1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích thành phần chủ yếu (principal component analysis method) để chọn thầu xây lắp

116 49 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ mục tiêu nghiên cứu như trên tác giả mong đợi thu được những kết quả như sau: - Ứng dụng được phương pháp phân tích thành phần chủ yếu trong công tác chọn thầu xây lắp nhằm chọn được

Trang 1

-oOo -

VŨ HOÀNG PHI LONG

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN CHỦ YẾU (PRINCIPAL COMPONENT ANALYSIS METHOD) ĐỂ CHỌN THẦU XÂY LẮP

Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG

Mã số ngành : 60.58.90

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP HỒ CHÍ MINH, Tháng 11 năm 2008

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học :………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cán bộ chấm nhận xét 1:………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cán bộ chấm nhận xét 2:………

………

………

………

………

………

………

………

………

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày tháng năm

Trang 3

NGÀNH: CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG Trang: ii

Tp HCM, ngày tháng năm 200 …

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: Vũ Hoàng Phi Long Phái: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 29 – 11 – 1980 Nơi sinh: Kiên Giang

Chuyên ngành: Công Nghệ Và Quản Lý Xây Dựng

Khóa (năm trúng tuyển): 2006

1- TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THÀNH

PHẦN CHỦ YẾU (PRINCIPAL COMPONENT ANALYSIS METHOD) ĐỂ CHỌN THẦU XÂY LẮP

2- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

- Nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích thành phần chủ yếu (principal component analysis method - PCA) để chọn thầu xây lắp

- Xác định các tiêu chí đánh giá nhà thầu tại Việt Nam

- Xây dựng mô hình chọn thầu xây lắp đa tiêu chí dựa trên lý thuyết phương pháp phân tích thành phần chủ yếu – PCA ở Việt Nam

3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 15-06-2008

4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 30-11-2008

5- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN (Ghi rõ học hàm, học vị, họ, tên): PGS TS NGUYỄN

THỐNG

Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội đồng chuyên ngành thông qua

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên em xin chân thành cảm ơn thầy hướng dẫn Phó Giáo Sư Tiến Sĩ NGUYỄN THỐNG, người thầy đã rất tận tâm và nhiệt tình giúp đỡ em trong suất quá trình thực hiện luận văn này Thầy đã sẵn sàng hướng dẫn và giải thích những thắc mắc của em bất cứ khi nào em cần Thầy cũng chủ động gặp gỡ để truyền đạt những kiến thức liên quan, đồng thời thầy đã hướng dẫn em phương pháp nghiên cứu nhằm hoàn thành tốt luận văn này

Em cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả các thầy cô trong bộ môn Thi Công Các thầy cô đã nhiệt tình dạy dỗ em những kiến thức bổ ích trong suất quá trình học tập để có thể thực hiện được luận văn này Em tin rằng những kiến thức

mà các Thầy cô đã truyền đạt cũng sẽ rất bổ ích cho em trong công việc sau này Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những người bạn đã ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suất khóa học cũng như trong lúc thực hiện luận văn này

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới những người thân trong gia đình, anh

em họ hàng đã cổ vũ về mặt tinh thần cũng như vật chất để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Trang 5

NGÀNH: CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG Trang: iv

TÓM TẮT

Trong lĩnh vực xây dựng, lựa chọn nhà thầu xây lắp luôn luôn là một công việc khó khăn của các nhà quản lý dự án Sự thành công hay thất bại của một dự án phụ thuộc rất nhiều vào các nhà thầu thực hiện dự án Họ chính là những người trực tiếp làm ra sản phẩm và vì vậy việc chọn ra những nhà thầu tốt nhất để thực hiện dự án luôn là công việc quan trọng nhất khi thực hiện dự án Để chọn ra được nhà thầu đủ năng lực các nhà khoa học đã nghiên cứu rất nhiều các phương pháp cũng như các tiêu chí đánh giá Và vấn đề về giá không còn là vấn để quan trọng nhất để quyết định chọn nhà thầu Do đó bài toán chọn thầu với nhiều tiêu chí đánh giá đã được ứng dụng để chọn thầu Tuy nhiên việc giải quyết bài toán này lại là một công việc rất khó khăn Đã có nhiều phương pháp đước các tác giả nghiên cứu để giải quyết bài toán trên như: Phương pháp mạng neuron, phương pháp mạng neuron mờ, phương pháp AHP…

Trong tài liệu này tác giả sẽ giới thiệu phương pháp phân tích thành phần chủ yếu (Principal component analysis method – PCA ) để giải quyết bài toán chọn thầu với nhiều tiêu chí đánh giá Các ví dụ từ các nghiên cứu trước đã được tác giả giải lại để so sánh với các phương pháp khác Kết quả so sánh cho thấy rằng phương pháp PCA và các phương pháp khác cho kết quả gần giống nhau và rất gần với thực

tế Từ đó chứng minh được phương pháp PCA hoàn toàn có thể được ứng dụng để chọn thầu vì tính đơn giản, khách quan cũng như tính hiệu quả của nó

Ngoài ra tác giả cũng lập bảng câu hỏi thu thập ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực chọn thầu để xây dựng mô hình chọn thầu xây lắp với nhiều tiêu chí đánh giá ứng dụng phương pháp PCA tại Việt Nam Các chuyên gia là những người làm những công việc liên quan đến quá trình chọn thầu như: tư vấn chấm thầu, lập kế hoạch đấu thầu, các kỹ sư xây dựng…

Trang 6

ABSTRACT

Contractor selection can be ragarded as a complicated, two-group, non-linear classification problem, so it is a difficult work for project managers Success or failure of a project depends on contractor’s works, so that contractor selection is one

of the most important works while performing project Many multi-criteria selection methods are proposed for contractor selection by many authorities In this study, a alternative empirical method using principal component analysis (PCA) is proposed for contractor selection The application and potential of PCA for contractor selection has been examined by way of three data sets: (1) 83 contractor cases (42 qualifired and 41 disqualified) collected in England by Khosrowshahi (1999) and (2) 14 contractor cases (7 qualifired and 7 disqualified) collected in United States Postal Service (USPS) by Sang Chan Park (1998) and (3) 4 contractor cases (2 qualifired and 2 disqualified) collected in Hong Kong The PCA-base results demonstrated that strong and positive inter-correlations existed between most of qualifying variables, and that qualified and disqualified contractors could be satisfactorily separated

In addition this study presents the multi-criteria contractor selection model for contractor selection in Việt Nam The model with 24 criterias collecting from many different resources and rated by Vietnamese experts, the results indicated that the cost is not the most important criterias, with coefficient being 0.183 and minimum coefficient being 0.024 for TC19 and the maximum being 0.221 for TC12

Trang 7

NGÀNH: CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG Trang: vi

MỤC LỤC

Trang

Chương I: Mở đầu

I.1 Giới thiệu ……… 1

I.2 Cơ sở chọn đề tài ……….2

I.3 Mục tiêu nghiên cứu………3

I.4 Phạm vi nghiên cứu……….3

I.5 Kết quả mong đợi ………4

Chương II: Tổng quan II.1 Tổng quan về công tác chọn thầu xây lắp ở Việt Nam ………5

II.1.1 Tình hình thực hiện đấu thầu ở Việt Nam ………5

II.1.2 Lựa chọn nhà thầu theo luật đấu thầu Việt Nam ……….7

II.1.2.1 Các hình thức lựa chọn nhà thầu theo luật đấu thầu Việt Nam ………7

II.1.2.1 Các phương thức lựa chọn nhà thầu theo luật đấu thầu Việt Nam …11 II.1.3 Quy trình đấu thầu theo Luật đấu thầu Việt Nam và hướng ứng dụng phương pháp phân tích thành phần chủ yếu để chọn thầu xây lắp … 14

II.1.3.1 Quy trình đấu thầu theo luật đấu thầu Việt Nam ……….14

II.1.3.2 Phân tích khả năng ứng dụng phương pháp phân tích thành phần chủ yếu để chọn thầu xây lắp ở Việt Nam ……… 19

II.2 Các nghiên cứu trước về phương pháp chọn thầu ……….20

II.2.1 Mạng neuron nhân tạo ………20

II.2.2 Phương pháp định lượng (Analytic Hierarchy Process - AHP) …… 21

II.2.3 Phương pháp mạng phân tích (Analytic network process - ANP) ….24 II.2.4 Phương pháp ứng dụng lý thuyết mờ (Fuzzy Set Theory) ………… 25

II.2.5 Phương pháp mạng neuron mờ ( Fuzzy neural network – FNN) ….26

II.3 Các nghiên cứu trước về tiêu chí chọn thầu ………29

II.4 Xác định các tiêu chí chọn thầu xây lắp ở Việt Nam ……….37

Trang 8

III.1 Lịch sử hình thành……….39

III.2 Các kiến thức liên quan ……….41

III.2.1 Các khái niệm cơ bản ……….41

III.2.1.1 Quán tính và momen quán tính……… …… 41

III.2.1.2 Mômen quán tính của một cố thể đối với một trục ……….42

III.2.1.3 Trục quán tính chính của một cố thể Mặt phẳng quán tính chính ….42 III.2.1.4 Khái niệm không gian p chiều và một số tính chất ……….44

III.2.2 Kiến thức thống kê cần thiết sử dụng trong phương pháp phân tích thành phần chủ yếu ……….45

III.2.2.1 Trọng tâm và momen quán tính của n phần tử ………46

III.2.2.2 Biến trung tâm hóa và chuẩn hóa ………46

III.2.2.3 Hệ số tương quan tuyến tính ………47

III.2.3 Véc tơ riêng và trị riêng của ma trận ……….48

III.3 Lý thuyết phương pháp PCA ………48

Chương IV: Ứng dụng phương pháp PCA để chọn thầu xây lắp IV.1 Các bước thực hiện chấm thầu xây lắp theo phương pháp PCA ………51

IV.2 Các ví dụ ứng dụng phương pháp PCA để chọn thầu xây lắp ………… 53

IV.2.1 Ứng dụng phương pháp PCA để đánh giá 83 nhà thầu ……….53

IV.2.2 Ứng dụng phương pháp PCA để đánh giá 14 nhà thầu ………… 66

IV.2.3 Ứng dụng phương pháp PCA để đánh giá 4 nhà thầu ………70

IV.3 Ứng dụng phương pháp PCA để xây dựng mô hình chọn thầu xây lắp ở Việt Nam ……….……… 74

IV.3.1 Thu thập dữ liệu ……….74

IV.3.2 Phân tích dữ liệu ……….75

IV.3.2.1 Phân tích thông tin chung ………75

IV.3.2.2 Thống kê mức độ ảnh hưởng của các tiêu chí đến việc lựa chọn nhà thầu xây lắp ở Việt Nam ….………80

IV.3.3 Xây dựng mô hình chọn thầu xây lắp dựa trên lý thuyết phương pháp PCA……… 82

Trang 9

NGÀNH: CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG Trang: viii

V.1 Kết luận ……….90

V.1.1 Kết quả nghiên cứu ……….90

V.1.2 Kết luận………90

V.2 Kiến nghị và hướng nghiên cứu tiếp theo ……….91

Trang 10

DANH SÁCH HÌNH ẢNH Hình 2.1: Phương thức đấu thầu 1 túi hồ sơ ……….11 Hình 2.2: Phương thức đấu thầu 2 túi hồ sơ ………12 Hình 2.3: Phương thức đấu thầu hai giai đoạn ……….13 Hình 2.4: Quy trình đấu thầu xây lắp theo luật đấu thầu Việt Nam ………… 18

Hình 2.5 : Cấu tạo của mạng neuron nhân tạo ……… 21 Hình 2.6 : Mô hình lựa chọn nhà thầu tốt nhất của FONG và CHOI ……….23 Hình 2.7 Mô hình chọn nhà thầu theo ANP của Eddie W.L Cheng và Heng Li …25 Hình 2.8 Mô hình mạng nueron mờ theo Lam ………26 Hình 3.1 Đồ thị điểm tổng quát của 73 nhà thầu ………… ……… 61 Hình 3.2 Đồ thị điểm tổng quát của 10 nhà thầu ………65

Trang 11

NGÀNH: CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG Trang: x

DANH SÁCH BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Các tiêu chí lụa chọn nhà thầu theo Zedan Hatush và Martin Skitmore

(1997) ………30

Bảng 2.2 Các tiêu chí lựa chọn nhà thầu cho dự án USPS của Sang Chan Park (1998) ………32

Bảng 2.3 Các tiêu chí chọn thầu của Farzad Khosrowshahi (1999) ………33

Bảng 2.4 Những tiêu chí chọn thầu theo K.C Lam (2000) ………34

Bảng 2.5 Những tiêu chí chọn thầu theo Fong và Choi (2000)………35

Bảng 2.6 Những tiêu chí chọn thầu theo Chee H Wong (2000) ………37

Bảng 2.7 Những tiêu chí chọn thầu tại Việt Nam ……… 38

Bảng 4.1 11 tiêu chí đánh giá nhà thầu theo Khosrowshahi (1999)……… 54

Bảng 4.2 Điểm của 73 nhà thầu theo Khosrowshahi (1999) ………55

Bảng 4.3 Điểm chuẩn hóa của 73 nhà thầu ……….57

Bảng 4.4 Kết quả chạy SPSS của 73 nhà thầu ……….58

Bảng 4.5 Điểm tổng quát của 73 nhà thầu ……… 61

Bảng 4.6 Điểm của 10 nhà thầu theo Khosrowshahi (1999) ……….62

Bảng 4.7 Điểm chuẩn hóa của 10 nhà thầu ……… 62

Bảng 4.8 Kết quả chạy SPSS của 10 nhà thầu ……….63

Bảng 4.9 Điểm tổng quát của 10 nhà thầu ………64

Bảng 4.10 Bảng so sánh kết quả với phương pháp mạng neuron của Khosrowshahi65 Bảng 4.11 Các tiêu chí đánh giá theo Sang Chan Park (1998) ………66

Bảng 4.12 Điểm đánh giá của 14 nhà thầu theo Sang Chan Park (1998) …………67

Bảng 4.13 Điểm chuẩn hóa của 14 nhà thầu theo Sang Chan Park (1998) ………67

Bảng 4.14 Kết quả chạy SPSS của 14 nhà thầu theo Sang Chan Park ………68

Bảng 4.15 Bảng điểm tổng quát của 14 nhà thầu theo phương pháp PCA và so sánh kết quả với phương pháp trí khôn nhân tạo của Sang Chan Park ……….69

Bảng 4.16 14 tiêu chí đánh giá nhà thầu theo K.C Lam (2001) ……… 70

Bảng 4.17 Điểm đánh giá 4 nhà thầu theo K.C Lam (2001) ……… 70

Bảng 4.18 Điểm chuẩn hóa của 4 nhà thầu theo K.C Lam ………71

Bảng 4.19 Kết quả chạy SPSS của 4 nhà thầu theo K.C Lam ………72

Trang 12

Bảng 4.21 Bảng so sánh kết quả với phương pháp FNN và GFNN của K.C.Lam 73

Bảng 4.22 Bảng kết quả phản hồi của cuộc khảo sát ý kiến chuyên gia ………….75

Bảng 4.23 Thời gian công tác trong ngành xây dựng của các chuyên gia tham gia trả lời bảng câu hỏi ……… 75

Bảng 4.24 Chức vụ hiện tại của các chuyên gia tham gia trả lời bảng câu hỏi ……76

Bảng 4.25 Trình độ chuyên môn của các chuyên gia tham gia trả lời bảng câu hỏi 76 Bảng 4.26 Thời gian hoạt động trong lĩnh vực xây dựng của đơn vị công tác của các chuyên gia tham gia trả lời bảng câu hỏi ……….77

Bảng 4.27 Lĩnh vực hoạt động xây dựng của đơn vị công tác của các chuyên gia tham gia trả lời bảng câu hỏi ………78

Bảng 4.28 Giá trị gói thầu xây lắp lớn nhất mà các chuyên gia tham gia trả lời bảng câu hỏi đã hoặc đang thực hiện ……… 78

Bảng 4.29 Vai trò của các chuyên gia tham gia trả lời bảng câu hỏi trong việc chọn thầu ………79

Bảng 4.30 Nhận xét của các chuyên gia tham gia trả lời bảng câu hỏi về phương pháp chọn thầu theo luật đấu thầu Việt Nam ……… 80

Bảng 4.31 Bảng tóm tắt kết quả khảo sát bằng bảng câu hỏi ……… 81

Bảng 4.32 Kết quả chạy SPSS của dữ liệu khảo sát ……….85

Bảng 4.33 Kết quả phân tích dữ liệu khảo sát ……….88

Trang 13

CHƯƠNG I

MỞ ĐẦU I.1 Giới thiệu

Sau hơn 20 năm, với chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có một

bước chuyển đổi cơ bản từ một nền kinh tế tập trung thành một nền kinh tế thị

trường đầy đủ Trong suốt thời kỳ này, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh

Mặc dù Việt Nam vẫn còn một khoảng cách khá xa so với các nước giàu có, song

với sự điều hành hợp lý của chính phủ Việt Nam, đầu tư nước ngoài ngày càng tăng,

và các yếu tố thuận lợi khác trong nước đang giúp cho nền kinh tế Việt Nam tiếp

tục phát triển và đất nước đang trở lên giàu mạnh hơn

Sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) kinh tế Việt Nam tiếp

tục khẳng định vị thế trên trường quốc tế Mặc dù có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại

trong 6 tháng đầu năm 2008 do sự bất ổn của kinh tế thế giới, đặc biệt là kinh tế Mỹ

đang có dấu hiệu suy thoái, tuy nhiên các nhà đầu tư nước ngoài vẫn rất tin tưởng

vào kinh tế Việt Nam, bằng chứng là lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào

Việt Nam (FDI) 8 tháng đầu năm 2008 là 47.15 tỷ USD gấp đôi năm 2007 và cao

nhất từ trước đến nay, theo dự đoán của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế -

xã hội Quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thì khả năng có thể đạt đến 50 tỷ USD

trong năm 2008

Song song với sự phát triển kinh tế thì không thể không kể đến sự phát triển

của ngành xây dựng Các dự án xây dựng ở Việt Nam ngày càng phức tạp hơn với

quy mô ngày càng lớn hơn Điều này đòi hỏi các nhà quản lý dự án ngày càng phải

sáng suất hơn trong quá trình thực hiện dự án Một trong những công việc quan

trọng nhất của những nhà quản lý dự án là tìm ra được những nhà thầu đủ năng lực

cả về tài chính cũng như kỹ thuật, con người nhằm thực hiện dự án thành công nhất

đảm bảo tiến độ, chi phí và chất lượng khi đưa vào sử dụng Để chọn được những

nhà thầu tốt nhất thì vấn đề chi phí không còn là vấn đề quan trọng nhất trong quá

Trang 14

trình chọn thầu Do đó đòi hỏi các nhà quản lý dự án phải chọn thầu với nhiều tiêu

chí khác nhau, và bài toán chọn thầu ngày càng trở nên phức tạp hơn

I.2 Cơ sở chọn đề tài

Đất nước ta trong những năm gần đây liên tiếp xảy ra những sự cố trong thi

công xây dựng không những gây thiệt hại rất lớn về người và của cải mà còn tạo sự

mất niềm tin của các nhà đầu tư vào nhà thầu thi công xây dựng nói riêng và ngành

xây dựng Việt Nam nói chung Vụ việc gần đây nhất mà hậu quả nghiêm trọng nhất

trong lịch sử ngành xây dựng Việt Nam là vụ sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ gây thiệt

hại rất lớn về người chưa kể các thiệt hại về kinh tế Ngoài ra dự án kinh Nhiêu Lộc

– Thị Nghè thi công chậm tiến độ không những gây thiệt hại rất lớn về kinh tế mà

còn tạo sự bất bình trong dư luận, ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của những hộ

gia đình dọc hai bên bờ kinh Nhiêu Lộc – Thị Nghè Các dự án thi công chậm tiến

độ, gặp sự cố trong thi công liên tiếp xảy ra mà phần lớn nguyên nhân là từ những

nhà thầu không đủ năng lực thực hiện dự án Từ những bức xúc đó khiến những

người làm xây dựng không thể không nghĩ đến việc cải tiến công tác chọn thầu thi

công xây lắp

Khi đất nước hội nhập với kinh tế thế giới thì một trong những đòi hỏi cấp

bách là phải có những quy chuẩn, tiêu chuẩn phù hợp với những tiêu chuẩn, quy

chuẩn của quốc tế Nói một cách cụ thể hơn là những gì có thể áp dụng tốt trên thế

giới thì cũng có thể áp dụng được ở Việt Nam Công tác chọn thầu cũng không

ngoại lệ so với quy luật đó Do đó việc áp dụng những phương pháp chọn thầu sao

cho chọn được nhà thầu tốt nhất để thực hiện dự án là điều hết sức cần thiết

Lâu nay công tác chọn thầu ở Việt Nam mặc dù đã ghi nhận được những

bước tiến rõ rệt nhưng vẫn còn đó những bất cập Vệc chọn thầu chủ yếu vẫn dựa

vào yếu tố giá mà chưa quan tâm một cách thích đáng đến các yêu cầu về kỹ thuật

Yếu tố kỹ thuật được nhắc đến một cách rất sơ sài với rất ít tiêu chuẩn được đưa ra

để đánh giá Chọn thầu với mục tiêu chính là giá thấp nhất chứ không phải là nhà

Trang 15

làm cho công việc đấu thầu mất đi tính cạnh tranh lành mạnh, từ đó gây ra những

hậu quả như trên là điều khó tránh khỏi

Trong công tác xây dựng, nhà thầu thi công xây lắp là nhà thầu quan trọng

nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của một dự án Do đó việc

chọn thầu xây lắp cần được quan tâm nhiều hơn trong quá trình thực hiện dự án Vì

vậy việc xây dựng mô hình ứng dụng những phương pháp mới trong công tác chọn

thầu xây lắp là một việc làm cấp bách và rất cần thiết trong điều kiện Việt Nam

Mô hình chọn thầu với nhiều tiêu chuẩn khác nhau sẽ chọn được nhà thầu có

năng lực tốt nhất, đủ khả năng để thực hiện tốt dự án và đem lại hiệu quả cao nhất

cho dự án Tuy nhiên việc lựa chọn nhà thầu xây lắp với nhiều tiêu chí đánh giá lại

là một bài toán hết sức phức tạp Chính vì sự phức tạp cũng như sự cần thiết của nó

mà tác giả muốn giới thiệu phương pháp Phân tích thành phần chủ yếu -

Principal component analysis method (PCA) để giải quyết bài toán trên một cách

đơn giản nhất và đem lại hiệu quả cao.

I.3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện hướng tới ba mục tiêu:

- Phân tích những hạn chế trong công tác chọn thầu xây lắp ở Việt Nam

- Nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích thành phần chủ yếu để chọn thầu

xây lắp

- Xây dựng mô hình chọn thầu xây lắp đa tiêu chí dựa trên lý thuyết phương

pháp phân tích thành phần chủ yếu - Principal component analysis (PCA) ở Việt

Nam

Trang 16

I.4 Phạm vi nghiên cứu

Do mục tiêu chính của tác giả là nhằm giới thiệu phương pháp phân tích

thành phần chủ yếu (PCA) trong công tác chọn thầu xây lắp nên việc thu thập dữ

liệu chưa được thực hiện một cách đầy đủ nhất Phạm vi nghiên cứu được giới hạn

như sau:

- Đối tượng khảo sát :

+ Các chuyên gia trong công tác chọn thầu xây lắp

+ Chủ đầu tư, các thành viên trong ban quản lý dự án

+ Các công ty tư vấn xây dựng, tư vấn đấu thầu

+ Các thành viên khác có liên quan đến công tác chọn thầu

+ Dữ liệu được thu thập chủ yếu tại Tp HCM và một số tỉnh khác

I.5 Kết quả mong đợi

Từ mục tiêu nghiên cứu như trên tác giả mong đợi thu được những kết quả

như sau:

- Ứng dụng được phương pháp phân tích thành phần chủ yếu trong công tác

chọn thầu xây lắp nhằm chọn được nhà thầu đủ năng lực về tất cả các mặt để thực

hiện dự án

- Xây dựng được hệ thống tiêu chuẩn chọn thầu dựa trên lý thuyết phương

pháp phân tích thành phần chủ yếu để chọn thầu xây lắp ở Việt Nam

Trang 17

CHƯƠNG II

TỔNG QUAN

II.1 Tổng quan về công tác chọn thầu xây lắp ở Việt Nam

II.1.1 Tình hình thực hiện đấu thầu ở Việt Nam

Trong những năm đầu khi đất nước mới thống nhất và bắt đầu xây dựng đất

nước, việc thực hiện đầu tư được thực hiện theo kế hoạch hàng năm thông qua kế

hoạch giao nhận thầu và như vậy không có đấu thầu để lựa chọn người thực hiện

Từ những năm 1989-1990, khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang cơ chế thị

trường thì vấn đề tổ chức đấu thầu là yêu cầu tất yếu Trong “Điều lệ quản lý đầu tư

và xây dựng” ban hành kèm theo Nghị định số 385-HĐBT ngày 7/11/1990 của Hội

đồng Bộ trưởng, đã xác định đấu thầu là yêu cầu cần thiết đối với các công trình xây

dựng cơ bản trong thời kỳ đó Để chi tiết hoá việc tổ chức thực hiện đấu thầu trong

xây dựng đối với các dự án đầu tư, ngày 12/2/1990, Bộ Xây dựng có Quyết định số

24/BXD-VKT ban hành “Quy chế Đấu thầu trong xây dựng”

Quy chế Đấu thầu ra đời đánh dấu một bước tiến mới trong công tác quản lý

của nước ta, nó tạo ra một hành lang pháp lý cho việc lựa chọn được các nhà thầu

để thực hiện các dự án đầu tư, đồng thời góp phần nâng cao vai trò của chủ đầu tư

và tăng cường trách nhiệm của nhà thầu Thực hiện đấu thầu sẽ tạo được sự công

bằng và cạnh tranh giữa các nhà thầu, hạn chế tiêu cực trong việc lựa chọn đơn vị

thực hiện và qua đó giảm được chi phí đầu tư, mang lại hiệu quả cho dự án Qua

thực hiện đấu thầu, chủ đầu tư có điều kiện lựa chọn được phương án có hiệu quả

trong việc mua sắm hàng hoá, lựa chọn được nhà thầu có đủ kinh nghiệm và năng

lực, có phương án kỹ thuật, biện pháp thi công tốt để thực hiện dự án, đảm bảo chất

lượng của công trình

Các quy định về đấu thầu được xây dựng trên cơ sở tham khảo các quy định

theo thông lệ chung của quốc tế và thực tiễn quản lý của Việt Nam, nên ngay từ ban

Trang 18

đầu khi mới ban hành, Quy chế Đấu thầu đã đi vào cuộc sống Tuy nhiên, đấu thầu

là công việc mới trong khi chúng ta mới chuyển sang cơ chế thị trường, cho nên vừa

thực hiện vừa phải nghiên cứu, chỉnh sửa các quy định về đấu thầu sao cho sát với

thực tế hơn Thực tiễn trong những năm qua cho thấy, cứ bình quân khoảng 2 đến 3

năm, Chính phủ lại ban hành Quy chế sửa đổi Đó là Nghị định 93/CP ngày

23/8/1997 về sửa đổi, bổ sung Quy chế Đấu thầu ban hành theo Nghị định 43/CP,

tiếp theo là Nghị định 88/CP ban hành Quy chế Đấu thầu thay thế Quy chế Đấu thầu

đã được ban hành theo Nghị định 43/CP và NĐ 93/CP Sau đó Quy chế Đấu thầu

(NĐ 88/CP) lại tiếp tục được hoàn chỉnh trên cơ sở sửa đổi, bổ sung một số điều

được quy định tại Nghị định 14/CP ngày 5/5/2000 và Nghị định 66/CP ngày

12/6/2003 Có thể nói, Quy chế Đấu thầu hiện hành cùng với các văn bản hướng

dẫn có liên quan đã là cơ sở pháp lý cho việc thực hiện đấu thầu đối với các dự án

đầu tư nói chung và các dự án sử dụng vốn Nhà nước nói riêng Tuy nhiên, tính

pháp lý chưa cao

Ngày 29/11/2005, tại kỳ họp thứ 8, khoá XI Quốc hội nước CHXHCN Việt

Nam đã thông qua Luật Đấu thầu (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2006) được xây

dựng dựa trên Quy chế Đấu thầu hiện hành và dự thảo Pháp lệnh đấu thầu gồm 6

chương, 77 điều đều nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch, tăng cường phân

cấp, đơn giản hoá thủ tục; từng bước khắc phục các tồn tại trong thực tiễn Luật Đấu

thầu là văn bản pháp lý cao nhất, đầy đủ cho hoạt động đấu thầu trong cả nước

Luật Đấu thầu phù hợp với chủ trương luật hoá các quy định về quản lý kinh

tế và xã hội của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Phù hợp với yêu cầu

hội nhập quốc tế, tạo thuận lợi cho quá trình đàm phán tham gia các tổ chức quốc tế,

các hoạt động hợp tác phát triển với các nước, nhất là trong quá trình đàm phán gia

nhập tổ chức WTO

Để tạo cơ sở pháp lý trong việc xem xét và xử lý các trường hợp vi phạm

Luật Đấu thầu, Luật đấu thầu đã quy định 15 nội dung Luật không cho phép như:

Trang 19

thương hiệu hoặc nguồn gốc hàng hoá vật tư trong hồ sơ mới thầu, nhượng bán

thầu…

Luật Đấu thầu quy định các thông tin như: Thông báo mời thầu, kết quả đấu

thầu, tổ chức cá nhân vi phạm bị xử lý… đều phải được đăng tải công khai và miễn

phí trên hệ thống thông tin chung về đấu thầu do Nhà nước quản lý

(Trích: T/C Kinh tế xây dựng, số 2/2007)

Tiếp theo ngày 29/9/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định 111/2006/NĐ -

CP hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật Xây dựng

Sau đó là Nghị định 58/2008/NĐ – CP mới ban hành ngày 05/ 05/ 2008 hướng dẫn

thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng Ngày

10/06/2008 Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư ban hành quyết định số 731/2008/QĐ-BKH

ban hành mẫu hồ sơ mời thầu xây lắp

Như vậy hệ thống văn bản pháp lý cũng như văn bản hướng dẫn thực hiện

công tác đấu thầu ngày càng được hoàn thiện hơn Tuy nhiên trong quá trình thực

hiện vẫn còn đó những hiện tượng tiêu cực, còn mang tính chủ quan rất nhiều trong

công tác chấm thầu Do đó vẫn cần có thêm sự đầu tư nghiên cứu để hoàn chỉnh hơn

các văn bản đấu thầu nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho công tác đấu thầu là chọn

được nhà thầu tốt nhất đáp ứng được các tiêu chí cần thiết nhất để thực hiện dự án,

nhất là các nhà thầu xây lắp

II.1.2 Lựa chọn nhà thầu theo luật đấu thầu Việt Nam

II.1.2.1 Các hình thức lựa chọn nhà thầu theo luật đấu thầu Việt Nam

A Đấu thầu rộng rãi

- Việc lựa chọn nhà thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án quy định tại

Điều 1 của Luật đấu thầu phải áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, trừ trường hợp

quy định tại các điều từ Điều 19 đến Điều 24 của Luật đấu thầu

Trang 20

- Đối với đấu thầu rộng rãi, không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự Trước

khi phát hành hồ sơ mời thầu, bên mời thầu phải thông báo mời thầu theo quy định

tại Điều 5 của Luật đấu thầu để các nhà thầu biết thông tin tham dự Bên mời thầu

phải cung cấp hồ sơ mời thầu cho các nhà thầu có nhu cầu tham gia đấu thầu Trong

hồ sơ mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của

nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh

không bình đẳng

B Đấu thầu hạn chế

- Đấu thầu hạn chế được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

+ Theo yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho

gói thầu;

+ Gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù; gói thầu

có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng

yêu cầu của gói thầu

- Khi thực hiện đấu thầu hạn chế, phải mời tối thiểu năm nhà thầu được xác

định là có đủ năng lực và kinh nghiệm tham gia đấu thầu; trường hợp thực tế có ít

hơn năm nhà thầu, chủ đầu tư phải trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định

cho phép tiếp tục tổ chức đấu thầu hạn chế hoặc áp dụng hình thức lựa chọn khác

C Chỉ định thầu

- Chỉ định thầu được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

+ Sự cố bất khả kháng do thiên tai, địch họa, sự cố cần khắc phục ngay thì

chủ đầu tư hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý công trình, tài sản đó được chỉ

định ngay nhà thầu để thực hiện; trong trường hợp này chủ đầu tư hoặc cơ quan

chịu trách nhiệm quản lý công trình, tài sản đó phải cùng với nhà thầu được chỉ định

Trang 21

tiến hành thủ tục chỉ định thầu theo quy định trong thời hạn không quá mười lăm

ngày kể từ ngày chỉ định thầu;

+ Gói thầu do yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài;

+ Gói thầu thuộc dự án bí mật quốc gia; dự án cấp bách vì lợi ích quốc gia,

an ninh an toàn năng lượng do Thủ tướng Chính phủ quyết định khi thấy cần thiết;

+ Gói thầu mua sắm các loại vật tư, thiết bị để phục hồi, duy tu, mở rộng

công suất của thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất mà trước đó đã được mua từ

một nhà thầu cung cấp và không thể mua từ các nhà thầu cung cấp khác do phải bảo

đảm tính tương thích của thiết bị, công nghệ;

+ Gói thầu dịch vụ tư vấn có giá gói thầu dưới năm trăm triệu đồng, gói thầu

mua sắm hàng hóa, xây lắp có giá gói thầu dưới một tỷ đồng thuộc dự án đầu tư

phát triển; gói thầu mua sắm hàng hóa có giá gói thầu dưới một trăm triệu đồng

thuộc dự án hoặc dự toán mua sắm thường xuyên; trường hợp thấy cần thiết thì tổ

chức đấu thầu

- Khi thực hiện chỉ định thầu, phải lựa chọn một nhà thầu được xác định là có

đủ năng lực và kinh nghiệm đáp ứng các yêu cầu của gói thầu và phải tuân thủ quy

trình thực hiện chỉ định thầu do Chính phủ quy định

- Trước khi thực hiện chỉ định thầu, dự toán đối với gói thầu đó phải được

phê duyệt theo quy định

D Mua sắm trực tiếp

- Mua sắm trực tiếp được áp dụng khi hợp đồng đối với gói thầu có nội dung

tương tự được ký trước đó không quá sáu tháng

- Khi thực hiện mua sắm trực tiếp, được mời nhà thầu trước đó đã được lựa

chọn thông qua đấu thầu để thực hiện gói thầu có nội dung tương tự

Trang 22

- Đơn giá đối với các nội dung thuộc gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp

không được vượt đơn giá của các nội dung tương ứng thuộc gói thầu tương tự đã ký

hợp đồng trước đó

- Được áp dụng mua sắm trực tiếp để thực hiện gói thầu tương tự thuộc cùng

một dự án hoặc thuộc dự án khác

E Chào hàng cạnh tranh trong mua sắm hàng hóa

- Chào hàng cạnh tranh được áp dụng trong trường hợp có đủ các điều kiện

sau đây:

+ Gói thầu có giá gói thầu dưới hai tỷ đồng;

+ Nội dung mua sắm là những hàng hoá thông dụng, sẵn có trên thị trường

với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hoá và tương đương nhau về chất lượng

- Khi thực hiện chào hàng cạnh tranh, phải gửi yêu cầu chào hàng cho các

nhà thầu Nhà thầu gửi báo giá đến bên mời thầu một cách trực tiếp, bằng fax hoặc

qua đường bưu điện Đối với mỗi gói thầu phải có tối thiểu ba báo giá từ ba nhà

thầu khác nhau

F Tự thực hiện

- Hình thức tự thực hiện được áp dụng trong trường hợp chủ đầu tư là nhà

thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện gói thầu thuộc dự án do mình quản

lý và sử dụng

- Khi áp dụng hình thức tự thực hiện, dự toán cho gói thầu phải được phê

duyệt theo quy định Đơn vị giám sát việc thực hiện gói thầu phải độc lập với chủ

đầu tư về tổ chức và tài chính

Trang 23

G Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt

Trường hợp gói thầu có đặc thù riêng biệt mà không thể áp dụng các hình

thức lựa chọn nhà thầu quy định tại các điều từ Điều 18 đến Điều 23 của Luật đấu

thầu thì chủ đầu tư phải lập phương án lựa chọn nhà thầu, bảo đảm mục tiêu cạnh

tranh và hiệu quả kinh tế trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định

II.1.2.2 Các phương thức lựa chọn nhà thầu theo luật đấu thầu Việt Nam

Luật đấu thầu quy định 3 phương thức đấu thầu chính như sau:

- Phương thức đấu thầu một túi hồ sơ được áp dụng đối với hình thức đấu

thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu

EPC Nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính

theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Việc mở thầu được tiến hành một lần

Hình 2.1: Phương thức đấu thầu 1 túi hồ sơ[7]

- Phương thức đấu thầu hai túi hồ sơ được áp dụng đối với đấu thầu rộng rãi

và đấu thầu hạn chế trong đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn Nhà thầu nộp đề xuất

về kỹ thuật và đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Việc

mở thầu được tiến hành hai lần; trong đó, đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở trước để

đánh giá, đề xuất về tài chính của tất cả các nhà thầu có đề xuất kỹ thuật được đánh

giá là đáp ứng yêu cầu được mở sau để đánh giá tổng hợp Trường hợp gói thầu có

- Đề xuất kỹ thuật

- Đề xuất tài chính

MỞ THẦU

NHÀ THẦU

BỊ LOẠI

NHÀ THẦU TRÚNG THẦU

_

+

Trang 24

yêu cầu kỹ thuật cao thì đề xuất về tài chính của nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật cao

nhất sẽ được mở để xem xét, thương thảo

Hình 2.2: Phương thức đấu thầu 2 túi hồ sơ.[7]

- Phương thức đấu thầu hai giai đoạn được áp dụng đối với hình thức đấu

thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu

EPC có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, đa dạng và được thực hiện theo trình tự

sau đây:

+ Trong giai đoạn một, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn một, các nhà thầu nộp

đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính nhưng chưa có giá dự thầu; trên cơ sở trao

đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn

hai;

+ Trong giai đoạn hai, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, các nhà thầu đã

tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu giai đoạn hai bao gồm: đề xuất

về kỹ thuật; đề xuất về tài chính, trong đó có giá dự thầu; biện pháp bảo đảm dự

NHÀ THẦU LỌT VÀO VÒNG HAI

MỞ THẦU LẦN HAI

NHÀ THẦU TRÚNG THẦU

Trang 25

Hình 2.3: Phương thức đấu thầu hai giai đoạn.[7]

GÓI THẦU XÂY LẮP

NHÀ THẦU CHỌN VÀO GIAI ĐOẠN 2

NHÀ THẦU

BỊ LOẠI

HỒ SƠ ĐẤU THẦU GIAI ĐOẠN 2

- Đề xuất kỹ thuật

- Đề xuất tài chính có giá dự thầu

- Biện pháp bảo đảm dự thầu

MỞ THẦU XẾP HẠNG HỒ SƠ NHÀ THẦU BỊ LOẠI

NHÀ THẦU TRÚNG THẦU THƯƠNG THẢO – KÝ HỢP ĐỒNG

_ _

+ +

Trang 26

II.1.3 Quy trình đấu thầu theo Luật đấu thầu Việt Nam và hướng ứng dụng

phương pháp phân tích thành phần chủ yếu để chọn thầu xây lắp

II.1.3.1 Quy trình đấu thầu theo luật đấu thầu gồm các bước chính như sau:

¾ Bước 1: Sơ tuyển nhà thầu

Việc sơ tuyển nhà thầu được thực hiện theo quy định sau đây:

- Việc sơ tuyển nhà thầu được thực hiện trước khi tổ chức đấu thầu nhằm

chọn được các nhà thầu đủ năng lực và kinh nghiệm theo yêu cầu của gói thầu để

mời tham gia đấu thầu; đối với các gói thầu mua sắm hàng hoá, gói thầu EPC có giá

gói thầu từ ba trăm tỷ đồng trở lên, gói thầu xây lắp có giá gói thầu từ hai trăm tỷ

đồng trở lên phải được tiến hành sơ tuyển;

- Trình tự thực hiện sơ tuyển bao gồm lập hồ sơ mời sơ tuyển; thông báo mời

sơ tuyển; tiếp nhận và quản lý hồ sơ dự sơ tuyển; đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển; trình

và phê duyệt kết quả sơ tuyển; thông báo kết quả sơ tuyển;

- Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển phải được nêu trong hồ sơ mời sơ

tuyển theo mẫu hồ sơ mời sơ tuyển do Chính phủ quy định bao gồm tiêu chuẩn về

năng lực kỹ thuật, tiêu chuẩn về năng lực tài chính và tiêu chuẩn về kinh nghiệm

¾ Bước 2: Tổ chức đấu thầu

- Phát hành hồ sơ mời thầu

Hồ sơ mời thầu được phát hành cho các nhà thầu tham gia đấu thầu rộng rãi,

cho các nhà thầu theo danh sách được mời tham gia đấu thầu hạn chế hoặc cho các

nhà thầu đã vượt qua bước sơ tuyển

Trường hợp hồ sơ mời thầu cần sửa đổi sau khi phát hành thì phải thông báo

đến các nhà thầu đã nhận hồ sơ mời thầu tối thiểu mười ngày trước thời điểm đóng

Trang 27

- Tiếp nhận và quản lý hồ sơ dự thầu

Các hồ sơ dự thầu nộp theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu phải được bên mời

thầu tiếp nhận và quản lý theo chế độ quản lý hồ sơ "Mật"

- Mở thầu

Việc mở thầu phải được tiến hành công khai ngay sau thời điểm đóng thầu

đối với các hồ sơ dự thầu được nộp theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu

Thông tin chính nêu trong hồ sơ dự thầu của từng nhà thầu phải được công

bố trong buổi mở thầu, được ghi lại trong biên bản mở thầu có chữ ký xác nhận của

đại diện bên mời thầu, đại diện nhà thầu và đại diện cơ quan liên quan tham dự

¾ Bước 3: Đánh giá hồ sơ dự thầu

- Đánh giá sơ bộ hồ sơ dự thầu để loại bỏ các hồ sơ dự thầu không hợp lệ,

không bảo đảm yêu cầu quan trọng của hồ sơ mời thầu

- Đánh giá chi tiết hồ sơ dự thầu được thực hiện theo quy định sau đây:

+ Đánh giá về mặt kỹ thuật để xác định các hồ sơ dự thầu đáp ứng cơ bản

yêu cầu của hồ sơ mời thầu;

+ Đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC thì xác định chi

phí trên cùng một mặt bằng về kỹ thuật, tài chính, thương mại để so sánh, xếp hạng

các hồ sơ dự thầu Đối với gói thầu dịch vụ tư vấn thì đánh giá tổng hợp để so sánh,

xếp hạng các hồ sơ dự thầu; riêng gói thầu dịch vụ tư vấn có yêu cầu kỹ thuật cao

thì xem xét đề xuất về mặt tài chính đối với nhà thầu xếp thứ nhất về mặt kỹ thuật

¾ Bước 4: Trình duyệt và thẩm định kết quả đấu thầu

- Bên mời thầu phải lập báo cáo về kết quả đấu thầu để chủ đầu tư trình

người có thẩm quyền xem xét, quyết định và gửi đến cơ quan, tổ chức có trách

nhiệm thẩm định

Trang 28

- Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thẩm định có trách nhiệm lập báo cáo

thẩm định kết quả đấu thầu trên cơ sở báo cáo của chủ đầu tư để trình người có

thẩm quyền xem xét, quyết định

¾ Bước 5: Phê duyệt kết quả đấu thầu

- Người có thẩm quyền chịu trách nhiệm xem xét, phê duyệt kết quả đấu thầu

trên cơ sở báo cáo về kết quả đấu thầu và báo cáo thẩm định kết quả đấu thầu

- Trường hợp có nhà thầu trúng thầu thì văn bản phê duyệt kết quả đấu thầu

phải có các nội dung sau đây:

+ Tên nhà thầu trúng thầu;

+ Giá trúng thầu;

+ Hình thức hợp đồng;

+ Thời gian thực hiện hợp đồng;

+ Các nội dung cần lưu ý (nếu có)

- Trường hợp không có nhà thầu trúng thầu, trong văn bản phê duyệt kết quả

đấu thầu phải nêu rõ không có nhà thầu nào trúng thầu và hủy đấu thầu để thực hiện

lựa chọn nhà thầu theo quy định của Luật này

¾ Bước 6: Thông báo kết quả đấu thầu

- Việc thông báo kết quả đấu thầu được thực hiện ngay sau khi có quyết định

phê duyệt kết quả đấu thầu của người có thẩm quyền

- Trong thông báo kết quả đấu thầu không phải giải thích lý do đối với nhà

thầu không trúng thầu

Trang 29

¾ Bước 7: Thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng

- Việc thương thảo, hoàn thiện hợp đồng để ký kết hợp đồng với nhà thầu

trúng thầu phải dựa trên cơ sở sau đây:

+ Kết quả đấu thầu được duyệt;

+ Mẫu hợp đồng đã điền đủ các thông tin cụ thể của gói thầu;

+ Các yêu cầu nêu trong hồ sơ mời thầu;

+Các nội dung nêu trong hồ sơ dự thầu và giải thích làm rõ hồ sơ dự thầu của

nhà thầu trúng thầu (nếu có);

+ Các nội dung cần được thương thảo, hoàn thiện hợp đồng giữa bên mời

thầu và nhà thầu trúng thầu

- Kết quả thương thảo, hoàn thiện hợp đồng là cơ sở để chủ đầu tư và nhà

thầu tiến hành ký kết hợp đồng

- Trường hợp việc thương thảo, hoàn thiện hợp đồng không thành thì chủ đầu

tư phải báo cáo người có thẩm quyền xem xét việc lựa chọn nhà thầu xếp hạng tiếp

theo Trường hợp các nhà thầu xếp hạng tiếp theo cũng không đáp ứng yêu cầu thì

báo cáo người có thẩm quyền xem xét, quyết định

Trang 30

CHUẨN BỊ ĐẤU THẦU

SƠ TUYỂN NHÀ THẦU

- Lập hồ sơ mời sơ tuyển.

- Thông báo mời sơ tuyển.

- Tiếp nhận và quản lý hồ sơ dự sơ tuyển.

- Đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển.

- Trình và phê duyệt kết quả sơ tuyển.

- Thông báo kết quả sơ tuyển.

Lập hồ sơ mời thầu

Phê duyệt hồ sơ mời thầu

Mời thầu

Tiếp nhận và bảo quản hồ sơ dự thầu

Mở thầu

Đánh giá xếp hạng

hồ sơ thầu

Trình duyệt kết quả đấu thầu.

Phê duyệt kết quả đấu thầu

Công bố trúng thầu Thương thảo hợp đồng

Không đủ

năng lực

Không tốt

CẤP CÓ THẨM QUYỀN

TỔ CHUYÊN GIA

CHỦ

ĐẦU TƯ

Hình 2.4: Quy trình đấu thầu xây lắp theo luật đấu thầu Việt Nam

Trang 31

II.1.3.2 Phân tích khả năng ứng dụng phương pháp phân tích thành phần chủ

yếu để chọn thầu xây lắp ở Việt Nam

Vì đặc thù của phương pháp PCA là phân tích dựa trên mảng số liệu do đó

tác giả nhận thấy có thể ứng dụng phương pháp PCA để xử lý điểm của các nhà

thầu theo từng tiêu chí đánh giá Do đó tác giả sẽ sử dụng phương pháp cho điểm

để chấm thầu

Nhận xét về quy trình đánh giá hồ sơ dự thầu ở Việt Nam như sau:

- Đánh giá về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu bằng cách sử dụng tiêu

chí “đạt”, “không đạt” thì sẽ là rất chủ quan và không có sự sắp xếp giữa các nhà

thầu Theo quan điểm của tác giả thì tất cả các tiêu chí đều phải có sự sắp xếp thứ tự

ưu tiên các nhà thầu

- Đánh giá về mặt kỹ thuật bằng phương pháp cho điểm cũng chỉ dừng lại ở

mức độ “đạt” – nếu tổng số điểm lớn hơn điểm yêu cầu tối thiểu, và “không đạt” –

nếu tổng số điểm nhỏ hơn điểm yêu cầu tối thiểu, trong khi điểm cho từng tiêu chí

được xác định với một tỷ lệ rất chủ quan

Với nhận xét như trên tác giả sẽ giảm bớt tính chủ quan bằng cách đánh giá

các tiêu chuẩn về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu cũng như các tiêu chuẩn về

mặt kỹ thuật theo cùng một thang điểm (5,10,100 ) Từ số điểm có được tác giả sẽ

sử dụng phương pháp phân tích thành phần chủ yếu để tính ra số điểm tổng quát cho

từng nhà thầu và sắp hạng nhà thầu

Với việc dùng phương pháp phân tích thành phần chủ yếu để xử lý điểm của

nhà thầu, tác giả sẽ giảm bớt được tính chủ quan khi không cần phải xác định điểm

tối đa cho từng tiêu chí, trọng số cho mỗi tiêu chí sẽ được xác định dựa trên ma trận

điểm của các nhà thầu

Ở đây tác giả chỉ nghiên cứu những gói thầu mang tính tổng quát nhất nghĩa

là nhà thầu được chọn phải là nhà thầu đáp ứng tốt nhất tất cả các tiêu chí đưa ra

Trang 32

trong hồ sơ mời thầu, không tính đến những gói thầu cá biệt như chỉ quan trọng một

số tiêu chí chính, nếu nhà thầu thỏa những tiêu chí này thì coi như nhà thầu đủ năng

lực Do đó có thể áp dụng phương pháp phân tích thành phần chủ yếu cho tất cả các

gói thầu đòi hỏi nhà thầu phải thỏa càng nhiều tiêu chí càng tốt

II.2 Các nghiên cứu trước về phương pháp chọn thầu

II.2.1 Mạng neuron nhân tạo ( Artifitial Neural Network)

Lý thuyết mạng neuron được công bố đầu tiên bởi Warren S.McCulloch và

Walter Pitts năm 1943 Tác giả đã diễn tả làm cách nào mà các neurons trong bộ

não con người có thể hoạt động, và từ đó xây dựng mạng neuron đơn giản đầu tiên

Sau đó được rất nhiều tác giả nghiên cứu và hoàn thiện dần để đem lại kết quả mạng

neuron đa lớp như ngày nay Mạng neuron mô phỏng lại bộ não con người nên nó

rất linh hoạt và được ứng dụng vào rất nhiều lĩnh vực

Nhiều tác giả đã ứng dụng mạng neuron để giải quyết bài toán chọn thầu như

tác giả FARZAD KHOSROWSHAHI(1999) đã sử dụng mạng neuron để chọn thầu

và dùng dữ liệu thu thập từ các dự án của chính quyền địa phương ở Anh với 37

trường hợp nhà thầu đủ khả năng, 36 không đủ khả năng được thu thập từ hồ sơ

thầu của các dự án của chính quyền địa phương trong quá khứ để rèn luyện mô

hình và kết quả nhận được rất phù hợp với thực tế

K.C Lam(2000) và các đồng sự đã ứng dụng mạng neuron nhân tạo để giải

quyết bài toán chọn thầu và dùng 112 trường hợp nhà thầu được thu thập từ các dự

án thực tế ở Hồng Kông để rèn luyện mô hình và tác giả đưa ra kết luận rằng việc

áp dụng mạng neuron nhân tạo là khả thi, có thể giải quyết được các mối quan hệ

phi tuyến giữa các tiêu chí lựa chọn và đem lại kết quả cũng rất phù hợp với thực tế

Mạng neuron cơ bản gồm có 3 lớp chính : Dữ liệu đầu vào, dữ liệu ẩn và dữ

liệu xuất

Trang 33

Hình 2.5 : Cấu tạo của mạng neuron nhân tạo

Phương pháp mạng neuron nhân tạo có thể giải quyết được tất cả các bài

toán phi tuyến nhiều biến mà với những phương pháp thông thường không thể giải

quyết được

II.2.2 Phương pháp định lượng (Analytic Hierarchy Process - AHP)

Phương pháp AHP là một phương pháp ra quyết định đa mục tiêu được phát

triển bởi Saaty năm 1980 Phương pháp AHP giúp thực hiện mô hình quyết định

thông qua một quá trình bao gồm cả hai thành phần chất lượng và số lương Về mặt

chất lượng nó giúp phân tích một bài toán ra quyết định từ những mục tiêu bao quát

nhất thành một tập hợp của những nhóm chính và những nhóm phụ rồi tới những

nhóm phụ hơn và tiếp tục giảm xuống cho tới cấp cuối cùng Những nhóm chính

hoặc những nhóm phụ có thể là động lực, thuộc tính, tiêu chí, mục tiêu…Về mặt số

lượng nó sử dụng phương pháp so sánh cặp (pair-wase comparison) để gắn trọng số

cho những phần tử trong cùng một nhóm chính hoặc một nhóm phụ và tính toán

trọng số cuối cùng để gắn vào cấp cuối cùng Mỗi so sánh cặp sẽ đo lường được

mức độ quan trọng của các phần tử trong cùng một nhóm bằng cách dùng các hệ số

Trang 34

tỉ lệ Một trong những hàm chính của phương pháp AHP là tính toán một hệ số chắc

chắn để chắc chắn rằng những ma trận là thích hợp để phân tích (Saaty, 1980) Tuy

nhiên mô hình AHP giả sử rằng có một mối quan hệ không trực tiếp giữa các nhóm

ở những cấp quyết định khác nhau theo thứ bậc và các phần tử trong cùng một

nhóm không tương quan với nhau cũng như không có sự tương quan giữa các

nhóm Do đó đây cũng là một hạn chế của mô hình AHP, bởi vì giữa các nhóm

hoặc các tiêu chí thường có sự tương quan với nhau

Phương pháp AHP đã được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực và đặc biệt là

trong công tác quản lý, trong đó có công tác chọn thầu Phương pháp AHP rất linh

hoạt trong việc thêm hoặc bớt các tiêu chí trong quá trình thực hiện chấm thầu

Tác giả Fong và Choi (2000) đã ứng dụng phương pháp AHP để chọn thầu

Sáu mươi tám tiêu chuẩn liên quan đến việc chọn thầu đã được hai tác giả thu thập

từ các nghiên cứu trước và thực hiện khảo sát bằng bảng câu hỏi ở Hồng Kông với

ba mục tiêu: (1) xác định quan điểm của những những người làm xây dựng về mức

độ quan trọng của giá bỏ thầu trong việc chọn thầu; (2) xác định mức độ hài lòng

của khách hàng với những phương pháp chọn thầu đang được ứng dụng và việc

thực hiện của các nhà thầu; (3) xác định mức độ ưu tiên của các tiêu chuẩn trong

việc chọn thầu Từ bảng câu hỏi khảo sát tác giả xác định mức độ quan trọng của

các tiêu chí lựa chọn nhà thầu để ứng dụng phương pháp AHP Sau cùng hai tác giả

sử dụng phương pháp AHP để chấm cho 3 gói thầu xây dựng

Trang 36

Ngoài ra tác giả Kamal M.Al-Subhi Al-harbi (2001) cũng đã ứng dụng

phương pháp AHP trong quản lý dự án và thực hiện chấm thầu cho gói thầu gồm 5

nhà thầu do tác giả tự đặt ra để minh họa cho việc ứng dụng phương pháp AHP

II.2.3 Phương pháp mạng phân tích (Analytic network process - ANP)

Phương pháp ANP là phương pháp phân tích được Saaty giới thiệu năm

1996 Phương pháp ANP được phát triển từ phương pháp AHP nhằm khắc phục

nhược điểm của phương pháp AHP đó là có kể đến mối quan hệ phụ thuộc giữa các

phần tử Theo Sarkis (1999), ANP chứa 4 bước chính như sau [8]:

- Xây dựng ma trận so sánh cặp của các phần tử tại các nhóm

- Thay thế trọng số mức độ quan trọng (véc tơ riêng) trong ma trận phụ vào

ma trận lớn

- Hiệu chỉnh những giá trị trong ma trận lớn bằng cách đưa vào ma trận lớn

những giá trị ưu tiên cục bộ (véctơ ưu tiên xác định từ mô hình AHP) để

xác định véctơ ưu tiên toàn cục

- Biến đổi ma trận lớn cho đến khi hội tụ và ổn định sao cho tất cả các cột

có giá trị bằng nhau

Các tác giả Eddie W.L Cheng và Heng Li (2004) đã ứng dụng mô hình ANP

để chọn thầu và phát triển mô hình AHP của Fong và Choi (2000)

Trang 37

Hình 2.7 Mô hình chọn nhà thầu theo ANP của Eddie W.L Cheng và Heng Li[8]

II.2.4 Phương pháp ứng dụng lý thuyết mờ (Fuzzy Set Theory)

Lý thuyết mờ là một lý thuyết không chắc chắn được xây dựng từ lý thuyết

logic rõ và được Zadel giới thiệu năm 1961 Từ đó đến nay lý thuyết tập mờ đã

được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực

Lý thuyết tập mờ được ứng dụng trong công tác chọn thầu nhằm thực hiện

việc chấm thầu bằng các biến ngôn ngữ “tốt, khá, trung bình, yếu ” từ đó tạo sự

thuận lợi cho các nhà quản lý dự án khi chấm thầu Các biến ngôn ngữ sẽ được xử

lý và tính toán bằng các hàm thuộc qua những phép toán trong tập mờ để tìm ra

điểm cuối cùng bằng số để xếp hạng nhà thầu

Nguyen (1985) đã ứng dụng phương pháp lý thuyết mờ để đánh giá và lựa

chọn nhà thầu dựa trên giá, những thông tin về gói thầu và kinh nghiệm quá khứ của

nhà thầu [9]

Trang 38

Tác giả Yawei Li (2007) và các cộng sự đã ứng dụng lý thuyết tập mờ trong

công tác chọn thầu và thực hiện chấm thầu cho dự án xây dựng đường hầm ở Trung

Quốc

Tác giả Nguyễn Thái Quài đã nghiên cứu ứng dụng phương pháp logic mờ

để chọn thầu xây dựng tại Việt Nam

II.2.5 Phương pháp mạng neuron mờ ( Fuzzy neural network – FNN)

Mạng neuron mờ là sự kết hơp giữa mạng neuron và lý thuyết mờ nhằm phát

huy cũng như khắc phục những ưu nhược điểm của cả hai để làm tăng thêm sự

chính xác cho bài toán

Mạng neuron mờ gồm 5 lớp cơ bản: Lớp dữ liệu đầu vào, lớp mờ hóa, lớp

thể hiện quy luật hợp thành của lý thuyết mờ, tính toán các giá trị mờ, xác định kết

quả

Hình 2.7 Mô hình mạng nueron mờ theo Lam [5]

Trang 39

Tác giả K.C Lam và các đồng sự đã ứng dụng phương pháp mạng neuron

mờ để chấm thầu, giá trị đầu vào chính là điểm của các nhà thầu theo những tiêu chí

lựa chọn, mỗi tiêu chí là một biến và các biến được chuyển thành tập mờ chẳng hạn

như “tốt”, “không tốt”, “rất không tốt” Mỗi neuron tương ứng với một tập mờ đặc

trưng với hàm thành viên được cho bởi giá trị đầu ra của nó Ngoại trừ các neuron

trong lớp mờ hóa, tất cả các hàm tác động trong các lớp khác là hàm hằng số hoặc

hàm tuyến tính để phân biệt giữa mạng neuron mờ với mạng neuron thông thường

Ba loại hàm tác động cơ bản là:

) 1

/(

1 )

(x = +e− (x− χ / σ

f

) / ) ( exp(

)

f

) 1

/(

1 1 )

(x = − +e− (x− χ / σ

f

Trong đó χ và σ là giá trị trung bình và phương sai của hàm thành viên

Gaussian (Gaussian membership function).χ là tham số điều khiển trục hoành của

phép biến đổi phi tuyến của một neuron và σ là tham số điều khiển độ dốc của

phép biến đổi phi tuyến của một neuron Tất cả các tham số sẽ được xác định bằng

cách huấn luyện mạng neuron mờ Giá trị đầu vào và đầu ra của các neuron được

diễn tả như sau:

i

I i

F

) ( )

R j

µNhững neuron trong lớp thứ tư (lớp tính giá trị mờ) được diễn tả như sau:

Trang 40

R j

N j

O

1

Mục tiêu của huấn luyện mạng là cực tiểu hóa tổng bình phương sai số E

giữa kết quả tính toán của mạng với kết quả quyết định chọn thầu thật được thu thập

để huấn luyện mạng:

2 1

) (

2

1

p P

Trong đó PQD p, p = 1,2,… P biểu diễn kết quả chọn thầu thực tế cho nhà

thầu p (đủ năng lực hoặc không đủ năng lực)

Cực tiểu tổng bình phương sai số như sau:

) 1 ( ) ( )

1

(

) ( )

( ) ( ) 1

(

+

∆ +

= +

∆ +

= +

t t

t

t

E t k k

χχ

χ

χβχηχχ

Trong đó χ(k)là giá trị của χ tại bước lặp thứ k, η(t)và β là tốc độ học

(learning rate) và tốc độ tăng ( momentum rate) η(t)càng lớn thì tốc độ hội tụ càng

nhanh tuy nhiên kết quả sẽ dễ dẫn đến sự hội tụ địa phương

Để đánh giá khả năng ứng dụng mô hình mạng neuron mờ như trên vào công

tác chọn thầu tác giả K.C Lam đã thu thập 85 trường hợp nhà thầu trong 10 dự án

công cộng ở Hồng Kông từ năm 1995- 1999 và so sánh kết quả với phương pháp

mạng neuron như sau:

Ngày đăng: 09/03/2021, 04:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm