Thực trạng về sự điều hòa giao thông của lực lượng Cảnh sát giao thông CSGT và các lực lượng khác: Công tác tuần tra kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm về trật tự an toàn giao thôn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
- -
PHAN TRỌNG THỨC
NGHIÊN CỨU YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN AN TOÀN GIAO THÔNG TẠI TP.HỒ CHÍ MINH VÀ
CÁC BIỆN PHÁP CẢI TẠO MỘT SỐ
“TUYẾN ĐƯỜNG ĐEN”
CHUYÊN NGÀNH : XÂY DỰNG ĐƯỜNG ÔTÔ
VÀ ĐƯỜNG THÀNH PHỐ
MÃ SỐ NGÀNH : 60 58 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 11/2009
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học :
TS CHU CÔNG MINH
Cán bộ chấm nhận xét 1 : ………
Cán bộ chấm nhận xét 2 : ………
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại
HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH,
Trang 3- -oOo -
Tp HCM, ngày tháng năm 2009
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên: PHAN TRỌNG THỨC Phái: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 11/04/1981 Nơi sinh: Tp.Hồ Chí Minh Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố
MSHV: 00107511
1- TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN AN TOÀN GIAO
THÔNG TẠI TP.HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC BIỆN PHÁP CẢI TẠO MỘT SỐ TUYẾN ĐƯỜNG ĐEN
2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN: Nghiên cứu các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông
tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề ra các biện pháp nhằm làm giảm bớt số vụ tai nạn trên các tuyến đường đen thành phố
3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ :
4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : 30/11/2009
5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS CHU CÔNG MINH
Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
(Họ tên và chữ ký) QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH (Họ tên và chữ ký)
(Họ tên và chữ ký)
TS.CHU CÔNG MINH TS.LÊ BÁ KHÁNH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại Học Bách Khoa với tư cách là một sinh viên trong quá khứ cũng như là một học viên cao học trong hiện tại với tôi là khoảng thời gian nhiều niềm vui, thú vị và đầy thử thách nhất trong quá trình học tập của tôi
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong bộ môn đã nhiệt tình chỉ bảo, xin cảm ơn tất cả anh chị và các bạn trong lớp cao học Xây Dựng Đường Ôtô và Đường Thành Phố khóa
Trang 5From that basis, the level of awareness about traffic safety of the people and the fact
of accidents happened over the years, this thesis proposes methods of traffic safety education tools which are more convincing than In addition, the thesis also proposed several measures
in the other areas to reduce quantity of traffic accidents
Trang 6TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài: Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến an toàn giao thông tại thành phố Hồ Chí Minh và
các biện pháp cải tạo một số “tuyến đường đen”
An toàn giao thông đã trở thành một mối quan tâm lo lắng của toàn thể xã hội, đặc biệt là của nhà nước ta Điều này đã được thể hiện rõ thông qua các qui định chính sách được ban hành, cũng như là việc thành lập các tiểu ban chuyên trách về vấn đề này từ trung ương tới địa phương
Chính vì vậy đề tài mới nghiên cứu các nguyên nhân gây nên tai nạn giao thông, cũng như là mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý tác động lên hành vi vi phạm an toàn giao thông theo thuyết hành vi hoạch định (TPB) Từ cơ sở đó, mức độ nhận thức về vấn đề
an toàn giao thông của người dân và thực tế các vụ tai nạn đã xảy ra qua nhiều năm, luận văn đề xuất một số biện pháp tuyên truyền giáo dục an toàn giao thông cụ thể hơn, thuyết phục hơn Ngoài ra, luận văn cũng đã đề xuất một vài biện pháp trong các lĩnh vực song hành cùng với giáo dục tuyên truyền nhận thức nhằm làm giảm số vụ tai nạn giao thông
Trang 7MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG……….……… 1
1.1 Đặc điểm hiện trạng hạ tầng và tình hình giao thông tại thành phố Hồ Chí Minh………1
1.2 Nội dung và mục đích của đề tài … ………6
1.3 Giới hạn của đề tài ………7
1.4 Bố cục của đề tài………7
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ĐÃ THỰC HIỆN TRƯỚC ĐÂY…… 9
2.1 Các tài liệu có liên quan …….……… ………9
2.2 Các nghiên cứu có liên quan……… ……… 10
2.3 Nhận xét………… ……… …14
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN CÁC NGUYÊN NHÂN TAI NẠN VÀ CÁC BIỆN PHÁP TƯƠNG ỨNG ….……… ……….….… … 15
3.1 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến an toàn giao thông …….……… …… 15
3.2 Những tác nhân điều kiện đường ảnh hưởng đến an toàn giao thông và đánh giá mức độ an toàn khi thiết kế đường theo tiêu chuẩn an toàn giao thông … ………….… 18
3.3.Tình hình các biện pháp tăng cường an toàn giao thông tại Tp.Hồ Chí Minh……….26
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH TAI NẠN GIAO THÔNG TẠI TP.HỒ CHÍ MINH… 32
4.1.Phương pháp tiến hành … ……… 32
4.2.Phân tích các số liệu tai nạn giao thông tại Thành phố Hồ Chí Minh … ………….…32
4.3.Phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý đến hành vi vi phạm an toàn giao thông theo thuyết hành vi hoạch định (TPB) ……….45
4.4 Phân tích và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý đến hành vi vi phạm an toàn giao thông bằng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA)……… 48
CHƯƠNG 5: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TAI NẠN GIAO THÔNG TẠI TP.HỒ CHÍ MINH ……….……… 60
5.1.Phương pháp tiến hành ……… ……….… 60
5.2.Nhận xét các biện pháp đã và đang thực hiện – khảo sát nhận thức của người dân về tình hình tai nạn giao thông tại Tp.Hồ Chí Minh …… ……….… 60 5.3.Biện pháp tuyên truyền đề xuất nhằm tăng cường an toàn giao thông và một vài
Trang 8CHƯƠNG 6: MINH HỌA CÁC TUYẾN ĐƯỜNG ĐEN TẠI TP.HỒ CHÍ MINH 87
6.1.Nội dung các bước thực hiện ……… 87
6.2.Một vài hình ảnh minh họa một số tuyến đường đen trên bản đồ điện tử thành phố ………87
CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ………… ……… ……… 93
7.1.Kết luận……….…………93
7.2.Kiến nghị……….……… 93
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 ĐẶC ĐIỂM HIỆN TRẠNG HẠ TẦNG VÀ TÌNH HÌNH GIAO THÔNG
TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
1.1.1.Đặc điểm hiện trạng hạ tầng giao thông:
Nhìn chung, tùy theo quy định về tổ chức giao thông của từng tuyến đường theo
khu vực, thành phần dòng xe khá đa dạng Theo số liệu Sở Giao thông Vận tải, đối với
các đường phố bình thường, xe gắn máy thường chiếm tỉ trọng rất cao (50 – 80%), tỉ
trọng xe đạp và xe thô sơ cũng rất đáng kể (3 – 10%) Rất nhiều phương tiện vận tải với
nhiều kích cỡ và vận tốc khác nhau cùng chạy trên một làn xe (đường < 4 làn xe) thường
xuyên cản trở sự năng động của nhau Trong giờ cao điểm, chỉ cần lơ đễnh, sự va quẹt và
tai nạn giao thông có thể xảy ra tức khắc và làm ùn tắc giao thông Cùng với quá trình
phát triển, thành phần dòng xe sẽ ngày càng đồng nhất hơn, theo hướng giảm dần xe hai
bánh, xe thô sơ và tăng dần xe buýt và xe ô tô Hiện nay trước mắt, xe hai bánh vẫn
chiếm phần lớn và tràn nhập các con đường vào giờ cao điểm Dự báo khi dòng xe ô tô
ngày càng gia tăng, nguy cơ kẹt xe cũng sẽ trầm trọng hơn
Điều kiện hạ tầng giao thông hiện nay cũng là một trở ngại lớn góp phần tạo điều
kiện cho các hành vi vi phạm giao thông ngày càng tăng cũng tăng như làm trầm trọng
thêm các vụ tai nạn giao thông trên địa bàn Với những nỗ lực của chính quyền thành
phố, nhiều dự án và công trình giao thông đã và đang được thực hiện nhằm tăng diện tích
đường và giảm bớt các luồng xe đổ vào trung tâm thành phố Trong giai đoạn trước mắt
hiện nay, có thể nói rằng, thực trạng hạ tầng giao thông vẫn là một rào cản lớn, ảnh
hưởng đến số vụ tai nạn giao thông gia tăng, cũng như ùn tắc giao thông
1.1.2.Đặc điểm tình hình giao thông tại Tp.Hồ Chí Minh:
Theo thống kê của Công an thành phố, đến cuối năm 2008 TP.Hồ Chí Minh hiện
có đến 3,7 triệu xe gắn máy, với tốc độ tăng bình quân 800 – 1000 xe đăng ký/ngày, số
xe ô tô khoảng 373.000 chiếc Hiện nay, theo thống kê đã có đến 23 loại lỗi vi phạm hành
chính về an toàn giao thông đường bộ Xét về góc độ các phương tiện tham gia vi phạm
an toàn giao thông, tỷ lệ xe gắn máy (xe mô tô) chiếm tỷ lệ cao nhất là 67,4%, kế đến là ô
Trang 10tô tải (17,1%) Xe ô tô con và xe taxi có tỷ lệ phạm lỗi về vi phạm an toàn giao thông
cũng gần tương đương, dao động từ 4,9 – 6,5% Như vậy, xe gắn máy (mô tô) thường là
đối tượng vi phạm được thống kê nhiều nhất, kế đến là xe ô tô tải
Qua phân tích cho thấy, lỗi vi phạm này chủ yếu rơi vào các lỗi về hành vi chủ
quan gây ra là khá lớn, chiếm tỷ trọng gần 65% trong tổng số Có 4 loại lỗi chiếm tỷ
trọng cao nhất cần được liệt kê Trong năm 2008, tập trung nhiều nhất về lỗi vi phạm lưu
thông không đúng phần đường, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng các lỗi vi phạm do
hành vi cố ý gây nên (33,8%) Thực trạng lưu thông trên đường cũng cho thấy việc lấn
tuyến, leo lề xảy ra thường xuyên nên lỗi này chiếm tỷ lệ cao là hợp lý Tuy nhiên, về lỗi
đậu dừng không đúng quy định lại đứng hàng thứ hai sau lưu thông không đúng phần
đường (24,2%) Hành vi về tránh vượt không đúng quy định có thứ tự tăng cao đứng
hàng thứ ba, cao hơn lỗi hành vi về lưu thông ngược chiều (tương đương 4,8%), vượt đèn
(được xếp hàng thứ tư chiếm tỷ lệ 4,6%) Như vậy, trong năm 2008, lỗi vi phạm lưu
thông vào đường cấm, giờ cấm có giảm đi so với năm 2007 (từ 6% giảm còn 2,4%), tuy
nhiên lỗi hành vi tránh vượt không đúng quy định lại tăng cao, nhất là các loại xe ô tô tải
chiếm tỷ trọng khá lớn (12,6% so với 4,8%) Đây là hành vi rất dễ gây tai nạn cho các
phương tiên khác và khách bộ hành
Những hành vi vi phạm hành chính về an toàn giao thông đã góp phần gây ra tai
nạn giao thông, cướp đi sinh mạng của nhiều người Tính riêng trong năm 2008, đã có
đến 1.152 vụ tai nạn giao thông đường bộ (xem biểu 1), với tổng số người chết lên đến
954 người và bị thương là 412 người Hầu hết nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông đều
do các hành vi vi phạm giao thông gây ra, trong đó lỗi do lưu thông không đúng phần
đường chiếm cao nhết lên đến gần 21,0% trong tổng số, kế đến là do lỗi vi phạm tốc độ
quá qui định (17,2%) người đi bộ không đúng quy định (8,3%) tránh vượt không đúng
qui định (7,0%) Qua biểu 1 cho thấy, số vụ tai nạn cũng do lưu thông không đúng phần
đường vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất (gần 21,0%) Như vậy, đây là lỗi vi phạm an toàn giao
thông đường bộ mang lại hậu quả to lớn nhất, cần tập trung giảm thiểu nhiều hơn trong
thời gian tới
Một điều đáng lưu ý là nguyên nhân gây tai nạn do hành vi vi phạm của người đi
bộ không đúng quy định, được xếp là nguyên nhân thứ ba sau nguyên nhân lưu thông
không đúng phần đường và vi phạm tốc độ quy định Điều này cho thấy việc điều chỉnh
Trang 11hành vi của người đi bộ (thông qua xử phạt vi phạm hành chính trong an toàn giao thông
đường bộ) cũng cần lưu ý nhiều hơn trong thời gian tới
Các hành vi thường gặp là lấn vạch sơn người đi bộ, vượt đèn đỏ, lấn tuyến leo lề
và đi ngược chiều mà đối tượng điều khiển chủ yếu lại là học sinh, sinh viên và công
nhân viên chức do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan
Đáng chú ý là đối tượng xe taxi cũng có hiện tượng vi phạm hành chính về an
toàn giao thông đường bộ khá phổ biến hiện nay, nhất là lái nhanh vượt ẩu để giành
khách Bên cạnh đó, xe 3 bánh máy chở đồ hàng hóa cồng kềnh và chở vận chuyển hàng
hóa không đảm bảo an toàn cũng gây ra nhiều vi phạm và tai nạn giao thông Đây chính
là một hiện tượng giao thông phổ biến không chỉ tại Tp.Hồ Chí Minh mà cả các thành
phố lớn trong cả nước, khi phương tiện cá nhân là xe máy lên ngôi và nhu cầu mưu sinh
của những người làm nghề vận chuyển hàng hóa ngày càng tăng
Số vụ tai nạn giao thông xảy ra nhiều nhất là trên tuyến đường trong nội thành
thành phố (424 vụ) chiếm tỷ lệ 38% trong tổng số Do mật độ lưu thông cao nên thường
các lỗi vi phạm giao thông đường bộ nội thành rất dễ gây ra tai nạn Điều này có liên
quan đến việc bố trí tuần tra của cảnh sát giao thông và tăng cường công tác xử phạt trên
tuyến đường nội thành Như vậy, phạm vi điều tra những người vi phạm giao thông nên
tập trung trên các tuyến đường nội thành là chính Ngoài ra, tuyến đường quốc lộ đã xảy
ra tai nạn 247 vụ và đường ngoại thành xảy ra ít hơn, chỉ có 212 vụ trong năm 2008
1.1.3 Thực trạng về sự điều hòa giao thông của lực lượng Cảnh sát giao
thông (CSGT) và các lực lượng khác:
Công tác tuần tra kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm về trật tự an toàn giao
thông được hầu hết mọi người xem là biện pháp quan trọng nhằm hạn chế tai nạn giao
thông và ùn tắc giao thông trước mắt, thiết lập trật tự giao thông trên đường và hạn chế
những hành vi vi phạm phổ biến như vượt đèn đỏ, dùng xe lấn vạch quy định, lưu thông
sai tuyến, lưu thông vào đường cấm, đường ngược chiều, vi phạm tốc độ quy định…
Cảnh sát giao thông điều hành giao thông của thành phố gồm có CSGT của thành
phố và của quận huyện thuộc đội Quản lý trật tự phản ứng nhanh CSGT của thành phố
đảm trách các tuyến đường trọng điểm, tuyến liên quận của thành phố, đội CSGT của
quận huyện đảm trách trên phạm vi quận huyện của mình
Trang 12Hiện nay Tp.Hồ Chí Minh có khoảng 1.500 cảnh sát giao thông toàn thành phố
(trong đó cấp Quận huyện khoảng 700 người) Theo đề nghị của UBND thành phố, biên
chế có thể tăng thêm khoảng 1.000 người trong thời gian tới, nâng tổng cộng lực lượng
CSGT lên đến 2.500 người Do trang thiết bị hỗ trợ hoạt động của CSGT như camera
chưa có đủ nên các lực lượng cảnh sát giao thông vẫn phải hoạt động trên diện rộng gây
hiệu quả chưa cao Số trật tự viên năm 2008 có số lượng cao nhất 500 người Các trật tự
viên xung phong được bố trí tại 129 chốt trên các tuyến đường trọng điểm của thành phố
nhằm hướng dẫn người dân tham gia giao thông dừng đúng vạch sơn qui định khi đèn đỏ,
phòng ngừa ùn tắc giao thông xảy ra
Đầu tháng 3/2008 ngoài các trật tự viên thanh niên xung phong một lực lượng
khác được điều động tham gia điều hòa giao thông, đó là một bộ phận của quân đội được
điều động tham gia kế hoạch điều phối, kiểm soát giao thông Lực lượng này là những
người được thực hiện nghĩa vụ quân sự ở địa phương, được gọi là dân quân ở phường,
đội, quận đội, huyện đội Họ phối hợp với lực lượng CSGT đóng trên chính địa bàn đang
đóng quân, hỗ trợ điều khiển, điều tiết lưu thông, chống ùn tắt giao thông và giữ trật tự
giao thông để tham gia điều tiết giao thông ở trên địa bàn quận theo yêu cầu của CSGT
quận huyện Thẩm quyền và nhiệm vụ của họ chỉ hỗ trợ cho CSGT, tương tự trật tự viên
của thanh niên xung phong Nhiệm vụ giám sát và xử lý vi phạm vẫn do lực lượng CSGT
của thành phố hoặc các quận, huyện đảm trách Pháp lệnh xử phạt hành chính không cho
dân quân ở phường đội, quận đội, huyện đội ra hiệu lệnh (yêu cầu phương tiên dừng lại)
và xử phạt Lực lượng này vẫn có thể tham gia tuần tra giao thông và việc tham gia tuần
tra giao thông phụ thuộc vào sự điều tiết của lãnh đạo CSGT cấp quận, huyện hoặc công
an quận, quận đội, huyện đội Còn các tuyến đường xuyên tâm, huyết mạch của thành
phố đã do lực lượng CSGT thuộc cấp thành phố đảm trách Hàng ngày mỗi ca huy động
331 dân quân tự vệ bố trí tại 144 giao lộ tập trung vào giờ cao điểm sáng và chiều Nhìn
chung, các trật tự viên thanh niên xung phong và các lực lượng khác chỉ dừng lại ở mức
nhắc nhở, chưa được tập huấn một số kỹ năng và chuyên môn trong công tác giữ gìn trật
tự an toàn giao thông, chưa được ủy nhiệm lập biên bản khi có người vi phạm nên hiệu
quả tham gia của lực lượng này còn hạn chế
Phòng CSGT đường bộ đã đề ra kế hoạch rà soát các lỗi vi phạm thường gặp
nhất và tổ chức chủ động tuần tra kiếm lỗi để xử phạt, qua đó tác động làm giảm những
Trang 13hành vi vi phạm trong trật tự an toàn giao thông đường bộ đang có chiều hướng gia tăng
Đây là kế hoạch chủ động đề ra từ phía Phòng CSGT đường bộ theo từng thời điểm, góp
phần đáng kể trong việc giảm thiểu các hành vi vi phạm thường gặp, chẳng hạn như (1)
Đi quá tốc độ (2) đi vào đường cấm và (3) lưu thông không đúng phần đường Đây là
những hành vi thường dẫn đến tai nạn giao thông trên các đường phố
1.1.4 Một số bất cập vẫn tồn tại trong vi phạm giao thông đường bộ Tp.Hồ Chí
Minh:
Do tập quán và thói quen hình thành từ lâu đời nên các phương tiện lưu thông di
chuyển một cách bát nháo, vấn nạn kẹt xe thường xảy ra tại các giao lộ không đèn hoặc
không cảnh sát Một số hiện tượng vi phạm trong an toàn giao thông đường bộ tại Tp.Hồ
Chí Minh qua quan sát có thể nhận thấy như sau :
+ Khi đi vào sáng sớm trước 5 giờ sáng, khá nhiều xe thường tự tiện vượt đèn đỏ
như chỗ không người Trong khi đó, những người nào dừng lại khi đèn đỏ vào giờ đó
được xem là “không bình thường”
+ Do vỉa hè bị lấn chiếm, nhiều người đi bộ phải đi xuống lòng lề đường, ảnh
hưởng đến các phương tiện đang lưu thông
+ Khách bộ hành có thể băng qua đường bất kỳ lúc nào, không cần đến các vạch
sơn dàng riêng cho người đi bộ nên rất dễ gây tai nạn Một số người còn tự tiện băng qua
đường mặc dù cầu vượt đã xây dựng ngay gần đó Dường như người đi bộ tự cho mình
quyền đi bộ và bắt buộc các xe cộ phải tránh mình, nên rất xem thường luật lệ và đã góp
phần gây ra nhiều tai nạn do người đi bộ gây ra
+ Mặc dù đã phân luồng tuyến cho xe hai bánh, tuy nhiên xe đạp và xe gắn máy
vẫn ngang nhiên chạy lấn ra làn đường dành riêng cho xe 4 bánh, tạo một vòng đai bao
quanh các luồng xe ô tô đang lưu thông Bên cạnh đó, xe gắn máy không chỉ lấn ra làn
đường dành cho xe 4 bánh, mà người điều khiển còn lạng lách, vượt ẩu, phóng xe ra từ
ngõ hẻm, không quan sát kỹ, dẫn đến tai nạn hoặc va quẹt
+ Do thói quen dừng lại mua hàng hóa dọc theo lề đường, những người điều
khiển xe gắn máy phải leo lên lề, hoặc tấp vào lề đường vừa mua vừa đậu xe, tạo nên thói
quen đậu dừng tùy tiện và ảnh hưởng đến lưu thông chung của các loại phương tiện khác
Trang 14+ Xe taxi cũng đôi lúc phóng nhanh vượt ẩu, giành mối và góp phần gây ra tai
nạn trên đường phố
+ Xe buýt cũng thường xuyên chạy nhanh và ẩu, phóng như bay trên đường, lấn
cả xe gắn máy và xe hơi đang lưu thông, đôi lúc va quẹt vào các xe khác Tại một số
tuyến đường lớn đôi khi các xe buýt còn chạy dàn hàng ngang, lấn đường làm không còn
chỗ cho xe gắn máy lưu thông và phải leo lên lề
+ Xe tải phóng nhanh vượt ẩu ngay trong nội thành, nhất là sau 10 giờ đêm
+ Ngoài ra, xe rác đẩy tay hoặc xe ba gác máy đôi lúc ngang nhiên ngông nghênh
giữa lộ, hoặc chiếm hẳn các con hẻm, làm cách phương tiện khác phải dừng chờ hoặc
tránh, gây ra ùn tắc Nhìn chung, có một cảm nhận chung là những người điều khiển
phương tiện (xe thộ sơ, xe đạp, xe gắn máy, xe ô tô…) bất chấp luật lệ, muốn chạy và
muốn dừng ở đâu là dừng, muốn rẽ ở đâu là rẽ, không cần ưu tiên để người đi trước,
người đi sau…
1.1.5 Nhận xét:
An toàn giao thông đã trở thành một mối quan tâm lo lắng của toàn thể xã hội,
đặc biệt là của nhà nước ta Điều này đã được thể hiện rõ thông qua các qui định chính
sách được ban hành, cũng như là việc thành lập các tiểu ban chuyên trách về vấn đề này
từ trung ương tới địa phương.Ở thành phố Hồ Chí Minh, trong nhiều năm qua, Ban An
toàn giao thông đã luôn bám sát theo dõi, tìm hiểu nguyên nhân và thường xuyên đưa ra
các biện pháp để nâng cao an toàn giao thông như: nâng cấp cải tạo và xây dựng mới
nhiều tuyến quốc lộ, tỉnh lộ; xử lý các “điểm đen”, là nơi thường xuyên xảy ra các tai nạn
nghiêm trọng; xử lý các “tuyến đường đen”, là tuyến đường có các vụ tai nạn nghiêm
trọng xảy ra rải rác trên tuyến không tập trung tại một điểm nhất định…
1.2 NỘI DUNG VÀ MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục đích đề tài :
Chính vì những yếu tố quan trọng và cấp thiết trong tình hình an toàn giao thông
tại thành phố, đề tài đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến an toàn giao thông tại thành
phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là sự nhận thức của người dân về vấn đề tai nạn xảy ra, để từ
đó đề ra những biện pháp thích hợp nhất nhằm làm giảm bớt số vụ tai nạn xảy ra trên các
tuyến đường đen (theo định nghĩa tuyến đường đen kể trên)
Trang 151.2.2 Nội dung của đề tài:
- Phân tích mối tương quan của số vụ tai nạn xảy ra tại địa bàn thành phố tương
ứng với các hành vi gây tai nạn, loại xe gây tai nạn, thời gian trong ngày xảy ra tai nạn,
nhóm tuổi bị thương vong trong tai nạn, tỷ lệ giới tính bị tai nạn tai nạn và hình thức
va đâm của tai nạn qua việc phân tích các thống kê trong các năm 2005, 2006, 2007,
2008
- Phân tích các yếu tố chính dẫn đến xảy ra tai nạn trong giao thông đường bộ,
đặc biệt là yếu tố nhận thức của người dân khi tham gia giao thông và yếu tố điều kiện
đường thông qua việc thu thập thống kê số liệu nhận thức của người dân và đánh giá
các hệ số tai nạn của một số tuyến đường đen
- Từ việc phân tích các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông, đưa ra các biện
pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân hiệu quả hơn, đồng thời là việc áp dụng
các biện pháp nâng cao hiệu quả lưu thông và điều hành giao thông trên địa bàn thành
phố, và một vài biệp pháp giao thông nhằm giảm số tai nạn trên một số tuyến đường đen
- Thể hiện số liệu tai nạn của các “tuyến đường đen” trên bản đồ điện tử thành
phố Hồ Chí Minh bằng phần mềm Google Earth
1.3 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:
Do năng lực và thời gian hạn chế, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nguyên nhân
chính, đó là nhận thức của người dân khi tham gia giao thông, dẫn đến các tai nạn xảy ra
tại thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời đề xuất một vài biện pháp chính nhằm nâng cao
nhận thức và một vài biện pháp giao thông tại một số “tuyến đường đen” trên thành phố
1.4 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI:
Chương 1: Giới thiệu chung về đặc điểm hạ tầng giao thông, tình hình giao thông
tại thành phố Từ đó thấy được những vấn đề quan trọng và cấp thiết cần nghiên cứu
trong đề tài để làm giảm số tai nạn xảy ra
Chương 2: Giới thiệu các tài liệu, các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Chương 3: Tổng quan về các nguyên nhân gây ra tai nạn và giới thiệu các biện
pháp tương ứng cho từng nguyên nhân
Trang 16Chương 4: Phân tích các số liệu tai nạn tại thành phố và khảo sát phân tích các
yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi vi phạm an toàn giao thông theo thuyết hành vi
hoạch định (TPB)
Chương 5: Nhận xét các biện pháp đã và đang thực hiện tại thành phố nhằm làm
giảm tai nạn giao thông, khảo sát phân tích nhận thức của người dân về thực tế tình hình
an toàn giao thông tại thành phố Từ đó đề xuất biện pháp tuyên truyền giáo dục ý thức
hiệu quả hơn và một vài biện pháp cải thiện giao thông tại một số tuyến đường đen
Chương 6: Minh họa số liệu các vụ tai nạn tại 50 tuyến đường do phòng cảnh sát
giao thông đường bộ phụ trách bằng phần mềm Google Earth
Chương 7: Kết luận và kiến nghị hướng nghiên cứu tiếp tục để nhằm hoàn thiện
hơn các biện pháp ngăn ngừa và làm giảm các vụ tai nạn giao thông tại thành phố
Trang 17CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ĐÃ THỰC HIỆN TRƯỚC ĐÂY
2.1 CÁC TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN:
2.1.1.Các báo cáo số liệu tai nạn giao thông đường bộ các năm 2005, năm 2006,
năm 2007, năm 2008, 6 tháng đầu năm 2009 của Phòng Cảnh sát Giao thông đường
bộ-CA.Hồ Chí Minh:
Kể từ năm 2005, phòng cảnh sát giao thông đường bộ chỉ đảm trách kiểm tra
giám sát tình hình giao thông ở các tuyến trọng điểm, còn lại là do các quận huyện tự
đảm trách Tuy nhiên để thuận lợi cho việc tổng hợp tình hình giao thông toàn thành phố,
các quận huyện phải gửi các số liệu theo dõi giám sát về phòng Vì vậy trong các báo cáo
này, các số liệu đã được phân loại theo từng đơn vị phụ trách Ngoài ra, trong các bản
báo cáo này, số vụ tai nạn đã được thống kê lại theo các tiêu chí nguyên nhân, thời gian,
loại phương tiện gây tai nạn,…
2.1.2.Các báo cáo công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông các năm 2005,
2006, 2007, 2008 của Ban An toàn giao thông-Sở Giao thông vận tải Tp.Hồ Chí Minh:
Thông qua các số liệu có được bên Cảnh sát giao thông, Ban an toàn giao thông
đã đưa ra tổng kết về tình hình giao thông tại thành phố trong mỗi năm Từ đó, Ban an
toàn đã đề ra các biện pháp nhiệm vụ trọng tâm trong năm kế tiếp nhằm nâng cao tình
hình trật tự an toàn giao thông trên các lĩnh vực đường sắt, đường bộ và đường thủy
2.1.3.Giáo trình “Thiết kế và khai thác đường ô tô, đường thành phố theo quan
điểm an toàn giao thông” của PGS.TS Nguyễn Xuân Vinh – trường Đại Học Tôn Đức
Thắng Tp.Hồ Chí Minh – nguyên cán bộ giảng dạy trường Đại học Xây dựng Hà Nội,
được xuất bản tháng 4 năm 2007 đã giới thiệu những kiến thức về phương pháp và nội
dụng thiết kế đường ô tô và đường thành phố trong các đô thị theo quan điểm an toàn
giao thông và những vấn đề liên quan một cách có hệ thống Nội dung bao gồm việc
khảo sát phân tích các nguyên nhân điều kiện đường, điều kiện thiên nhiên, các phương
tiện giao thông ảnh hưởng đến an toàn xe chạy cũng như các phương pháp đánh giá mức
độ an toàn giao thông và phương pháp thiết kế đường ô tô và đường thành phố theo quan
điểm an toàn xe chạy Đây là cơ sở để quy hoạch bố trí giao thông đô thị, làm nền tảng
Trang 18cho việc quản lý trật tự an toàn giao thông đô thị được tốt hơn
2.2 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
- Nghiên cứu hiệu quả của dự định ở khách bộ hành trong việc họ băng qua
đường ở Trung Quốc: một ứng dụng của thuyết hành vi hoạch định (Ronggang zhou,
William J.Horrey, Ruifeng Yu)
Nghiên cứu này được trình bày dựa trên cuộc điều tra mang tính khảo sát sự ảnh
hưởng của các yếu tố như tuổi, giới tính và dự định phù hợp khi qua đường của khách bộ
hành Trung Quốc, trong những tình huống có thể gây nguy hiểm Số mẫu là 426, và họ
đã hoàn tất bộ câu hỏi mang tính nhân khẩu học, đo lường dự định của họ hướng tới sự
phù hợp mang tính xã hội, và bộ câu hỏi dựa trên thuyết hành vi hoạch định Bộ câu hỏi
này đo lường mục đích của việc băng qua đường trong 2 tình huống qua đường khác
nhau, thái độ dẫn đến hành động (hành vi), những quy tắc riêng (mang tính cá nhân),
nhận thức việc kiểm soát hành vi, phán đoán sự việc, quy tắc đạo đức, và nhận thức về sự
nguy hiểm Có 2 tình huống được dàn cảnh: tình huống 1 ở ngã tư đường thích hợp cho
hành vi qua đường (Conformity scenario) và tình huống 2 thì ở ngã tư không thích hợp
cho hành vi qua đường (Non-Conformity scenario) Những khách bộ hành tường thuật
lại khả năng có thể xảy ra ở ngã tư đường khi những khách bộ hành khác qua đường
Những người có khuynh hướng cộng đồng cũng là người dự định qua đường rõ ràng hơn
những người thiếu khuynh hướng cộng đồng trong cả 2 tình huống Mô hình dự đoán cho
thấy có sự khác nhau (36% và 48%) giữa 2 nhóm có tình huống khác nhau (không thích
hợp và thích hợp) Thái độ, quy tắc cá nhân, nhận thức việc kiểm soát hành vi, và nhận
thức về sự xuất hiện nguy hiểm như những người dự báo thông thường cho cả 2 tính
huống Kết quả cho thấy có mối liên quan giữa lý thuyết và thực hành Đặc biệt, những
sự can thiệp nên tập trung vào nhận thức về sự nguy hiểm cho người đi đường và người
qua đường với họ đề phòng dấu hiệu không an toàn và bị cấm, và có thể dẫn đến hậu quả
tiêu cực
- Nghiên cứu áp dụng thuyết hành vi hoạch định vào việc phân tích hành vi lái xe
tải và việc tuân theo những qui định (Damian R.Poulter, Peter Chapman, Peter A.Bibby,
David D.Clarke, David Crundall)
Trang 19Một nghiên cứu sử dụng thuyết hành vi hoạch định hướng tới những tài xế xe tải
để giúp hiểu hành vi lái xe và hành vi tuân theo Thông qua việc phân tích kiểm tra khả
năng giải thích các yếu tố trực tiếp và gián tiếp liên quan đến hành vi lái xe tự báo cáo và
hành vi tuân theo qui định của thuyết hành vi hoạch định Qui luật hành vi lái xe tải
không thay đổi liên quan nhiều đến thái độ, nguyên tắc chủ quan, và những dự định hơn
là nhận thức kiểm soát hành vi Đối với hành vi tuân theo những qui định lái xe tải ở
Anh, kiểm soát hành vi có nhận thức có tác động trực tiếp và rộng lớn nhất Những kết
quả khác nhau trong việc phân tích mối tương quan giữa hành vi lái xe và hành vi tuân
theo đề xuất sự can thiệp trong tương lai nhằm phát triển hành vi tuân theo luật lệ bằng
các hướng tiếp cận khác nhau
-Nghiên cứu “Quy hoạch tổng thể và Nghiên cứu khả thi về giao thông đô thị khu
vực Tp.Hồ Chí Minh” do cơ quan hợp tác Quốc Tế Nhật Bản (JICA) và Trung tâm
nghiên cứu phát triển Giao thông vận tải Phía Nam (TDSI – South) thực hiện Thông qua
khảo sát thực địa về Giao thông vận tải (đếm phương tiện, đếm phương tiện tại giao lộ,
tốc độ chạy xe, bãi đỗ xe, và phỏng vấn hộ gia đình, phỏng vấn hành khách và người
điều khiển phương tiện cá nhân … nghiên cứu đã nắm bắt được thực trạng giao thông
vận tải và các vấn đề giao thông đô thị Tp.Hồ Chí Minh Nghiên cứu là tài liệu tham
khảo rất có giá trị về phương pháp tiến hành cũng như cách thực hiện chọn mẫu Tuy
nhiên, đề tài không đi sâu vào hành vi ứng xử của những người tham gia giao thông – là
một trong những nguyên nhân chính gây ra trạng ùn tắc và tai nạn giao thông ngày càng
nghiêm trọng như hiện nay Đồng thời, thực trạng giao thông thời điểm nghiên cứu cho
đến nay cũng đã có nhiều thay đổi nên những bài học và giải pháp rút ra hầu như không
còn phù hợp trong bối cảnh giao thông hiện nay của Tp.HCM
- Công ty Consumer Behavior & Insight (2008) nghiên cứu hành vi và thái độ của
người tham gia giao thông tại thành phố Hồ Chí Minh để đo lường mức độ tham gia lưu
thông, xác định những hành vi lưu thông ảnh hưởng không tốt đến hoạt động giao thông,
đặc biệt là tình trạng kẹt xe, tìm hiểu thái độ của người tham gia lưu thông liên quan đến
vi phạm lưu thông và việc lưu thông nói chung
-Đề tài “Xây dựng ý thức thị dân của thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình
phát triển đô thị văn minh hiện đại” của TS Nguyễn Hữu Nguyên được Hội đồng khoa
học Sở KH&CN xét duyệt và đang triển khai thực hiện trong 2 năm 2007 – 2008, đã có
Trang 20đề cập đến một phần nội dung về nâng cao ý thức giao thông của người dân thành phố
Tuy nhiên đề tài này chưa hoàn thành và cách tiếp cận bước đầu chủ yếu tập trung phân
tích trên nhiều lĩnh vực khác nhau trong xã hội và có hướng nhắm đến các đối tượng là
dân nhập cư tại Tp.HCM
- Trịnh Tú Anh, Trịnh Thùy Anh (2007) nghiên cứu về tai nạn xe buýt tại Thủ đô
Hà Nội Các tác giả nghiên cứu hệ thống xe buýt là một trong những nguyên nhân gây
nên sự gia tăng tai nạn giao thông ở Hà Nội Nghiên cứu áp dụng phương pháp hệ thống
để tìm nguyên nhân chính của tai nạn xe buýt thông qua việc phân tích hoạt động của xe
buýt Họ phát hiện ra rằng các chính sách hiện thời của chính phủ, thái độ lái xe buýt, hệ
thống hạ tầng kỹ thuật nghèo nàn và việc quản lý hệ thống các công ty xe buýt đã góp
phần vào việc gia tăng tai nạn và tình trạng giao thông tồi tệ
- Nguyễn Hữu Hà (2007) nghiên cứu về an toàn giao thông đường bộ: nguyên
nhân và giải pháp Tai nạn giao thông là một trong những vấn đề khó khăn nhất và gây
nên rất nhiều tranh luận mạnh mẽ trong nhiều năm ở Việt Nam Tác giả đã nghiên cứu
phân tích những nguyên nhân gây nên tai nạn giao thông và đề xuất những giải pháp cụ
thể Các nguyên nhân được tác giả đề cập: sự thiếu hụt cơ sở lý thuyết và tổng quan về
tai nạn giao thông, những chính sách mâu thuẫn trong an toàn giao thông, sự yếu kém
trong hệ thống vận chuyển công cộng, sự nghèo nàn và lạc hậu của hạ tầng kỹ thuật,
không tiếp cận nguồn lực xã hội để phát triển giao thông công cộng, sự phát triển không
cân bằng của giao thông Từ đó tác giả đã đề ra các giải pháp như: nghiên cứu cơ sở lý
thuyết để có cái nhìn tổng quan và sự hiểu biết toàn diện về an toàn giao thông, tăng
cường sự hợp tác và phối hợp giữa các ban ngành chức năng để giải quyết các vấn đề an
toàn giao thông, phát triển cân bằng giữa lưu lượng tham gia giao thông và phương tiện
vận chuyển, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến để hiện đại hóa hạ tầng giao thông, sửa
chữa và duy tu hệ thống giao thông…
-Đề tài “Hệ thống công trình kỹ thuật đô thị Tp.Hồ Chí Minh thực trạng và giải
pháp” KS.Vũ Thị Hồng đã tập trung nghiên cứu chủ yếu vào nội dụng “phần cứng” của
hạ tầng kỹ thuật, trong đó mô tả khá rõ nét về thực trạng hệ thống cầu đường trên địa bàn
thành phố Tiếp theo sau đó, tác giả KS.Vũ Thị Hồng đã nghiên cứu đề tài “Tác động
của tổ chức phân luồng giao thông đến phát triển kinh tế Tp.Hồ Chí Minh”, qua đó đã đi
sâu vào khía cạnh phân luồng giao thông như một giải pháp đột phá góp phần giải quyết
Trang 21giao thông đô thị Tác giả đã đề cập đến tổng quát tình hình vận tải hàng hóa tại Tp.Hồ
Chí Minh, đánh giá hiện trạng tổ chức vận tải hàng hóa ở Tp.Hồ Chí Minh, đặc điểm về
tổ chức vận tải hàng hóa, hiện trạng mạng lưới đường đô thị, đường chiến lược khu vực
bên ngoài, bến bãi, đường sông, cảng biển, đường hàng không, đường sắt, các khu và
cụm công nghiệp, các tuyến vận tải hàng hóa, nguyên nhân ùn tắc giao thông, tình hình
phân luồng giao thông ở Tp.Hồ Chí Minh qua các năm Sau khi tổng quan các mặt tác
động của việc phân luồng vận tải hàng hóa, tác giả đã đề xuất một số giải pháp cấp bách
về phân luồng giao thông đô thị Tp.Hồ Chí Minh
- Soobeom LEE, Sooil Lee (2007): phát triển phương pháp dự đoán an toàn giao
thông dựa trên kỹ thuật mô phỏng người lái xe Trong bài nghiên cứu này, thông qua mô
hình 3D và các máy quay kỹ thuật để xác định các hình ảnh mà người lái xe cảm nhận
được trong quá trình lái xe trên tuyến đường thiết kế ; từ đó có thể ước lượng được sự an
toàn của tuyến đường được thiết kế
- Tadashi HAMADA, Takayuki KAWAJI (2007) nghiên cứu mặt cắt ngang
đường xác định có xảy ra tai nạn; các số liệu đo tập trung vào các mặt cắt mà tác giả gọi
là “vùng đỏ” “Vùng đỏ” bao gồm chỉ khoảng 7% tổng số mặt cắt được quản lý, nhưng
lại chiếm khoảng 65% ngân sách dùng để ngăn ngừa tai nạn giao thông Vì vậy theo đề
nghị của tác giả, nên tập trung ngân sách vào việc khắc phục các mặt cắt này hơn là đầu
tư ngân sách vào việc làm giảm tai nạn giao thông
- Tri TJAHJONO (2007) nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố hình học đến nguy
cơ tai nạn ở các con đường có thu thuế ở Indonesia Theo tác giả, những yếu tố này bao
gồm: bề rộng làn đường, bề rộng vai đường, sự có mặt của hàng rào an toàn, đèn đường,
dải phân cách, đường cong nằm và địa hình.Những nguy cơ tai nạn được suy ra thông
qua sự co dãn của mỗi biến quan trọng
- Fajaruddin Mustakim, Ismail Yusof, Ismail Rahman, Abdul Aziz Abdul Samad,
Nor Esnizah Binti Mohd Salleh (2008), nghiên cứu điểm đen và mô hình dự đoán tai nạn
bằng cách sử dụng hàm hồi qui tuyến tính đa bội Yếu tố làm gia tăng chấn thương trong
các tai nạn ô tô bao gồm sự lơ là khi lái xe, yếu tố môi trường và điều kiện đường sá
Mục đích của nghiên cứu này để phát triển mô hình dự đoán tai nạn cho tuyến Federal 50
bằng cách sử dụng việc phân tích hàm hồi qui tuyến tính đa bội Số vụ tai nạn có thể
Trang 22được thay đổi (giảm đi) bằng cách giảm lối vào trên mỗi Km đường chính, giảm tốc độ
xe chạy, giảm lưu lượng xe mỗi giờ
- Patrycja Padlo, Lisa Aultman-Hall, Nikiforos Stamatiadis (2005) nghiên cứu
hành khách và các yếu tố khác ảnh hưởng đến sự an toàn của người lái trẻ và người lái
già.Mục đích của nghiên cứu này để thiết lập mối tương quan giữa người lái trẻ hoặc già
ở Connecticut đến việc gây ra các va chạm giao thông khi: đi vào ban đêm, đi trên
những cấp đường khác nhau (xa lộ, tuyến liên bang, đường địa phương), đi với những số
lượng hành khách khác nhau Kết quả chỉ ra rằng hiểm họa tai nạn xảy ra đối với người
lái trẻ tăng vào ban đêm, trên xa lộ cũng như trong việc tăng số lượng hành khách Đối
với người lái già, điều này cũng tăng vào ban đêm, trên xa lộ, tuy nhiên lại ít đi đối với
trường hợp có hành khách
2.3 NHẬN XÉT:
Nhìn chung, qua tổng quan một số đề tài nghiên cứu có liên quan, kết quả cho
thấy những đề tài nghiên cứu tuy có đề cập đến hành vi giao thông trên đường, liên quan
đến yếu tố con người, cũng như các yếu tố khác như điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông,
…mặc dù những công trình trên đã cung cấp tư liệu mang tính tham khảo về bối cảnh
giao thông, hỗ trợ trong việc tiếp cận những vấn đề về lý luận, thực tiễn giao thông đô thị
trên thế giới và ở Việt Nam, cũng như một vài nghiên cứu tâm lý hành vi gây tai nạn ở
các đối tượng khác không phải đối tượng giao thông chính ở thành phố (xe máy là chủ
yếu) Qua thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân nghiêm trọng gây ra tình trạng
tai nạn giao thông hiện nay ở Tp.Hồ Chí Minh là do sự thiếu nhận thức của người tham
gia giao thông về an toàn xe chạy dẫn đến hành vi có khả năng gây tai nạn cao trong quá
trình điều khiển phương tiện Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến
an toan giao thông tại Tp.Hồ Chí Minh và các biện pháp cải tạo một số tuyến đường đen”
sẽ nỗ lực xác định nguyên nhân của các hành vi vi phạm, tìm ra được mức độ ảnh hưởng
của các yếu tố chính dẫn đến hành vi vi phạm dễ gây ra tai nạn nhất thường gặp, , từ đó
sẽ đề xuất giải pháp tập trung cải thiện những hành vi giao thông tiêu cực hay xảy ra nhất
hiện nay
Trang 23CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN CÁC NGUYÊN NHÂN TAI NẠN VÀ BIỆN PHÁP TƯƠNG ỨNG
3.1 NHỮNG NGUYÊN NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN AN TOÀN GIAO THÔNG:
Nguyên nhân chủ yếu gây ra tai nạn giao thông là sự thiếu ý thức của người điều khiển phương tiện; ngoài ra còn có các nguyên nhân khác ảnh hưởng là hạ tầng giao thông, đó là cách hành xử của những người xử lý các vụ vi phạm giao thông; bên cạnh
đó công tác quản lý của các ban ngành chuyên môn và các luật lệ qui định cũng ảnh hưởng gián tiếp đến tình hình an toàn giao thông
3.1.1 Do ý thức của người tham gia giao thông : Đây là nguyên nhân cốt lõi
gây ra các hành vi vi phạm Do nhiều người đi vội đi tắt, không nhường đường đã vi phạm an toàn giao thông đường bộ Một số phụ huynh khi đưa đón con đã đậu xe tràn xuống lòng đường một cách thản nhiên và hình ảnh về sự thiếu ý thức trong giao thông tại các cổng trường là khá phổ biến (mặc dù có giảm đi trong năm trật tự đô thị)
Ngoài ra, các lý do rất thường gặp như chở công kềnh, vừa đi xe vừa nghe di động; do quên mở đèn khi trời tối; do người ngồi sau không đội nón bảo hiểm; do dừng quá vạch sơn qui định khi đèn đỏ; do lưu thông ngược chiều hoặc do vượt đèn đỏ, chiếm
tỷ lệ cũng không nhỏ Riêng số người đi xe ô tô, lý do đứng chờ, đậu xe dưới lòng đường cũng là hành vi vi phạm thường thấy Đây là thói quen khá phổ biến của những người lái
xe ô tô, nhất là trong điều kiện các bãi đậu xe rất khan hiếm trong trong khu vực trung tâm thành phố Vì vậy, việc nghiên cứu bố trí các bãi đỗ và đậu xe trong các khu vực trung tâm cần được chú ý nhiều hơn trong thời gian tới
Có thể nói rằng đây là nguyên nhân chính đã dẫn đến các hành vi vi phạm và các tai nạn giao thông Thực tế cho thấy, nhiều tuyến đường bị kẹt xe vô tội vạ, vẫn bắt nguồn từ tâm lý muốn vượt qua nhanh, nên không ai chịu nhường ai của những người điều khiển phương tiện.Chiếm tỷ lệ cao nhất là những hành vi vi phạm bắt nguồn từ nguyên nhân do chủ quan, do lấn tuyến hoặc chở nhiều người và tập trung nhiều ở số người đi xe gắn máy Đây là thói quen khá phổ biến của những người đi xe gắn máy, một
Trang 24phần do mặt đường chặt hẹp, một phần do buôn bán hoặc đậu xe tràn lan dưới lòng đường nên buộc người điều khiển phải lấn tuyến sai qui định và bị thổi phạt Nguyên nhân này có liên quan đến hạ tầng giao thông, đường xá của thành phố chưa đạt chuẩn, cùng với hiện tượng lấn chiếm lòng, lề đường càn trầm trọng thêm tình hình giao thông trong nội thành Vì vậy, việc dọn sạch và thông thoáng lòng đường, lề đường có thể góp phần hạn chế những trường hợp lấn tuyến hoặc vượt tuyến sai qui định Bên cạnh đó, việc chở nhiều cũng bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết khi điều khiển giao thông
Ngoài ra, còn có nguyên nhân người điều khiển phương tiện giao thông mong muốn tránh kẹt xe, đườn hẹp nên đã vi phạm giao thông như quay đầu xe (ô tô, xe máy) hoặc đi vào các con đường cấm…và từ đó dẫn đến các tai nạn Nguyên nhân này cũng bắt nguồn từ sự nóng vội, muốn đi nhanh hơn, khi gặp sự cố kẹt xe
Thực tế quan sát cho thấy, vào ban ngày tại các ngã tư, ngã năm có đèn giao thông hay có CSGT đứng thì hầu hết như không có vượt đèn đỏ Tuy nhiên nếu chúng ta
ra đường buổi sáng sớm hoặc khuya muộn, đường phố rất vắng vẻ và CSGT hầu như không trực nữa, đến bất cứ ngã tư nào chúng ta đều thấy rất nhiều xe máy vượt đèn đỏ, chỉ rất ít ô tô và một vài người đi xe máy là dừng lại
Như vậy, kết quả điều tra đã góp phần khẳng định, ý thức chấp hành khi điều khiển giao thông là yếu tố tiên quyết trong mọi yếu tố, cần tổ chức thực hiện có hiệu quả hơn trong thời gian tới để phòng tránh và làm giảm số vụ tai nạn nghiêm trọng xảy ra
3.1.2 Do hạ tầng giao thông : Hạ tầng giao thông liên quan đến điều kiện đường
xá như: chật hẹp, phân luồng tuyến chưa khoa học và biển báo chưa hợp lý, các đoạn giao cắt không bố trí đèn tín hiệu phù hợp, dải phân cách, các tiểu đảo, các đoạn cong, tầm nhìn bị hạn chế, …đặc biệt là các công trình đào đường xây rào chắn gây ra cản trở lưu thông và dễ dẫn đến tâm lý vi phạm giao thông Hiện nay, tại một số công trình có rào chắn đào đường, hành vi leo lề của các phương tiện tham gia giao thông, vô hình trung đã tạo thói quen vi phạm trật tự an toàn giao thông, nhưng vẫn phải chấp nhận, do không có đường nào khác để di chuyển Ngoài ra, do làn đường thường quá hẹp, khộng còn chỗ trống nên các loại xe gắn máy buộc lòng phải lấn sang phần đường dành cho xe
4 bánh, vi phạm an toàn giao thông đường bộ Do lề đường không còn chỗ cho người đi
bộ nên phần lớn người dân đều có thói quen phải dùng xe cá nhân để di chuyển, tạo áp lực thêm cho đường xá vốn đã quá chật hẹp như hiện nay Hầu hết diện tích lòng đường
Trang 25đều sử dụng phần giữa, diện tích hai bên sát lề đường rất ít khi sử dụng, do đã bị các xe hoặc khách bộ hành lấn chiếm
Ngoài ra, nguyên nhân khác là do biển báo bị che khuất, thiếu đèn đường nên không thấy đã dẫn đến vi phạm Đây là nguyên nhân do hạ tầng giao thông yếu kém, thuộc về trách nhiệm của các nhà quản lý giao thông, do chưa lắp đặt biển báo đầy đủ và hợp lý Nguyên nhân này có liên quan đến một số bộ phận người dân cho rằng do không biết đường ngược chiều nên đã vi phạm Từ đó cho thấy các biển báo vẫn chưa được bố trí hợp lý, cùng với nguyên nhân do tâm lý cứ làm theo mọi người, nên mặc dù thấy bảng cấm nhưng vẫn đi vào đường ngược chiều cùng với nhiều người khác
3.1.3 Do công tác quản lý giao thông và luật lệ qui định: Thông thường các loại
xe gắn máy và xe tải thường gây ra các lỗi vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ nhiều nhất, kế đến là xe taxi và ô tô con Các loại phương tiện này thường vi phạm lỗi tránh vượt không đúng quy định Do xe gắn máy quá rẻ, về phương tiện lưu thông cũng như về bằng lái, về giá xăng … nên nhiều người nhận thấy đi xe gắn máy là phương tiện tối ưu nhất và ai cũng có thể sắm xe để chạy (không có qui định nào hạn chế), đã góp phần làm gia tăng số lượng xe cá nhân lên đáng kể
Một số hành vi gây lỗi vi phạm trong trật tự an toàn giao thông đường bộ đôi lúc chưa được luật điều chỉnh kịp thời Ngay cả mức xử phạt đôi khi cũng chưa mang tính răn đe Do vậy, hiện nay trong quá trình áp dụng luật giao thông đường bộ, chính phủ tiếp tục cập nhật và điều chỉnh bổ sung sao cho rõ ràng và phù hợp
3.1.4 Do những người điều hành xử lý giao thông : Cảnh sát giao thông là
người điều hành xử lý các vụ vi phạm giao thông và đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu các hành vi vi phạm giao thông Việc xử phạt nghiêm minh và đúng luật sẽ có tác dụng răn đe và giúp người vi phạm nhận thức được những lỗi vi phạm và không còn tái phạm Ngay cả việc hài hòa giữa việc cảnh cáo, nhắc nhở, có thể có tác dụng răn đe tốt hơn là mạnh tay xử phạt một cách cứng nhắc Việc điều tiết tại các giao lộ trọng yếu chủ yếu vẫn là lực lượng công an thành phố, phòng cảnh sát đường bộ, công an quận huyện, thanh tra giao thông, thanh niên xung phong… trực tiếp điều khiển Tuy nhiên lực lượng này còn quá dàn trải và không đủ đáp ứng nhu cầu Đa số các hành vi vi phạm giao thông xảy ra ở những chỗ không có người điều khiển giao thông Ngoài ra, mặc dù lực lượng cảnh sát giao thông có nhiệm vụ giữ gìn trật tự giao thông đường phố, tuy
Trang 26nhiên đôi lúc do quá nhiều người vi phạm nên thổi phạt không xiết, nên phải lơ là, không thể nghiêm khắc xử phạt, nhất là vào thời điểm kẹt xe phải lo giải tỏa lưu thông
3.1.5 Nhận xét:
Qua các nguyên nhân ở trên chúng ta vẫn thấy nguyên nhân ý thức, nhận thức đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phòng tránh các tai nạn xảy ra một cách trực tiếp nhất (do các hành vi dẫn đến tai nạn thường do sự thiếu ý thức và sự chủ quan của người điều khiển phương tiện) Vì vậy ở phần sau, đề tài sẽ đi sâu vào nghiên cứu về các yếu tố thuộc về tâm lý có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của người điều khiển phương tiện theo thuyết hành vi hoạch định (TPB) Ngoài ra, cũng do yếu tố hạ tầng giao thông
có liên quan trực tiếp đến các vụ tai nạn giao thông, nên đề tài cũng sẽ nghiên cứu về vấn
đề này ở các phần sau Còn hai nguyên nhân khác đã phân tích ở trên, do điều kiện nghiên cứu hạn chế nên trong phần nghiên cứu này, các nguyên nhân đó sẽ không được
đề cập đến
3.2 NHỮNG TÁC NHÂN ĐIỀU KIỆN ĐƯỜNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN AN TOÀN GIAO THÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ AN TOÀN KHI THIẾT
KẾ ĐƯỜNG THEO TIÊU CHUẨN AN TOÀN GIAO THÔNG:
3.2.1.Thực trạng chung của điều kiện đường tại Tp.Hồ Chí Minh:
Nguyên nhân hạ tầng giao thông còn bất cập cần được chú ý, qua đó tạo tiền đề để góp phần nâng cao ý thức của người tham gia lưu thông Theo số liệu thống kê gần đây nhất, mật độ diện tích đường giao thông so với tổng diện tích của Tp.Hồ Chí Minh chỉ mới đạt 2,0% mật độ diện tích đường trên đầu người là 1,48m2/người Trong khi đó, theo tiêu chuẩn các nước tiên tiến, để đáp ứng nhu cầu giao thông thông suốt, mật độ diện tích đường so với diện tích chung phải đạt từ 10 – 20%, chỉ số mật độ diện tích đường so với diện tích chung phải đạt từ 6 – 10m2/người Với số liệu trên cho thấy quỹ đất dành cho giao thông tại Tp.HCM hiện nay còn quá thấp
Không những thế các đối tượng tham gia giao thông còn bị gây không ít trở ngại bởi việc lấn chiếm lòng lề đường Tình trạng lấn chiếm vỉa hè diễn ra khá phổ biến ở nhiều quận nội thành, điển hình là quận 1, quận 3 (đường Điện Biên Phủ, Nguyễn Thông…) quận 5 (đường Nguyễn Văn Cừ, Huỳnh Mẫn Đạt, Trần Phú) Việc sử dụng lề đường làm nơi buôn bán hàng hóa, ăn uống vẫn còn diễn ra phổ biến nhiều nơi, kể cả
Trang 27khu vực trung tâm thành phố Nhiều bãi giữ xe tư nhân dựng ngay trên lề đường vẫn chưa dẹp, xe gắn máy gần như cản hết lối đi của người đi bộ Việc lấn chiếm vỉa hè để kinh doanh buôn bán cũng góp phần làm người đi bộ phải đi xuống lòng đường và ảnh hưởng đến các phương tiện đang lưu thông
Mật độ giao thông tĩnh không tăng, trong khi phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tăng nhanh đột biến gây áp lực quá tải cho hạ tầng giao thông Toàn thành phố mỗi tháng có 960 ô tô và 38.000 xe máy đăng ký mới, dự kiến mỗi năm tăng thêm gần 15.000 xe ô tô dưới 10 chỗ ngồi và 454.000 xe gắn máy tham gia giao thông Ngoài ra,
số lượng xe mang biển kiểm soát các tỉnh, chiếm tỷ lệ đáng kể Theo số liệu của Phòng CSGT, phương tiện giao thông phát triển nhanh với cơ cấu tham gia giao thông hỗn hợp, phức tạp, trong đó khoảng 25,3% là xe đạp, xe máy là 63,2% xe con 3,6% xe tải 1,1% và
xe buýt chỉ chiếm khoảng 6,7% trong tổng số phương tiện đi lại Trong khi đó, hệ thống
cơ sở vật chất hạ tầng cho giao thông lại chậm được nâng cấp, mở rộng, nhất là các phương tiện vận tải công cộng, tuyến đường vành đai, hệ thống cầu vượt được xây dựng mới không theo kịp tốc độ phát triển của các phương tiện cá nhân, làm cho cơ sở hạ tầng
đô thị bị quá tải và xuống cấp nhanh Sự cố kẹt xe liên tục xảy ra cả trong và ngoài giờ cao điểm, tại nhiều tuyến đường giao thông trong nội thành thành phố
Phương tiện tham gia giao thông nhiều nhưng đường thì hẹp và có quá nhiều đường ngang Tại các giao lộ, vận tốc di chuyển quá chậm, có nhiều đèn đỏ, thiếu bãi đỗ xe… là nguyên nhân khách quan của nhiều hành vi vi phạm giao thông Thêm một yếu tốt bất lợi nữa là năm nay Tp.Hồ Chí Minh vẫn còn tiếp tục tiến hành triển khai thi công cải tạo các công trình hạ tầng đào đường Dự báo rằng từ năm 2009 trở đi, người dân khi
ra đường, sẽ phải lưu thông với tốc độ khá chậm và các hành vi vi phạm giao thông gia tăng là điều không thể tránh khỏi Những yếu tố trên cho thấy bức tranh giao thông Tp.Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều phức tạp và điều này ảnh hưởng khá lớn đến các hành vi
vi phạm an toàn giao thông của các phương tiện đang lưu thông trên đường
3.2.2.Ảnh hưởng của các yếu tố bình đồ tuyến đến an toàn xe chạy:
Khi xem xét ảnh hưởng của bình đồ đến an toàn xe chạy, chúng ta phải xem xét các vấn đề sau:
-Đối với đường cong nằm: bán kính đường cong cùng các thông số của chúng
Trang 28như: chiều dài, góc ngoặt và mức độ thay đổi độ ngoặt của đường cong, độ cong của đường vòng, quan hệ giữa các bán kính cong kề liền, vị trí và số lần bố trí bán kính cong trên bình đồ
-Đối với các tuyến thẳng: xem xét và lựa chọn chiều dài các đoạn thẳng, vị trí của các đoạn thẳng, quan hệ giữa đoạn thẳng và đoạn cong, đặc biệt lưu ý khoảng cách tầm nhìn vì đây là nguyên nhân thường thấy trong các tai nạn giao thông
*Ảnh hưởng bán kính đường cong nằm ảnh hưởng đến an toàn xe chạy:
Theo các tài liệu nghiên cứu thống kê ở nhiều tuyến đường, nhiều tác giả trên thế giới đã xác nhận một qui luật chung là: đường được thiết kế và xây dựng với bán kính đường cong nằm càng nhỏ thì tai nạn xe chạy càng tăng
*Ảnh hưởng chiều dài đường cong, độ cong, mức độ thay đổi góc ngoặt (góc chuyển hướng) của đường cong nằm:
Mức độ biến đổi độ ngoặt của các đường cong này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thay đổi của tốc độ khai thác Do đó, trị số biến đổi góc ngoặt đường cong càng nhỏ thì tốc độ xe chạy khai thác càng tăng và càng nâng cao được an toàn xe chạy; ngược lại, đường cong có trị số biến đổi góc ngoặt lớn thì khả năng mất an toàn xe chạy tăng lên
*Ảnh hưởng của các bán kính đường cong nằm kề liền:
Chênh lệch tốc độ quá lớn giữa các đường cong bố trí kề liền khiến lái xe không
đủ khả năng xử lý chính xác các tình huống xảy ra là nguyên nhân dẫn đến các tai nạn giao thông
*Ảnh hưởng việc bố trí và số lần bố trí các đường cong trên bình đồ:
Các đường cong được bố trí tại những góc ngoặt càng lớn thì trường nhìn của lái
xe càng bị thu hẹp và nguy cơ mất an toàn xe chạy càng tăng Vị trí đặt đường cong trên các đường có độ dốc dọc cũng dễ xảy ra tai nạn giao thông do biến dạng không gian tạo nên cảm thụ thị giác sai lệch quang học của lái xe khi nhìn và đánh giá không đúng về đường cong Tai nạn cũng có thể xảy ra trong trường hợp khi xe vừa đi vào đường cong lại vừa xuống dốc mà xe lại hỏng phanh Số vụ tai nạn trên đường cong nói chung tăng khi độ dốc dọc tăng
Đối với mật độ bố trí đường cong, với đường cong có bán kính lớn thì ảnh
Trang 29hưởng của mật độ bố trí đến an toàn xe chạy là không đáng kể, nhưng với các đường cong bán kính nhỏ, ảnh hưởng này cần được xem xét cụ thể
*Ảnh hưởng của chiều dài đoạn thẳng:
Đoạn thẳng được thiết kế càng có chiều dài càng lớn thì tai nạn càng tăng vì khi chạy trên các đường dài lái xe thường rất chủ quan, ít chú ý kiểm tra tốc độ và thường cho xe chạy với tốc độ cao nên nếu gặp sự cố bất thường lái xe sẽ không kịp xử lý và gây tai nạn Đồng thời tuyến dài với phong cảnh đơn điệu sẽ tạo cho lái xe phản ứng chậm chạp, thêm vào đó tiếng động cơ của xe kêu đều đều, ô tô bị lắc lư qua lại sẽ làm lái xe
ức chế thần kinh gây nên sự mệt mỏi và lái xe dễ rơi vào trạng thái buồn ngủ, thậm chí ngủ gật khi đang lái
*Ảnh hưởng tầm nhìn trên bình đồ tuyến:
Khoảng cách tầm nhìn bao gồm tầm nhìn trên bình đồ và tầm nhìn trên trắc dọc
Khoảng cách tầm nhìn không đảm bảo là một trong những nguyên nhân xảy ra tai nạn khi các xe cùng chiều vượt nhau hoặc hai xe ngược chiều cùng đi vào đường cong bán kính nhỏ Tuy nhiên tùy thuộc vị trí và tần số phân bố của chúng mà mức độ ảnh hưởng của tầm nhìn có khác nhau Trên nhiều đoạn đường mặc dù được thiết kế với các yếu tố hình học bảo đảm cho xe chạy với tốc độ cao nhưng tầm nhìn không đủ sẽ là nơi xảy ra nhiều tai nạn
*Ảnh hưởng của đoạn tuyến có nút giao thông ngang mức:
Các nút giao ngang mức là trở ngại đối với an toàn giao thông, nhất là với đường cao tốc giao cùng mức với các đường ô tô cấp thấp có lưu lượng xe chạy không cao và tốc độ xe chạy thấp Những nguy hiểm có thể xảy ra tại nút giao ngang mức do những nguyên nhân sau:
-Khi đi vào nút giao, chế độ chuyển động của các dòng xe có nhiều thay đổi, các dòng xe rẽ trái thường gây khó khăn cho các dòng xe đi thẳng; các xe đi sau thường không phán đoán được ý định của các xe đi trước muốn đi thẳng hay rẽ phải, rẽ trái nên các lái xe đi sau dễ rơi vào trạng thái bị động khi phải xử lý các tình huống bất ngờ do xe trước gây ra
-Do dòng xe có thành phần phức tạp với nhiều loại phương tiện có tốc độ xe chạy khác nhau, khi vào nút giao sẽ cản trở nhau Ở trường hợp này, động thái “sốt ruột”
Trang 30của các lái xe muốn vượt xe trước để rẽ ngoặt rất dễ gây tai nạn
-Trong phạm vi nút giao bằng tầm nhìn thường bị hạn chế (nhỏ hơn tầm nhìn trên đường thẳng)
Các yếu tố thiết kế trên bình đồ của nút giao ảnh hưởng đến an toàn giao thông gồm:
-Lưu lượng xe chạy
-Tầm nhìn
-Góc giao nhau giữa đường chính và đường phụ
-Vị trí các nơi giao cắt, nhập dòng, tách dòng cùng số các tuyến đường vào nút Lưu lượng xe chạy càng cao thì mức độ tai nạn càng tăng, đặc biệt tại chỗ giao nhau giữa trục đường chính với các đường nhỏ có lưu lượng xe chạy thấp Khoảng cách tầm nhìn không đủ trong phạm vi nút giao thông, như ở vị trí xe tăng tốc nhập vào đường chính là một trong những điều kiện xảy ra tai nạn
Giao nhau cùng mức giữa đường ô tô hoặc đường đô thị với đường sắt là những nơi có thể xảy ra hiểm họa tai nạn giao thông
*Ảnh hưởng của đoạn tuyến đi qua khu dân cư:
Các tuyến đường ô tô đi qua các khu dân cư với lượng xe cộ qua lại ngày càng tăng gây trở ngại lớn cho việc đi lại sinh hoạt của người dân và thường xuyên gây ra tai nạn giao thông Để cải thiện tình trạng này thường có hai cách: làm tuyến tránh vòng qua khu dân cư, đặt biển báo giảm tốc độ
3.2.3.Ảnh hưởng của các yếu tố trắc dọc đến an toàn xe chạy:
Ảnh hưởng của trắc dọc đường đến an toàn xe chạy bao gồm các yếu tố:
Trang 31xe đi trước; xe mất khả năng hãm phanh do hệ thống hãm xe bị hỏng nên lái xe không điều khiển được
-Khi lên dốc, do tầm nhìn bị che khuất bởi đỉnh dốc nên lái xe không thấy xe đang leo dốc đối diện
Trên đoạn đường có độ dốc càng lớn thì tai nạn xảy ra càng tăng
*Ảnh hưởng của tầm nhìn trên trắc dọc:
Khi tầm nhìn trên trắc dọc bị giảm hoặc bị hạn chế thì nguy cơ xảy ra tai nạn sẽ tăng lên Ngoài ra, cần xem xét khoảng cách tầm nhìn của lái xe trên các đoạn trắc dọc phối hợp có độ dốc khác nhau về trị số chiều lên và xuống trong quá trình xe chạy
3.2.4.Ảnh hưởng của các yếu tố trắc ngang đến an toàn xe chạy:
Các yếu tố trắc ngang có ảnh hưởng đến an toàn xe chạy bao gồm:
-Bề rộng phần xe chạy và số làn xe
-Bề rộng lề đường
-Dải phân cách
-Bó vỉa và dải mép
*Ảnh hưởng của bề rộng phần xe chạy:
Kích thước lớn nhỏ của bề rộng phần xe chạy ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn giao thông Phần xe chạy có bề rộng càng hẹp thì càng gây khó khăn cho lái xe khi tránh nhau, vượt xe hoặc gặp xe đi ngược chiều Việc thay đổi bề rộng phần xe chạy của mặt cầu so với bề rộng phần xe chạy của đường sẽ làm tăng giảm tai nạn giao thông
*Ảnh hưởng của lề đường:
Kích thước lề đường rộng hay hẹp, được gia cố hay không gia cố; tình trạng của
lề đường (bằng phẳng, lồi lõm, độ cứng,…) có ảnh hưởng không nhỏ đến điều kiện xe chạy
Lề đường có bề rộng hẹp thường làm tăng tai nạn giao thông là do những nguyên nhân sau:
-Khi xe đang chạy trên đường gặp sự cố phải lao ra lề với tốc độ cao do lề quá hẹp đã ko thể dừng lại trong phạm vi lề đường
-Các ô tô trên lề có bề rộng hẹp sát ngay làn xe ngoài cùng sẽ làm giảm hiệu quả
Trang 32bề rộng của phần xe chạy khiến cho lái xe khi điều khiển ô tô đến gần nơi xe đỗ có xu hướng cho xe lấn sang làn xe bên cạnh hay làn xe của các xe đi ngược chiều tạo nên tình huống gây tai nạn
*Ảnh hưởng của dải mép, bó vỉa và dải phân cách:
Hiện tượng hư hỏng ở mép phần xe chạy dọc theo đường thường là do mép bị gãy giống như hiện tượng cóc gặm, sau đó phát triển rộng ra phía phần xe chạy, tạo nên các ổ gà gây nguy hiểm cho xe chạy và làm giảm bề rộng thực tế mặt đường Hiện tượng các xe va quệt nhau khi tránh các mép, ổ gà là nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông
Dải phân cách nếu có chiều cao đủ thì vào ban đêm có thể ngăn các tia chiếu sáng đèn pha của xe đi ngược chiều, không làm cho lái xe bị chói mắt và điều khiển xe chạy được an toàn Bề rộng của dải phân cách có ý nghĩa an toàn đến xe chạy Khi tăng
bề rộng dải phân cách số tai nạn giảm
3.2.5.Đánh giá điều kiện xe chạy bằng hệ số tai nạn:
Trên mỗi một đoạn đường riêng biệt được thiết kế tùy thuộc vào các đặc trưng hình học, sự phối hợp giữa bình đồ và trắc dọc cũng như các thông số kĩ thuật được lựa chọn thiết kế đều khát nhau; điều kiện đường bị chi phối bởi các yếu tố thiên nhiên, khí hậu ở mỗi đoạn tuyến cũng khác nhau Do đó khả năng xảy ra tai nạn giao thông trên các đoạn đường khác nhau là không giống nhau
Mặt khác , trong quá trình xe chạy ảnh hưởng của các nhân tố về điều kiện đường đến an toàn giao thông bao gồm hai loại: Các nhân tố không đổi của đường (đó là kích thước hình học của tuyến và của nền đường…) và các nhân tố biến đổi
Tùy thuộc vào điều kiện thời tiết khí hậu Đối với các nhân tố thường xuyên thay đổi của điều kiện đường thường khó đánh giá bằng các chỉ tiêu cụ thể và chúng ảnh hưởng không nhiều so với các nhân tố không thay đổi của tuyến đã được thiết kế và xây dựng
Để thể hiện ảnh hưởng của tất cả yếu tố của điều kiện đường đến an toàn xe chạy giáo sư V.f.Babcôv (Nga) đã đề nghị xem xét ảnh hưởng của từng yếu tố của đường và xác suất tương đốicủa tai nạn giao thông trên từng đoạn được đánh giá bằng hệ số tai nạn tổng quát Hệ số này được xác định bằng tích các hệ số tai nạn từng phần, phản ánh ảnh
Trang 33hưởng của các yếu tố riêng biệt của bình đồ, trắc ngang, tình trạng của mặt đường, lề đường
Như vậy hệ tai nạn tổng quát (Utn) được xác định bằng tích của các biến cố độc lập (Ui) với ui là hệ số tai nạn của nhân tố i
Utn =
m
i i
u
1
=u1.u2.u3….u14 Trong đó:
u1 - hệ số xét ảnh hưởng của lưu lượng xe chạy;
u2 - hệ số xét ảnh hưởng của số làn xe (n);
u3 - hệ số xét ảnh hưởng của bề rộng phần xe chạy ;
u4 - hệ số xét ảnh hưởng của bề rộng lề đường;
u5 - hệ số xét ảnh hưởng của tầm nhìn trên bình đồ;
u6 - hệ số xét ảnh hưởng của độ dốc dọc;
u7 - hệ số xét ảnh hưởng của bán kính đường cong nằm;
u8 - hệ số xét ảnh hưởng của chênh lệch giữa bề rộng cầu và bề rộng phần xe chạy của đường;
u9 - hệ số xét ảnh hưởng của khoảng cách giữa nhà cửa xây dựng đến phần xe chạy của đường;
u10 - hệ số xét ảnh hưởng của trị số khác nhau của hệ số bám giữa bánh xe với mặt đường;
u11 - hệ số xét ảnh hưởng của phần xe chạy có phân làn và không phân làn;
u12 - hệ số xét ảnh hưởng của chiều dài các đoạn thẳng;
u13 và u14 – hệ số xét ảnh hưởng của loại hình nút giao thông
Từ những kết quả tính hệ số tai nạn tổng cộng và dựng biểu đồ hệ thống tai nạn cho từng đoạn trong quá trình thiết kế hay quá trình khai thác tuyến đường hiện hữu ta có thể đánh giá được mức độ an toàn xe chạy trên từng đoạn và đưa ra những giải pháp để nâng cao an toàn giao thông trên những đoạn đường nguy hiểm Cụ thể như sau :
- Đối với các đoạn tuyến có hệ số tai nạn tổng cộng Utn 15 ta coi như thỏa mãn điều kiện về an toàn
- Đối với các đoạn tuyến có hệ số tai nạn tổng cộng Utn = 15 – 40 thì cần thiết phải
có biện pháp để cải thiện tổ chức giao thông như : sơn vạch phần xe chạy, cấm vượt xe, cắm biển báo hạn chế tộc độ…
Trang 34- Đối với các đoạn đường có hệ tai nạn tổng cộng Utn > 50 thì cần phải cải tạo nâng cấp, đại tu
3.3 TÌNH HÌNH CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG AN TOÀN GIAO THÔNG TẠI TP.HỒ CHÍ MINH:
Trước tình hình giao thông ngày càng trở nên nghiêm trọng, Ban An toàn giao thông đã xây dựng kế hoạch thựa hiện 8 nhóm giải pháp cấp bách trong năm 2008, bao gồm: (1) Nhóm giải pháp phân công phân nhiệm minh bạch; (2) Nhóm giải pháp tuyên truyền; (3) Nhóm giải pháp tăng cường năng lực quản lý nhà nước; (4) Nhóm giải pháp kiểm tra xử phạt vi phạm về giao thông; (5) Nhóm giải pháp trật tự độ thị; (6) Nhóm giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng giao thông; (7) Nhóm giải pháp phân luồng tuyến và (8) Nhóm giải pháp phát triển vận tải hành khách công cộng giảm phương tiện giao thông cá nhân
Liên quan đến chủ đề nghiên cứu của đề tài, có 2 giải pháp khá bức xúc hiện nay, bao gồm (1) giải pháp tuyên truyền, trong đó tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật giao thông của người tham gia giao thông; (2) giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, trong đó giải pháp nâng cấp và xây dựng biển báo, là hai giải pháp cần được tập trung làm rõ
3.3.1 Về công tác tuyên truyền :
3.3.1.1 Nhận định chung :
Công tác giáo dục, tuyên truyền vận động, phổ biến pháp luật trật tự an toàn giao thông cho mọi đối tượng tham gia giao thông để mọi người tự giác chấp hành là biện pháp quan trọng hàng đầu Chính phủ đã yêu cầu tất cả các cơ quan Nhà nước, chính quyền các cấp, các tổ chức Chính Trị xã hội, các đoàn thể các cơ quan thông tin, báo chí phải đặc biệt quan tâm, thực hiện thường xuyên, kiên trì và liên tục Cùng với cả nước, UBND các quận huyện và các sở ban ngành Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xây dựng những chương trình dành riêng cho việc tuyên truyền, giáo dục an toàn giao thông như là một chức năng nhiệm vụ tại địa phương mình
Cụ thể các chương trình được thực hiện như sau :
3.3.1.2 Các quận huyện :
Trang 35Chương trình tuyên truyền ở các quận huyện được thực hiện khá phong phú bao gồm như tổ chức các buổi nói chuyện tuyên truyền, in và phân phát tờ rơi, dựng các pano, áp phích, khẩu hiệu, quán triệt yêu cầu thực hiện công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đến tổ dân phố và các khu dân cư… những năm gần đây ở một số quận huyện như quận 1,5,11… còn có các tổ đi bộ dọc đường để tuyên truyền, hoặc ở quận 6,12… cũng có các hình thức tuyên truyền khác như biểu diễn văn nghệ, triển lãm tranh ảnh và phát tờ rơi…
3.3.1.3 Ủy ban mặt trận tổ quốc Thành Phố và quận huyện :
Ngoài việc phổ biến pháp luật về trật tự an toàn giao thông, Ủy ban mặt trận Tổ quốc Thành Phố và quận huyện còn phối hợp với ban chỉ đạo “Toàn dân đăng ký xây dựng đời sống văn hóa” cùng cấp và một số cơ quan đoàn thể tổ chức các lớp tập huấn về nội dung và phương pháp tiến hành công tác tuyên truyền vận động mọi người thực hiện trật tự an toàn giao thông, lồng ghép một số nội dung của luật giao thông đường bộ vào tiêu chuẩn thi đua công tác Mặt trận quận huyện, tiêu chuẩn xây dựng khu dân cư xuất sắc – văn hóa, tiến hành các đợt ra quân tuyên truyền, lập lại trật tự đô thị trong các đợt cao điểm và tháng an toàn giao thông, đặt pano, khẩu hiệu, phát tờ rơi (cả bằng tiếng Hoa) cẩm nang tuyên truyền về luật giao thông đường bộ và cả tờ “Cam kết không lấn chiếm lòng, lề đường vỉa hè” đến các hộ kinh doanh, buôn bán…”
3.3.1.4 Liên đoàn Lao động Thành Phố, Thành Đoàn :
Ban An toàn giao thông Thành Phố phối hợp với Liên đoàn lao động và Thành đoàn Thành phố tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề trật tự an toàn giao thông cho công nhân ở một số khu công nghiệp-chế xuất, thực hiện chiến dịch tuổi trẻ hành động
“Vì trật tự an toàn giao thông” hưởng ứng tháng an toàn giao thông quốc gia, tổ chức các đội hình thanh niên tình nguyện Mùa hè xanh tham gia tuyên truyền luật giao thông đường bộ điều phối giao thông tại các giao lộ giữ gìn trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn Thành phố
3.3.1.5 Sở Giáo dục và Đào tạo :
Cùng với việc thực hiện nội dung giáo dục về trật tự an toàn giao thông theo chương trình như đưa vào giảng dạy cho học sinh tiểu học, kết hợp với môn giáo dục công dân cho học sinh trung học… Sở Giáo Dục và Đào Tạo còn phối hợp với Ban An
Trang 36Toàn giao thông Thành phố tổ chức các cuộc thi đồ dùng dạy học về trật tự an toàn giao thông, thí điểm xây dựng Công viên vui học về luật giao thông đường bộ, công trình thi đua “Cổng trường em sạch đẹp an toàn”…
Song song đó, theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của UBND Thành phố, Sở còn phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ thực hiện công tác kiểm tra, xử lý đối với học sinh điều khiển xe gắn máy mà không có giấy phép lái xe theo qui định, đồng thời có văn bản chỉ đạo các trường THPT và các đơn vị trực thuộc thực hiện qui định cụ thể đối với học sinh, những yêu cầu đối với phụ huynh và vai trò trách nhiệm của các Hiệu trưởng trong việc thực hiện công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông trong trường học
3.3.1.6 Sở văn hóa và thông tin (Sở VHTT) :
Nội dung thực hiện công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông được Sở VHTT phối hợp với Ủy ban mặt trận tổ quốc Thành phố xác định đưa vào tiêu chí Khu phố Văn hóa cho các quận huyện thống nhất thực hiện, in ấn tuyên truyền các bộ ảnh về an toàn giao thông, tổ chức các cuộc thi tranh cổ động về chủ đề tai nạn giao thông đường bộ, tổ chức thi sáng tác bài hát về lĩnh vực hoạt động đảm bảo trật tự an toàn giao thông… các hoạt động này thu hút được nhiều đối tượng tham gia, trong đó có nhiều người ở tỉnh thành khác
Cùng với các hoạt động trên, các báo, đài và truyền hình thành phố cũng rất quan tâm và tích cực đưa tin và các bài nói về những qui định của nhà nước về công tác an toàn giao thông, trên các tờ báo xuất bản hàng ngày và chương trình truyền hình hàng ngày đều có các trang chuyên mục và các tiết mục thông tin tuyên truyền về trật tự an toàn giao thông
3.3.2 Biện pháp cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông :
Bên cạnh các biện pháp tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức người tham gia giao thông thì cũng cần hạn chế các tác nhân khách quan tác động đến các hành vi tiêu cực của người dân trong cải thiện cơ sở hạ tầng Cụ thể :
3.3.2.1 Trước mắt
- Biện pháp hàng đầu vừa cấp bách vừa lâu dài được nhiều người đề xuất là mở rộng đường, xây cầu vượt, làm thêm các đường mới
Trang 37- Ban an toàn giao thông Thành phố phối hợp với cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông và các đơn vị chức năng (quản lý hệ thống đèn điều khiển giao thông, đèn chiếu sáng) khắc phục các khiếm khuyết của hệ thống đèn tín hiệu giao thông, đèn chiếu sáng công cộng (cụ thể là tránh hiện tượng rò điện gây tử vong như một số trường hợp gần đây) Tập trung đầu tư biển báo hiệu giao thông, dải phân cách, vạch sơn phân làn, phân tuyến, kiểm tra hàng rào hành lang an toàn đường sắt, và nâng chốt trực gác tại các điểm giao cắt giữa đường bộ và đường sắt, đề xuất nâng cấp một số đường ngang để tạo thuận lợi và an toàn cho người lưu thông hình thành thói quen lưu thông đúng luật cho người dân
- Biển báo cần đặt đúng vị trí và đặt trên cao để dễ nhìn thấy Sửa đổi biển báo bằng chữ chuyển sang dạng hình tượng, để dễ nhận biết Đề nghị rào chắn đào đường sau khi san lấp, cần tái lập và sơn vẽ lại
- Bên cạnh đó, muốn phát triển giao thông công cộng thì phải có lề đường cho dân
đi bộ Chính vì vậy, cần phối hợp với Ủy ban nhân dân, ban an toàn giao thông quận – huyện kiểm tra, giải tỏa triệt để các trường hợp nhà xây dựng lấn chiếm hành lang an toàn giao thông đường bộ, lấn chiếm lòng – lề đường để kinh doanh, buôn bán gây cản trở giao thông
3.3.2.2 Lâu dài:
- Triển khai nhanh chóng quy hoạch phát triển giao thông đến năm 2025 theo hướng thiết kế qui hoạch tổng thể toàn bộ hệ thống đường giao thông đô thị, xây dựng các tuyến đường vành đai và một số tuyến đường trục xuyên tâm, là các tuyến đường cao tốc dành ưu tiên chủ yếu cho các phương tiện công cộng
- Tại các ngã 3,4,5,6 cần tổ chức lưu thông nhanh bằng các vòng xuyến, cầu vượt
và hầm, hạn chế đèn đỏ Xe máy có thể đi trên vòng xuyến trên cao, ô tô đi trên mặt đường
- Bố trí các điểm đỗ cho phương tiện ngoại tỉnh tại các đường vành đai trước khi vào nội đô, nghiên cứu mạng lưới các trường mầm non, tiểu học để tổ chức xe buýt đưa đón học sinh, sinh viên theo khu vực, giờ đưa đón từ 6h30 – 7h30 trên các tuyến để giải quyết việc đưa đón học sinh cho các gia đình Trên xe buýt có giáo viên đi kèm để quản
lý học sinh do các cháu còn nhỏ chưa thể tự mình tham gia giao thông Ngoài ra, có thể
Trang 38ban hành chính sách khuyến khích học sinh và sinh viên đến trường bằng xe buýt (qua hình thức cấp phát miễn phí hoặc bán vé với giá rẻ)
3.3.3 Biện pháp nâng cao công tác quản lý
- Ngoài những biện pháp chế tài nghiêm ngặt bằng quy định của pháp luật, cũng cần có biện pháp thi hành kiểm tra, kiểm soát việc ứng dụng những điều luật này phổ biến hiệu quả và phát huy tính tự giác, tự nguyện chấp hành trong thực tiễn Đây là vấn
đề quan trọng quyết định sự thành công của một dự án giao thông đô thị
- Đồng thời mạnh dạn xem xét điều chỉnh qui hoạch, điều chỉnh các khu chức năng mà trong quá khứ đã đặt sai vị trí Nếu những dự án chưa triển khai mà thấy có khả năng ảnh hưởng đến việc quản lý giao thông sau này thì mạnh dạn cho ngưng hoặc điều chỉnh chức năng
- Thực hiện rà soát, bổ sung, điều chỉnh các phương án phân luồng, hoàn thiện các phương án tổ chức giao thông nội đô, nghiên cứu triển khai thí điểm phương án phân làn cho từng loại phương tiện (trước mắt là xe 02 bánh và ô tô)
- Quản lý để giảm số lượng xe gắn máy phải thông qua hình thức hạn chế quyền
sử dụng hơn là hạn chế quyền sở hữu Điều này liên quan đến việc tổ chức thi cử, cấp phép lái xe ngày càng khó khăn để hạn chế bớt số người lưu thông Quản lý chặt chẽ quy trình cấp phép lái xe
3.3.4.Biện pháp tăng cường lực lượng điều hành xử lý giao thông:
- Có biện pháp xử lý nghiêm khắc những cán bộ, chiến sĩ có hành vi tiêu cực trong kiểm tra, xử lý vi phạm về trật tự an toàn giao thông
- Tăng cường xử phạt vi phạm qua hình ảnh ghi được từ camera… thực hiện nghiêm túc công tác quản lý và kiên quyết xử lý việc lấn chiếm sử dụng vỉa hè, lòng lề đường làm nơi buôn bán, xử lý nghiêm khắc các tổ chức, cá nhân vi phạm qui định
- Nâng cao năng lực sử dụng trung tâm điều khiển giao thông, xử phạt nghiêm khắc các hành vi vi phạm
- Tăng cường lực lượng cảnh sát giao thông đảm bảo đủ số lượng tại các giao lộ, các tuyến đường hay ùn tắc theo Quyết định 334/2005/QĐ-TTG ngày 15/12/2005 của Thủ tướng Chính Phủ về việc phê duyệt đề án “Tăng cường biên chế, trang thiết bị và đào tạo cho lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ” Từ nay đến năm 2010, thành phố
Trang 39sẽ tăng thêm 1.000 cảnh sát giao thông Trong thời gian chờ lực lượng CSGT được tăng cường từ các trường đào tạo, tiếp tục duy trì các lực lượng hiện nay như trật tự viên thanh niên xung phong và dân quân tự vệ tham gia điều hòa giao thông Để tăng cường năng lực cho lực lượng hỗ trợ này cần có công tác tập huấn ngắn hạn
Trang 40CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH TAI NẠN GIAO THÔNG TẠI
TP.HỒ CHÍ MINH
4.1 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH:
- Bước 1: Phân tích các số liệu số vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Tp.Hồ Chí Minh (nguồn số liệu ñược tham khảo từ Ban an toàn giao thông Tp.Hồ Chí Minh) Từ ñó rút ra những nội dung chính làm cơ sở cho việc khảo sát thu thập số liệu ở bước 2
- Bước 2: Thu thập số liệu xác ñịnh mức ñộ ảnh hưởng của các yếu tố ñến hành vi
vi phạm an toàn giao thông theo thuyết hành vi hoạch ñịnh (TPB) thông qua việc phát phiếu khảo sát cho người dân
- Bước 3: Phân tích và ñánh giá các kết quả về mức ñộ ảnh hưởng của các yếu tố ñến hành vi vi phạm an toàn giao thông bằng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA)
4.2 PHÂN TÍCH CÁC SỐ LIỆU TAI NẠN GIAO THÔNG TẠI TP.HỒ CHÍ
MINH:
4.2.1.Phân tích nguyên nhân xảy ra tai nạn:
Bảng 1: Thống kê số vụ tai nạn, số người tử vong, số người bị thương do các nguyên nhân vi phạm gây ra vào các năm 2005, 2006, 2007, 2008 (Trích từ nguồn Ban An toàn giao thông Tp.Hồ Chí Minh)
Số vụ Số người tử vong Số người bị thương