1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) để đánh giá hiệu quả công tác quản lý vật tư trên công trường xây dựng

122 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 911,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo báo cáo của Ðoàn giám sát Quốc hội http://www.mof.gov.vn/ Default.aspx?tabid=612&ItemID=28608, trong số 1.505 dự án về xây dựng được kiểm tra, có 176 dự án vi phạm quy định về thNm

Trang 1

NGUYỄN HOÀI VŨ

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BAO DỮ LIỆU (DEA) ĐỂ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ

VẬT TƯ TRÊN CÔNG TRƯỜNG XÂY DỰNG

Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP HỒ CHÍ MINH, tháng 06 năm 2008

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN CÔNG THẠNH

Cán bộ chấm nhận xét 1:

Cán bộ chấm nhận xét 2:

Luận văn thạc sĩ đươc bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày …… tháng ……… năm 2008

Trang 3

Tp.HCM, ngày 30 tháng 06 năm 2008

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ và tên học viên: NGUYỄN HOÀI VŨ Giới tính: Nam

Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG MSHV: 00805750

Khoá (Năm trúng tuyển): 2006

1- TÊN ĐỀ TÀI: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BAO DỮ LIỆU (DEA) ĐỂ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬT

TƯ TRÊN CÔNG TRƯỜNG XÂY DỰNG

2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:

 Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý vật tư trên công trường của các dự án

 Đánh giá tính hiệu quả của công tác quản lý vật tư trên công trường bằng mô hình

đề xuất

 Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả của công tác quản lý vật tư trên công trường

3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 21/01/2008

4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 30/06/2008

5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN CÔNG THẠNH

Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi gửi đến Thầy Nguyễn Công Thạnh, người đã tận tình hướng dẫn, phê bình và giúp tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này, lòng cảm ơn chân thành Cảm ơn tập thể cán bộ, giảng viên của trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM đã truyền đạt những kiến thức bổ ích cũng như những chỉ dẫn cần thiết cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Cám ơn anh Giang Thanh Long, nghiên cứu sinh Đại học Tokyo, đã hỗ trợ và đóng góp các ý kiến trong quá trình thực hiện luận văn

Cảm ơn những người bạn, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong những lúc khó khăn

Cuối cùng, những điều tốt đẹp nhất đạt được ngày hôm nay, tôi kính tặng Ba Mẹ và người thân đã luôn dành trọn tình yêu thương cũng như là chỗ dựa tinh thần vững chắc mãi mãi cho tôi

Trang 5

TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN

Quản lý vật tư đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện dự án thành công Vật

tư chiếm khoảng 60% tổng mức chi phí của dự án và kiểm soát khoảng 80% tiến

độ Vì vậy, quản lý vật tư có hiệu quả sẽ mang lại cơ hội lớn trong việc giảm thiểu chi phí dự án Trong bối cảnh ngành xây dựng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam nhưng gặp phải vấn đề vượt chi phí và lãng phí vật tư, việc xây dựng mô hình đánh giá hiệu quả quản lý vật tư trên công trường xây dựng là cần thiết Mô hình đánh giá hiệu quả quản lý vật tư được thiết lập dựa trên các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý vật tư kết hợp với phương pháp bao dữ liệu (DEA) Trong điều kiện giới hạn về nguồn lực bài nghiên cứu chỉ thực hiện trên 30 dự án đã hoàn thành trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận

Dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu được thu thập từ bản câu hỏi khảo sát thiết kế dựa trên các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý vật tư Phần mềm DEAP và Eviews được

sử dụng để phân tích dữ liệu Kết quả ước lượng hiệu quả quản lý vật tư từ mô hình DEA cho thấy hiệu quả kỹ thuật thuần túy trung bình vào khoảng 84.00% với 30%

dự án đạt hiệu quả kỹ thuật thuần túy và khoảng 26% dự án đạt hiệu quả quy mô Kết quả phân tích hồi quy đa biến khẳng định mối quan hệ giữa các các tiêu chí dùng làm đầu vào và đầu ra của mô hình DEA với hiệu quả ước lượng được với các giả thuyết được ủng hộ ở mức ý nghĩa 10%

Trang 6

A questionnaire was used to collect data based on the key effectiveness measures through a literature review The data were analyzed with the application of DEAP and Eviews softwares Estimates efficiency of material management process from the DEA model indicate that the average pure technical efficiency of these project was about 84% However, about 30% of projects were technical efficiency and 26%

of projects were scale efficiency only The results of multiple linear regression model confirmed the relationship between key effectiveness measures used in the DEA model and the efficiency estimated with the theories are supported at the statistically significant level of 0.1

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CÁM ƠN i

TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN ii

ABSTRACT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU viii

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do hình thành đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Bố cục dự kiến của luận văn tốt nghiệp 4

1.5 Những đóng góp mong muốn của đề tài 4

1.6 Thời gian thực hiện đề tài 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 Tổng quan các nghiên cứu về quản lý vật tư trong xây dựng và đánh giá hiệu quả quản lý trong xây dựng 5

2.2 Quản lý vật tư trong xây dựng 9

2.2.1 Một số đặc điểm của ngành xây dựng 9

2.2.2 Quản lý vật tư 10

2.3 Giới thiệu phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA 19

2.3.1 Khái niệm DEA 19

2.3.2 Lịch sử hình thành DEA 20

2.3.3 Một số thuật ngữ trong phương pháp DEA 21

2.3.4 Các giả thuyết nghiên cứu và phương pháp luận 22

Trang 8

2.3.5 Các mô hình DEA cơ bản 25

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 37

3.1 Mô hình đánh giá hiệu quả quản lý vật tư 37

3.2 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả 39

CHƯƠNG 4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

4.1 Quy trình nghiên cứu 41

4.1.1 Phương pháp phân tích hồi quy đa biến 42

4.1.2 Mô hình hồi quy Tobit sử dụng trong bài nghiên cứu 44

4.2 Phương pháp nghiên cứu 45

4.2.1 Thiết kế nghiên cứu 45

4.2.2 Mẫu 45

4.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 47

4.2.4 Bản câu hỏi 47

4.3 Công cụ xử lý số liệu 49

CHƯƠNG 5 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ PHÂN TÍCH HỒI QUY ĐA BIẾN 50

5.1 Kết quả tổng hợp dữ liệu khảo sát 50

5.1.1 Chức vụ người được phỏng vấn 50

5.1.2 Loại hình dự án 51

5.1.3 Hình thức pháp lý của Chủ đầu tư dự án 52

5.1.4 Hình thức dự án 52

5.1.5 Vị trí dự án 52

5.2 Kết quả ước lượng hiệu quả từ mô hình DEA 53

5.3 Kết quả phân tích hồi quy đa biến 57

CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHN 61

6.1 Kết luận 61

6.2 Kiến nghị 62

6.3 Giới hạn của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu 65

Trang 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHỤ LỤC 70

Phụ lục 1- Bản câu hỏi 70

Phụ lục 2- Kết quả ước lượng hiệu quả quản lý vật tư từ mô hình DEA 75

Phụ lục 3- Kết quả phân tích hồi quy đa biến 108

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Tỉ trọng ngành công nghiệp và xây dựng đối với tổng sản phNm trong

nước 1

Hình 2.1 Đường biên sản xuất lý thuyết và thực nghiệm 23

Hình 2.2 Hai dạng mặt giới hạn trong DEA 24

Hình 2.3 Các dạng dịch chuyển đến mặt giới hạn VRS 25

Hình 2.4 Mặt giới hạn của mô hình BCC định hướng đầu vào 28

Hình 2.5 Mặt giới hạn của mô hình BCC định hướng đầu ra 30

Hình 2.6 So sánh mô hình CCR và BCC 34

Hình 3.1 Mô hình 1: Mô hình đánh giá hiệu quả quản lý vật tư trên công trường xây dựng 39

Hình 4.1 Quy trình nghiên cứu đánh giá hiệu quả quản lý vật tư trên công trường xây dựng 41

Hình 6.1 Qui trình đề xuất quản lý vật tư tại công trường 63

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Các tiêu chí chính để đánh giá hiệu quả quản lý vật tư 7

Bảng 2.2 Bảng xác định các thành phần hiệu quả của DMU5 35

Bảng 3.1 Các biến đầu vào và đầu ra của mô hình DEA 38

Bảng 3.2 Mô hình 2: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả 40

Bảng 4.1 Các dự án khảo sát trong bài nghiên cứu 46

Bảng 5.1 Kết quả thống kê về chức vụ người được phỏng vấn 51

Bảng 5.2 Kết quả thống kê về loại hình dự án 51

Bảng 5.3 Kết quả thống kê về hình thức pháp lý doanh nghiệp của chủ đầu tư dự án 52

Bảng 5.4 Kết quả thống kê về hình thức dự án 52

Bảng 5.5 Kết quả thống kê về vị trí dự án 53

Bảng 5.6 Thống kê các biến đầu vào và đầu ra của mô hình ước lượng hiệu quả 53

Bảng 5.7 Kết quả ước lượng hiệu quả công tác quản lý vật tư cho các dự án khảo sát 54

Bảng 5.8 Tần suất phân phối của hiệu quả kỹ thuật tổng thể crste 56

Bảng 5.9 Tần suất phân phối của hiệu quả kỹ thuật thuần vrste 56

Bảng 5.10 Tần suất phân phối của hiệu quả quy mô scale 57

Bảng 5.11 Kết quả phân tích hồi quy đa biến 58

Bảng 5.12 Kết quả kiểm định các giả thuyết thống kê của Mô hình 2 59

Trang 12

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI

Trong thời gian qua, ngành xây dựng Việt Nam phát triển rất mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu đáng kể Bên cạnh đó, cùng với chính sách thông thoáng của Chính phủ đã tạo điều kiện cho số lượng công ty xây dựng ngày càng gia tăng Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2007, mức độ đóng góp của ngành xây dựng vào GDP liên tục tăng theo từng năm: năm 2000 chiếm khoảng 5.35%, năm 2001 chiếm khoảng 5.80%, năm 2002 chiếm khoảng 5.89%, năm 2003 chiếm khoảng 6.05%, năm 2004 chiếm khoảng 6.23%, năm 2005 chiếm khoảng 6.35%, năm 2006 chiếm khoảng 6.62% Hình 1.1 thể hiện tỉ trọng ngành công nghiệp và xây dựng đối với tổng sản phNm trong nước (http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=388&

idmid=3&ItemID= 6184)

- 100,000 200,000 300,000 400,000 500,000 600,000 700,000 800,000 900,000 1,000,000 1995

Ngành công nghiệp và xây dựng Tổng sản phNm trong nước

Hình 1.1 Tỉ trọng ngành công nghiệp và xây dựng đối với

tổng sản phNm trong nước

Trang 13

Báo cáo của Tổng hội Xây dựng Việt Nam (http://www.mof.gov.vn/

Default.aspx?tabid=612&ItemID=28608) về 59 công trình xây dựng có biểu hiện lãng

phí, thất thoát cho thấy, có 27% các công trình do chất lượng kém, phải bổ sung kinh phí mới sử dụng được; 36% các công trình không sử dụng được do chọn địa điểm xây dựng không thích hợp, chất lượng kém; 25% các công trình do quyết toán khống làm thất thoát gần 300 tỷ đồng,

Theo báo cáo của Ðoàn giám sát Quốc hội (http://www.mof.gov.vn/

Default.aspx?tabid=612&ItemID=28608), trong số 1.505 dự án về xây dựng được kiểm

tra, có 176 dự án vi phạm quy định về thNm định dự án; 198 dự án vi phạm quy chế đấu thầu; 802 dự án thi công sai thiết kế, sai chủng loại vật tư, thiết bị, không phê duyệt khối lượng phát sinh, vi phạm các quy định về trình tự thủ tục trong quản lý đầu tư xây dựng, về quản lý chất lượng, nghiệm thu, thanh toán công trình; 415 dự

án vi phạm về thiết kế, khảo sát; 720 dự án vi phạm quy định trong giai đoạn đưa công trình vào khai thác, sử dụng

Kết quả của khảo sát được thực hiện gần đây bởi Trần Việt Thành (2007) đối với

160 dự án xây dựng tại TPHCM cho thấy có đến 93% các dự án vượt chi phí ở mức

từ 5-20%, chỉ có 7% các dự án là không bị vượt chi phí Vấn đề này gây tác động đến tiến độ, chất lượng, là một trong những nguyên nhân gây lãng phí về thời gian, chi phí và ảnh hưởng đến hiệu quả dự án

Ngoài ra, kết quả của khảo sát thực hiện bởi Trương Lê Minh (2007) về việc đo lường lãng phí vật tư ở các công trường xây dựng đối với một số vật tư chính như: sắt thép, xi măng, bê tông, cát, gạch xây, gạch ốp lát, cho thấy mức độ lãng phí trung bình của xi măng vào khoảng 40%; của sắt thép vào khoảng 7%; của bê tông vào khoảng 5%; của cát vào khoảng 15%; gạch xây vào khoảng 10%; gạch ốp lát vào khoảng 20%

Trong xu thế hội nhập ngày nay, các nhà thầu quốc tế thâm nhập làm cho cuộc cạnh tranh ngày một gay gắt Nếu biết chuNn bị từ bây giờ, các nhà thầu Việt Nam sẽ đứng trước cơ hội phát triển mạnh mẽ hoặc sẽ nhường bước cho các nhà thầu nước

Trang 14

ngoài ngay trên sân của mình Một trong các vấn đề cần quan tâm đó là quản lý vật

tư, vì vật tư chiếm phần lớn chi phí của dự án Theo The Business Roundtable (1983), chi phí vật tư chiếm khoảng 60%trong chi phí của dự án và vật tư kiểm soát khoảng 80% tiến độ, vì thế quản lý vật tư có hiệu quả là nhân tố quan trọng để giảm thiểu chi phí của dự án

Như vậy, quản lý vật tư có vai trò đáng kể trong việc kiểm soát dự án Việc đánh giá hiệu quả của quản lý vật tư để thấy được thực trạng quản lý vật tư từ đó các nhà thầu có thể đưa ra phương thức quản lý hiệu quả hơn Đây là bối cảnh để thực hiện bài nghiên cứu này

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu của bài nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả công tác quản lý vật tư trên công trường hiện nay trong các dự án xây dựng ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận thông qua việc:

 Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý vật tư trên công trường của các dự án xây dựng

 Đánh giá tính hiệu quả của công tác quản lý vật tư trên công trường bằng mô hình

Giới hạn của nghiên cứu là chỉ thực hiện khảo sát đối với các dự án xây dựng ở TPHCM và các tỉnh lân cận

Trang 15

1.4 BỐ CỤC DỰ KIẾN CỦA LUẬN VĂN

Bố cục luận văn bao gồm 6 chương Chương 1 bao gồm các phần trình bày lý do thực hiện đề tài, mục tiêu, phạm vi, đóng góp mong muốn của đề tài và thời gian thực hiện đề tài Cơ sở lý thuyết được trình bày ở chương 2, các lý thuyết này sẽ là nền tảng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu ở chương tiếp theo Chương 3 trình bày về mô hình nghiên cứu được đề xuất Chương 4 tiếp theo là phương pháp nghiên cứu Nội dung của chương này bao gồm quy trình nghiên cứu, cách thiết kế nghiên cứu, chọn mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu Kết quả thu thập được ở các phần trên đây sẽ được phân tích và kiểm định trong chương 5 Chương 6 là phần kết luận và kiến nghị, nêu các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo đồng thời đề xuất các giải pháp phù hợp để giải quyết vấn đề Các phụ lục và tài liệu tham khảo sẽ được đưa vào phần cuối của luận văn

Với bài nghiên cứu này, tác giả mong muốn trình bày thực trạng quản lý vật tư trên công trường thông qua việc đánh giá hiệu quả quản lý vật tư các dự án xây dựng, đồng thời xác định mức độ ảnh hưởng của các tiêu chí đánh giá hiệu quả đến hiệu quả quản lý vật tư để từ đó các nhà thầu có thể đề ra những qui trình quản lý vật tư cho phù hợp để nâng cao hiệu quả quản lý vật tư, giảm lãng phí và đảm bảo được chất lượng Bên cạnh, tác giả mong muốn giới thiệu phương pháp DEA trong việc đánh giá hiệu quả của các phần việc trong ngành xây dựng thông qua bài nghiên cứu này

1.6 THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Thời gian thực hiện nghiên cứu trong 6 tháng, bắt đầu từ 21/01/2008 và hoàn thành vào 30/ 06/2008 Trong đó, nghiên cứu sơ bộ, thiết kế và hiệu chỉnh bản câu hỏi từ 21/01 đến 28/02 Nghiên cứu chính thức từ 01/03 đến 27/04 Soạn thảo, hoàn thành luận văn, trình và hiệu chỉnh từ 15/03 đến 30/06

Trang 16

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương này trình bày về các nghiên cứu về quản lý vật tư và các nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích bao số liệu (DEA) trong việc đánh giá hiệu quả trong ngành xây dựng, phần tiếp theo trình bày các vấn đề liên quan đến quản lý vật tư Phần cuối cùng của chương này trình bày về phương pháp phân tích bao số liệu

DỰNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TRONG XÂY DỰNG

Plemmons (1995) (trích dẫn Ali Al-Darweesh, 1999) đã đưa ra 35 tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý vật tư và phân loại thành 6 nhóm thuộc tính sau đây:

 Tính chính xác: Tính chính xác là cấp độ mà theo đó một mẫu thông tin nào đó là đúng hoặc sai Theo Senn (1990) (trích dẫn Mohammed K Asad, 2005), đây là thuộc tính của thông tin để tăng thêm thông tin thích hợp, giảm thiểu sự không chắc chắn và hỗ trợ cho qui trình ra quyết định Tính chính xác của tồn kho là một

ví dụ

 Chất lượng: Theo Sink (1985) (trích dẫn Mohammed K Asad, 2005), chất lượng

là cấp độ mà theo đó một hệ thống phải tuân thủ theo các yêu cầu, qui định kỹ thuật hoặc các mong muốn và được xem như là một kết quả của một hệ thống có

tổ chức Plemmon và Bell (1994) chia chất lượng ra làm 2 mục phụ: chất lượng của qui trình và chất lượng của vật tư Chất lượng của qui trình được đánh giá cùng với vấn đề tuân thủ các tiêu chuNn đã thiết lập của qui trình Ví dụ về các lỗi của qui trình sẽ bao gồm các vấn đề xảy ra với hồ sơ vận chuyển, mức chính xác của hàng tồn kho, và các vấn đề về việc xuất vật tư,… Chất lượng của vật tư là danh mục các tiêu chí đánh giá hiệu quả trong đó sự không phù hợp được thể hiện

Trang 17

ở vật tư và có liên quan đến qui trình quản lý vật tư Ví dụ chất lượng vật tư thể hiện ở khối lượng vật tư không phù hợp với yêu cầu của công trường,…

 Số lượng: Theo Plemmons và Bell (1994), các tiêu chí đánh giá về số lượng sẽ ước lượng sản lượng của một qui trình thông qua khối lượng hoặc số lượng có liên quan đến thành quả theo kế hoạch Theo Swanson (1994) (trích dẫn Ali S.Darweesh, 1999), đây là một thuộc tính của các đầu ra do công nhân hoặc nhóm làm việc thực hiện

 Tính kịp thời: Theo Swanson (1994) (trích dẫn Ali S.Darweesh, 1999), tính kịp thời được định nghĩa là khoảng thời gian xác định giữa hai sự kiện hoặc là một giai đoạn mà trong đó có nhiều hoạt động xảy ra Các tiêu chí đánh giá thuộc tính này trình bày khía cạnh về thời gian của qui trình quản lý vật tư

 Chi phí: Chi phí xác định qui trình trong điều kiện đạt được các mục tiêu về chi phí kế hoạch và nhân công Các ví dụ về hiệu quả chi phí bao gồm tổng vật tư thừa, nhân công trung bình trên một yêu cầu mua hàng và thời gian thi công bị thất thoát

 Tính sẵn có: Tính sẵn có dùng để đánh giá khả năng của qui trình quản lý vật tư trong việc đáp ứng đầy đủ yêu cầu vật tư theo thời điểm và địa điểm phù hợp

Từ 35 tiêu chí này, Plemmons (1995) (trích dẫn Ali Al-Darweesh, 1999) thực hiện khảo sát trên các chuyên gia trong ngành xây dựng và rút ra mô hình đánh giá hiệu quả quản lý vật tư gồm 12 tiêu chí chính Bảng 2.1 trình bày các tiêu chí chính để đánh giá hiệu quả quản lý vật tư theo nghiên cứu của Plemmons

Trang 18

Bảng 2.1 Các tiêu chí chính để đánh giá hiệu quả quản lý vật tư

Thuộc tính Tiêu chí đánh giá

- Mức độ chính xác của vật tư tồn kho

- Tổng số vật tư thừa

Tính kịp thời

- Thời gian cho một qui trình mua vật tư

- Thời gian từ lúc yêu cầu báo giá đến khi yêu cầu đặt hàng

- Thời gian từ lúc yêu cầu đặt hàng đến khi nhận hàng

- Thời gian cho quá trình nhận vật tư

- Giao hàng kịp thời

- Thời gian yêu cầu xuất vật tư ra công trường

Sau đó, Ali Al-Darweesh (1999) đã dùng 12 tiêu chí này kết hợp với mô hình Benchmarking để đánh giá hiệu quả quản lý vật tư trong các dự án xây dựng ở Saudi Arabia Nghiên cứu này được thực hiện trên 17 dự án xây dựng công nghiệp Các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý vật tư của Plemmons là cơ sở để đề xuất các biến số đầu vào và biến số đầu ra của mô hình nghiên cứu trong điều kiện các dự án thực hiện ở Việt Nam, được trình bày trong chương kế tiếp Phần tiếp theo trình bày một số nghiên cứu về việc áp dụng phương pháp DEA để đánh giá hiệu quả trong lĩnh vực xây dựng

Jan (1996) (trích dẫn Nguyễn Khắc Minh và cộng sự, 2004) đã sử dụng phương pháp DEA để ước lượng hiệu quả thực hiện của 104 dự án xây dựng ở Thụy Sĩ trong khoảng thời gian 1989 – 1992, bao gồm 33 cao ốc văn phòng, 40 chung cư và

31 dự án cầu đường Biến đầu vào là chi phí của ban chỉ huy công trình, nhân công

và máy thi công, biến đầu ra là giá trị gia tăng Kết quả ước lượng cho thấy sự khác nhau đáng kể về điểm hiệu quả giữa các công trường xây dựng Để tìm ra nguyên

Trang 19

nhân gây ra sự khác biệt lớn này, tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy đa biến đối với kết quả ước lượng từ DEA và thực hiện phỏng vấn trực tiếp những người quản lý các công trường trong bài nghiên cứu Kết quả nhận được là các yếu tố như trình độ của công nhân, giờ làm việc của quản lý dự án tại công trường, lượng công nhân tăng thêm do yêu cầu của khách hàng không ảnh hưởng đến hiệu quả của các công trường Chẳng hạn, yếu tố thiết kế và thời gian thi công không ảnh hưởng đến hiệu quả đối với loại hình các cao ốc văn phòng nhưng lại có tác động rất lớn tới hiệu quả của loại hình dự án trang trí nội thất Qua bài nghiên cứu này, tác giả cũng thừa nhận là việc ước lượng hiệu quả không phải là việc dễ dàng

Mohammad El-Mashaleh và cộng sự (2005) sử dụng phương pháp DEA để đo lường và so sánh năng suất của nhà thầu phụ xây dựng ở cấp độ công ty Mô hình DEA với nhiều biến đầu vào và nhiều biến đầu ra Biến đầu vào được phân chia làm

3 nhóm chi phí, gồm: chi phí thiết bị, chi phí nhân công và chi phí cho bộ phận kỹ thuật (chi phí cho đào tạo, chi phí lương, …) Biến đầu ra là khối lượng của mỗi công tác do nhà thầu phụ thực hiện được Tác giả nhận thấy rằng nguồn lực trong ngành công nghiệp xây dựng không phân bố một cách cân xứng, do đó năng suất của công trường không phản ánh được khả năng của công ty Từ đó, tác giả cho rằng việc thêm các yếu tố thuộc về người quản lý vào mô hình DEA có thể sẽ cho kết quả thực tế hơn

Edvardsen (2004) đã ứng dụng DEA để phân tích hiệu quả thực hiện của các công

ty xây dựng ở Na Uy vào năm 2001 và dùng phương pháp hồi qui bootstrapping để kiểm tra kết quả ước lượng Đầu ra của mô hình DEA là lợi nhuận được phân loại theo loại hình kinh doanh, gồm: xây dựng công trình dân cư, xây dựng công trình văn phòng và trường học và xây dựng cơ sở hạ tầng (công trình đường, cầu cảng, hầm) Đầu vào là nhân công, vốn và chi phí (vật tư, thầu phụ,…) Kết quả ước lượng cho thấy các công ty trong bài nghiên cứu có điểm hiệu quả trung bình khá cao (83.4%) Tuy nhiên, khi dùng kỹ thuật bootstrapping, tác giả đã chỉ ra rằng giả

thuyết lợi nhuận không đổi theo qui mô (CRS – constant returns to scale) bị loại bỏ,

Trang 20

và chỉ có giả thuyết lợi nhuận biến đổi theo qui mô (VRS - variant returns to scale)

là phù hợp cho các công ty này

Nguyễn Khắc Minh và cộng sự (2004) đã áp dụng phương pháp DEA để ước lượng

hiệu quả kỹ thuật của 2,298 công ty xây dựng ở Việt Nam dựa trên số liệu Điều tra

vào của mô hình DEA là nhân công (được đo bằng số người lao động trung bình trong năm) và lượng vốn ròng (được tính bằng đơn vị triệu đồng) Đầu ra là lợi nhuận ròng (được tính bằng đơn vị triệu đồng) Các công ty được chia theo lĩnh vực hoạt động (xây dựng dân dụng và cơ sở hạ tầng, lắp đặt kết cấu chế tạo sẵn, chuNn

bị mặt bằng thi công), theo loại hình sở hữu doanh nghiệp (doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp ngoài quốc doanh) và theo vị trí địa lý Mô hình hồi qui Tobit được áp dụng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố gồm: tỉ số giữa vốn ròng và lao động, lợi nhuận ròng, loại hình sở hữu doanh nghiệp và vị trí địa lý đến hiệu quả kỹ thuật Kết quả ước lượng cho thấy hiệu quả kỹ thuật trung bình của các công ty quan sát vào khoảng 60% Theo lĩnh vực hoạt động thì các công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng dân dụng và cơ sở hạ tầng có điểm số hiệu quả thấp nhất, phản ánh thực tế là các công ty này đang hoạt động với nhiều đầu vào và thời gian thi công thường kéo dài Kết quả còn cho thấy những doanh nghiệp quốc doanh có hiệu quả hơn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, có thể là do các doanh nghiệp quốc doanh được đầu tư nhiều vốn hơn và có khả năng về kỹ thuật công nghệ hơn Ngoài ra, các doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh và ở Hà Nội có ảnh hưởng lớn đến điểm số hiệu quả, có thể là do các doanh nghiệp tại hai thành phố này tiếp cận với nguồn lực (chẳng hạn, nhân công và vốn) dễ hơn Tỷ số giữa vốn ròng và lao động không ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật

Cnudde (1991) cho rằng ngành xây dựng có sự khác biệt đối với các ngành công nghiệp khác ở những điểm: công trình xây dựng mang tính duy nhất hoặc ít lặp đi

Trang 21

lặp lại; nhiều công tác liên quan với nhau trong một dự án; và có nhiều bêntham gia trong một dự án

Oglesby và cộng sự (1989) (trích dẫn Nguyễn Duy Long, 2003) cho thấy hầu hết các dự án xây dựng là độc nhất, thay đổi nhanh, mặt bằng bố trí xây dựng chỉ mang tính chất tạm thời nên việc quản lý bảo quản vật tư rất khó

Nghiên cứu của Đỗ Thị Xuân Lan (2003) cho thấy đặc điểm của ngành xây dựng Việt Nam là thường xuyên thay đổi chỗ, không cố định nên việc bố trí kho bãi rất khó, phải tuỳ thuộc hoàn cảnh và mặt bằng công trường

Lưu Trường Văn và Đỗ Thị Xuân Lan (2003) chỉ ra rằng đặc điểm của ngành công nghiệp xây dựng ở Việt Nam chủ yếu tiến hành ngoài trời, phụ thuộc thời tiết, quá trình thi công phức tạp nên việc bảo quản và sắp xếp vật tư rất khó, do đó vật tư bị hỏng là điều hiển nhiên không thể tránh khỏi

Theo Borcherding (1978) (trích dẫn Viloth Kimala, 2006), cơ cấu tổ chức ở công trình xây dựng thường xuyên thay đổi, các tổ chức lao động liên tục hình thành và giải tán nên việc quản lý sự thất thoát vật tư cho các đội thi công là rất khó

2.2.2 QUẢN LÝ VẬT TƯ

Một số khái niệm về quản lý vật tư như sau:

 Theo The Business Roundtable (1982), quản lý vật tư là việc hoạch định và kiểm soát tất cả các nỗ lực cần thiết để đảm bảo vật tư có được giá cả hợp lý với chất lượng và số lượng vật tư theo yêu cầu và vật tư phải đáp ứng được khi cần

 Stukhart và Bell (1987) định nghĩa quản lý vật tư là việc hoạch định, kiểm soát và kết hợp các chức năng bao gồm dự trù vật tư, mua vật tư, vận chuyển, kho bãi và phân phối vật tư, để có được dòng vật tư kịp thời, trơn tru và hiệu quả cung cấp cho dự án với chất lượng, số lượng và thời gian yêu cầu với giá cả hợp lý

 Theo quan điểm của Frederick (1991) thì quản lý vật tư là việc hoạch định, thực thi và kiểm soát tất cả các hoạt động ảnh hưởng đến dòng vật tư đến công trường

Trang 22

Các hoạt động này bao gồm thiết kế kết cấu, yêu cầu vật tư, mua vật tư, chuNn bị bản vẽ triển khai thi công và gia công vật tư, vận chuyển, nhận vật tư tại công trường hoặc ở kho bãi nơi khác, kiểm soát vật tư lưu kho

The Business Roundtable (1983) xác định vật tư chiếm khoảng 60% trong chi phí của dự án và vật tư kiểm soát khoảng 80% tiến độ, vì thế quản lý vật tư có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công của dự án Theo Jimish Gandhi (2005), một qui trình mua sắm vật tư có hiệu quả sẽ làm giảm bớt chi phí vật tư do những thuận lợi có được từ việc chiết khấu, giảm thiểu các nguy cơ cho dòng tiền mua sắm

và tìm được các nhà cung cấp có chất lượng

Quản lý vật tư là một nhân tố quan trọng trong việc hoạch định và kiểm soát dự án Nếu quản lý vật tư không tốt thì chi phí sẽ bị tăng vọt Theo Thomas và cộng sự (1989), nếu công tác quản lý vật tư không đạt hiệu quả thì thời gian làm việc ước tính sẽ bị vượt thêm 18% Theo Construction Industry Institute (1986), nếu có được một phương thức quản lý tốt thì chi phí nhân công lao động sẽ giảm từ 4% - 6% Quản lý vật tư có hiệu quả sẽ tạo cơ hội lớn trong việc cải tiến năng suất lao động

và kiểm soát chi phí

Theo CII Project Materials Planning Guide (1987), việc trì hoãn vận chuyển vật tư đến công trường là nguyên nhân chính làm cho dự án không hoàn thành đúng thời gian Do vậy, cung cấp vật tư kịp thời là mối bận tâm lớn đối với các nhà quản lý dự

án

Bên cạnh đó, Stukhart (1995) đã cho thấy vật tư có ảnh hưởng nhiều đến các chi phí gián tiếp, đến kế hoạch và các hoạt động của một dự án, và là một nhân tố quan trọng liên quan đến sự thành công của một dự án Quản lý vật tư trở thành qui trình quyết định sự thành công dự án trong xây dựng như cải thiện năng suất lao động, giảm lượng vật tư thừa, cải thiện quan hệ với nhà cung cấp trong việc cung ứng kịp thời, chất lượng, tiết kiệm chi phí, giảm tồn kho, tiết kiệm không gian lưu kho, hạnchế rủi ro hư hại và lỗi thời, cải thiện khả năng đáp ứng tiến độ dự án, cải thiện được dòng tiền của dự án

Trang 23

Theo Clough và Sears (1994) (trích dẫn Mohammed K Asad, 2005), quản lý vật tư bao gồm bảy chức năng là lập kế hoạch, dự trù vật tư, xác định nguồn cung cấp vật

tư, mua vật tư, cung ứng và vận chuyển, nhận vật tư và kho bãi

 Lập kế hoạch: kế hoạch là sự sắp xếp các hoạt động liên quan đến dự án để giúp cho dự án thực hiện trơn tru Quản lý vật tư có thể giúp nâng cao hiệu quả quản lý

dự án nếu được tính đến vào ngay giai đoạn đầu của dự án Quản lý vật tư cần phải lập kế hoạch cùng lúc với kế hoạch dự án Nếu không tích hợp tốt kế hoạch quản lý vật tư vào dự án thì sẽ gây ra nhiều vấn đề trong suốt quá trình thực thi dự

án

 Dự trù vật tư: là xác định loại vật tư và khối lượng cần thiết Phần này có thể được thực hiện ngay từ đầu dựa vào bản vẽ thiết kế Khối lượng vật tư dự trù có thể ảnh hưởng đến thời gian và chi phí của dự án, nếu khối lượng không thích hợp thì có thể gây ra lãng phí vật tư hoặc thiếu hụt vật tư khi cần

 Xác định nguồn cấp vật tư: trong bất kỳ dự án xây dựng nào, vật tư đều phải được mua từ những nguồn cung cấp đáng tin cậy để có thể cung cấp vật tư đúng nơi và đúng lúc Do vậy tiêu chuNn để lựa chọn nhà cung cấp là rất quan trọng, trong đó giá cả không phải là tiêu chuNn duy nhất mà còn phải xét đến các yếu tố chất lượng, dịch vụ và kinh nghiệm của nhà cung cấp Nếu nhà cung ứng không cấp vật tư kịp thời sẽ làm gia tăng chi phí nhân công và làm thất thoát thời gian thi công

 Mua vật tư: vấn đề quan trọng đầu tiên là cần xác định việc mua vật tư do trụ sở công ty hay do công trường đảm trách Bên cạnh đó, cần xác định rõ trách nhiệm của nhà thầu và chủ đầu tư trong việc mua vật tư Theo Hira N Ahuja (1980) (trích dẫn Ali S.Darweesh, 1999) thì vật tư do công trường mua chỉ cần thiết ở những nơi xa hay vào lúc mà nếu chờ văn phòng mua thì sẽ làm trễ tiến độ của dự

án Theo Plemmons và Bell (1994) thì mua vật tư có liên quan đến việc thiết lập những biểu mẫu và thủ tục để mua vật tư; đến việc phát triển các điều khoản; đến

Trang 24

việc phát hành yêu cầu báo giá; đến giá cả và đàm phán hợp đồng; chuNn bị và phát hành yêu cầu mua vật tư

 Cung ứng và vận chuyển: Mục tiêu cơ bản của công tác cung ứng là đảm bảo cho vật tư chuyển đến công trường đúng lúc Theo Frederick (1991), 28% thời gian làm việc của công nhân bị đình trệ do thiếu vật tư và dụng cụ làm việc Có 3 hình thức cung ứng là thực hiện trước (proactive), tương tác (reactive) và báo cáo trạng thái (status reporting) Có 2 phương thức được áp dụng để xem hình thức cung ứng nào là phù hợp Phương thức thứ nhất là áp dụng 1 hình thức cung ứng cho toàn bộ dự án Phương thức thứ hai là kết hợp 3 hình thức cung ứng lại với nhau khi có nhiều loại vật tư đòi hỏi các hình thức cung ứng khác nhau Theo CII Project Materials Management Planning Guide (1987) thì mục tiêu cơ bản của vận chuyển là vận chuyển vật tư tới công trường theo một cách mà có khả năng đúng lúc nhất, có hiệu quả nhất về chi phí và an toàn nhất để phù hợp với những yêu cầu về tiến độ

 Nhận vật tư: Một trong những trách nhiệm của văn phòng công trường là nhận vật

tư cho chính xác Theo nghiên cứu của CII (1986) thì một tỷ lệ lớn các vấn đề về chi phí có liên quan đến vật tư xảy ra sau khi vật tư được chuyển đến công trường

 Kho bãi: là một chức năng quan trọng của quản lý vật tư Theo Dobler và Burt (1996) (trích dẫn Mohammed K Asad, 2005), một phương thức lưu kho tốt thì có được các lợi ích như sau:

− Dễ truy xuất các vật tư chính

− Có không gian sử dụng hiệu quả và linh động trong việc sắp xếp

− Giảm thiểu nhu cầu về thiết bị để theo dõi vật tư

− Giảm thiểu vật tư hư hỏng và mất cắp

Theo CII Project Materials Management Planning Guide (1987), nếu mặt bằng để vật tư chật chội và không được thiết kế tốt sẽ làm cản trở việc xuất nhập vật tư, làm gia tăng chi phí nhân công và có thể xảy ra các vấn đề về an toàn lao động

Trang 25

CII Project Materials Management Planning Guide (1987) đã chia ra 5 cấp độ vật tư lưu kho như sau:

 Vật tư cần bảo quản đặc biệt (môi trường lọc gió, kiểm soát nhiệt độ và kiểm soát

độ Nm) như máy móc thiết bị, máy vi tính, vi mạch,…

 Vật tư không cần phải bảo quản trong điểu kiện kiểm soát nhiệt độ và độ Nm nhưng vẫn cần bảo quản trong nhà (thông gió, khoảng nhiệt độ, ) như motor, máy biến thế,…

 Vật tư yêu cầu bảo quản vừa phải (bảo quản trong nhà, không tiếp xúc với bụi và thời tiết), ví dụ: máy bơm dầu nhớt, bồn chứa, cách nhiệt,…

 Vật tư chỉ cần bảo quản tối thiểu (để ngoài trời trên các kệ lót tránh ngập nước), ví dụ: cốt thép, dây điện, cáp,…

 Vật tư hầu như không nhạy cảm với môi trường, ví dụ: cấu kiện bê tông đúc sẵn, ống nhựa, đá trộn bê tông,…

CII Project Materials Management Planning Guide (1987) đã đưa ra một qui trình kiểm soát vật tư để việc quản lý vật tư đạt được hiệu quả như sau:

 Xác định kế hoạch dự án: Kế hoạch vật tư phải phù hợp với khối lượng công việc theo kế hoạch chung của dự án và có xét đến các hạn chế, những ràng buộc, và những chiến lược chung của dự án Những thông số và những đặc điểm chung của

dự án như là loại dự án, kích thước, và địa điểm dự án sẽ xác định được kế hoạch chung của dự án

− Xác định mặt bằng công trình: Mặt bằng công trường đưa ra những yêu cầu những cơ bản cho kế hoạch ra vào công trường Mặt bằng công trường sẽ ảnh hưởng đến phương thức vận chuyển, và mặt bằng giao thông tổng thể Theo CII Project Materials Management Planning Guide (1987), mặt bằng công trường cũng có tác động đến phương thức cất chứa và loại bỏ vật tư Từ đó, có thể đề ra

kế hoạch quản lý vật tư cho phù hợp vị trí xây dựng Theo Jang và cộng sự (2005) (trích dẫn Trương Lê Minh, 2007) thì việc thiếu kế hoạch quản lý vật tư

Trang 26

có liên quan đến mặt bằng công trường: “Những vật tư được đưa đến công trường nhưng không được xác định vị trí cụ thể nên vật tư phải đặt xung quanh công trường sẽ ảnh đến việc bảo quản, chất lượng vật tư”

− Xác định các loại vật tư sử dụng trong dự án: Theo CII Project Materials Management Planning Guide (1987), nỗ lực chính của kế hoạch vật tư là xác định cụ thể các loại vật tư sử dụng trên công trường Chủ đầu tư xác định cụ thể các loại vật tư trong giai đoạn đầu của kế hoạch liên quan với đặc điểm dự án, mục tiêu, điều kiện hợp đồng Chủ đầu tư đóng vai trò chính trong việc quyết định các loại vật tư liên quan và cần phải xác định rõ trong hợp đồng thi công để

có sự thống nhất giữa chủ đầu tư và nhà thầu, cải thiện thông tin dự án, và giảm chi phí cho chủ đầu tư

Nhà thầu có thể xem xét khả năng tài chính mà quyết định đơn giá đặt hàng và phân phối vật tư Chi phí và tiến độ cũng được quan tâm trong việc quản lý vật tư, nó cũng làm ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của dự án

 Lập kế hoạch yêu cầu vật tư: Theo CII Project Materials Management Planning Guide (1987), kế hoạch yêu cầu vật tư trong dự án bao gồm việc xác định chủng loại và khối lượng vật tư sử dụng cho dự án Công việc này liên quan với các bên

là chủ đầu tư, đơn vị thiết kế và nhà thầu Qui trình bao gồm việc xác định và lựa chọn vật tư dựa trên tính khả thi và lợi ích kinh tế Kế hoạch yêu cầu vật tư bao gồm việc kiểm soát và quản lý để hạn chế tối đa lượng vật tư dư thừa theo yêu cầu

về tiến độ dự án

Ngoài ra, Stukhart (1995) phân chia các loại vật tư chủ yếu của ngành xây dựng:

− Vật tư kỹ thuật: bao gồm những loại vật tư, thiết bị quan trọng và thứ yếu, mà hầu hết là hữu hình, đắt tiền, phức tạp và có yêu cầu về chất lượng Những vật tư

kỹ thuật chính là những qui trình chế tạo chuyên dụng và duy nhất được chỉ định bởi nhân viên kỹ thuật của chủ đầu tư, được xác định trên bản vẽ và được thực thi trong suốt quá trình thực hiện dự án Loại vật tư này sẽ ảnh hưởng đến toàn

bộ tiến độ

Trang 27

− Lượng vật tư được chế tạo theo tiêu chuNn của ngành công nghiệp và được mua theo khối lượng Việc lập kế hoạch sử dụng loại vật tư này là khó khăn vì được

sử dụng với khối lượng lớn và chưa biết được chính xác khối lượng sử dụng cho tới khi sử dụng vượt quá định mức, ví dụ như ống, dây và cáp Sự thay đổi thiết

kế là nguyên nhân tác động đến việc cập nhật khối lượng yêu cầu

− Loại vật tư quan trọng thứ ba là vật tư gia công, được chế tạo theo công nghệ của xưởng gia công, được thiết kế cụ thể tùy theo dự án, và đơn vị thi công sẽ thực hiện theo bản vẽ được phê duyệt

 Kế hoạch mua vật tư: Theo CII Project Materials Management Planning Guide (1987), giai đoạn đầu tiên để chuNn bị mua và cung ứng vật tư là xác định xem văn phòng hay công trường chịu trách nhiệm đặt mua vật tư Nhà thầu thi công chịu trách nhiệm quyết định khối lượng vật tư và mua vật tư Ngoài ra, phải duy trình dòng thông tin liên tục giữa văn phòng công ty và bộ phận kế toán công trường để đảm bảo việc thực hiện dự án ổn định Việc kiểm soát quá trình vật tư mua bán phải theo các bước sau nhằm tránh sai sót trong việc đặt hàng:

− Phải chuNn bị bản yêu cầu khối lượng vật tư

− Những biểu mẫu yêu cầu khối lượng vật tư được phê duyệt

− Xác định và chuyển thông tin khối lượng vật tư yêu cầu cho nhà cung cấp

Trang 28

những vật tư hư hỏng trong đơn đặt hàng có ảnh hưởng tích cực hầu hết đến các nhà cung cấp

Theo Olomolaiye và cộng sự (1987) thì vấn đề cơ bản của việc cung cấp vật tư không đều và kế hoạch cung ứng không phù hợp là do việc không thanh toán đủ cho vật tư đã cung cấp Để đảm bảo liên tục việc cung cấp vật tư thì nhà thầu cần phải có đủ khả năng tài chính để có thể chi trả liên tục

 Kế hoạch chất lượng: Tiêu chuNn ISO 8402 định nghĩa về chất lượng như sau: toàn bộ những đặc trưng của một công trình xây dựng liên quan đến khả năng để đáp ứng được những yêu cầu đặt ra (Trích dẫn Cnudde, 2007)

Cnudde (1991) đã nhận định rằng ngành công nghiệp xây dựng là ngành ít áp dụng những khái niệm về chất lượng so với các ngành khác Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Xây dựng Bỉ cho thấy 80% nguyên nhân của việc thiếu chất lượng là do công tác quản lý, thể hiện qua việc thực hiện công việc một cách cNu thả, thiếu sự chuNn bị cho các công tác, và sử dụng vật tư không phù hợp Bên cạnh đó, Cnudde (1991) cũng cho rằng việc thiếu chất lượng có thể do sự không phù hợp trong khâu đào tạo về mức chất lượng yêu cầu, do hồ sơ thiết kế và tiêu chuNn kỹ thuật không hoàn hảo

CII Project Materials Management Planning Guide (1987) cho rằng, chất lượng xây dựng phản ánh những qui định chính xác, rõ ràng trong những yêu cầu kiểm soát chất lượng, theo những tiêu chuNn kỹ thuật và kế hoạch chất lượng dự án Đây là điều cơ bản cho kế hoạch kiểm soát của nhà thầu và nhà cung cấp Stukhart (1995) cho thấy kiểm soát quản lý chất lượng là những phương pháp thực tế như kiểm tra, đo lường, nghiệm thu, là điều cần thiết để kiểm tra việc thực hiện đúng theo yêu cầu qui định Quản lý chất lượng sẽ làm ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của dự án

Ngoài ra, Cnudde (1991) cũng nhận thấy có sự liên hệ giữa chủ đầu tư với chất lượng, trong đó chủ đầu tư có vai trò quyết định trong quy trình quản lý chất

Trang 29

lượng trong xây dựng Chủ đầu tư có thể làm cho qui trình chất lượng hiệu quả và thống nhất thông qua việc:

− Chủ đầu tư xác định rõ ràng mục tiêu cuối cùng của công việc xây dựng

− Chủ đầu tư phải chọn lựa các bên phù hợp

− Chủ đầu tư phải định ra một hệ thống tổ chức thích hợp nhất

− Chủ đầu tư phải đảm bảo được năng lực và chất lượng thực hiện công việc của tất cả các bên tham gia

Cnudde (1991) cũng nhận thấy có sự liên hệ giữa nhà thầu với chất lượng Từ kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Xây dựng Bỉ, Cnudde (1991) đã chỉ ra rằng 22% các trường hợp thiếu quản lý chất lượng là do quá trình thi công, và trở thành nguyên nhân của sự hư hại Tuy nhiên, nhà thầu có khuynh hướng chờ chủ đầu tư phàn nàn về những khiếm khuyết còn tồn đọng sau đó mới tiến hành sửa chữa theo quy định trong điều khoản bảo hành

Theo Cnudde (1991), việc thiếu chất lượng sẽ làm gia tăng chi phí Theo kết quả

từ Hội nghị Châu Âu về Quản lý Chất lượng trong Xây dựng (1985), thì việc thiếu chất lượng làm gia tăng vốn đầu tư từ 10% đến 15% Sau đó, Hội nghị CIB ở Paris (1989), Hội nghị EQQ ở London (1987), Hội nghị EQQ ở Copenhagen (1989), và Hội nghị EQQ ở Dublin (1990) đã chỉ ra rằng tỷ lệ gia tăng này vào khoảng 15% – 20% (Trích dẫn Cnudde, 1991)

Theo Cnudde (1991) cho rằng cần phải cải thiện chất lượng, quản lý chất lượng trong xây dựng có thể mang lại một số tiềm năng như:

− Đối với các công ty xây dựng, quản lý chất lượng tốt sẽ làm tăng năng suất và lợi nhuận, và phát triển được thương hiệu của họ

− Việc kiểm soát chất lượng có hiệu quả chỉ khi nào có sự thay đổi về nhận thức,

sự thay đổi này mới tạo nên cơ sở hình thành một phương thức quản lý chất lượng mới để có thể cải tiến chất lượng

Trang 30

− Để dẫn tới một kết quả tối ưu, sự nổ lực không những chỉ giới hạn đối với công

ty mà còn mở rộng đối với tất cả các bên tham gia trong hoạt động xây dựng như chủ đầu tư, nhà thầu, đơn vị tư vấn,…

Hơn nữa, các qui định về trách nhiệm của tất cả các bên liên quan về vấn đề chất lượng phải được tuân thủ và được thực thi một cách hiệu quả

 Kế hoạch vận chuyển: Theo CII Project Materials Management Planning Guide (1987), mục tiêu chính của kế hoạch vận chuyển là để vận chuyển vật tư đến công trường kịp lúc, mà việc này ảnh hưởng đáng kể đến chi phí Do đó, tiến độ thi công và những yêu cầu vật tư phải được xem xét một cách thấu đáo để đánh giá những yêu cầu vận chuyển của dự án

Vấn đề đóng gói và vận chuyển là một trong những nguyên nhân gây thiếu hụt và lãng phí vật tư Theo Olomolaiye và cộng sự (1987) cho thấy nguyên nhân chính của việc thiếu hụt vật tư được xác định là do vận chuyển trên công trường khó khăn Ngoài ra, Bossink và cộng sự (1994) cho thấy nhà cung cấp có thể là nguyên nhân gây lãng phí vật tư xây dựng như vận chuyển không đóng gói, thời gian vận chuyển dài

 Kế hoạch quản lý vật tư tại công trường: Theo CII Project Materials Management Planning Guide (1987) thì mục tiêu của quản lý vật tư công trường là để đảm bảo vật tư sử dụng được khi cần, phù hợp với tiến độ xây dựng Điều này liên quan đến việc trao đổi thông tin và sự điều phối với chủ đầu tư, với người quản lý dự án bao gồm: việc nhận hàng, kho bãi, kiểm soát tồn kho, cấp phát vật tư, loại bỏ vật

tư dư thừa, và việc cung cấp thủ tục mua bán, đáp ứng nhu cầu vật tư và thiết bị cần để hoàn thành dự án

2.3 GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BAO DỮ LIỆU (DEA)

Phần này sẽ trình bày những khái niệm cơ bản về phương pháp phân tích bao số liệu (DEA), tóm lược lịch sử hình thành DEA và các mô hình DEA cơ bản

2.3.1 Khái niệm DEA

Trang 31

DEA là từ viết tắt của Data Envelopment Analysis, tạm dịch là phương pháp phân tích bao dữ liệu Đây là một kỹ thuật qui hoạch tuyến tính phi tham số dùng để tạo

ra các trọng số ảo để tính toán hiệu quả của một qui trình hay một phương thức bất

kỳ để chuyển đầu vào thành đầu ra DEA không yêu cầu dạng hàm sản xuất cụ thểcủa qui trình chuyển hóa đầu vào, đầu ra DEA tối ưu hóa từng quan sát với mục tiêu là tính toán ra một đường biên rời rạc từ tập số liệu của các quan sát có được

2.3.2 Lịch sử hình thành của DEA

Bài báo do M.J.Farrell viết năm 1957 được xem là tài liệu đặt nền móng cho phương pháp DEA Trong bài báo này, Farrell đã thiết lập một mô hình để có thể đo lường hiệu quả kỹ thuật của quá trình đơn giản chỉ có một đầu vào và một đầu ra Tuy nhiên, trong thực tế phần lớn các trường hợp đều liên quan đến việc xử lý nhiều đầu vào và nhiều đầu ra Khi đó mô hình của Farrell không áp dụng được Để khắc phục hạn chế này, Charnes, Cooper và Rhodes (Charnes và cộng sự, 1978) đã tổng quát hóa mô hình của Farrell để có thể phân tích được những quá trình có nhiều đầu vào và nhiều đầu ra Mô hình này được đặt tên là mô hình CCR, viết tắt tên của ba người sáng lập, và mô hình này nhanh chóng được biết đến như là mô hình phát triển DEA đầu tiên và bài báo viết về mô hình này được xem là bài báo đầu tiên về

đề tài DEA

Một trong những thuận lợi chính của DEA là DEA tập trung vào các quan sát riêng biệt thông qua việc tối ưu hóa “n” lần khi phân tích Điều này khác so với việc tập trung vào các giá trị trung bình và ước tính các tham số kết hợp với phương pháp tối

ưu đơn giản bằng thống kê

Sau khi mô hình CCR ra đời, đã có nhiều mô hình DEA xuất hiện và đã có nhiều bài báo viết về DEA Theo nhận định của Seiford and Thrall (1990) (trích dẫn Joseph Ramani, 2000), DEA phát triển nhanh chóng và được chấp nhận rộng khắp

đã chứng tỏ được thế mạnh và khả năng ứng dụng của phương pháp này Một mô hình khá quan trọng tiếp sau mô hình CCR là mô hình BCC (Banker và cộng sự, 1984) Mô hình này được đặt tên theo tên của ba tác giả là Banker, Charnes và

Trang 32

Cooper Ra đời vào năm 1984, mô hình này đưa ra một biến mới để có thể xác định một qui trình đang hoạt động ở trạng thái “lợi suất không đổi theo qui mô” (constant returns to scale), “lợi suất gia tăng theo qui mô” (increasing returns to scale) hay

“lợi suất giảm theo qui mô” (decreasing returns to scale) Mô hình này có khả năng làm việc với nhiều biến đầu vào và nhiều biến đầu ra

Cùng với mô hình BCC, có hai mô hình đáng ghi nhận đã được thiết lập đó là mô hình Additive (Aditive Models) và mô hình Multiplicative (Multiplicative Models) Tuy nhiên hai mô hình CCR và BCC là cơ bản và được sử dụng rộng rãi hơn cả Trong phạm vi chương này, tác giả xin trình bày chi tiết hai mô hình CCR và BCC

2.3.3 Một số thuật ngữ trong phương pháp DEA

Phần này trình bày một số thuật ngữ cơ bản trong DEA

 DMU: Đây là từ viết tắt của thuật ngữ Decision-Making Unit, tạm dịch là “đơn vị

ra quyết định” DMU còn được gọi là các quan sát (observation) DMU chính là chủ thể của qui trình với quan hệ đầu vào – đầu ra Đầu vào và đầu ra của một DMU phải được xác định để thành lập mô hình làm việc trong DEA

 Hiệu quả (Efficiency): Theo Lovell (1993)thì hiệu quả của một đơn vị sản xuất là

sự so sánh giữa giá trị quan sát và giá trị tối ưu của đầu vào và đầu ra Sự so sánh này có thể ở dạng tỷ số giữa giá trị quan sát với giá trị có được từ điều kiện max(đầu ra) với các đầu vào cho trước, hoặc là tỷ số giữa giá trị quan sát với giá trị có được từ điều kiện min(đầu vào) để sản xuất đầu ra cho trước với giá trị quan sát được, hoặc có thể là cả hai dạng trên

 Năng suất (Productivity): Theo Lovell (1993) thì năng suất của một đơn vị sản xuất là tỷ số của đầu vào và đầu ra Năng suất biến đổi tùy thuộc vào sự khác nhau

về dạng công nghệ sản xuất, tùy thuộc vào hiệu quả của qui trình sản xuất và tùy thuộc vào môi trường sản xuất

 Hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency): Hiệu quả kỹ thuật của một DMU có thể được định nghĩa là khả năng của một DMU đó trong việc tối đa hóa đầu ra từ một

Trang 33

tập đầu vào cho trước, hoặc là khả năng tối thiểu hóa các đầu vào để cho ra một lượng đầu ra cố định Theo Weiss (1991) (trích dẫn Joseph Ramani, 2000), một DMU được coi là không đạt hiệu quả kỹ thuật nếu DMU đó sử dụng quá nhiều lượng đầu vào để sản xuất ra một lượng đầu ra cho trước hoặc sản xuất quá ít lượng đầu ra với đầu vào cho trước Hiệu quả kỹ thuật được phân chia thành 2 thành phần là hiệu quả kỹ thuật thuần túy (pure technical efficiency) và hiệu quả qui mô (scale efficiency) Theo Weiss (1991) (trích dẫn Joseph Ramani, 2000), một DMU được xem là đạt hiệu quả qui mô nếu đầu vào và đầu ra không phân bố một cách tỷ lệ theo đúng tỷ số đầu vào và đầu ra

 Mặt giới hạn (Envelopment Surfaces): Nhiệm vụ chính của DEA là xác định một tập hợp các DMU từ tập số liệu quan sát để hình thành nên một hàm sản xuất thực nghiệm hay còn gọi là mặt giới hạn Các DMU trên mặt giới hạn này được xem là hoạt động có hiệu quả Mặt giới hạn này còn được gọi là mặt biên hiệu quả hay mặt giới hạn hiệu quả (efficient frontier)

2.3.4 Các giả thuyết nghiên cứu và phương pháp luận

Hàm sản xuất xác định mối quan hệ giữa nguồn tài nguyên sử dụng (đầu vào) và đầu ra trong một DMU Hàm này hình thành nên một đường biên để thể hiện khả năng sản xuất tối đa và được gọi là đường giới hạn sản xuất lý thuyết Hoàn toàn có thể xác định được hiệu quả của một đơn vị sản xuất nếu biết được hoặc thiết lập được đường biên lý thuyết của đơn vị sản xuất đó Tuy nhiên, thông thường đường giới hạn sản xuất lý thuyết khó có thể xác định chính xác được, cho nên thường dựa vào dữ liệu quan sát từ kết quả đạt được của các DMU Từ tập dữ liệu quan sát này

có thể xác lập ra một đường biên sản xuất thực nghiệm hay mặt giới hạn để có thể ước tính được hiệu quả của một DMU bất kỳ trong tập hợp các DMU quan sát Hình 2.1 ở dạng hai chiều minh họa cho khái niệm này Đồ thị hai chiều thường được sử dụng để minh họa, mặc dù DEA có thể xử lý hơn hai chiều nhưng sẽ khó khăn trong việc thể hiện bằng đồ thị

Trang 34

Hình 2.1 Đường biên sản xuất lý thuyết và thực nghiệm

Xét một quan sát bất kỳ trên hình 2.1, giả sử DMU1 Hiệu quả tuyệt đối (AE) của DMU1 có thể được định nghĩa là khoảng cách từ DMU1 đến đường biên lý thuyết, theo hình 2.1 thì giá trị này là: a1

a1+a2+a3

AE= Hiệu quả tương đối (RE) của DMU1

có thể được định nghĩa là khoảng cách từ DMU1 đến đường biên thực nghiệm, theo hình 2.1 thì giá trị này là: a1

a1+a2

RE= Bất kỳ DMU nào nằm trên đường biên thực nghiệm được xem là đạt được hiệu quả 100%, những DMU nằm bên dưới đường biên thực nghiệm sẽ có hiệu quả nhỏ hơn 100% Nói cách khác, đường biên thực nghiệm sẽ đảm bảo rằng hiệu quả của tất cả các DMU sẽ nhỏ hơn hoặc bằng 1

Theo Vela (2000) (trích dẫn Joseph Ramani, 2000), có hai thành phần quan trọng trong ước lượng hiệu quả bằng phương pháp DEA, đó là: (i) dạng của mặt giới hạn

và (ii) hướng dịch chuyển của các DMU không đạt hiệu quả về phía mặt giới hạn Hai thành phần này là cốt lõi để phân loại các mô hình DEA

Có hai dạng mặt giới hạn, đó là “mặt CRS” (constant returns-to-scale surface) tạm dịch là “mặt lợi suất không đổi theo qui mô” và “mặt VRS” (variable returns-to-

Input (x) đường biên thực nghiệm đường biên lý thuyết

Trang 35

scale surface) tạm dịch là “mặt lợi suất biến đổi theo qui mô” Mô hình CCR dựa vào mặt giới hạn CRS với giả thiết rằng đầu vào gia tăng thêm một lượng nào đó thì đầu ra cũng tăng thêm một lượng tương ứng Mô hình BCC và mô hình Additive dựa vào mặt giới hạn VRS với giả thiết rằng đầu vào gia tăng thêm một lượng nào

đó thì đầu ra có thể tăng hoặc giảm không nhất thiết phải tương ứng với lượng gia tăng đầu vào Hình 2.2 minh họa hai dạng mặt này, với trường hợp mô hình đơn giản một đầu vào – một đầu ra

Hình 2.2 Hai dạng mặt giới hạn trong DEA

Có hai dạng dịch chuyển cơ bản của các DMU không hiệu quả về phía mặt giới hạn,

đó là “định hướng đầu vào” (input-oriented) và “định hướng đầu ra”

hai dạng cơ bản này Mô hình CCR và BCC sử dụng hai dạng dịch chuyển cơ bản, tạo ra bốn mô hình cơ bản là: mô hình CCR định hướng đầu vào, mô hình CCR định hướng đầu ra, mô hình BCC định hướng đầu vào và mô hình BCC định hướng đầu ra Mô hình Additive sử dụng dạng dịch chuyển kết hợp hai dạng dịch chuyển

cơ bản Mục đích của việc dịch chuyển là để đưa DMU không hiệu quả về gần mặt giới hạn để DMU đó trở nên có hiệu quả Mô hình định hướng đầu vào tìm cách giảm tối đa giá trị của biến đầu vào trong khi vẫn giữa nguyên mặt giới hạn Ngược

Mặt VRS Mặt CRS

Trang 36

lại, mô hình định hướng đầu ra tìm cách gia tăng tối đa giá trị của biến đầu ra trong khi vẫn giữ nguyên mặt giới hạn Hình 2.3 minh họa hai dịch chuyển cơ bản đối với mặt VRS

Hình 2.3 Các dạng dịch chuyển đến mặt giới hạn VRS

Các mô hình cơ bản của DEA thể hiện tính bất biến trong qui mô và dịch chuyển Nếu chỉ đo lường hiệu quả tương đối của các DMU thì khi tăng giá trị cả biến đầu vào và biến đầu ra theo tỉ lệ tương xứng sẽ không ảnh hưởng đến hiệu quả của bất

kỳ DMU nào Đây được gọi là tính bất biến về qui mô Với các mô hình định hướng đầu vào và định hướng đầu ra, sự dịch chuyển của đầu vào hay đầu ra bởi bất kỳ hệ

số nào cũng không ảnh hưởng đến hiệu quả của bất kỳ DMU nào Đây được gọi là tính bất biến về dịch chuyển

2.3.5 CÁC MÔ HÌNH DEA CƠ BẢN

Phần này sẽ giới thiệu các mô hình và công thức toán học của các mô hình cơ bản BCC và CCR

Giả thiết có một tập hợp E bao gồm n DMU, E = {DMU1, DMU2, …, DMUn} Mỗi

DMU có m đầu vào và r đầu ra Gọi xj = {xij, i = 1,2,…,m} là vector đầu vào và yj =

B Output (y)

Trang 37

{yij, i=1,2,…,r} là vector đầu ra của DMUj; λ (n,1) = (λ1, λ2,…, λn), với λi ≥ 0, là

vector trọng số của các DMU Khi đó ma trận X(m,n) là ma trận đầu đầu vào, Y(r,n)

là ma trận đầu ra, Xλ(m,1) là ma trận đầu vào có trọng số, Yλ(r,1) là ma trận đầu ra

có trọng số

Mô hình này tập trung vào việc cắt giảm lượng đầu vào của một DMU trong khi vẫn giữ đầu ra cố định cho đến khi DMU này tiến đến mặt giới hạn

Mô hình BCC định hướng đầu vào để ước lượng hiệu quả của DMUq bất kỳ, với

q={1,2,…,n}, viết dưới dạng cơ bản như sau:

s s e

λ

λλ

eT = (1,1,…,1): vector đơn vị

ε : hằng số vi phân, thông thường ε = 10-8

s-, s+ : biến slack đầu vào và biến slack đầu ra Hai biến này mô tả sự khác nhau giữa đầu vào và đầu ra ảo với đầu vào và đầu ra tương ứng của DMUq Khi đó, đầu vào và đầu ra ảo được tính dựa vào giá trị tối ưu từ phương trình trên, như sau:

Trang 38

Quá trình tối ưu hóa được thực hiện qua 2 giai đoạn Giai đoạn một liên quan đến việc thực hiện cắt giảm tối đa đầu vào Giai đoạn hai liên quan đến khoảng dịch chuyển về đường biên hiệu quả, được thực hiện thông qua các biến slack

Với mô hình này, DMUq được gọi là đạt hiệu quả kỹ thuật nếu θ = 1, s+ = 0, s- = 0 Khi đó: Z =1,Yλ = y X q, λ θ= x q Bài toán qui hoạch tuyến tính này được thực hiện trên tất cả các DMU trong tập hợp E để xác định ra hai tập con, một tập con bao gồm các DMU đạt được hiệu quả kỹ thuật và hình thành nên mặt giới hạn, tập còn lại bao gồm các DMU không đạt hiệu quả kỹ thuật và nằm bên dưới mặt giới hạn

Mô hình này còn có thể viết dưới dạng hệ số nhân như sau:

e e x

µ và ν là tập trọng số của đầu vào và đầu ra, còn gọi là hệ số nhân

Mô hình BCC định hướng đầu vào còn được viết dưới dạng tổng như sau:

ij j i i q

j q

n j j

Trang 39

Hình 2.4 mô tả mặt giới hạn của mô hình BCC định hướng đầu vào, trong đó các DMU1, DMU2, DMU3, DMU4 tạo nên mặt giới hạn và được coi là đạt hiệu quả kỹ thuật Các DMU5, DMU6 không đạt hiệu quả và phải cần giảm đầu vào để các DMU này có thể tiến gần về mặt giới hạn và cải thiện được hiệu quả

Hình 2.4 Mặt giới hạn của mô hình BCC định hướng đầu vào

Mô hình này tập trung vào gia tăng lượng đầu ra của một DMU trong khi vẫn giữ đầu vào cố định cho đến khi DMU này tiến đến mặt giới hạn

Mô hình BCC định hướng đầu ra để ước lượng hiệu quả của DMUq bất kỳ, với

q={1,2,…,n}, viết dưới dạng cơ bản như sau:

s s e

λ

λλ

− +

hướng dịch chuyển

Trang 40

eT = (1,1,…,1): vector đơn vị

ε : hằng số vi phân, thông thường ε = 10-8

s-, s+ : biến slack đầu vào và biến slack đầu ra Hai biến này mô tả sự khác nhau giữa đầu vào và đầu ra ảo với đầu vào và đầu ra tương ứng của DMUq Khi đó, đầu vào và đầu ra ảo được tính dựa vào giá trị tối ưu từ phương trình trên, như sau:

ϕ:là tỷ lệ gia tăng áp dụng cho tất cả các đầu ra của DMUq để cải thiện hiệu quả của DMU này, và cho ra kết quả là khoảng dịch chuyển hướng tâm về phía mặt giới hạn

Quá trình tối ưu hóa được thực hiện qua 2 giai đoạn Giai đoạn một liên quan đến việc thực hiện gia tăng tối đa đầu ra Giai đoạn hai liên quan đến khoảng dịch chuyển về đường biên hiệu quả, được thực hiện thông qua các biến slack

Với mô hình này, DMUq được coi là hiệu quả nếu giá trị Z tối ưu thu được bằng 1, nghĩa là ϕ = 1, s- = 0, s+ = 0 Nếu Z > 1 thì DMU đang xét không đạt hiệu quả

Mô hình này còn có thể viết dưới dạng hệ số nhân như sau:

e e y

µ và ν là tập trọng số của đầu vào và đầu ra, còn gọi là hệ số nhân

Ngày đăng: 09/03/2021, 04:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm