1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Xã Hội

Phân tích so sánh các giải pháp gia cố đê bao chống lũ ở An Giang

7 45 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo phân tích khả năng chống thấm và chống trƣợt sâu của các giải pháp gia cố đê nhằm đƣa ra phƣơng án tối ƣu ở ĐBSCL... Nhƣợc điểm của biện pháp này không có khả năng chống[r]

Trang 1

PHÂN TÍCH SO SÁNH CÁC GIẢI PHÁP GIA CỐ

ĐÊ BAO CHỐNG LŨ Ở AN GIANG

MAI ANH PHƯƠNG * TRẦN NGUYỄN HOÀNG HÙNG **

LÊ KHẮC BẢO ***

Analysis and comparation of reinforcement solutions for earth levees against annual floods in An Giang

Abstract: Earth levees in the Mekong Delta have often broken and slided

causing losses of local people’s life and property Several solutions such

as slope flattening, sand bags, steel mesh, and timber piles have been applied to reinforce earth levees but still remain ineffective These solutions can not cut seepage flows off and improve slope stability The analysis indicates that the FS using timber piles and slope flattening for reinforcement at the lowest water level are 0.97 and 0.96, respectively Earth levees were proposed to reinforce by single or double row soilcrete walls created from cement contents of 250 to 300 kg/m 3 The results suggest that soilcrete walls can cut off seepage and improve slope stability effectively The FS using a single row and a double row soilcrete walls at the lowest water level are 1.38 and 1.76, respectively

1 GIỚI THIỆU*

ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất của cả nước,

đóng góp hơn 48% sản lượng lương thực và

85% sản lượng lúa xuất khẩu của Việt Nam [4]

Hệ thống đê bao chống lũ ở ĐBSCL có vai trò

liên kết các vùng, bảo vệ diện tích hoa màu, và

thúc đẩy nền nông nghiệp trong tỉnh phát triển

toàn diện và bền vững Tuy nhiên, vỡ đê do mùa

lũ làm thiệt hại hàng ngàn hecta lúa Đê bao

thường được xây dựng trên nền đất yếu bằng đất

nạo vét từ các con kênh song song đê nên có sực

chịu tải yếu và không có khả năng chống trượt

sâu Thân đê có nhiều lỗ mọt do không được lu

đầm đúng quy định nên có dòng thấm gây xói

* Học viên cao học trường ĐH Bách Khoa TP HCM,

phuongamtut@gmail.com

** Giảng viên khoa KTXD – Trường Đại Học Bách Khoa

TP HCM, tnhhung@hcmut.edu.vn

*** Học viên cao học trường ĐH Bách Khoa TP HCM,

khacbaole@gmail.com

mòn tạo thành những dòng nước nhỏ cuốn trôi các hạt đất và gây sụp đổ đê Trong mùa năm 2011, hơn 322 m đê bị vỡ làm mất trắng 5479 ha lúa và

435 ha hoa màu, tổng thiệt hại về nông lâm thủy sản là 210,7 tỉ đồng riêng ở An Giang [9] Các biện pháp gia cố như cừ tràm, đắp bao tải cát, và làm thoải mái dốc, v.v., được sử dụng nhưng hiệu quả không cao do gia cố đê tạm thời [9] Giải pháp cọc đất ximăng có khả năng chống thấm và chống trượt sâu [13] Tuy nhiên, giải pháp đất trộn ximăng chưa được nghiên cứu ứng dụng gia cố đê

ở ĐBSCL Bài báo phân tích khả năng chống thấm và chống trượt sâu của các giải pháp gia cố

đê nhằm đưa ra phương án tối ưu ở ĐBSCL

2 CÁC GIẢI PHÁP GIA CỐ ĐÊ BAO CHỐNG LŨ Ở ĐBSCL

2.1 Các giải pháp gia cố đê hiện nay ở ĐBSCL

Các biện pháp chống sạt lở đê hiện nay ở ĐBSCL thường dùng: (i) Giảm áp lực gây trượt như đắp bao tải cát làm thoải và đánh cấp mái

Trang 2

dốc (ii) Giải pháp gia cố mái đất như đóng cừ

tràm và dùng lưới thép B40 [1]

2.1.1 Đắp đê bằng bao tải cát làm thoải

mái dốc

Thân đê được đắp bằng bao tải cát giảm độ dốc

mái dốc nhằm giảm lực gây trượt và tăng sức

chống cắt cho thân đê (Hình 1, Hình 3) Biện pháp

gia cố này có ưu điểm là giá thành rẻ, thi công

nhanh, và không cần thiết bị phức tạp Nhược

điểm của biện pháp này không có khả năng chống

thấm, chống trượt sâu, tiêu thụ cát - nguồn vật liệu

ngày càng khan hiếm, và thu hẹp dòng chảy gây

sạt lở ở những khu vực lân cận [2]

2.1.2 Gia cố chân đê bằng cừ tràm

Chân đê được đóng cừ tràm ổn định trượt cục

bộ chân đê và tăng sức chống cắt cho thân đê

(Hình 2) Giải pháp này có giá thành rẻ, thi công

nhanh, và không cần thiết bị phức tạp, nhưng

không có khả năng chống thấm và chống trượt

sâu Nguồn vật liệu cừ tràm ở địa phương ngày càng khan hiếm và có thể ảnh hưởng đến rừng

và môi trường

2.1.3 Gia cố chân đê bằng lưới thép B40

Mái và đê được gia cố bằng lưới thép B40 nhằm tăng sức chống cắt trong thân đê (Hình 4) Giải pháp này đạt yêu cầu kinh tế nhưng không

có khả năng chống thấm và chống trượt sâu

2.1.4 Giải pháp kết hợp nhiều giải pháp gia

cố đê khác

Đê bao có thể được gia cố kết hợp nhiều giải pháp gia cố đê khác như giải pháp gia cố chân đê bằng cừ tràm kết hợp gia cố mái dốc đê bằng tấm

bê tông cốt thép đúc sẵn hoặc trồng cỏ, giải pháp gia cố kết hợp lưới thép B40 và bao tải cát, v.v Các giải pháp này cần nguồn vật liệu khai thác từ

tự nhiên như cát và cừ tràm, không có khả năng chống thấm, chống trượt sâu, và chỉ sử dụng tạm thời ở các điểm sạt lở trước các mùa lũ

2.2 Đề xuất giải pháp gia cố đê phù hợp

với điều kiện ĐBSCL

Công nghệ đất trộn ximăng đã được nghiên cứu ứng dụng ở nhiều nước trên thế giới

Trang 3

Ximăng được phun và trộn với đất nền theo

chiều sâu (SCDM) để tạo nên hàng cọc đất trộn

ximăng có cường độ cao, có khả năng chống

thấm, và chống trượt sâu Giải pháp này có

nhiều ưu điểm như thời gian thi công nhanh, có

thể tận dụng vật liệu tại chỗ, phù hợp với mọi

loại đất, máy thi công nhỏ gọn và tải trọng nhẹ

(như thiết bị NSV), và giá thành vừa phải Tuy

nhiên, công nghệ này cần có hệ thống thiết bị

chuyên dụng và kiến thức chuyên sâu

Đê bao được gia cố bằng một hoặc hai hàng cọc đất ximăng đường kính 0.6 m Hàm lượng ximăng

sử dụng từ 250-300 kg/m3 cho cường độ đất ximăng của các lớp đất lớn hơn 0.35 MPa theo nghiên cứu trong phòng [1, 3] Cọc đất ximăng có chiều dài 10.5 m đảm bảo gia cố hết lớp đất yếu nên có khả năng chống trượt sâu (Hình 5a) và được

bố trí như một tường cọc (Hình 5b) nên có khả năng chống thấm qua thân đê Ưu nhược điểm của các phương án gia cố được trình bày trong Bảng 1

a) Mặt cắt ngang gia cố b) Mặt bằng gia cố 1 hoặc 2 hàng cọc

Hình 5: Gia cố đê bằng cọc đất trộn ximăng [1, 3]

Bảng 1: Bảng tóm tắt ưu nhược điểm của các phương án gia cố

Đắp bao tải cát làm

thoải mái dốc

Dễ thi công, không cần máy

móc phức tạp, giá thành rẻ

Vật liệu cát ở địa phương ngày càng khan hiếm, không có khả năng chống thấm và chống trượt sâu, làm thu hẹp dòng chảy gây sạt lở ở những khu vực lân cận

Gia cố đê bằng cừ

tràm

Dễ thi công, không cần máy

móc phức tạp, giá thành rẻ

Vật liệu cừ tràm ở địa phương ngày càng khan hiếm, không có khả năng chống thấm

và chống trượt sâu

Gia cố đê bằng lưới

thép B40

Dễ thi công, máy móc thi công đơn giản, giá thành rẻ

Không có khả năng chống thấm và chống trượt sâu

Giải pháp kết hợp Dễ thi công, máy móc thi

công đơn giản, giá thành rẻ

Vật liệu gia cố ở địa phương ngày càng khan hiếm, không có khả năng chống thấm

và chống trượt sâu Giải pháp tường cọc

đất trộn ximăng

Có khả năng chống thấm và chống trượt sâu, thiết bị thi công (NSV) nhỏ gọn, sử dụng vật liệu sẵn có ở địa phương, giá thành vừa phải

Phải có máy móc thi công chuyên dụng và kiến thức chuyên sâu

Comment [HT1]: LAM CHO HINH NAY DAM NET

VA RO HON DAM BAO RANG KHI IN RA CO THE DOC DUOC

Trang 4

3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SO SÁNH

3.1 Số liệu đầu vào

Địa hình và địa chất được thu tập ở đoạn đê

dọc kênh Mười Cai, xã Vĩnh Trạch, huyện

Thoại Sơn, tỉnh An Giang (Hình 6) Đây là đoạn

đê đặc trưng cho đê bao ở ĐBSCL [1] Số liệu địa chất dọc theo hố khoan 25 m được trình bày trong Bảng 2 [10]

Hình 6: Ví trí nghiên cứu các giải pháp gia cố đê

Bảng 2: Các chỉ tiêu cơ lý của lớp đất [10]

Lớp đất Hệ số thấm, k

(m/s)

Dung trọng tự nhiên,  (kN/m3)

Lực dính, c

(kN/m2)

Góc ma sát

trong, φ (0)

Chiều dày, H

(m) Lớp 1 10-6 ÷ 10-4 17,95 20,10 11,87 4,1

Lớp 2 3,64 x 10-8 15,64 6,20 5,45 6,4

Lớp 3 1,66 x 10-8 19,07 19,10 14,97 4,8

Lớp 4 1,37 x 10-8 20,05 29,60 17,48 9,7

3.2 Cơ sở lý thuyết

3.2.1 Lý thuyết dòng thấm trong đất

Phương trình cơ bản trong phân tích dòng thấm

phẳng (2D) được thể hiện ở phương trình (1) [12]

Trong trường hợp dòng thấm ổn định,

0

t

 , phương trình (1) được viết lại:

trong đó: H - Cột nước thấm tổng; k x - Hệ số

thấm theo phương ngang; k y - Hệ số thấm theo

phương đứng; Q - Lưu lượng phụ thêm; θ - hàm

độ ẩm về thể tích; t - thời gian

3.2.2 Hệ số ổn định

Hệ số ổn định (FS – Factor of Safety) được sử

dụng để đánh giá khả năng chống trượt sâu của đê

bao Theo Duncan & Wright (2005), hệ số ổn định

được định nghĩa là tỉ số giữa môment kháng trượt

và môment gây trượt như phương trình (3)

FSMoment chong truot

Moment gay truot (3) Phương pháp Bishop được sử dụng để phân tích

FS dựa trên phương pháp phân mảnh cổ điển với

giả thiết mặt trượt trụ tròn như phương trình (4) và được mô tả trên Hình 7 [11] Theo 22 TCN

262-2000, đê bao đạt điều kiện ổn định khi có hệ số an

toàn FS ≥ 1.4 Hệ số FS được xác định bằng phương pháp lặp, trước tiên cho FS một giá trị ban đầu (thường FS o = 1) sau đó tính lặp, thử đúng dần

FS đạt tới độ chính xác yêu cầu

cos sin tan ' /

sin

c L W u L

F FS

W

trong đó: c’, φ ’ - Lực dính và góc ma sát

trong hữu hiệu; Δl – Chiều dài của mỗi mảnh dọc theo cung trượt; α – Góc nghiêng của mỗi mảnh theo phương ngang; u – Áp lực nước lỗ rỗng; W – Trọng lượng của mỗi mảnh;

Comment [HT2]: PHAI THỐNG NHẤT SỐ THẬP

PHÂN == DAU “.” HAY “,” CHO TOAN BO BÀI BAO NAY !!!

Trang 5

Hình 7: Xác định hệ số an toàn theo phương

pháp phân mảnh [11]

3.3 Phương pháp luận phân tích so sánh

Khả năng chống thấm và chống trượt sâu của các giải pháp gia cố đê hiện nay ở ĐBSCL và giải pháp gia cố đê bằng cọc đất trộn ximăng được phân tích bằng phần mềm SEEP/W và SLOPE/W Lưu lượng mưa ngày được lấy tại

trạm đo Châu Đốc i = 121 mm/ngày = 0,00504

m/giờ (QCVN 02:2009/BXD) Mực nước sông rút với tốc độ 0,2 m/ngày dựa trên kết quả khảo sát thực tế Các trường hợp phân tích được trình bày trong Bảng 3

Bảng 3 Các trường hợp phân tích thấm và ổn định

Trường hợp phân tích Mực nước

sông (m)

Mực nước ruộng (m)

Phân tích thấm

Phân tích ổn định Mực nước sông cao nhất +3,10 +1,42 x x Mực nước sông cao nhất

có mưa

+3,10 +1,42 x x

Mực nước sông rút nhanh +3,10 xuống +0,6 +1,42 x x Mực nước sông thấp nhất +0,6 +1,42 - x

x: có xét đến trong tính toán

Các giải pháp gia cố bằng cừ tràm và lưới

thép B40 có nguyên lý hoạt động là tăng sức

kháng cắt trong thân đê nên chọn phương án gia

cố cừ tràm để phân tích tính toán Các loại vật

liệu này không ngăn được dòng thấm trong đất

nên lấy hệ số thấm bằng hệ số thấm của các lớp

đất Hệ số thấm lớp 1 chọn từ 10-6

đến 10-4 m/s

do thân đê có hiện tượng nứt nẻ và có nhiều lỗ mọt Bề rộng một và hai hàng cọc đất ximăng được quy đổi lần lượt là 0.5 m và 1.0 m Hệ số thấm của hỗn hợp đất ximăng là 10-9 m/s [13] Tải trọng tính toán là hoạt tải xe 2,5 tấn theo 22 TCN 210-92 Các chỉ tiêu cơ lý của hỗn hợp đất ximăng được trình bày trong Bảng 4

Bảng 4: Chỉ tiêu cơ lý của hỗn hợp đất trộn ximăng thiết kế [3]

Hệ số thấm, k

(m/s)

Dung trọng tự nhiên, γw (kN/m3)

Cường độ nén,

q u (kN/m2)

Lực dính, c

(kN/m2)

Góc ma sát trong0

4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Phân tích thấm

a Trường hợp mực nước sông cao nhất

Dòng thấm có xu hướng chảy từ phía sông

sang phía ruộng (Hình 8) [3] Đường dòng trên

Hình 8a và 8b đi qua thân đê, kết quả này cho

thấy các giải pháp gia cố đê hiện nay không có khả năng chống thấm Đường dòng ở Hình 8c

và 8d bị giới hạn và có xu hướng chảy phía dưới cọc đất ximăng, kết quả này cho thấy phương pháp gia cố đất ximăng ngăn được dòng thấm qua đê Lưu lượng thấm qua đê tăng lên khi thân

Trang 6

đê có nhiều lỗ mọt Do không thể đo trực tiếp hệ

số thấm thân đê có lỗ mọt, hệ số thấm thay đổi

từ 10-4 đến 10-6 m/s được dùng để xét sự tác

động thấm của lỗ mọt trong nghiên cứu này

Lưu lượng thấm của các giải pháp làm thoải mái

dốc và gia cố cừ tràm tăng lên hơn 90 lần khi hệ

số thấm của lớp 1 tăng từ 10-6 lên 10-4 m/s và thay đổi không đáng kể khi thân đê được gia cố bằng cọc đất trộn ximăng Giải pháp đất trộn ximăng một và hai hàng cọc làm giảm lưu lượng thấm so với các giải pháp khác lần lượt là 10 và

15 lần (Bảng 5)

a) Đắp bao tải cát làm thoải mái dốc b) Giải pháp gia cố cừ tràm

c) 1 hàng cọc đất trộn ximăng d) 2 hàng cọc đất trộn ximăng

Hình 8: Kết quả phân tích thấm trường hợp mực nước sông cao nhất

Bảng 5: Lưu lượng thấm qua thân đê trong trường hợp mực nước sông cao nhất

Các trường hợp

phân tích

Lưu lượng thấm qua thân đê (m3/h) Thoải mái dốc Cừ tràm Gia cố 1 hàng cọc Gia cố 2 hàng cọc

k Lop1=10-4 m/s 0.13 0.13 0.14 x 10-3 0.97 x 10-4

k Lop1=10-5 m/s 0.13 x 10-1 0.13 x 10-1 0.14 x 10-3 0.96 x 10-4

k Lop1=10-6 m/s 0.13 x 10-2 0.14 x 10-2 0.13 x 10-3 0.93 x 10-4

b Trường hợp mực nước sông cao nhất kết

hợp mưa

Đường bão hòa nước trong thân đê dâng lên

theo thời gian mưa (Hình 9) Hệ số thấm lớp 1

càng nhỏ thì đường bão hòa nước trong thân đê

dâng lên càng nhanh Với k lơp 1 = 10-6 m/s, thân

đê bão hòa hoàn toàn sau 12 giờ mưa Đường bão hòa nước trong thân đê dâng lên không

đáng kể khi k lơp 1 = 10-4 m/s sau 24 giờ mưa, nguyên nhân là do hệ số thấm lớp 1 lớn làm tăng khả năng thoát nước trong thân đê ra phía bên ngoài

Comment [HT3]: CHUYEN TOAN BO THONG TIN

THANH TIENG VIET !!!

DIEU CHINH TUONG TU CHO TOAN BO BAI BAO VA LVTN !!!

Trang 7

a) Đắp bao tải cát làm thoải mái dốc b) Giải pháp gia cố cừ tràm

c) 1 hàng cọc đất trộn ximăng d) 2 hàng cọc đất trộn ximăng

Hình 9: Đường bão hòa nước trong thân đê khi có mưa

c Trường hợp mực nước phía sông

rút nhanh

Đường bão hòa nước trong thân đê khi mực

nước sông rút với vận tốc 0,2 m/ngày từ mực

nước cao nhất xuống mực nước thấp nhất thể

hiện trên Hình 10 Mực nước trong thân đê giảm

khi mực nước sông giảm đối với các giải pháp gia cố hiện nay (Hình 10a, 10b) Kết quả ở Hình 10c và 10d cho thấy đường bão hòa nước trong thân đê không thay đổi khi mực nước phía sông thay đổi, kết quả này cho thấy sự hiệu quả của việc ngăn dòng thấm khi có tường đất ximăng

a) Đắp bao tải cát làm thoải mái dốc b) Giải pháp gia cố cừ tràm

Ngày đăng: 09/03/2021, 04:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w