuật và thực hành công nhận và sửdụng rộng rãi trên thế giới
Chỉ số Z-score được đưa ra bởi Edward I Altman (Giáo sư thuộc trường ĐạiHọc New York) từ những năm 1968 dựa vào nghiên cứu số lượng lớn các công tythuộc các ngành nghề khác nhau, giúp dự báo rủi ro phá sản cho các doanh nghiệp.Chỉ số Z-score nguyên thủy được tính toán dựa vào 5 yếu tố: (i) tỷ lệ vốn lưu độngtrên tổng tài sản, (ii) tỷ lệ lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản, (iii) tỷ lệ lợi nhuận trướclãi vay và thuế trên tổng tài sản, (iv) giá thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổsách của tổng nợ, và (v) tỷ lệ doanh số bán trên tổng tài sản Dựa trên nghiên cứu củaAltman, đã có nhiều nghiên cứu sau đó áp dụng Z-score để đánh giá rủi ro phá sảntrong nhiều ngành khác nhau Sự phổ biến của Z-score xuất phát từ thực tế là nó cómối quan hệ ngược chiều rõ ràng với xác suất của tổ chức tài chính mất khả năngthanh toán, nghĩa là xác suất giá trị tài sản của nó trở nên thấp hơn giá trị của khoản
nợ Do đó, Z-score càng cao thể hiện hàm ý khả năng mất khả năng thanh khoản thấphơn Các tiền nghiên cứu sử dụng Z-score để phân tích sự ổn định tài chính ngân hàngbao gồm: Boyd và Runkle (1993); Beck, Demirgüç-Kunt, Levine (2007); Demirgüç-Kunt, Detragiache, và Tàu (2008); Laeven và Levine (2009); Čihák và Hawai (2010)
Sự ổn định tài chính được lượng hóa bằng Z-score trong các nghiên cứu về lĩnh vựcngân hàng và được tính toán như sau:
Z-score cũng có một số hạn chế khi làm thước đo sự ổn định tài chính Theo đó,hạn chế có thể là lớn nhất đó là Z-score hoàn toàn dựa trên dữ liệu kế toán Do đó,chúng chỉ phải ánh đúng như các dữ liệu được đưa ra từ các NHTM Nếu các NHTM
cố tình chỉnh sửa số liệu được báo cáo, Z-score có thể cung cấp một đánh giá quá tíchcực về sự ổn định của các tổ chức tài chính Ngoài ra, Z-score chỉ xem xét riêng biệttừng NHTM mà bỏ qua rủi ro của toàn hệ thống khi một ngân hàng sụp đổ khiến cácngân hàng khác bị ảnh hưởng Ngoài ra, Z-score có lợi điểm là cho phép so sánh rủi ro
vỡ nợ trong các nhóm tổ chức khác nhau, có thể khác nhau về quyền sở hữu hoặc mụctiêu của họ, nhưng phải đối mặt với nguy cơ mất khả năng thanh toán
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 221.1.5 Nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính hệ thống ngân hàng thương mại
1.1.5.1 T ỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity – ROE) là chỉ số đo
lường mức độ hiệu quả của việc sử dụng vốn chủ sở hữu trong doan nghiệp ROEđược xác định bằng tỷ số giữa lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân
Thông qua chỉ số ROE, chúng ta có thể biết được với một đồng vốn chủ sở hữu thìdoanh nghiệp có thể thu lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ số ROE của mỗi doanhnghiệp cao có thể là một dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả Tuynhiên, mức ROE hợp lý còn phụ thuộc vào đặc điểm cũng từng ngành riêng biệt
Đối với ngành ngân hàng, chỉ số ROE cao thể hiện ngân hàng sử dụng vốn chủ
sở hữu có thể tạo ra lợi nhuận lớn Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tài (2017) cho thấy,rủi ro tín dụng có thể làm giảm hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, tức có mối quan
hệ ngược chiều giữa ROE với rủi ro tín dụng Do đó, kỳ vọng của tác giả giữa chỉ sốROE với sự ổn định tài chính của ngân hàng là mối quan hệ cùng chiều
1.1.5.2 T ỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
Tỷ lệ của nguồn vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của ngân hàng có thể đượcxem như là một trong những biểu hiện về sức mạnh nội tại của NHTM, cho thấy khảnăng tự chủ tài chính của ngân hàng Trong đó, vốn chủ sở hữu là nguồn vốn do các cổ
đông đóng góp và được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại.Đây cũng là một trong những cơ sở để thu hút vốn tiền gửi, điều chỉnh hoạt động đầu
tư và điều chỉnh hoạt động tín dụng Do ngân hàng là ngành kinh doanh đặc thù nên tỷ
lệ của nguồn vốn chủ sở hữu trong tổng tài sản là khá thấp
Tỷ số này cũng phản ánh khả năng bù đắp tổn thất của vốn chủ sở hữu với cáccam kết hoàn trả của ngân hàng như là “một tấm đệm” để giữ vững sự ổn định củangân hàng khi gặp những cú sốc Nghiên cứu của Rahman và cộng sự (2015) đã chỉ ramối quan hệ cùng chiều giữa chỉ tiêu này với hiệu quả hoạt động của ngân hàng Do
đó, mối quan hệ giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản với sự ổn định tài chính
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 231.1.5.3 T ỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận sau thuế là phần lợi nhuận còn lại sau khi ngân hàng trừ đi hết cácchi phí hoạt động và thuế thu nhập doanh nghiệp Do đó, chỉ tiêu này thể hiện khả
năng sinh lời của các ngân hàng Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế hàng năm đolường mức độ tăng trưởng lợi nhuận hàng năm của ngân hàng
Khi lợi nhuận gia tăng thì sẽ bổ sung thêm nguồn lực hoạt động cho ngân hàng,
do đó mối quan hệ giữa tăng trưởng lợi nhuận sau thuế với sự ổn định tài chính của
ngân hàng là mối quan hệ cùng chiều
1.1.5.4 Quy mô t ổng tài sản
Tổng tài sản có thể đại diện cho quy mô của ngân hàng, tổng tài sản càng lớntức quy mô ngân hàng càng lớn, trong đó tiền gửi huy động và cho vay chiếm tỷ trọnglớn Do đó, tổng tài sản càng lớn chứng tỏ khả năng huy động tiền gửi càng mạnh và
dư nợ cho vay cao Đây là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sức mạnh
tài chính trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo thông lệ quốc tế
Theo Hiệp ước Basel, năng lực tài chính mạnh là điều kiện cần và đủ để ngânhàng nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, có đủ tiềm lực để áp dụng vậnhành mô hình quản trị rủi ro hiệu quả, tăng khả năng thanh khoản, đảm bảo tỷ lệ antoàn vốn từ đó đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng mình nói riêng và an toàntoàn hệ thống tài chính nói chung Saunders & cộng sự (1990) hay Chen & cộng sự(1998) đều tìm ra kết quả quan hệ nghịch chiều giữa rủi ro tín dụng và quy mô ngânhàng Do đó, quy mô tổng tài sản và sự ổn định tài chính của ngân hàng thường có mốiquan hệ cùng chiều
1.1.5.5 T ỷ lệ dư nợ trên tiền gửi khách hàng
Ngân hàng được xem là một tổ chức chuyên nghiệp trong việc cấp tín dụng
Tuy nhiên, phần lớn nguồn vốn của ngân hàng được huy động từ tiền gửi của kháchhàng và nguồn vốn này sẽ được sử dụng để cấp tín dụng
Khi tỷ lệ dư nợ khách hàng trên tiền gửi khách hàng cao, tức ngân hàng tậndụng tốt nguồn vốn của mình sẽ khiến cho thu nhập của ngân hàng tăng, tuy nhiên
đồng nghĩa với việc ngân hàng phải tăng cường kiểm soát rủi ro Tiền nghiên cứu của
Keeton (1999) đã chỉ ra rằng tăng trưởng tín dụng có thể làm tăng hoặc giảm rủi ro tíndụng tùy thuộc vào nguyên nhân của sự tăng trưởng tín dụng Dư nợ tăng không có thể
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24làm giảm rủi ro tín dụng cho toàn bộ dư nợ nếu nó bắt nguồn từ việc nguồn cầu vốn
tăng chứ không phải do nguồn cung vốn Như vậy, mối quan hệ giữa tỷ lệ dư nợ khách
hàng trên tiền gửi khách hàng với sự ổn định tài chính của ngân hàng thường là mốiquan hệ cùng chiều
1.1.5.6 T ỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản
Tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản thể hiện cho khả năng kiểm soát rủi ro và yếu tốchất lượng tài sản của ngân hàng Ngoài ra, còn thể hiện khả năng bù đắp khi xảy rarủi ro từ các khoản cho vay của ngân hàng
Khi dư nợ cho vay tăng lên sẽ giúp thu nhập của ngân hàng tăng tuy nhiên ngân
hàng phải tăng cường kiểm soát và lập dự phòng rủi ro cho các khoản vay Hoặc khitổng tài sản của ngân hàng giảm xuống sẽ khiến quy mô hoạt động của ngân hàng thunhỏ và làm giảm khả năng thanh khoản, bù đắp rủi ro của ngân hàng Do đó, tỷ lệ dư
nợ trên tổng tài sản và sự ổn định tài chính của ngân hàng có thể cùng chiều hoặc
ngược chiều
1.1.5.7 T ỷ lệ thu nhập lãi cận biên
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là phần trăm chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phílãi phải trả của ngân hàng, cho biết hiện các ngân hàng đang thực sự hưởng chênh lệchlãi suất giữa hoạt động huy động và hoạt động đầu tư tín dụng là bao nhiêu Đây đượccoi là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời củacác ngân hàng Khi ngân hàng càng cho vay nhiều, thì mức độ rủi ro tín dụng tăng lên
và buộc ngân hàng nâng tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro, các ngân hàng phải tính toánlợi nhuận cao hơn để bù đắp các khoản rủi ro dự kiến
Khi tỷ lệ thu nhập lãi cận biên càng cao, tức các ngân hàng đang theo đuổi mứcrủi ro tín dụng càng cao và ngược lại Các nghiên cứu của Phạm Hoàng Ân và NguyễnThị Ngọc Hương (2013), Võ Phúc Trường Thành (2019) đã thể hiện mối quan hệ cùngchiều giữa tỷ lệ thu nhập lãi cận biên với rủi ro tín dụng Do đó, tỷ lệ thu nhập lãi cậnbiên với sự ổn định tài chính của các ngân hàng thường sẽ có mối quan hệ ngượcchiều
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 251.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1.Tổng quan về nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018
1.2.1.1 T ổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tăng trưởng kinh tế
Dựa trên biểu đồ ở hình 1.1 có thể thấy từ năm 2014 đến 2018, tổng GDP (PPP)Việt Nam luôn tăng đều đặn với trung bình trên 45 triệu USD mỗi năm Cụ thể, năm
2014, tổng GDP đạt 487,2 tỷ USD sau đó tăng mạnh vào năm 2015 và 2016 đạt lần
lượt là 519,7 và 552 tỷ USD với mức tăng trưởng 32 tỷ USD mỗi năm Đến năm 2017,
tổng GDP của Việt Nam tăng thêm 37 tỷ USD và đạt 589,7 tỷ USD Cuối cùng, GDP
đạt đỉnh với 631,4 tỷ USD vào năm 2018 với mức tăng trưởng cao nhất là 41,7 tỷ
USD
Còn phần trăm tăng trưởng GDP thì luôn biến động qua từng năm Thấp nhất là
năm 2014 với mức tăng 5,98%, điều này có thể giải thích bởi đây là giai đoạn nền kinh
tế đang dần hồi phục sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Sau đó,trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hồi phục, kinh tế Việt Nam phát triển ổn định nhờduy trì các cải cách trong nước, mức tăng tốt với 6,68% vào năm 2015 trước khi giảmnhẹ còn 6,21% vào năm 2016, nối tiếp sau đó là một giai đoạn tăng mạnh trở lại, đạt
6,81% vào năm 2017 và đạt đỉnh ở 7,08% vào năm cuối cùng của giai đoạn GDP cảnăm 2018 tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2014 trở lại đây Tốc độ tăngtrưởng cao giúp tạo nhiều việc làm và gia tăng thu nhập, từ đó đạt được thành tựu về
phúc lợi xã hội và xóa đói giảm nghèo
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26Hình 1.1: GDP (PPP) Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
1.2.1.2 Ch ỉ số giá tiêu dùng bình quân
Dựa trên biểu đồ hình 1.2, chỉ số giá tiêu dùng bình quân cuối năm 2014 tăng1,84% so với năm trước khi trong năm này, hầu hết các nhóm hàng đều tăng thấp hơncùng kỳ hoặc giảm Với lý do tương tự, mức tăng CPI trong năm 2015 chỉ còn 0,63%
và là mức tăng thấp nhất trong vòng 15 năm trở lại trước đó Đến năm 2016, chỉ số
CPI tăng 2,66% so với năm 2015 với việc Chính phủ kiên định thực hiện mục tiêu
kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô đã phục hồi niềm tin của thị trường, qua đógiúp ổn định kỳ vọng lạm phát Chỉ số CPI tiếp tục tăng 3,53% vào năm 2017 nhưngvẫn thấp hơn mức mục tiêu 4% do Quốc hội đề ra Điều này lặp lại với năm 2018 khi
năm này chỉ số CPI tăng 3,54%, lý do chủ yếu do giá thực phẩm, nhiên liệu tăng và
việc điều chỉnh giá Nhà nước quản lý
487.233 519.777 552.059 589.667 631.4155.98
2014 2015 2016 2017 2018 0
Trang 27Hình 1.2: Mức tăng CPI của Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018
thực cho ngành được ví như là huyết mạch của nền kinh tế này nên hầu như mỗi châulục, mỗi đất nước đều có những nghiên cứu cụ thể phù hợp với tình hình của chính nơiđó
1.2.2.1 Các nghiên c ứu trong nước
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Dương (2013) với mẫu là 36 ngân hàng thươngmại tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2011 và sử dụng các phương pháp định lượng
để đánh giá sự ảnh hưởng của các chỉ số điển hình đối với rủi ro ngân hàng Kết quả
cho thấy tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng so với thu nhập lãi thuần, tỷ lệ lợi nhuận ròngtrên tổng tài sản tác động cùng chiều với rủi ro ngân hàng; ngược lại tỷ lệ vốn chủ sởhữu trên vốn huy động; tỉ lệ cho vay đối với tiền gửi ngắn hạn có ảnh hưởng tiêu cực
đến rủi ro ngân hàng Nghiên cứu cũng cho rằng việc tăng vốn chủ sở hữu là điều kiện
thiết yếu để bảo vệ ngân hàng khỏi rủi ro phá sản, tác giả đề xuất các hướng dẫn và cải
Trang 28thiện hệ thống quản lý rủi ro của hệ thống ngân hàng Hoàn trả và cải thiện tiền vàquản lý vốn.
Võ Xuân Vinh & Trần Thị Phương Mai (2015) xem xét vấn đề lợi nhuận và rủi
ro của các NHTM Việt Nam và tác động của đa dạng hóa thu nhập Nghiên cứu sửdụng phương pháp ước lượng hồi quy cho dữ liệu bảng với mẫu gồm 37 NHTM ViệtNam giai đoạn 2006 – 2013 Chỉ số Z-score, RAROA và RAROE được sử dụng làmbiến đo lường rủi ro ngân hàng Kết quả cho thấy các ngân hàng càng đa dạng hóa hoạt
động thì lợi nhuận càng cao, tuy nhiên lợi nhuận điều chỉnh rủi ro giảm Nghiên cứu
của Nguyễn Đăng Tùng và Bùi Thị Len (2015) ứng dụng các phương pháp thống kê
mô tả để nhận xét tình hình tài chính của các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứngkhoán Việt Nam dựa trên các biến tăng trưởng tài sản, tăng trưởng tín dụng, lợi nhuậnròng và nợ xấu - là những nhân tố tác động mạnh đến hoạt động của các ngân hàngtrong tương lai Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng mô hình Altman Z '' để đánh giá rủi rophá sản hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam thông qua dữ liệu báo cáo tài chínhcủa 39 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2008 - 2013 Kết quả cho thấy điểmtrung bình Z '' của các ngân hàng thương mại nằm trong mức độ đảm bảo, biến độnggiảm dần qua các năm và có sự khác biệt giữa các nhóm quy mô vốn khác nhau thôngqua thử nghiệm ANOVA Một chiều Nhóm quy mô ngân hàng lớn nhất và nhỏ nhất có
Z '' nhỏ hơn hai nhóm còn lại
Đặng Văn Dân (2015) sử dụng dữ liệu trong nghiên cứu là dữ liệu thời gian
theo năm được thu thập từ báo cáo tài chính hàng năm của 15 NHTM lớn tại Việt Namtrong giai đoạn 2007 - 2014, các số liệu kinh tế vĩ mô được thu thập từ Tổng cụcThống kê Việt Nam Do dữ liệu trong nghiên cứu vừa theo thời gian và vừa theokhông gian nên dữ liệu bảng và mô hình hồi quy được sử dụng trong nghiên cứu Kếtquả nghiên cứu chỉ ra rủi ro thanh khoản chịu tác động nghịch đảo với yếu tố quy môtổng tài sản và chịu tác động cùng chiều với yếu tố tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản vìkhi ngân hàng có quy mô càng lớn thì ngân hàng có nhiều lợi thế cạnh tranh trên thịtrường và càng giảm rủi ro thanh khoản Ngoài ra, ngân hàng có tỷ lệ cho vay trên
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29không chỉ ra sự tương quan nào giữa rủi ro thanh khoản của NHTM với mức độ lạmphát và tăng trưởng kinh tế Dựa vào kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi
ro thanh khoản của NHTM, tác giả đưa ra gợi ý một số chính sách nhằm nâng cao hiệuquả hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản đối với các NHTM, góp phần đảm bảo antoàn hệ thống ngân hàng
Nghiên cứu “Phát triển thị trường tài chính và rủi ro của các ngân hàng thươngmại Việt Nam” của Hoàng Công Gia Khánh & Trần Hùng Sơn (2015) sử dụng số liệucủa 25 NHTM Việt Nam với 214 quan sát trong giai đoạn từ 2005-2013, nhằm xemxét mối quan hệ giữa phát triển thị trường tài chính và rủi ro của các NHTM ViệtNam Nghiên cứu sử dụng Z-score làm chỉ số đo lường rủi ro tín dụng, rủi ro thanhkhoản và rủi ro thị trường của các NHTM Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng phươngpháp của Kohler (2015) chia chỉ số Z-score thành hai biến RAROA phản ánh khả năngsinh lời điều chỉnh theo rủi ro và RACAR phản ánh quy mô vốn chủ sở hữu trên tổngtài sản điều chỉnh theo rủi ro Kết quả nghiên cứu cho thấy phát triển thị trường tàichính tại Việt Nam có khuynh hướng làm gia tăng rủi ro của ngân hàng Các yếu tốnhư cấu trúc tài sản, an toàn vốn, quy mô tài sản làm giảm rủi ro ngân hàng Khả năngsinh lời có khuynh hướng làm gia tăng rủi ro ngân hàng, cho thấy các ngân hàng cókhuynh hướng tham gia vào các hoạt động rủi ro cao để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn.Nghiên cứu còn cho thấy tăng trưởng kinh tế tỷ lệ nghịch với rủi ro Kết quả nghiêncứu không tìm thấy mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động, đa dạng hóa thu nhập và làmphát tới rủi ro ngân hàng
Nghiên cứu “Phân tích các yếu tố hưởng đến rủi ro phá sản ngân hàng ViệtNam bằng phương pháp Z-score” của Nguyễn Minh Hà & Nguyễn Bá Hướng (2016)
đã gợi ý các chính sách phù hợp nhằm tăng cường sự ổn định và lành mạnh trong hoạtđộng của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Nghiên cứu sử dụng dữ liệu gồm
23 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam với 115 quan sát từ 2009-2013 Nghiêncứu tìm thấy các yếu tố có mối quan hệ nghịch chiều với rủi ro phá sản ngân hàng như:Tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ dự phòng nợ xấu, tỷ lệ thu nhập lãi thuần, vốn chủ sở hữutrên tổng tài sản, đa dạng hóa thu nhập, sở hữu nhà nước, số năm hoạt động của ngânhàng và ngân hàng đã niêm yết Các yếu tố có mối quan hệ đồng biến với rủi ro phásản ngân hàng gồm hiệu quả quản lý chi phí và quy mô
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30Huỳnh Thị Phương Thảo (2018) thu thập số liệu trên báo cáo tài chính của 35NHTM Việt Nam và Tổng cục Thống kê Việt Nam giai đoạn 2008- 2017 nhằm đánhgiá hiệu quả hoạt động bằng mô hình DEA sau đó nghiên cứu tác động của rủi ro đếnhiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu: Lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản, lợinhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kỹ thuật thuần, hiệuquả quy mô bằng mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM và khắc phục các khuyếttật bằng mô hình GLS Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng có tác động tiêucực đến hiệu quả hoạt động, từ đó tác giả kiến nghị các giải pháp hạn chế rủi ro tíndụng nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam Khirủi ro tín dụng tăng lên, ngân hàng sẽ phải bỏ thêm chi phí để khắc phục những hậuquả do các khoản nợ đó mang lại Việc gia tăng hoạt động quản lý như theo dõi, thuhồi, đôn đốc thu hồi, quản trị nợ xấu chủ động, bán nợ… đã dẫn đến chi phí gia tăngnên làm hiệu quả hoạt động của ngân hàng giảm xuống.
1.2.2.2 Các nghiên c ứu nước ngoài
Trước đây, Diamond (1984), Ramakrishnan và Thakor (1984), Boyd và
Prescott (1986), Williamson (1986), và một vài người khác cho thấy các hệ thống ngânhàng tập trung bao gồm các ngân hàng lớn có thể tận dụng nền kinh tế theo quy mô vàphạm vi và đa dạng hóa tốt hơn danh mục đầu tư của họ Smith (1984) đã lập luậnrằng mối quan hệ giữa các ngân hàng có thể tồn tại lâu dài hơn trong môi trường ítcạnh tranh nếu thông tin về nhu cầu thanh khoản của người gửi tiền là riêng tư Do đó,
sự tập trung cao hơn và ít cạnh tranh hơn có thể làm giảm rủi ro trách nhiệm và dẫn
đến sự ổn định hơn trong hoạt động ngân hàng
Dựa trên các nghiên cứu của Boyd & Graham (1986), Hannan & Hanweck(1988), đã có một số nghiên cứu sử dụng chỉ số Z-score nhằm đo lường sự ổn định tàichính của các NHTM Theo đó, sự ổn định tài chính của các NHTM có thể đo lườngbằng khả năng phá sản của các ngân hàng đó Nghiên cứu của Boyd, De Nicolo vàJalal (2006) sử dụng Z-score, được tình bằng tỷ lệ vốn trên tổng tài sản cộng lợi nhuậntrên tổng tài sản, chia cho độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên tài sản Kết quả của chỉ số
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31Hesse và Cihak (2007) phân tích thực nghiệm vai trò của các ngân hàng hợp táctrong việc ổn định tài chính Các tính toán được dựa trên dữ liệu của từng ngân hàng
được lấy từ cơ sở dữ liệu BankScope, do Bureau van Dijk cung cấp, bao gồm dữ liệu
của các ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác và ngân hàng tiết kiệm trong cơ sở
dữ liệu từ 29 nền kinh tế tiên tiến và thị trường mới nổi là các thành viên của Tổ chứcHợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) Tổng cộng là 16.577 ngân hàng từ năm 1994
đến năm 2004, bao gồm 11.090 ngân hàng thương mại, 3.072 ngân hàng hợp tác, và
2.415 ngân hàng tiết kiệm Nghiên cứu sử dụng Z-score để đo lường xác suất rủi ro vàkhả năng phá sản của ngân hàng, là xác suất mà giá trị tài sản trở nên thấp hơn giá trịcác khoản nợ Kết quả cho thấy rằng các ngân hàng hợp tác ổn định hơn các ngân hàngthương mại, do sự biến động lợi nhuận thấp của các ngân hàng hợp tác, bù đắp lại khảnăng sinh lời thấp hơn và vốn hóa thấp hơn, và do khả năng của các ngân hàng hợp táctrong việc sử dụng thặng dư khách hàng như là một mức đệm trong thời kỳ suy yếu.Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng trong các hệ thống có sự hiện hữu của cácngân hàng hợp tác, các ngân hàng thương mại yếu kém sẽ mất ổn định nhiều hơn
Beck và cộng sự (2006) đề xuất rằng quy mô ngân hàng có mối tương quan tíchcực với sự phức tạp của tổ chức; ví dụ, giám sát một ngân hàng lớn khó hơn giám sátmột ngân hàng nhỏ Theo đó, khi quy mô doanh nghiệp tăng, tính minh bạch có thểgiảm do mở rộng trên nhiều thị trường địa lý và ngành nghề kinh doanh và sử dụngcác công cụ tài chính tinh vi tạo điều kiện cho việc thành lập các tổ chức doanh nghiệpphức tạp Những phát triển này có thể làm giảm hiệu quả quản lý và kiểm soát nội bộdoanh nghiệp và có thể làm tăng rủi ro hoạt động Sự phức tạp của tổ chức ngày càngtăng có thể khiến cả kỷ luật thị trường và hành động pháp lý trở nên kém hiệu quả hơntrong việc ngăn ngừa rủi ro quá mức (Cetorelli et al., 2007)
Tuy nhiên, theo Berger và cộng sự (2009) cho rằng rủi ro chung của các ngânhàng có thể không tăng ngay cả khi thị trường khuyến khích danh mục tài sản nhiềurủi ro hơn vì các ngân hàng có thể bảo vệ giá trị điều lệ của họ bằng cách sử dụng cácphương pháp khác để bù đắp rủi ro lớn hơn Những phương pháp này có thể bao gồmtăng vốn cổ phần, giảm rủi ro lãi suất và bán các công cụ phái sinh tín dụng
Xiaoqing (Maggie) Fu, Yongjia (Rebecca) Lin và Philip Molyneux (2012) vớibài nghiên cứu về sự cạnh tranh và ổn định tài chính của ngân hàng ở Châu Á Thái
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32Bình Dương, sử dụng dữ liệu của 14 nền kinh tế châu Á Thái Bình Dương từ 2003 đến
2009, đã điều tra ảnh hưởng của cạnh tranh ngân hàng, sự tập trung, quy định và thể
chế quốc gia đối với sự mong manh của từng ngân hàng riêng lẻ được đo bằng xácsuất phá sản và Z-score của ngân hàng Kết quả cho thấy rằng sự tập trung càng caocàng thúc đẩy sự bất ổn tài chính và quyền lực thị trường thấp cũng gây ra rủi ro ngân
hàng trong điều kiện các yếu tố kinh tế vĩ mô, đặc điểm riêng biệt của từng ngân hàng,
các quy định và thể chế đã được kiểm soát Ngoài ra, không có bằng chứng cho thấycác ngân hàng lớn hơn trong khu vực này có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư của họtốt hơn Cuối cùng, nghiên cứu chỉ ra rằng sự phát triển thể chế tốt hơn và yêu cầu vốnnghiêm ngặt sẽ cải thiện sự ổn định tài chính, trong khi các chương trình bảo hiểm tiềngửi cao hơn lại gia tăng sự bất ổn cho ngân hàng
Strobel và Lepetit (2015) sử dụng mô hình Z-score để đánh giá và xem xét mốiliên hệ giữa Z-score và xác suất phá sản của các ngân hàng, giúp cung cấp một biệnpháp đo lường cải tiến hơn mà không áp đặt các giả định phân phối tiếp theo Phươngpháp đo lường truyền thống về xác suất phá sản có thể cung cấp một ràng buộc trênkém hiệu quả về khả năng phá sản, nhưng nó có thể được diễn giải một cách có ýnghĩa như là một phương pháp để xác định xác xuất mất khả năng thanh toán Nghiêncứu của Strobel và Lepetit(2015) đã ứng dụng thêm Z-score điều chỉnh bằng lnZ-scoretrong mối quan hệ với rủi ro phá sản ngân hàng, và cho thấy lnZ-score tỷ lệ nghịch vớixác suất phá sản
Nghiên cứu của N.A Karim và cộng sự (2018) cung cấp bằng chứng thựcnghiệm mới về các biện pháp ổn định ngân hàng cho 50 ngân hàng ở Malaysia, trongkhoảng thời gian từ 1999 đến 2015 Có hai phương pháp đo lường sự ổn định của ngânhàng là sử dụng biến Z-score và CAMELS Sau khi tính toán, các biến này được xếphạng, với mức trung bình cao nhất được xếp hạng là một và mức trung bình thấp nhất
được xếp hạng cuối cùng, hoặc năm mươi Đây là theo phương pháp của Roman vàŞargu (2013), Dincer và cộng sự (2011) và mở rộng nó bằng cách đưa ra mức trung
bình của tổng xếp hạng cho tất cả các biến Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33địa phương được ghi nhận xếp hạng thuận lợi về thanh khoản So sánh hai loại ngân
hàng địa phương, các ngân hàng thông thường được xếp hạng tốt hơn về thanh khoản,
độ nhạy cảm với rủi ro thị trường và thu nhập và lợi nhuận
Một bài nghiên cứu của Ozili (2018) khám phá các yếu tố quyết định sự ổn địnhngân hàng ở Châu Phi Các tác giả trình bày bốn biện pháp ổn định ngân hàng baogồm tỷ lệ bảo hiểm cho vay của ngân hàng, rủi ro mất khả năng thanh toán, tỷ lệ chấtlượng tài sản và mức độ phát triển tài chính, từ đó cho phép phân tích các yếu tố quyết
định ổn định ngân hàng từ bốn quan điểm bổ sung: bảo vệ cho các khoản lỗ tín dụng
giảm, phát sinh từ sự suy giảm tín dụng rủi ro mất khả năng thanh toán, nợ xấu và pháttriển tài chính Các tác giả sử dụng phương pháp hồi quy để ước tính tác động của cấutrúc tài chính, các yếu tố thể chế, cấp ngân hàng đến sự ổn định của ngân hàng Kếtquả cho thấy hiệu quả ngân hàng, sự hiện diện của ngân hàng nước ngoài, sự tập trungcủa ngân hàng, quy mô của ngành ngân hàng, hiệu quả của chính phủ, sự ổn địnhchính trị, chất lượng điều tiết, bảo vệ nhà đầu tư, kiểm soát tham nhũng và mức độ thấtnghiệp là những yếu tố quan trọng quyết định sự ổn định ngân hàng ở Châu Phi và tầmquan trọng của mỗi yếu tố quyết định phụ thuộc vào proxy ổn định ngân hàng được sửdụng và phụ thuộc vào thời kỳ phân tích: trước khủng hoảng, trong khủng hoảng hoặcsau khủng hoảng Từ đó, tác giả đưa ra đề xuất các giám sát viên ngân hàng ở cácnước châu Phi nên xem xét vai trò của cấu trúc tài chính và chất lượng thể chế đối với
sự ổn định ngân hàng ở khu vực châu Phi Nghiên cứu này là nghiên cứu đầu tiên kiểmtra các yếu tố quyết định ổn định ngân hàng ở Châu Phi có tính đến chất lượng thể chế
và cấu trúc tài chính Ozili (2018) cũng lưu ý rằng tầm quan trọng của từng yếu tố phụthuộc vào cách đo lường sự ổn định của ngân hàng cũng như giai đoạn được nghiêncứu
Tương tự, nghiên cứu tiếp theo của Ozili (2019) phân tích các yếu tố quyết định
sự ổn định ngân hàng tại Nigeria Theo đó, sự ổn định ngân hàng là rất quan trọng chotăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính Nghiên cứu này sử dụng kết quả tổng hợpthay vì sử dụng hiệu suất của riêng lẻ từng ngân hàng để phân tích các yếu tố quyết
định sự ổn định ngân hàng ở Nigeria Điều này cho phép tác giả tập trung vào những
thay đổi xảy ra trong toàn ngành ngân hàng Các phát hiện cho thấy hiệu quả của ngânhàng, quy mô của các khoản vay không phù hợp, tỷ lệ vốn pháp định, độ sâu hệ thống
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34tài chính và sự tập trung ngân hàng là những yếu tố quan trọng quyết định sự ổn địnhngân hàng ở Nigeria Từ đó, tác giả đưa ra hàm ý chính sách là các giám sát viên ngânhàng nên tăng cường nỗ lực trong việc giải quyết các khoản vay không phù hợp, vấn
đề an toàn vốn ở Nigeria Ngoài ra, giám sát viên ngân hàng cần đảm bảo rằng các
chính sách được thiết kế để cải thiện hoạt động của hệ thống tài chính được tuân thủ
1.3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
1.3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Tác giả thu thập mẫu dữ liệu của nghiên cứu bao gồm 19 NHTM tại Việt Nam
trong giai đoạn từ 2014 đến 2018 Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước tại thờiđiểm 31/12/2018, số NHTM là 35 ngân hàng Tuy nhiên, dữ liệu của một số ngân hàngkhông được công bố đầy đủ trong giai đoạn nghiên cứu nên để đảm bảo cho dữ liệu
bảng cân bằng, mẫu nghiên cứu bao gồm 19 NHTM có đầy đủ dữ liệu nhất (phụ lục1) Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước tại ngày 31/12/2018, tổng tài sản của hệthống NHTM là 9.418.330 tỷ đồng Trong khi, tổng tài sản của 19 NHTM được tác giả
sử dụng tại thời 31/12/2018 là 6.765.615 tỷ đồng, chiếm 71,8% tổng tài sản của các
NHTM Như vậy, 19 NHTM tác giả lựa chọn đảm bảo được tính đại diện cho hệ thống
NHTM tại Việt Nam
Trong đó, khối NHTM có sở hữu nhà nước bao gồm 7 ngân hàng là Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, CTG, VCB, BID và 3 ngân hàng được
nhà nước mua lại với giá 0 đồng là Ngân hàng thương mại TNHH MTV Đại Dương,Ngân hàng thương mại TNHH MTV Xây dựng Việt Nam, Ngân hàng thương mại
TNHH MTV Dầu khí Toàn cầu Với mẫu nghiên cứu, do sự hạn chế về khả năng tiếpcận và thu thập dữ liệu, khối NHTM có vốn nhà nước được tác giả đưa vào gồm 3NHTM là CTG, VCB, BID còn 16 ngân hàng còn lại thuộc khối NHTM cổ phần Theo
số liệu cập nhật tại trang web finance.vietstock.vn (truy cập 21/02/2020) thì số lượngngân hàng niêm yết trên hai sàn giao dịch HOSE và HNX là 13 ngân hàng, bao gồmBID, CTG, VCB, ACB, MBB, EIB, HDB, TCB, TPB,VPB, NCB, SHB và STB Cácngân hàng còn lại của mẫu là các ngân hàng chưa niêm yết Bên cạnh đó, việc chọn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35quan sát Trong quá trình thu thập dữ liệu, tác giả đã cố gắng thu thập dữ liệu từ các
báo cáo tài chính, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính có kiểmtoán và được công bố trên website chính thức của ngân hàng Bên cạnh đó, các biến
nội sinh của từng ngân hàng cũng được tính toán cẩn thận thông qua phần mềm Exceldựa trên các dữ liệu trên
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài có mục tiêu cụ thể là: đo lường sự ổn định tài chính và phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của hệ thống NHTM Việt Nam Để thựchiện được mục tiêu trên, đề tài sử dụng 02 bước phân tích định lượng dưới đây
1.3.2.1 Đo lường sự ổn định tài chính bằng Z-score
Đề tài đo lường sự ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam bằng chỉ số rủi
ro phá sản Z-score được kế thừa từ nghiên cứu của Berger (2008), Groeneveld và DeVries (2009), tỷ lệ nợ xấu và kiểm định sự khác biệt của các nhóm ngân hàng Z-score
được tính toán dựa trên công thức như sau:
SD(ROA) là độ lệch chuẩn của tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản trong giai
đoạn nghiên cứu (5 năm)
Chỉ số Z-score càng cao thì sự ổn định tài chính của ngân hàng sẽ càng cao(Mercieca và cộng sự, 2007) Đề tài tính toán Z-score của 19 NHTM trong từng năm
từ 2014 - 2018, đồng thời tính toán Z-score trung bình trong 5 năm 2014 - 2018 để xếphạng và đánh giá sự ổn định tài chính của các ngân hàng trong giai đoạn nghiên cứu.Bên cạnh đó, khóa luận cũng chia nhóm các NHTM theo hình thức sở hữu và quy môvốn điều lệ để đánh giá sự ổn định tài chính theo các tiêu chí phân loại khác nhau
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 361.3.2.2.Đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của hệ thống
Ngân hàng thương mại Việt Nam
Bên cạnh kế thừa các nghiên cứu trước đây, tác giả đề xuất và xây dựng phươngtrình hồi quy, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của cácNHTM Việt Nam như sau:
Z-score ᵢₜ =cᵢ +β1ROEᵢₜ +β2EAᵢₜ +β3DNTGᵢₜ +β4DNTTSᵢₜ +
β5SIZE ᵢₜ+ β6ΔEATᵢₜ +β7NIMᵢₜ +εᵢₜ Trong đó:
Z-score là chỉ số đo lường sự ổn định tài chính của các NHTM
ROE là tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu, đại diện cho yếu tố về khả
năng sinh lời của ngân hàng
EA là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, đại diện cho yếu tố về vốn
DNTG là tỷ lệ dư nợ khách hàng (trước dự phòng) trên tiền gửi kháchhàng, đại diện cho yếu tố khả năng thanh khoản của ngân hàng
DNTTS là tỷ lệ dư nợ khách hàng trên tổng tài sản, đại diện cho yếu tốquản lý của ngân hàng
SIZE là quy mô của ngân hàng, được tính bằng số logarit tự nhiên củatổng tài sản ngân hàng để kiểm định liệu quy mô của ngân hàng có tác
động đến sự ổn định tài chính của ngân hàng không
ΔEAT là phần trăm tăng trưởng lợi nhuận sau thuế, đại diện cho mức độtăng trưởng của ngân hàng
NIM là tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net Interest Margin) đo lường chênhlệch giữa thu nhập từ lãi cho vay và chi phí lãi phải trả của ngân hàng,
đại diện cho yếu tố chính sách của ngân hàng Ở các ngân hàng bán lẻ
nhỏ, tỷ lệ NIM có khuynh hướng cao hơn các ngân hàng bán sỉ lớn
ε ᵢₜlà phần dư không quan sát của các ngân hàng ở thời điểm t
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37Bảng 1.1: Diễn giải các biến và cách đo lường
quan
Cách tính
Z - Score
Ngân hàng thế giớiLaeven và Levine (2009)
Tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữutrên tổng tài sản
SIZE
Fernandez de Guevara vàcộng sự (2005), Tabak và
-Tỷ suất sinh lợi của Tàisản Có sinh lãi – (trừ) Tỷ
lệ chi phí hình thành Tàisản Có sinh lãi
1.3.2.3 Mô hình nghiên c ứu
Tác giả trình bày dữ liệu nghiên cứu dưới dạng dữ liệu bảng và ứng dụng bốnphương pháp ước lượng mô hình trong nghiên cứu Thứ nhất là, ước lượng mô hìnhhồi quy tuyến tính thông thường Pooled OLS; thứ hai là, ước lượng mô hình hồi quy
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38với các tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model: REM) FEM và REM là hai môhình được sử dụng rộng rãi đối với dữ liệu dạng bảng Ngoài ra, khóa luận sử dụngkiểm định của Hausman (1978) để lựa chọn mô hình phù hợp giữa FEM và REM.Kiểm định này hỗ trợ cho việc lựa chọn giữa mô hình tác động cố định hay mô hìnhtác động ngẫu nhiên Tiếp theo, tác giả sử dụng kiểm định Wald (Wald test) vàWooldridge (Wooldridge test) để xem liệu rằng có hiện phương sai sai số thay đổi và
tương quan chuỗi trong mô hình hay không Nếu mô hình FEM hoặc REM tồn tại hiện
tượng tự tương quan hoặc phương sai thay đổi, mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhấtkhái quát hóa GLS (Generalized Least Squares) được sử dụng bởi mô hình này kiểmsoát được hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi
Mô hình hồi quy các nhân tố tác động cố định (Fixed Effects Model)
Mô hình FEM được sử dụng chỉ quan tâm muốn phân tích tác động của cácbiến số thay đổi theo thời gian FEM khám phá mối quan hệ giữa yếu tố dự đoán vàbiến kết quả trong một thực thể như đất nước, ngân hàng, công ty Mô hình FEM chỉxem xét đến những khác biệt mang tính cá thể đóng góp vào mô hình nên sẽ khôngxảy ra hiện tượng tự tương quan, giả định rằng những đặc điểm này có thể tác độnghoặc thiên vị các yếu tố dự đoán hoặc biến kết quả FEM loại bỏ ảnh hưởng của các
đặc điểm bất biến theo thời gian từ đó có thể đánh giá hiệu ứng ròng của các yếu tố dựđoán về biến kết quả Một giả định quan trọng khác của FEM là các đặc điểm bất biến
theo thời gian này là duy nhất cho từng cá nhân và không nên tương quan với các đặc
điểm riêng lẻ khác Do đó, mỗi đối tượng là khác nhau, phân dư dữ liệu và hằng số
(nắm bắt các đặc điểm riêng lẻ) không nên tương quan với các thực thể khác Nếu cácthuật ngữ lỗi tương quan, thì FEM không phù hợp vì suy luận có thể không đúng vàcần mô hình hóa mối quan hệ đó (có thể sử dụng hiệu ứng ngẫu nhiên), đây là lý dochính cho thử nghiệm Hausman Mô hình tác động ngẫu nhiên có công thức tổng quát
như sau:
yᵢₜxᵢₜ cᵢuᵢₜvới t=1,2…T
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39- là hệ số góc đối với nhân tố X
- uᵢₜlà phần dư
Mô hình trên đã thêm vào chỉ số i cho hệ số chặn “c” để phân biệt hệ số chặncủa từng doanh nghiệp khác nhau có thể khác nhau, sự khác biệt này có thể do đặc
điểm khác nhau của từng ngân hàng hoặc do sự khác nhau trong chính sách quản lý,
hoạt động của ngân hàng
Mô hình tác động ngẫu nhiên ước lượng thông số β bằng cách cho thành phần
ci vào trong sai số và giả thiết rằng nó không tương quan tới biến giải thích Xit và tínhtoán những chuỗi sai số tổng hợp thành Vit Ci Uit sử dụng phương pháp ước
lượng
GLS Tuy nhiên, trong nhiều ứng dụng kinh tế thì ci có tương quan đến xit thì môhình tác động cố định là phù hợp để ước lượng Phương trình trong mô hình được viếtlại như sau:
yixici JTui
Mô hình hồi quy các nhân tố tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model)
Sự biến động giữa các đơn vị là điểm khác biệt giữa mô hình tác ngẫu nhiên(REM) và mô hình ảnh tác động cố định (FEM) Nếu biến thể giữa các đơn vị tươngquan với biến độc lập - biến giải thích trong mô hình FEM, thì trong mô hình REMbiến thể giữa các đơn vị được giả sử là ngẫu nhiên và không tương quan đối với cácbiến giải thích Hơn nữa, mô hình REM quan tâm đến cả sự khác biệt giữa các đốitượng phân tích khác nhau theo thời gian đóng góp cho mô hình do đó hiện tượng tựtương quan là một vấn đề tiềm tàng cần được giải quyết trong mô hình này thông qua
phân tích động dữ liệu bảng, và cùng lúc loại bỏ sự thay đổi của phương sai (trong
thực tế có thể kiểm định bằng hàm log và sau đó chạy mô hình sẽ thấy rằng kết quảkhông thay đổi nhiều) Do đó, mô hình REM phù hợp hơn FEM khi sự khác biệt giữacác đơn vị có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc Cụ thể, phần dư của mỗi đơn vị (khôngliên quan đến biến giải thích) được coi là một biến giải thích mới
Do đó, mô hình tác động ngẫu nhiên cũng được dựa trên mô hình:
yᵢₜxᵢₜ cᵢuᵢₜ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40Khác với mô hình trên khi Ci là cố định, thì trong REM người ta cho rằng nó làmột biến ngẫu nhiên với trung bình là C1 và giá trị hệ số chặn được mô tả như sau:
Cᵢ= C + εᵢ(ᵢ=1, n)
- εᵢ: Sai số ngẫu nhiên có trung bình bằng 0 và phương sai là σ2
Thay vào mô hình ta có:
yᵢₜ= C + β Xit + εᵢ+ uᵢₜ
Hay: yᵢₜ= C + β Xit + wᵢₜ Trong đó: w ᵢₜ= εᵢ+ uᵢₜ
- εᵢ: Sai số thành phần của các đơn vị khác nhau (đặc điểm riêng khác nhaucủa từng doanh nghiệp)
- uᵢₜ: Sai số thành phần kết hợp khác của cả đặc điểm riêng theo từng đối
tượng và theo thời gian
Kiểm định Hausman
Kiểm định Hausman là một kiểm tra giả định thống kê trong kinh tế lượng được
đặt theo tên của James Durbin, De-Min Wu và Jerry A Hausman (wiki.edu.vn, 2014)
Thuật toán này được sử dụng để so sánh giữa hai phương pháp ước lượng là FEM vàREM Nói cách khác, để lựa chọn giữa mô hình FEM hoặc REM chính xác hơn, chúng
ta sẽ sử dụng kiểm định Hausmann Mục đích của việc sử dụng kiểm định Hausman là
để xác định xem có sự tự tương quan giữa εi và các biến độc lập hay không Kiểm định
Hausman sẽ xác định rằng một mô hình REM hay FEM sẽ phù hợp hơn với mô hình
dữ liệu dạng bảng Kiểm định này được thiết kế để xác định sai số ui có tương quan
đến biến giải thích hay không Cụ thể trong mô hình, giả thuyết H0 thể hiện không có
mối tương quan giữa sai số và các biến giải thích Nếu kết quả của kiểm định nhỏ hơn5%, tức không bác bỏ giả thuyết H0 thì mô hình FEM phù hợp hơn REM và ngược lại
Trường Đại học Kinh tế Huế