Theo tham khảo một số tài liệu, và một số sự cố về đê biển trong giai đoạn vừa qua cho thấy: Hầu hết kết cầu đê biển việt nam có dạng đê mái nghiêng, mái dốc phổ biết từ m=1.5-4, có thể
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Quý Thầy cô trong Ban giảng huấn khóa cao học
2005 – Ngành Xây Dựng Công Trình Biển - Trường Đại Học Bách Khoa - Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh!
Xin chân thành cảm ơn Tiến sỹ NGUYỄN THẾ DUY là thầy hướng dẫn chính của luận văn này, cảm ơn sự giúp đỡ động viên của Tiến sỹ NGÔ NHẬT HƯNG, Tiến sỹ TRẦN THU TÂM trong quá trình thực hiện luận văn!
Xin chân thành cảm ơn: Kỹ sư NGUYỄN HỒNG THƯƠNG, Kỹ sư PHẠM VĂN MẪN, Kỹ sư NGUYỄN XUÂN CHÂU và các đồng nghiệp trong Công ty Cổ Phần
Tư Vấn Và Đầu Tư Xây Dựng Kiến Hưng (KIENHUNGCIC) đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua!
Xin chân thành cảm ơn Công Ty Cổ Phần Tư Vấn Xây Dựng Công Trình Hàng Hải (CMB), cảm ơn Viện Nghiên Cứu Khoa Học Thủy Lợi Miền Nam đã giúp đỡ cung cấp số liệu bình đồ, thủy hải văn áp dụng vào ví dụ tính toán của luận văn!
Cảm ơn sự động viên, khích lệ quý báu của BỐ MẸ và Bạn gái NGUYỄN THANH HUẾ!
Học Viên: VŨ THANH HUY
Trang 2
CHƯƠNG 0
MỞ ĐẦU 0.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hàng năm, các tuyến đê biển Việt Nam, nhất là Bắc Bộ và Trung Bộ chịu ảnh
hưởng trực tiếp của những cơn bão nhiệt đới Trong những năm gần đây, các đoạn đê
biển và đê phòng hộ ở Miền Bắc, Miền Trung bị phá hoại nghiêm trọng Điển hình là
các cơn bảo số 7 (Damrey) năm 2005, Bão số 6 (Sangxane) năm 2006….đã tác động
trực tiếp đến đời sống kinh tế xã hội của nhân dân trong vùng ảnh hưởng
Dự báo thời tiết hàng năm cho thấy, năm sau thời tiết thường khắc nghiệt hơn năm
trước Chiều hướng chung do ảnh hưởng của khí hậu toàn cầu, không riêng chỉ Việt
Nam, là ngày càng khắc nghiệt, cực đoan, tác hại ngày một lớn hơn, do vậy các nước
đều có chiến lược phòng chống thiên tai mới Thiên tai đặt lên bàn chính phủ các
nước chiến lược phòng chống, từ nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu đến những
giải pháp hữu hiệu để đối phó
Trước tình hình trên, ở Việt Nam, Chính phủ ta quyết định từng bước đầu tư nâng
cấp các tuyến xung yếu, xây dựng mới các tuyến đê bị phá hoại nghiêm trọng, hoàn
thiện, kiên cố dần hệ thống đê biển sao cho trong quá trình sử dụng đảm bảo khả
năng “chống đỡ” các cơn bão có sức tàn phá lớn Cụ thể là quyết định của Thủ tướng
chính phủ số 58/2006/QĐ TTg về việc “Phê duyệt chương trình đầu tư củng cố, bảo vệ
và năng cấp hệ thống đê biển hiện có tại các tỉnh có đê từ Quảng Ninh đén Quảng
Nam”
0.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Trước tình hình thực tiển và cấp bách như trên, Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
gồm các nội dung sau:
- Xem xét, đánh giá hiện trạng hệ thống đê biển của nước ta hiện nay, đặc biệt
là những vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của các cơn bão đi qua như là Bắc Bộ,
Bắc Trung Bộ
- Phân tích nguyên nhân gây phá hoại của kết cấu đê biển
- Rà soát lại các bộ tiêu chuẩn, quy phạm hiện hành của Việt Nam đang được áp
dụng vào công tác tư vấn thiết kế đê biển (Tính thống nhất giữa các tiêu chuẩn
liên ngành; tính hợp lý về kỹ thuật của các công thức tính toán So sánh với
các bộ tiêu chuẩn nước ngoài)
- Thu thập, thống kê số liệu đầu vào cho công tác thiết kế Trong đó điều kiện về
khí tượng thủy văn cần được xem xét, đánh giá kỹ lưỡng, chuẩn xác So sánh
kết quả tính toán theo các tiêu chuẩn khác nhau…
- Đưa ra các phương án kết cấu và phương pháp tính toán thiết kế phù hợp
Trang 30.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là “công tác thiết kế các dạng kết cấu đê biển trong
điều kiện Việt Nam”, bằng cách đi sâu vào việc phân tích các điều kiện tự nhiên ảnh
hưởng đến việc lựa chọn loại kết cấu đê biển phù hợp, đặc biệt là hiện tượng sóng
biển Chú trọng phân tích điều kiện tự nhiên khu vức Bắc bộ và Trung bộ
Luận văn này không đề cập đến kết cấu đê nội đồng chống lũ, không đi sâu phân
tích động lực học hình thái ven biển, quá trình bồi sói và diễn biến hình thái đường
bờ
0.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu của đề tài bao gồm các công tác sau:
- Thu thập tài liệu, giáo trình liên quan
- Thu thập các báo cáo khảo sát hiện trường
- Phân tích các nguyên nhân gây phá hoại đê biển trong quá trình sử dụng
- Xem xét các bộ tiêu chuẩn hiện hành trong và ngoài nước về thiết kế đê biển,
từ đó nhận xét và so sánh phương pháp tính toán đê biển của các tiêu chuẩn
khác nhau
- Đề xuất một số dạng kết cấu đê biển và phương pháp tính toán
- Đưa ra một số ví dụ tính toán điển hình
0.5 PHẦN MỀM HỖ TRỢ CÔNG VIỆC TÍNH TOÁN
Trong phần tính toán có sử dụng đến các phần mềm chuyên dụng như
- Phần mềm Geoslope – Modul Slope/w của Canada Đây là phần mềm chuyên
dụng hữu hiệu trong việc phân tích tính ổn định của mái dốc theo các lý thuyết
khác nhau
- Phần mềm Plaxis của Hà Lan Đây là phần mềm chuyên dụng phân tích và
tính toán các bài toán địa kỹ thuật, cho phép xác định trạng thái ứng suất –
biến dạng nền và bản thân kết cấu
0.6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Hi vọng đề tài này sẽ góp phần là tài liệu tham khảo bổ ích cho các dự án liên
quan đến công tác thiết kế đê biển ở Việt Nam
Trang 4CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN
Trong vài năm qua, điển hình là hai năm 2005 và 2006, đưới tác động của một vài
cơn bão mạnh từ cấp 9 đến cấp 12 như cơn bảo số 7 (Damrey), Bão số 6 (Sangxane)
đã gây ra hàng loạt sự cố về đê biển tập trung ở các tỉnh Bắc bộ và Bắc trung bộ như
Thanh Hóa, Nam Định
Về lịch sử, hầu hết các tuyến đê biển của Việt Nam được xây dựng từ những năm
60 của thế kỷ trước, có nhiều đoạn đã xuống cấp Đoạn yếu nhất hiện nay và cũng
hay xảy ra sự cố nhất dài chừng 30 km (trong năm 2005), đi qua các huyện Giao
Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Đê biển được đắp bằng máy xúc hoặc đào đắp thủ công Đất đắp được lấy từ các
khu vực đồng phía trong Đất đắp có hai loại chính là cát mịn (ít hơn là cát pha) lẫn ít
bụi, sét, mùn thực vật và sét, sét pha đôi chỗ lẫn mùn thực vật, màu nâu hồng Đê
biển ở đồng bằng Bắc Bộ được xây dựng trực tiếp trên nền là các trầm tích Holocen
Các nghiên cứu đến nay đều khẳng định đường bờ từ Hải Phòng đến cửa Thái Bình
thuộc loại triều chiếm ưu thế, các khu vực còn lại chịu ảnh hưởng hỗn hợp của sóng-
triều (theo phân loại của Davis & Hayes, 1984), trong đó có nhiều đoạn bờ biển bị
phá hủy mạnh mẽ như Hải Hậu (Nam Định), Cát Hải (Hải Phòng)
Xét về tình hình kinh tế, vào thời đó nền kinh tế của nước ta đang còn lạc hậu yếu
kém, không đủ ngân sách để kiên cố hóa hệ thống đê biển Để cân đối ngân sách,
thiết kế đê biển của Việt Nam trước đây chỉ chịu được gió bão mạnh cấp 9 (vận tốc
gió lên đến 75Km/h) và triều trung bình Nếu bão vượt cấp 9, kết hợp với triều cường
thì đê biển không chịu được Hơn nữa tần xuất để xuất hiện cấp 12 (vận tốc gió lên
đến 133Km/h) là rất ít khi xảy ra
Cả nước ta có hơn 3000Km đường bờ biển Trong đó các tuyến đê biển xung yếu
tập chung chủ yếu ở phía Bắc, từ tĩnh Hà Tĩnh trở ra Nguyên nhân chính là do cao độ
mặt đất của khu vực này, hầu hết thấp hơn mực nước biển, hướng bão di chuyển và
đổ bộ chủ yếu vào khu Bắc và Bắc – Trung bộ
Hàng năm cứ mỗi khi đến mùa bão lũ, các tuyến đê biển nhất là Bắc bộ và Bắc
Trung bộ lại đặt trong tình trạng báo động cao Về lâu về dài chúng ta cần phải nghĩ
đến chuyện làm đê vững vàng, dù sao nước ta là nước có biển Đông, luôn luôn hứng
chịu những cơn bão rất mạnh từ biển vào, cộng với sự thay đổi khí hậu toàn cầu như
thế này thì bão xuất hiện ngày càng nghiều với cường độ ngày càng lớn mạnh hơn
Trang 5Hình 1.1 Mặt cắt ngang điển hình đê loại 1
LỚP BẢO VỆ BẰNG ĐÁ LỚP ĐỆM
MNCTK
MNTTK
ĐỈNH ĐÊ
Để khắc phục sự cố về đê biển, Chính phủ quyết định đầu tư, tu bổ các đoạn đê
xung yếu, hoặc xây dựng mới các tuyến đê biển bị phá hoại hoàn toàn Tùy theo cấp
đê và mức độ thiệt hại mà đề ra mức kinh phí cho từng tuyến, đoạn đê
1.2 CÁC DẠNG KẾT CẤU PHỔ BIẾN CỦA ĐÊ BIỂN VIỆT NAM
Như đã nêu phần trên, Kết cấu đê biển của Việt Nam được xây dựng vào những
năm 60 của thế kỷ trước Theo tham khảo một số tài liệu, và một số sự cố về đê biển
trong giai đoạn vừa qua cho thấy: Hầu hết kết cầu đê biển việt nam có dạng đê mái
nghiêng, mái dốc phổ biết từ m=1.5-4, có thể được chia thành 03 loại dựa vào hình
thức gia cố mái đê như sau:
1.2.1 Loại 1 (gia cố mái bằng đá)
Kết cấu đê dạng mái nghiêng, lớp phủ bên ngoài là đá có đường kính danh nghĩa từ
20cm đến 30cm, chiều dày lớp phủ này khoảng 40cm đến 60cm, bên dưới là lớp đá
đệm, tiếp theo là tầng lọc ngược, thân đê là đất đắp lấy từ phía đồng (Hình 1)
1.2.2 Loại 2 (Gia cố mái bằng các tấm BT)
Kết cấu đê mái nghiêng, lớp phủ mặt đê bên ngoài là các khối (tấm) bê tông cốt
thép hoặc không cốt thép Bên dưới lớp phủ là là lớp đệm và tầng lọc Hình dạng các
khối BT và chiều dày lớp phủ phụ thuộc vào khả năng chịu tác động của yếu tốâ:
sóng, gió, dòng chảy theo tính toán thiết kế
Hình 1.2 : Mặt cắt ngang điển hình đê loại
LỚP BẢO VỆ BẰNG KHỐI BT LỚP ĐỆM
MNCTK
MNTTK
ĐỈNH ĐÊ
Trang 61.2.3 Đê mái nghiêng loại 3 (Gia cố mái bằng thảm thực vật)
Đê loại 3 được đề cập ở đây là đê nội đồng chống lũ, chức năng chủ yếu là ngăn
nước biển không sâm nhập vào nội đồng ảnh hưởng đến hoạt động đời sống của con
người, Kết cấu đê chịu áp lực nước là chính không chịu tác động của sóng nên thường
thì mái đê không cần gia cố kiên cố Kết cấu đê mái nghiêng, thường thì phía biển có
có bố trí cơ đê, mái đê thường được chồng cỏ, đỉnh đê kết hợp giao thông Sự ổn định
của đê nhờ vào trọng lượng bản thân của thân đê Chiều rộng đê càng lớn thì tính ổn
định càng cao
Hình 1.3 Đê giao thủy – xã Bạch long – Nam Định (Đê ngăn nước biển)
Trang 71.3 HIỆN TRẠNG ĐÊ BIỂN VIỆT NAM SAU MỘT VÀI CƠN BÃO GẦN ĐÂY
1.3.1 Đặc điểm
Lãnh thổ Việt Nam trải dài theo hướng từ Bắc đến Nam, Phía đông giáp với Biển
Đông Hàng năm nước ta phải gánh chịu khoảng 10 cơn bão (áp thấp) nhiệt đới Hầu
hết các cơn bão đều xuất hiện vào mùa mưa và trong khoảng thời gian từ tháng 08
cho đến tháng 11 dương lịch Những cơn bão mạnh đổ bộ chủ yếu vào khu vức phía
Bắc và Bắc –Trung Bộ, trong khi đó khu vực phía nam (Đồng bằng sông cữu long)
hiếm khi phải chịu tác động của bão
Như chúng ta đã biết, thiệt hại do bão lũ gây ra là rất lớn, trong đó các tuyến đê
biển (tuyến phòng ngự thứ nhất) chịu ảnh hưởng trục tiếp Khi bão đổ bộ vào đất liền,
kèm theo tốc độ gió lớn (khoảng từ 60km đến 140km) và mưa to kết hợp với nước
dâng, chiều cao sóng tăng lên đã tác động trực tiếp lên kết cấu đê biển Đây là
nguyên nhân chính gây ra sự phá hoại kết cấu đê biển và gây ngập lụt trên diện rộng
do nước biển tràn qua đê
Điển hình là trong tháng 09 năm 2005, hai cơn bão mạnh đã đổ bộ vào các tỉnh ven
biển miền Bắc và Bắc- Trung bộ, gây thiệt hại lớn về người và tài sản Cơn bão thứ
nhất là cơn bão số 06 với cường độ bão là cấp 10 (Vận tốc gió: 102km/h), đổ bộ vào
ngày 17-18 tháng 09 năm 2005 Cơn bão thứ 2 là bão số 07 (hay còn gọi là bão
Damgrey) với sức gió lên đến cấp 12 (vận tốc gió: 133Km/h), đổ bộ vào ngày 27-28
tháng 09 năm 2005
Hình 1.4: Đường đi của cơn bão số 6 (năm 2005)
Trang 8Hình 1.5: Đường đi của cơn bão số 7 (năm 2005)
1.3.2 Hiện trạng một vài tuyến đê biển sau bão
Hình 1.6 Bão số 6 đổ bộ
Hình 1.7: Bão số 7 đổ bộ
Trang 9Hình 1.8: Kè biển Đồ sơn “vật lộn với bão” (bão số 7-2005)
Như đã nêu trên, Sự hạn chế về ngân sách xây dựng, các tuyến đê biển Việt Nam
trước đây chỉ thiết kế ứng với bão cấp 9 và triều trung bình Vì vậy đối với những cơn
bão mạnh lên đến cấp 12 như 2 cơn bão số 06 và 07 năm 2005 vừa qua tác động lên
lên kết cấu đê biển gây phá hoại nghiêm trọng là điều tất yếu xãy ra
Thiệt hại về đê biển dọc theo bờ biển Việt Nam trong hai cơn bão mạnh năm 2005
được tóm tắt trong bảng sau:
Bảng 1.1: Thống kê về thiệt hại đê biển (đê chắn sóng) trong cơn bão số 6 (2005)
Chiều dài đê (m) Địa Phương
Phá hoại Sạt lở
Trang 10Bảng 1.2: Thống kê về thiệt hại đê biển (đê chắn sóng) trong cơn bão số 6 (2005)
Chiều dài đê (m) Địa Phương
Phá hoại Sạt lở
Sau đây là những hình ảnh của của vài tuyến đê biển bị hư hỏng sau hai cơn bão số
06 và số 07 năm 2005:
H.1.9: Đê biển Hải Phòng bị phá vỡ trong cơn bão số 6 (Đây là
một dạng đê mái nghiêng loại 2-Lớp phủ bằng tấm BT)
H1.10 Đê Cát Hải-Hải phịng bi hỏng sau cơn bão số 06 (Một dạng của kết cấu đê loại 1-lớp bảo vệ bằng đá)
Trang 11H1.11b Đê Hải Hậu – Nam Định sau bão số 07(một dạng đê biển loại 1)
H 1.11a: Một đoạn đê biển Đồ Sơn bị sạt lở sau cơn
bão số 7 ( Một dạng kết cấu đê loại 1)
H1.12 Khắc phục sự cố đê sau bão sỗ 7 (2005)
Một dạng kết cấu đê loại 1
H1.13 Đê Nghiã Hưng – Nam Định sau cơn bão số 07
Trang 12Hình 1.14 : Đê Hải Hậu-
Nam Định bị hư hỏng trong
cơn bão số 7-2005
Hình 1.15 Đê Cát Hải – Đê biển loại 2
Hình 1.16: Đê biển Thanh Hóa
đối phó với bão
Hình 1.17 Đê biển Hậu Lộc – Thanh Hóa sau cơn bão số 7-2005
Hình 118: Đê Giao Thủy – Nam Định đã được tư tu bổ
Trang 131.4 NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ PHÁ HOẠI
1.4.1 Nguyên nhân chung
Theo Lương Phương Hậu 2001, Nguyên nhân phá hoại, mất ổn định của một đoạn
bờ cụ thể với cấu tạo đất đá cụ thể do một trong ba nguyên nhân sau: Nội sinh, nhân
sinh và ngoại sinh hoặc tổ hợp của 02 hoặc cả 03 nguyên nhân đó
- Nguyên nhân nội sinh ở đây được hiểu là do chuyển động của tân kiến tạo và
hiện đại gây nên chuyển động nâng, hạ, giãn, tách trượt của lớp hoặc các
mảng của vỏ trái đất dẫn đến sụ bồi xói, mất cân bằng ổn định đường bờ Hiện
nay việc nghiên cứu nguyên nhân này vẫn còn ít, tản mạn và mâu thuẩn nhau,
cho nên rất khó lý giải các quá trình bồi xói diễn ra do nguyên nhân nội sinh
- Nguyên nhân nhân sinh: Là các hoạt động khai hoang lấn biển, thủy lợi, khai
thác sa khoáng, vật liệu xây dựng, chặt phá rừng phòng hộ có thể gây nên,
thường là mức độ địa phương, trong phạm vi hẹp
- Nguyên nhân ngoại sinh: Các yếu tố ngoại sinh được hiểu là gió, bão, biến đổi
mực nước (dao động mực nước do triều, mực nước dâng do bão, do gió mùa),
dòng chảy (dòng chảy biển, dòng chảy do sóng ), sóng (bão, và điều kiện
thường)
1.4.2 Cơ chế phá hoại
Trong các yếu tố gây nên phá hoại bờ biển như đã nêu trên, rõ ràng chúng ta dễ
nhận ra các yếu tố ngoại sinh là các nguyên nhân chính và phổ biến, chi phối quá
trình xói lở dải bờ biển nước ta Trong các yếu tố ngoại sinh thì sóng biển là yếu tố
hàng đầu gây nên các dạng phá hoại đối với bờ biển có hoặc không có công trình
- Sóng tác dụng trực tiếp lên công trình, hoặc bờ, bằng áp lực xung kích của nó
phá hoại kết cấu bảo vệ, gây trượt mái hoặc tường đứng
- Xô vỡ rồi cuốn trôi công trình hoặc bờ đất cao ven biển khi có sóng triều cùng
kèm theo bão
- Dòng chảy bào mòn mặt bãi, hạ thấp thềm bãi, xâm thực gây mất ổn định chân
công trình, gây sụt lở đất đẩy lùi tuyến công trình vào trong
Theo tài liệu EM-1110-2-1204 (Coastal shore protection), cơ chế phá hoại được
diển tả trong hình H1.19 sau:
Trang 14H 1.19 Cơ chế xâm thực bờ biển dưới tác động của sóng
1.4.3 Các hình thức phá hoại đê biển dọc theo bờ biển việt nam
Theo quan sát thực tế các công trình bị phá hoại, phân tích dựa trên lý thuyết, các
hình thức phá hoại của đê biển Việt Nam (loại đê mái nghiêng) có thể xảy ra một
trong các trường hợp được tóm tắt như sau:
- Mất ổn định tổng thể do trượt cung tròn
- Mất ổn định do mặt trượt gãy khúc
Trang 15H.1.20a: Các dạng phá hoại đê biển
- Mất ổn định cho chuyển vị (theo cả hai phương ngang và phương đứng) bởi
trọng lượng bản thân kết cấu
- Mất ổn định cục bộ do thấm (thấm của nước ngầm- mất cốt liệu thân đê)
- Xói lở cục bộ do mạch đùn
- Hiện tượng hóa lỏng (thay đổi chỉ tiêu cơ lý) bởi dòng chảy, hay tác động của
sóng
- Sự xói mòn lớp phủ bảo vệ mái đê (hoặc dưới lớp bảo vệ) bởi sự mất ổn định
lớp đệm hoặc mất ổn định cục bộ của các khối thuộc lớp phủ
Các dạng phá hoại nêu trên được diễn tả các hình ảnh H 1.20a,b bên dưới đây:
Trang 16Trên đây là các dạng phá hoại về đê biển ở Việt Nam, Nhưng phổ biến nhất vẫn là
sự mất ổn định của các khối bảo vệ trên mái nghiêng do sự tác động trực tiếp của
sóng Cộng thêm trường hợp sóng tràn qua đê, khi sóng rút tạo ra các dòng chảy
ngầm làm mất cốt liệu thân đê làm cho mặt đê bị lún sụt, (điều này chúng ta thấy rõ
là sau các cơn bão mạnh, đê biển của chúng ta bị hư hỏng nghiêm trọng) Bên cạnh
yếu tố về sóng do bão, nước dâng, triều cường yếu tố địa chất yếu cũng là một trong
những nguyên nhân gây mất ổn định thân đê Với địa chất yếu, kết cấu các bộ phận
của đê dễ bị lún sụt dẫn đến sự phá hoại của đê (kè) biển (hầu hết đê biển nước ta,
khu Bắc bộ và Bắc trung bộ được xây dựng trên nền địa chất tương đối yếu)
Một nguyên nhân gián tiếp không thể không kể đến đó là nạn chặt phá rừng phòng
hộ ven biển Trong những năm gần đây, nền kinh tế biển phát triển mạnh, các dãy
rừng phòng hộ nhường chỗ cho các đầm nuôi tôm, các khu resort du lịch biển Ví dụ
điển hình là năm 1932, một cơn bão cấp 10, 11 xảy ra thì địa hình xung quanh vẫn còn
khác vì lúc ấy còn có dãy rừng phòng hộ ven biển Rừng phòng hộ được xem như một
“đê chắn sóng” hửu hiệu thứ nhất, giảm thiểu được 40%-50% năng lượng của sóng
(gió) Rõ ràng, việc chặt phá rừng đã làm cho thiên tai bão lũ trở nên khắc nghiệt
hơn, trầm trọng hơn
H 1.20b: Các dạng phá hoại đê biển
Khối phủ mất ổn đinh do áp lực
Hình dạng mặt đê (hình chữ S)
Mất ổn định cục bộ
tại bề mặt
Trang 17Vấn đề đặt ra
Đã đến lúc chúng ta phải nghĩ đến việc xây dựng đê vững vàng Điều này liên
quan trực tiếp đến công tác thiết kế, quy hoạch
Trồng và bão vệ rừng phòng hộ, rừng phòng hộ được ví như là “đê chắn sóng” sẽ
làm giảm thiểu một phần năng lượng sóng, gió Điều này giảm thiểu thiệt hại về
thiên tai gio bão gây ra
Trang 18CHƯƠNG 2
CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN LIÊN QUAN ĐẾN KẾT CẤU ĐÊ BIỂN VÀ
CÁC QUY PHẠM-TIÊU CHUẨN HIỆN HÀNH 2.1 CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN LIÊN QUAN ĐẾN KẾT CẤU ĐÊ BIỂN
Biển là một môi trường luôn bị xáo trộn, dao động bởi nhiều tác nhân khác nhau,
có thể phân biệt trước tiên là các hiện tượng sóng, thủy triều và dòng chảy biển Tùy
theo nguyên nhân và tính chất của chuyển động có thể phân biệt nhiều dạng chuyển
động chi tiết hơn Khái niệm về các yếu tố thủy hải văn liên quan có thể được diển
đạt như sau:
2.1.1 Sóng biển
Sóng biển là các dao động mặt biển theo phương đứng, có chu kỳ khoảng từ 3 giây
đến 25 giây và biên độ giao động có thể từ vài met đến 30m Các sóng biển này,
theo nghĩa thông thường là các sóng do gió gây ra Ngoài các sóng do gió còn có thể
kể đến một số dạng sóng do các nguyên nhân khác gây ra như sóng do khí áp, sóng
do động đất (sóng thần – Tsunami)
Sóng biển thường có tác động trực tiếp, rất mạnh và nhanh lên các công trình ven
bờ, vì vậy cần phải có giải pháp kết cấu hữu hiệu chắn sóng, tiêu hao năng lượng
sóng để giảm bớt thiệt hại cho công trình Ngoài ra dao động sóng dễ làm cho bùn
cát, cốt liệu bốc rời khỏi đáy và vận chuyển đi nơi khác Về phương diện này, tác
động của sóng có thể thấy rỏ rệt, thể hiện ngay sau một thời gian ngắn, ví dụ sau một
thời gian ngắn, đường bờ đã thay đổi hãn Bên cạnh đó sóng luôn luôn có các tác
động rất dài hạn, mang tính chu kỳ đến hình thái bờ biển
2.1.2 Thủy triều
Thủy triều là các dao động của mặt biển theo phương đứng do ảnh hưởng lực hấp
dẫn của các thiên thể và có thể phân tích thành nhiều thành phần có chu kỳ khác
nhau dài từ 12 giờ đến hơn 19 năm Theo bản đồ phân vùng nước dâng do bão, thủy
triều và chiều cao sóng cực đại theo quy chuẩn xây dựng Việt Nam, 1998, biên độ giao
động triều ở vùng ven biển nước ta khoảng 1-3m
Các dao động theo phương đứng có chu kỳ của mặt biển như sóng và thủy triều lại
luôn luôn gây ra đồng thời các dòng chảy dao động ngang, gọi là dòng chảy do sóng,
do triều tùy theo nguyên nhân các dòng dao động ngang này có thể cùng pha hoặc
lệch pha với dao động đứng của mặt biển
Thuỷ triều làm thay đổi mực nước vì thế có ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn cao
độ của các công trình ven biển nói chung và cao độ đỉnh đê nói riêng
Trang 192.1.3 Nước dâng
Ngoài các dao động theo phương đứng như sóng và thủy triều, hiện tượng nước
dâng do bão cũng là một yếu tố cực kỳ quan trọng không thể không kể đến Đây là
trường hợp mực nước biển dâng cao khi bão đổ bộ vào bờ biển Nguyên nhân chủ yếu
là do gió thổi mạnh đẩy dồn nước vào bờ Nước dâng do bão ven biển Việt Nam có
thể đạt đến 03 mở khu vự bắc bộ Ngoài ra mực nước ven bờ còn có thể dâng cao do
lượng mưa lũ đi kèm, do áp thấp khi có bão
Hiện tượng nước dâng do bão kết hợp với triều cường có thể gây nên sự ngập lụt
nghiêm trọng đối với vùng ven biển Vì vậy khi tính toán cao độ đỉnh đê phải xem xét
khả năng xuất hiện đồng thời hai hiện tượng này
2.1.4 Hải lưu
Hải lưu hay còn gọi là dòng chảy biển là sự dịch chuyển giữa các khối nước lớn
trên mặt hay trong lòng môi trường nước, tạo thành dòng chảy tương đối đều
Nguyên nhân gây ra hải lưu có thể là:
- Lực tác động từ bên ngoài, có thể là do gió
- Lực tác động bên trong môi trường nước, hay lực khuếch tán do chênh lệch về
độ mặn và nhiệt độ
Các nguyên nhân này cũng biến đổi theo mùa, theo năm nên các dòng hải lưu cũng
biến đổi theo mùa hay năm
2.2 SỐ LIỆU ĐẦU VÀO CHO CÔNG TÁC THIẾT KẾ
Ngoài các số liệu về địa chất, địa hình, thủy địa hình, ta có thể lấy đem vào tính
toán dựa vào kết quả khảo sát Đây là các yếu tố ít thay đổi theo thời gian Riêng các
yếu tố về khí tượng thủy văn (sóng, gió, mực nước, dòng chảy ) là những yếu tố
động, thay đổi theo thời gian, và diển biến có quy luật hoặc không có quy luật rõ
ràng Khi thiết kế các công trình liên quan đến các yếu tố khí tượng thủy văn, việc
phân tích và lựa chọn số liệu phục vụ cho công tác thiết kế có ý nghĩa hết sức quan
trọng liên quan đến chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật, và chức năng cũng như tuổi thọ công
trình
2.2.1 Mực nước triều thiết kế và các phương pháp xác định
2.2.1.1 Diễn toán mực nước triều thiết kế
Mực nước triều thiết kế (gọi tắt là mực nước thiết kế) bao gồm mực nước cao thiết
kế (MNCTK) và mực nước thấp thiết kế (MNTTK)
Mực nước cao thiết kế thông thường được xác định theo phương pháp tính toán tần
suất mực nước cao nhất năm Ví dụ, ở vùng bán nhật triều, mỗi năm đo được hơn 700
số liệu đỉnh triều, khoảng 350 cho vùng nhật triều Chúng suất hiện dưới sự tổng hợp
Trang 20các yếu tố thiên văn, khí tượng do đó có tính ngẫu nhiên nhất định Tập hợp các số
liệu đỉnh triều trong một năm đó có thể coi một cách gần đúng là một liệt kê các biến
ngẫu nhiên Số hạng lớn nhất trong liệt kê đó là mực nước triều cao nhất năm nếu có
n năm thì sẽ có n mực nước lớn nhất Vì các số hạng mực nước lớn nhất là cực trị,
phân bố xác suất của nó là phân bố cực trị
Trong n trị số mực nước triều cao nhất năm, gọi tần suất xuất hiện của mực nước
bằng hoặc cao hơn trị số nào đó là P(%), chu kỳ lặp lại T (năm)
ta có:
P
Chu kỳ lặp lại là một khái niệm trung bình Mực nước được coi là lặp lại 50 năm 1
lần, không nhất thiết là đúng 50 năm thì xuất hiện trở lại mực đó Trên thực tế trong
50 năm có thể xuất hiện mấy lần, thậm chí không xuất hiện T chỉ biểu thị một thời
gian dài, trung bình cứ 50 năm thì xuất hiện một lần Mực nước có T = 50 năm (Z50),
thì P=100/T = 20%, Ý nghĩa: Mực nước có giá trị bằng hoặc lớn hơn Z50 có khả năng
xuất hiện hàng năm là 20%, xác suất không xuất hiện là hàng năm là 1-P(%)
Giả thiết thiết kế đê biển cho thời gian sử dụng N năm, trong niên hạn sử dụng của
nó, Xác suất xuất hiện mực nước thấp hơn Z50 là
Nếu thời gian sử dụng công trình N = 50 năm, từ công thức 4.2 và 4.3, ta có thể tính
được xuất an toàn để đê biển không gặp mực nước Z50 (50 năm xuất hiện một lần) là
36.4%, còn xuất nguy hiểm là 63.6%
Để tiến hành phân tích tần xuất mực nước cao nhất năm, thường phải có số liệu
liên tục không ít hơn 20 năm, và cần điều tra thêm mực nước cao nhất đã xuất hiện
trong lịch sử Dạng đường cong phân tích tần suất mực nước thường sử dụng dạng
đường cong tần suất lý thuyết phân bố dạng cực trị I (phân bố Gumbel) Đối với khu
vực cửa sông, chịu ảnh hưởng dòng chảy sông thường dùng đường cong tần suất lý
thuyết phân bố dạng Pearson III
Phương pháp phân tích tần suất dạng cực trị I như sau:
Ví dụ có n giá trị mực nước cao nhất năm, xếp thứ tự Zi, trị số trung bình của nó là:
Z = ∑n Zi n
Trang 21Sai số quân phương của mực nước Zi trong n năm là:
2
2 ( )
1
Z Z n
Sau khi tìm ra các trị số Zp theo công thức 3.6, có thể vẽ lên giấy kẻ ô xác suất
đường cong tần suất lý thuyết mực nước triều cao, đồng thời chấm lên các điểm tần
suất kinh nghiệm để kiểm tra mức độ phù hợp giữa lý thuyết và thực tế
Trong liệt kê số liệu mực nước cao nhất năm Zi, sắp xếp theo thứ tự giảm dần, tần
xuất kinh nghiệm P của số hạng m được tính như sau:
2.2.1.2 Phương pháp diễn toán mực nước triều cao thiết kế khi trong số liệu điều tra
có mực nước đặc biệt lớn
Trong trường hợp ngoài số liệu mực nước triều thực đo n năm vốn có, thường qua
điều tra có được số liệu mực nước đặc biệt lớn ZN xuất hiện trong N năm lịch sử, thì
tiến hành phân tích tần suất như sau:
N Z N
N , còn tần xuất kinh nghiệm của các mực nước khác vẫn tính theo (2.7)
Trang 22Bảng 2.1: Trị số λpm của quy luật phân bố cực trị loại 1
2.2.1.3 Diễn toán mực nước cao thiết kế trong trường hợp tài liệu không đầy đủ
a) Khi trong khu vực định xây dựng định xây dựng công trình không có số liệu mực
nước dài ky, có thể tính toán mực nước cao thiết kế theo phương pháp “so sánh cực trị
lệch pha Điều kiện áp dụng phương pháp này là khu vực thiết kế công trình (Trạm y)
Trang 23có ít nhất 05 năm số liệu thực đo Trạm được chọn tham chiếu (trạm X) cần có số liệu
thực đo ít nhất 20 năm liên tục và thỏa mản các điều kiện tương tự về tính chất triều,
vị trí địa lý gần, chịu ảnh hưởng của sóng, chịu tác động của nước dâng, nước hạ
tương tự nhau Lúc đó có thể giả thiết rằng hiệu của mực nước triều cao thiết kế và
mặt phẳng biển trung bình cùng với chu kỳ lặp của hai trạm là tỷ lệ thuận với hiệu trị
số trung bình của mực nuớc cao nhất năm và mực nước trung bình ở hai trạm, tức là:
x
Y x x
y y
R
R A Z
A Z
=
−
−
(2.10) Trong công thức trên:
- Zx, Zy : Phân biệt biểu thị mực nước cao thiết kế cùng chu kỳ lặp lại của trạm
X (đã biết) của trạm Y (cần xác định);
- Ax, Ay: Phân biệt biểu thị mặt phẳng biển trung bình ở hai trạm X, Y
- Rx, Ry: Phân biệt biểu thị hiệu trị số giữa trị số trung bình mực nước cao nhất
năm cùng kỳ và mặt phẳng biển trung bình ở hai trạm X, Y
R
R A
b) Nếu tại vị trí công trình không có số liệu thực đo liên tục trong 5 năm, Lúc đó tại
trạm y cần tiến hành đo đạc mực nước đồng thời với trạm X trong một thời gian ngắn
(có thể 01 tháng), với số liệu này xác định mực nước cao thiết kế của trạm Y như sau:
1 Trước hết sử dụng số liệu quan trắc đồng bộ trong một tháng, phân biệt tìm ra
mặt phẳng biển trung bình đoản kỳ trong thời đoạn chênh lệch triều cao nhất của
tháng đó ở hai trạm, tức trị số trung bình toán học của mực nước triều thực đo trong
thời đoạn đó, biểu thị là Asx, Asy
2 Sử dụng số liệu mực nước thực đo của tháng đó, phân biệt vẽ ra đường quá trình
mực nước triều của hai trạm, và chập hai mặt phẳng biển trung bình của hai trạm vào
nhau, điều chỉnh sao cho thời gian chân triều và chân triều của hai đường quá trình đó
trùng nhau, để so sánh dạng triều và chênh lệch triều của chúng có tương tự nhau hay
không
3 Nếu dạng triều hai trạm tương tự nhau, mực nước hai trạm không bằng nhau là
do chênh lệch triều hai trạm gây ra Vì vậy có thể giả thiết rằng hiệu số giữa mực
nước cao thiết kế của hai trạm Zx, Zy và mặt phẳng biển trung bình nhiều năm Ax và
Ay tỷ lệ thuận với chênh lệch triều của hai nơi, tức là:
x
y x x
y y
R
R A Z
A Z
=
−
−
(2.12)
Trang 24H 3.1: Quan hệ các mực nước triều đặc trưng
Xét về hình thức, công thức 3.12 và công thức 3.10 giống nhau, nhưng vế phải của
hai công thức này không như nhau Tỷ số Ry/Rx ở công thức 3.12 biểu thị trị số trung
bình của trị số chênh lệch triều ở hai trạm, cũng tứ là phân biệt tính toán chênh lệch
triều Ryi và Rxi của mỗi ngày (ở vùng bán nhật triều có hai trịi số trong một ngày) và
yi
R
R n R
4 Giả thiết hiệu số giữa mặt phẳng biển trung bình nhiều năm và đoản kỳ ở hai
trạm là bằng nhau:
A A A A
Ax – Mặt phẳng biển trung bình của trạm X (đã biết);
Zx – Mực nước cao thiết kế năm ở một chu kỳ lặp nào đó của trạm X (đã biết);
Zy – Mực nước cao thiết kế cùng chu kỳ lặp ở trạm Y (cần xác định)
Biểu đồ thể hiện quan hệ các mực nước triều đặc trưng trong hai công thức (2.13)
và (2.14) được thể hiện ở hình sau:
Trang 25L: CHIỀU DÀI SÓNG
VÙNG ĐỈNH SÓNG VÙNG ĐÁY SÓNG
Hình 2.2 Các thông số cơ bản của sóng
Tiêu chuẩn 14 TCN 130 -2002, Phụ lục A4 đưa ra bảng giá trị về mực nước triều
cực đại, cực tiểu và cực trị thiên văn của các trạm mực nước tiêu biểu dọc bờ biển
Việt Nam
2.2.2 Yếu tố sóng
2.2.2.1 Các khái niệm
- Sóng biển là những dao động đứng của mặt biển do các ngoại lực khác nhau như
lực do gió, lực tạo triều, khí áp và lực do động đất Ta gọi sóng biển thông thường là
những dao động sóng gây ra do gió, biểu hiện trên mặt biển bằng những dãy vô tận
các gợn sóng gần như song song và đồng dạng với nhau, các gợn sóng này di chuyển
hay truyền gần như đều theo hướng gió thổi vào bờ
- Đường mặt sóng (profil sóng), là đường giao giữa mặt nước gợn sóng và mặt
phẳng thẳng đứng theo hướng chuyền sóng
- Chiều cao sóng H là chêch lệch độ cao giữa điểm cao nhất của đường mặt sóng
(đỉnh sóng) và điểm thấp nhất liền kề (đáy sóng hoặc chân sóng)
- Chiều dài sóng L là khoảng cách ngang giữa hai đỉnh sóng kế tiếp nhau
- Độ dốc sóng là tỉ số số H/L
- Chu kỳ sóng T là khoảng thời gian hai đỉnh sóng liên tiếp đi qua một điểm cố
định
- Vận tốc truyền sóng C là tốc độ truyền của dao động sóng là quảng đường mà
sóng truyền được trong thời gian t dễ dàng nhận thấy rằng C = L/T
- Đầu sóng là phần đường mặt sóng nằm trên mực nước tĩnh còn bụng sóng là phần
nằm dưới mực nước tĩnh
- Đường đầu sóng là hình chiếu đường nối đỉnh của một con sóng trên mặt bằng
Khi sóng truyền ổn định theo một hướng, đường đầu sóng sẽ thẳng và vuông góc với
hường truyền sóng
Trang 262.2.2.2 Quá trình hình thành sóng do gió
Ngoại trừ các loại sóng thần do động đất, sóng khí áp, sóng khí áp, sóng triều,
thông thường sóng biển là do gió thổi trên mặt nước gây ra Quá trình hình thành và
phát triển sóng do gió có thể mô tả như sau:
- Giai đoạn phát sinh sóng do gió: khi có một ngọn gió, mặt biển sẽ xuất hiện
những gợn lăn tăn, gió càng mạnh thì biến dạng của mặt biển càng lớn tạo thành
những xáo động có tính hỗn độn, không có thứ tự, không biểu lộ một hướng truyền
sóng nào, đó là những dao động mang tính chất 03 chiều
- Giai đoạn phát triển của sóng do gió: nếu gió thổi liên tục thì các sóng nhỏ chồng
lên nhau thành các sóng lớn, hình thành các con sóng rõ nét và truyền đi theo hướng
gió thổi (Hình 3.3 a) Các dao động dần mang tính chất hai chiều Trong giai đoạn
phát triển, đường mặt sóng do gió có dạng không đối xứng, đầu sóng bị xô về theo
hướng gió thổi, bụng sóng bị kéo dài và có độ dốc nhỏ Khi độ dốc sóng đạt đến một
giá trị tới hạn nào đó thì các đầu sóng bị xô vỡ tạo thành các cuộn bọt nước màu
trắng, đây là hiện tượng sóng vỡ nước sâu Những con sóng trong giai đoạn phát triển
là các dao động cưỡng bức hình thành trong vùng gió thổi hay khu vực bão, Ta gọi
khu vực này là vùng tạo sóng hay khu đà gió Độ lớn của sóng phụ thuộc vào tốc độ
gió thổi, thời gian gió thổi và đà gió
- Giai đoạn truyền sóng ổn định: Các con sóng cưởng bức trong khu đà gió lại tạo
ra các dao động của mặt nước truyền ra ngoài vùng gió thổi như là các dao động tự
do Các dao động tự do này có tính ổn địn và đều hơn, các đường đầu sóng sẽ thẳng
hơn và dài hơn, tạo thành các sóng hai chiều hay sóng lăng trụ, đó là các sóng biển
theo nghĩa thông thường (hình 2.3 b) Đây là giai đoạn truyền ổn định của sóng do
gió
Hình 2.3 Dạng của các đường mặt sóng ở những giai đoạn
khác nhau trong quá trình hình thành sóng do gió
Sóng thực tại các thời điểm
Trang 272.2.2.3 Các hiện tượng của sóng biển
a) Biến dạng sóng theo độ sâu:
Khi sóng truyền qua vùng có độ sâu thay đổi thì chiều dài sóng, biên độ sóng và
hướng truyền sóng có sự biến đổi, trong khi chu kỳ sóng hầu như cố định Nhìn chung
khi độ sâu nước giảm, thì chiều dài sóng L giảm, vì vậy tốc độ truyền sóng C = L/T
cũng giảm theo Nếu sóng truyền thẳng góc vào một bờ dốc thoải thì các biến đổi này
làm cho chiều cao sóng H giảm nhẹ sau đó tăng nhanh , độ dốc sóng H/L giảm nhẹ
rồi tăng nhanh khi chiều sâu giảm dần Các biến dạng của sóng khi độ sâu giảm gọi
là hiện tượng sóng cạn hay biến dạng sóng
b) Hiện tượng sóng vỡ nước cạn
Do hiện tượng biến dạng, độ dốc sóng tăng dần khi vào gần bờ, khi độ dốc sóng
đạt đến một giới hạn thì sóng bị đổ ập về phía trước, tạo ra một vùng xáo trộn có
nhiều bọt nước ở mặt trước của ngọn sóng Đây là hiện tượng sóng vỡ nước cạn Khi
độ dốc đáy thoải các sóng vỡ không bị mất tính đối xứng nhiều, chỉ hình thành một
góc nhọn 120 độ ở đỉnh, cao hơn mực nước tĩnh khoảng ¾ H Ngược lại trên một đáy
có độ dốc lớn, đường mặt sóng không còn đối xứng nữa, hiện tượng sóng vỡ diễn ra
rất rõ rệt, rất mạnh với đầu sóng bị ném lên cao, xô về phía trước thành các lưỡi nước
trước khi đổ xuống thành cuộn Sau khi bị vỡ chiều cao sóng giảm hẵn đi, do năng
lượng bị tiêu hao khi vỡ, sóng tiếp tục được truyền vào bờ và lại bị biến dạng do địa
hình đáy, vì vậy có thể bị vỡ nhiều lần trước khi vào đến bờ Mỗi vị trí sóng vỡ trên
bờ dốc được nhận diện bằng một đường nước cuộn, sủi bọt trên mặt bằng, các vị trí
này rất nguy hiểm khi biển động vì khi vỡ, năng lượng sóng được giải phóng một cách
đột ngột làm ảnh hưởng đến độ ổn định của công trình
c) Hiện tượng khúc xạ
Nếu đường đầu sóng không song song với các đường đồng sâu của đáy biển thì, do
tốc độ truyền sóng giảm dần theo chiều sâu, đầu sóng phía gần bờ truyền đi chậm hơn
phía xa bờ, hướng truyền sóng sẽ bi xoay dần theo khuynh hướng làm cho các đường
đầu sóng chở nên song song với đường đồng sâu Hiện tượng thay đổi hướng truyền
sóng do địa hình đáy này gọi là hiện tượng khúc xạ sóng Do hiện tượng khúc xạ mà
có hiện tượng tập trung sóng chung quanh một đão hay một mũi đất làm cho chiều cao
sóng tăng Ngược lại khi sóng truyền vào một vịnh, vũng các hướng truyền sóng xòe
ra và do vậy chiều cao sóng bị giảm
e) Hiện tượng nhiễu xạ
Khi một phần đường đầu sóng bị cản lại bởi một vật cản (đầu của đê chắn sóng,
mũi đất, hoặc đảo) thì sóng tại mũi đất hay đầu đê sẽ truyền vào trong vùng được che
chắn theo các tia xuất phát từ đầu mũi đất tạo thành những đường đâud sóng đồng
Trang 28tâm với chiều cao sóng càng giảm khi càng xa mũi đê, chiều dài và chu kỳ sóng
không thay đổi Hiện tượng truyền sóng phía sau một vật cản gọi là nhiểu xạ
f) Hiện tượng phản xạ
Hiện tượng phản xạ sóng, là hiện tượng sóng bị dội ngược lại khi gặp phải một vật
cản dạng bờ vách rộng như một bờ dốc đứng hoặc tường chắn sóng Ở vùng nước
trước bờ vách có sự cộng tác dụng của sóng tới và sóng phản xạ tạo nên một hệ thống
sóng đứng hay sóng dừng Chiều dài và chu kỳ sóng không thay đổi khi phản xạ
Khi sóng tới vuông góc với bờ vách đứng, kín và nhẵn, sóng phản xạ sẽ có chiều
cao bằng sóng tới và sóng đứng trước bờ có chiều cao gấp đôi sóng tới, ta gọi là phản
xạ toàn phần
Nếu sóng tới tiến xiên góc với vách đứng, hiện tượng phản xạ sóng nước tương tự
như hiện tượng phản xạ sóng ánh sáng, sự phối hợp giữa sóng tới và sóng phản xạ tạo
nên trước vách đứng một vùng sóng đứng giao thoa xiên góc phức tạp có dạng ô mắt
cáo
Khi vách không thẳng đứng hoặc không kín hoàn toàn, chỉ có một phần năng lượng
sóng bị dội trở lại trong sóng phản xạ, ta gọi là phản xạ từng phần Hệ thống sóng
đứng tạo thành trong trường hợp này có chiều cao sóng nhỏ hơn so với trường hợp
sóng phản xạ toàn phần
2.2.3.4 Các lý thuyết sóng phổ biến và kết quả nghiên cứu
Lý thuyết sóng gió được dựa vào công cụ toán học cao cấp, nhằm dự báo, xác định
các thông số cơ bản về sóng (H,L,T,C ) Qua đó xây dựng được các quan hệ ràng
buộc các thông số lại với nhau, và thông số sóng với thông số địa hình (Độ sâu nước
d, độ dốc đáy biển i, độ nhám và các chỉ số khác) Tiếp đến là giải quyết được các
vấn đề về tác động của sóng lên công trình (áp lực sóng, năng lượng sóng )
Để xây dựng lý thuyết sóng biển, người ta phải giả thiết chất lỏng (nước biển);
- Đồng nhất
- Không nén được
- Bỏ qua ảnh hưởng của ma sát
- Đáy biển coi như mặt phẳng nằm ngang;
- Chấp nhận sóng điều hòa
Những giả thiết này là chấp nhận được, vì khi kiểm nghiệm thực tế sai số nằm
trong gới hạn cho phép
Các lý thuyết sóng phổ biến
- Lý thuyết sóng tuyến tính có biên độ nhỏ
Trang 29- Lý thuyết sóng Sinusoidal
- Lý thuyết sóng đơn
- Lý thuyết sóng thống kê
- Lý thuyết phân tích phổ
Đi kèm với các lý thuyết sóng này, giới thiệu một số các nhà học giả của thế giới
trong lĩnh vực nghiên cứu như: Airy, Stoker, Wagner, Bretshneider, Pierson,
Neumann, Wilson, Osato, Shuto, Goda, Suleikin và Sidorove
Bao chùm lên mọi lý thuyết về sóng biển là lý thuyết sóng có biên độ nhỏ hay còn
gọi là lý thuyết sóng tuyến tính (H<<L)
Sau đây là kết quả nghiên cứu lý thuyết sóng có biên độ nhỏ
Kết quả nghiên cứu cho 03 vùng nước:
- Vùng nước ven bờ : d/L ≤ 1/20 (Kd ≤ π/10)
- Vùng nước nông 1/20≤ d/L≤1/2 (π/10≤ kd≤π)
- Vùng nước sâu: 1/2≤ d/L (kd ≥ π)
Trang 30Bảng 2.2: Tổng Hợp kết quả nghiên cứu lý thuyết sóng tuyến tính
Trong các công thức trong bảng 2.2, Giá trị θ = (Kx - ωt)
Trong đó:
- K là số sóng: K = 2π/L
- ω là tần số góc ω = 2π/T
- T, L là chu kỳ và chiều dài sóng
Trang 312.3 QUY PHẠM VÀ TIÊU CHUẨN HIỆN HÀNH LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC
THIẾT KẾ ĐÊ BIỂN
2.3.1 Tiêu chuẩn, quy phạm Việt Nam
Các Tiêu chuẩn – Quy phạm Việt Nam hiện hành liên quan đến các vấn đề tính
toán sóng, nước dâng, tải trọng tác động lên công trình có thể kể ra như sau:
- Quy chuẩn xây dựng, tập III nhà xuất bản xây dựng, năm 1997
- Công trình biển cố định –phần II: Điều kiện về môi trường do Bộ Khoa Học
Và Công Nghệ ban hành năm 1998 (TCVN 6170-2);
- Tải trọng và tác động (do sóng và do tàu) lên công trình thủy, do Bộ Giao
Thông Vận Tải ban hành năm 1995;
- Tiêu chuẩn ngành 14 TCN 130-2002: Hướng dẫn thiết kế đê biển, do Bộ Nông
Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn ban hành năm 2002
- Nền các công trình thủy công –Tiêu chuẩn thiết kế : TCVN 4253-86, do Ủy
Ban Xây Dựng Cơ Bản Nhà Nước ban hành năm 1986
- Kết cấu bê tông và bê tông cốt thép thủy công – Tiêu chuẩn thiết kế TCVN
4116: 1985
2.3.2 Tiêu chuẩn – Quy phạm nước ngoài
Hiện nay trong công tác thiết kế; quy hoạch, Chúng ta có tham khảo một số tiêu
chuẩn nước ngoài có liên quan, điển hình như:
- Quy phạm Liên Xô CH-92
- “Technical Standard and Commentaries For Port And Habour Facility in Japan”
(Tiêu chuẩn kỹ thuật và chú giải đối với các công trình cảng ở Nhật Bản) Phiên bản
Tiếng Việt là kết quả hợp tác (từ tháng 5/2002 đến tháng 2/22004) giữa Hội Cảng
Đường Thủy Thềm Lục Địa Việt Nam (VAPO) với Hiệp Hội Hợp Tác Cảng Nước
Ngoài Nhật Bản (JOPCA) & Viện Phát Triển Ven Biển Nước Ngoài Nhật Bản
(OCDI);
- Bộ tiêu chuẩn anh BS 6349 của Viện tiêu chuẩn Anh “British Standard
Institution”
Trang 32CHƯƠNG 3 DỰ BÁO SÓNG
Ở mục 2.2.3.4 chương 2, Chúng ta chỉ đề cập đến sóng hình sin, hay sóng đơn có
các yếu tố sóng H, L, T xác định, thực tế cho thấy sóng biển thực có chiều cao, chu
kì và chiều dài sóng luôn luôn thay đổi không theo một quy luật nào Sóng thực mang
tính ngẫu nhiên và thay cho các yêu tố sóng xác định chắc chắn ta phải dùng phương
pháp thống kê của các yếu tố sóng đó
3.1 CÁC ĐẶC TRƯNG THỐNG KÊ CỦA SÓNG THỰC
Ta gọi hệ sóng là một tập hợp các sóng có cùng nguồn gốc phát sinh trong một khu
vực và trong một thời đoạn nhất định Các đặc trưng thống kê thường dùng để đánh
giá một hệ sóng gồm hai loại được định nghĩa như sau:
Xét một nhóm N trị số chiều cao sóng H đo được tại một điểm, trong một khoảng
thời gian nhất định tương đối ngắn (chiều cao sóng ghi liên tục trong 20-30 phút đo
hoặc trong một cơn bão) Sắp xếp các trị số này theo độ lớn giảm dần và đánh số thứ
tự từ 1 -> N Trên dãy số liệu như thế ta có các định nghĩa sau:
3.1.1 Chiều cao sóng với tần số vượt p%
Xác suất để có chiều cao sóng lớn hơn một trị số Hp% nào đó là
N
n H
H
p( ≥ p%)= (3.1)
Với n là số thứ tự của trị số Hp% hay số giá trị H lớn hơn hoặc bằng Hp% Các trị
số Hp% tương ứng với xác suất p% được gọi là chiều cao sóng với tần số vượt p%
Xác suất để có chiều cao sóng nhỏ hơn Hp% là:
3.1.2 Chiều cao sóng trung bình của các sóng lớn nhất
Lấy trung bình của 1/3 số liệu sóng lớn nhất ta được một đặc trưng thường gọi là
chiều cao sóng có nghĩa (significant heigh) Hs hay H1/3 Đây là giá trị gần đúng với
giá trị ước lượng sóng biển thật khi quan sát bằng mắt
Người ta cũng định nghĩa tương tự các chiều cao sóng trung bình của (1/m)N sóng
lớn nhất với m>=1 và kí hiệu H1/m
Ngoài hai đặc trưng đặc biệt trên, ta cũng có thể dùng các đặc trưng thông thường
của thống kê, ví dụ chiều cao sóng trung bình Htb = H 1 như trên và chiều cao sóng
trung bình bình phương Htbbp được định nghĩa là:
Trang 331 2 1
(3.3)
Đối với chiều dài sóng, và chu kỳ sóng ta cũng có các định nghĩa tương tự
3.1.3 Ví dụ xác định các đặc trung thống kê sóng thực
Giả sử có 21 con sóng ghi chép được ở bảng 3.1 tại một số trạm đo sóng như sau:
Bảng 3.1 Chiều cao và chu kỳ sóng ghi được
STT Chiều cao H(m) Chu kỳ T(s) Số hiệu để ghi STT Chiều cao H(m) Chu kỳ T(s) Số hiệu để ghi
a) Thông số sóng tối đa
Từ bảng 3.1 ta thấy ngay sóng số 16 có chiều cao tối đa:
Hmax = 4.89m, Tmax = 8s
Thực tế ta thấy Tmax = 11.9s (Sóng số 04), xong chiều cao sóng số 04 là 2.58m nên
Tmax phải lấy theo chiều cao sóng Hmax Như vậy T lấy theo H
Hình 3.1 Ghi chép 21 con sóng
Trang 34b) Chiều cao sóng H 1/10
Đó là chiều cao trung bình của 1/10 số sóng lớn nhất Ở bảng 3.1 có 21 giá trị đo,
1/10 số sóng đó ta tạm tính gần đúng là 2 con sóng ta thấy hai sóng 16 và 3 có giá trị
10 /
10 /
1 = + =
c) Chiều cao sóng 1/3 (H s )
Lấy trung bình của 1/3 số sóng lớn nhất trong chuỗi số liệu: Ta có 21 giá trị chiều
cao sóng, 1/3 của số sóng là 1/3 * 21 = 7 giá trị sóng Ta thấy 07 giá trị sóng lớn nhất
là: sóng số 16, 3,15,5,21,19,18
m
7
87.294.298.22.308.452.489.4
3 /
3 /
d) Chiều cao sóng trung bình
Chiều cao sóng trung bình Htb và chu kì sóng trung bình Ttb của 21 sóng được tính
3.2 PHÂN BỐ XÁC SUẤT CỦA CÁC YẾU TỐ SÓNG THỰC
3.2.1 Phân bố xác suất của chiều cao sóng
Hình 3.2 Hàm mật độ xác suất và hàm phân bố tần số vượt theo Rayleigh
Trang 35Theo Ts Trần Thu Tâm – Công Trình Ven Biển, 2002, Nếu xem dao động của mặt
biển là tổng hợp tác động của rất nhiều sóng đơn hình sin khác nhau về chiều cao, tần
số, góc pha, ta có thể viết phương trình đường mặt sóng như sau:
)cos(
Các dao động này có chu kỳ T thay đổi trong một khoảng thời gian hẹp từ 2s đến
20s, hay ω = 2π/T nằm trong khoảng (0.31-3.1) rad/s và thường tập chung quanh giá
trị ωp nào đó, vì vậy có thể xem tần số dao động ω chỉ phân bố trong dải hẹp quanh trị
số ωp
Ki hay chiều dài sóng Li = 2π/ki là các đại lượng phụ thuộc vào ω nên cũng chỉ dao
động trong một khoảng hẹp Góc pha ϕi có thể xem như phân bố ngẫu nhiên trong
khoảng (0 - 2π)
Xem η là một quá trình ngẫu nhiên tuân theo phân bố chuẩn Gauss thì phân bố xác
suất của chiều cao sóng Hi tuân theo chuẩn phân bố Rayleigh Các sóng có đặc tính
này gọi là sóng phổ hẹp Giả thiết này có thể áp dụng cho tập hợp các sóng trong một
khoảng thời gian ngắn (20-30 phút đo đạc hoặc một cơn bão)
Hàm phân bố xác suất vượt chiều cao Hp% là
2
%
) ( 4
% )
p
H H
H H p
π
−
=
Xác suất để có chiều cao sóng nhỏ hơn Hp% là q = (1-p) và hàm mật độ xác suất
theo chiều cao sóng tại H = Hp% là:
2
) ( 4 2
)
H
tb tb
e H
H H dH
dq H f
π
Để xác định các đặc trưng thống kê của chiều cao sóng chỉ cần biết một giá trị Htb
từ số liệu đo đạc, các phân bố này có tính chất phân bố một thông số
a) Chiều cao sóng có xác suất xuất hiện lớn nhất
Lấy đạo hàm của f(H) và cho bằng không để tìm cực trị f(Ho)max, ta được
tb H H
4
%
p H
Trang 36Nếu gọi σH là độ lệch chuẩn hay khoảng dao động trung bình của H trung quanh
c) Giá trị trung bình của 1/m sóng lớn nhất H 1/m
Để tính toán giá trị trung bình của 1/m sóng lớn nhất H1/m ta phải tính Hp% với p% =
1/m theo (3.7) sau đó lấy trung bình các các giá trị H từ Hp% đến ∝ theo công thức:
1
) (
) (
Hp
Hp m
dH H f
dH H f H
Kết quả có thể viết dưới dạng
)ln(
(2
.)ln(
Với ERFC(x) = 1-ERF(x) là hàm bù sai và ERF(x) là hàm sai số
Hàm sai số được định nghĩa là:
Từ bảng 3.3 và 3.2 ta thấy chiều cao sóng có nghĩa Hs = H 1/3 =1.6H tb
3.2.2 Chu kỳ sóng
Theo giả thiết sóng phổ hẹp tần số hay chu kỳ sóng chỉ thay đổi trong một phạm vi
hẹp, như vậy chu kỳ sóng thường lấy bằng một giá trị trung bình từ số liệu đo đạc, Từ
Trang 37Hình 3.3 Phân bố của chu kỳ sóng theo Krulop và so sánh với phân bố
Rayleigh của chiều cao sóng
đó tính ra chiều dài sóng theo công thức lý thuyết L =gT²/2π cho trường hợp nước sâu,
gT
π
= cho trường hợp chiều sâu nước bằng d
Một số tài liệu giới thiệu các phân bố xác suất cho chu kỳ sóng, các phân bố này
có đỉnh nhọn hơn hay tập chung hơn quanh trị số có xác suất xuất hiện lớn nhất To
Sau đây là một số ví dụ về phân bố xác suất của chu kỳ sóng được GS Trần Minh
Quang (1993) giới thiệu Phân bố này được goijlaf phân bố Krulop, Hàm phân bố xác
suất vượt của chu kỳ sóng nước sâu Tp% ứng với tần số vượt p% có dạng
4
%
) ( 4
% )
p
T T
T T p
tb
p tb
e T
T T T f
π
Chu kỳ sóng Tp% ứng với tần số vượt p% theo (3.10) là
4 4
%
)
1ln(
06.1)/1ln(
Trang 383.3 PHÂN BỐ XÁC SUẤT DÀI HẠN CỦA CÁC ĐẶC TRƯNG SÓNG
3.3.1 Phân bố xác suất dài hạn của các giá trị đặc trưng
Các khái niệm về đặc trưng thống kê sóng (Hp%, Htb, Hs ) chỉ áp dụng cho một hệ
sóng hay một chuỗi sóng kế tiếp nhau và có cùng nguồn gốc phát sinh, ví dụ tập hợp
các giá trị đo được trong khoảng thời gian xác định tương đối ngắn (một cơn bão, mỗi
lần đo 20 phút ) Trên trục thời gian các giá trị này sẽ thay đổi theo mùa, theo năm ,
sự thay đổi này có phần theo qwy luật có phần ngẫu nhiên không theo quy luật, vì thế
phải dùng đến các khái niệm thống kê tương tự như xác định các đại lượng thủy văn
công trình khác
Xét một chuỗi N trị số chiều cao sóng đặc trưng H quan sát được tạ một điểm trong
thời gian T dài nhiều năm Ở đây H là giá trị đặc trưng đạt được từ số liệu đo theo các
khái niệm ở mục 3.2, ví dụ H có thể là giá trị Hp% , H tb , H s của một cơn bão Xắp xếp
các giá trị này theo tuần tự độ lớn giảm dần và đánh số thứ tự từ 1->N Trên dãy số
liệu như thế ta cũng có định nghĩa tần xuất vượt qua một giá trị Hp% như mục 3.2
N
n H
H
p( ≥ p%)=
Với n là số thứ tự của trị số Hp% hay số giá trị H lớn hơn hoặc bằng Hp%, các trị số
Hp% tương ứng với xác suất p% gọi là chiều cao sóng với tần số vượt p%
Quy luật phân bố xác suất của các giá trị chiều cao sóng đặc trưng không tuân theo
Rayleigh nữa mà thay đổi tùy theo điều kiện tạo sóng (sóng do bão, sóng bình thường,
sóng nước sâu, sóng ven bờ )
Ví dụ, ở sóng nước sâu, hàm phân bố xác suất vượt chiều cao sóng do bão thường
dùng là phân bố Weibull có dạng sau:
Hàm mật độ xác suất tương ứng là
αββ
H x p d H f
1
)(
1)
Khi α =2 ta có phân bố Rayleigh, khi α =1 ta có phân bố lũy thừa
Phân bố này có hai thông số α và β các thông số α và β được xác định bằng cách
xấp xỉ hàm (3.13) với chuỗi giá trị quan trắc thực tế Lấy Logarit tự nhiên hai lần
phương trình (3.13) ta được dạng đường thẳng
)ln(
.)ln(
.))
1ln(ln( =α H −α β
p
Trang 39Xấp xỉ các cặp giá trị Y = ln(ln(1/p)); X=ln(H) của chuỗi giá trị quan trắc với đường
thẳng Y =AX+B, dùng cách vẽ đồ thị hoặc phương pháp bình phương nhỏ nhất ta được
A, B và có A=α; β = exp(-B/α) Trong thực tế vì ta đang khảo sát các giá trị cực trị
của đại lượng ngẫu nhiên H, để đạt được kết quả xấp xỉ tốt hơn người ta dùng biến
(H-Ho) thay vì biến H trong các tính toán trên, Ho là một giá trị cố định được chọn để
chuỗi đo xấp xỉ tốt nhất với biểu thức giải thích, có thể chọn Ho là giá trị nhỏ nhất
trong chuỗi đo Phân bố Weibull viết theo (H-Ho ) được gọi là phân bố Weibull có 03
thông số, vì H0 cũng là một thông số mà ý nghĩa vật lý chưa được giải thích rõ ràng,
Theo Ochi, 1982, chiều cao sóng H thường dùng là Hs
Phân bố Weibull cho xác suất tích lũy lớn hơn thực tế quan trắc ở phạm vi các sóng
có H bé Phân bố Logarit chuẩn được Ochi,1982, nhận định là phù hợp hơn khi mô ta
quy luật phân bố xác suất dài hạn của chiều cao sóng ở khu vực các sóng bé Hàm
mật độ xác suất logarit chuẩn có dạng
2
1 )
μ
π
H e H H
Trong đó σ,μ- là hai thông số cần tìm
3.3.2 Chu kỳ lập lại
Việc tính xác suất theo số lần xuất hiện như trên có thể mở rộng qua khái niệm xác
suất theo thời gian trong các điều kiện sau:
- Các số liệu đo hoàn toàn độc lập theo nghĩa xác suất với nhau (như vậy hai giá trị
đo mùa bão lũ và mùa khô là không độc lập xác suất, vì mùa lũ sóng gió lớn hơn)
- Xác suất hay hàm phân bố không đổi theo thời gian (xem quá trình ngẫu nhiên là
dừng)
Như vậy phân bố xác suất vượt theo thời gian bất kỳ bằng nhau và bằng phân bố
xác suất trên chuỗi N số liệu đo trong thời gian T (độ dài của chuỗi quan trắc)
Giá trị Hp% có tần suất vượt là p = n/N trong khoảng thời gian T có nghĩa là:
+ Giá trị Hp% có thể bị vượt p.N lần trong thời gian T (năm), vậy Hp% có thể bị vượt
một lần trong thời gian TR = T/(p.N)
TR gọi là chu kì lặp lại của một giá trị Hp% đã biết có tần số vượt p
Thông thường ta cần phải ngoại suy từ dãy số liệu đo để tìm giá trị chiều cao sóng
H TR (và tần suất vượt) có chu kỳ lập lại TR quy định trước
Giá trị HTR chính là giá trị Hp% ứng với xác suất vượt p = T/(TR N), để xác định H TR
= Hp% biết p% phải dùng mô hình phân bố xác suất, dạng (3.13) với các thông số α,β
được xác định bằng phương pháp xấp xỉ dãy số liệu đo
Trang 40Tóm lại từ dãy N số liệu đo trong T năm ta có thể xác định được phân bố xác suất
vượt p(H≥H p% ) Theo phân bố này tính được xác suất vượt p(H≥H p% ) tương ứng với
chu kỳ lặp lại TR của sự kiện vượt Hp%
R
T N
T
p= 1
Khi trong một đơn vị thời gian (ví dụ một năm) có và chỉ có một giá trị đo duy nhất,
ví dụ các giá trị Hmax hay Hs max hàng năm, thì giá trị T=N, ta có quan hệ thường dùng
giữa chu kỳ lặp lại TR và xác suất vượt p(H≥H p% ) : TR = 1/p
Ví dụ:
- p = 1% ứng với chu kì lặp lại 100 năm (chu kỳ của sự kiện vượt)
- p = 2% ứng với chu kỳ lặp lại 50 năm (vượt một lần trong 50 năm)
Trường hợp tổng quát khi T ≠ N thì thì T R = T/(p.N)
Ví dụ Có 12 giá trị Hs đặc trưng của 12 tháng điển hình, đơn vị thời gian là năm thì
T= 1:
- p =1% ứng với chu kỳ lặp lại TR = T(p/N) = 1/(0.01*12) = 8.333 năm (100
tháng)
- P = 2% ứng với chu kỳ lặp TR = T /(p.N) = 1/(0.02*12) = 4.166 (50 tháng)
3.4 DỰ BÁO SÓNG GIÓ TRÊN BIỂN
3.4.1 Khái quát chung
Để có số liệu đầu vào thật chính xác phục vụ cho công tác thiết kế đê biển, công
tác dự báo sóng gió trên biển đòi hỏi phải có độ tin cậy cao Với mục đích là lựa chọn
các thông số sóng: Chiều cao sóng H; chiều dài sóng L; chu kỳ sóng T phù hợp với
nội dung tính toán thiết kế từng hạng mục, từng cấp công trình
Công tác dự báo sóng gió trên biển phục vụ cho thiết kế các công trình ven biển
bao gồm hai nội dung:
- Dự báo các thông số sóng gió mùa
- Dự báo các thông số sóng bão
Đối với mọi địa điểm xây dựng trước hết cần phải có số liệu về thủy địa hình, có
đầy đủ số liệu thủy – hải văn (Hoa gió, mực nước, thủy triều, hải lưu ) Đặc biệt phải
có đầy đủ các số liệu sau:
- Tốc độ gió W (m/s) ở độ cao trên mực nước biển 10m;
- Các hướng gió kèm theo tần suất
- Đà gió F (Km, m)
- Thời gian gió thổi t (h)