1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lập tiến độ mạng trên cơ sở phân tích tác động của các yếu tố rủi ro trong quản lý xây dựng bằng mô hình CSRAM

105 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 3,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này xây dựng mô hình đánh giá tiến độ mạng trên cơ sở phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến thời gian hoàn thành công tác của các dự án.. 79 Phụ lục 1: Bảng câu hỏi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA



NGUYỄN HỮU THIỆN

LẬP TIẾN ĐỘ MẠNG TRÊN CƠ SỞ PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ RỦI

RO TRONG QUẢN LÍ XÂY DỰNG

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Công Thạnh

Cán bộ chấm nhận xét 1:………

Cán bộ chấm nhận xét 2:………

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày …… tháng……năm 2008

Trang 3

PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TP.HCM, ngày tháng năm 2008

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ và tên: NGUYỄN HỮU THIỆN Phái: Nam

Ngày tháng năm sinh: 17/09/1982 Nơi sinh: Bình Định

Chuyên ngành: Công nghệ và quản lý xây dựng MSHV:00806190

1 TÊN ĐỀ TÀI:

LẬP TIẾN ĐỘ MẠNG TRÊN CƠ SỞ PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ RỦI RO TRONG QUẢN LÍ XÂY DỰNG

BẰNG MÔ HÌNH CSRAM

2 NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

Xác định các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến tiến độ thi công của dự án xây dựng

Nghiên cứu định lượng tần suất xuất hiện và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến tiến độ thi công công trình theo mô hình CSRAM

Xây dựng chương trình tính nhằm đưa lí thuyết mô hình CSRAM vào thực tiễn

3 NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 30/06/2008

4 NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 30/11/2008

5 HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN CÔNG THẠNH

Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được hội đồng chuyên ngành thông qua

CHUYÊN NGÀNH

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Khi bắt đầu viết những dòng cuối cùng của luận văn này, tôi biết mình sắp

đạt được một điều lớn lao trong cuộc đời Đó là thành quả không chỉ của 6 tháng

nhận nhiệm vụ luận văn, mà là cả quá trình dài phấn đấu trong học tập Những

động lực từ gia đình, thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè luôn song hành bên tôi

trong những lúc khó khăn nhất

Xin chân thành cảm ơn quí thầy cô khoa Xây Dựng, trường Đại Học Bách

Khoa TP Hồ Chí Minh, nơi tôi được hàm thụ những kiến thức, kinh nghiệm làm

việc, làm nền tảng cho những thành công trong cuộc đời

Tôi xin gửi lời tri ân đến thầy Nguyễn Công Thạnh, đã tận tình hướng dẫn

trong quá trình thực hiện đề tài Những gợi ý, định hướng của thầy gợi mở

nhiều điều cho tôi tìm tòi, nghiên cứu

Ba mẹ, các em, bạn bè và các anh chị đồng nghiệp, sự quan tâm của mọi

người đã cổ vũ tinh thần cho tôi rất nhiều!

Xin cám ơn mọi người!

Trang 6

Tóm tắt :

Quản lí tiến độ thi công xây dựng luôn giữ vị trí quan trọng, đóng góp cho

sự thành công chung của dự án xây dựng Kiểm soát tiến độ được thực hiện dễ dàng thông qua các phần mềm quản lí thông dụng Tuy nhiên, với môi trường sản xuất nhiều biến động và đặc điểm sản phẩm mang tính đơn chiếc, những tác động mang tính ngẫu nhiên là hoàn toàn khó trành khỏi Việc chậm trễ trong quá trình

xử lí các tình huống bất ngờ lại có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng Do

đó, việc phân tích và kiểm soát các nguồn nguyên nhân gây tác động tiêu cực hết sức cần thiết, để đảm bảo cho toàn bộ dự án luôn ở trạng thái an toàn Nghiên cứu này xây dựng mô hình đánh giá tiến độ mạng trên cơ sở phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến thời gian hoàn thành công tác của các dự án Chương trình sẽ đánh giá những nguyên nhân ảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng đến tiến độ thi công Với lí thuyết đơn giản, mô hình có nhiều ưu thế khi

áp dụng rộng rãi Với số liệu hiện có, chương trình có thể ứng dụng với những công trình nhà dân dụng thực hiện tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Abstract:

Schedule management always plays an important role contributing to the success of a construction project The schedule can be carried out easily by using various popular management softwares However, because of the unpredictable environment along with the unique feature of each project, it is not possible to avoid unexpected risks that can occur The delay in processing those

unpredictable threats can cause critically huge losses Therefore, analysing and controling all the sources of causes that can have bad effects are very important

to ensure that the entire project is always in a safe state This paper, based on analysing various risk factors’ impacts on construction’s completion time, builds

up a model to evaluate the network schedule The program evaluates the causes

as well as the degree of their effects on the construction schedule With simple theory, this model have advantages when being used commonly Based on the currently obtained data, the program can be applicable to the civil projects in Hochiminh city

Trang 7

Trang

Trang bìa

Nhiệm vụ

Lời cảm ơn

Tóm tắt nội dung luận văn

Mục lục

I Chương I: Giới thiệu 1

I.1 Cơ sở hình thành đề tài 2

I.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

I.3 Giới hạn nghiên cứu 4

I.4 Đóng góp kì vọng của đề tài 4

II Chương II: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 6

II.1 Đánh giá tổng quan các nghiên cứu trước 7

II.2 Mô hình CSRAM 9

II.3 Tiến độ dự án xây dựng 11

II.3.1 Tiến độ ngang 11

II.3.2 Tiến độ xiên 12

II.3.3 Tiến độ mạng 12

II.4 Các yếu tố rủi ro tác động đến tiến độ dự án 14

II.4.1 Khái niệm rủi ro 14

II.4.2 Phân loại rủi ro 15

II.4.3 Các yếu tố tác động đến tiến độ dự án 16

II.4.4 Công thức định lượng tác động của các yếu tố rủi ro lên dự án 17

II.5 Phân phối xác suất 18

II.6 Phương pháp mô phỏng Monte Carlo 20

III Chương III: Phương pháp nghiên cứu 23

III.1 Trình tự thực hiện nghiên cứu 24

III.2 Phương pháp luận và cơ sở lí thuyết 26

III.2.1 Khái quát các yếu tố rủi ro tác động lên tiến độ dự án 29

III.2.2 Phân nhóm các công tác theo ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro 33

Trang 8

III.2.4 Quá trình mô phỏng Monte Carlo 36

III.2.5 Đánh giá tiến độ dự án có xét đến ảnh hưởng các yếu tố rủi ro 41

IV Chương IV: Thu thập và phân tích số liệu 43

IV.1 Nhu cầu thông tin 44

IV.2 Nguồn thông tin 44

IV.3 Phương pháp thu thập thông tin 45

IV.4 Thiết kế mẫu khảo sát 45

IV.4.1 Đối tượng khảo sát 45

IV.4.2 Phương pháp lấy mẫu 45

IV.4.3 Kích thước mẫu 46

IV.4.4 Nội dung bản câu hỏi 47

IV.5 Xử lí dữ liệu thu thập 48

IV.6 Phân tích dữ liệu thu thập 49

IV.6.1 Khái quát đặc điểm của đối tượng khảo sát 49

IV.6.2 Đánh giá thông tin thu thập 52

IV.6.3 Phân loại những ảnh hưởng của rủi ro đến tiến độ dự án 53

IV.6.3.1 Phương pháp phân loại 53

IV.6.3.2 Thực hiện phân loại 54

V Chương V: Giới thiệu chương trình CSRAM 55

V.1 Trình tự xây dựng chương trình CSRAM 56

V.2 Chương trình CSRAM 63

V.3 Dùng chương trình CSRAM giải quyết bài toán thực tế 67

V.4 Đánh giá tính khả thi của chương trình 74

VI Chương VI: Kết luận và kiến nghị 75

VI.1 Kết luận 76

VI.2 Kiến nghị 76

Tài liệu tham khảo 77

Phụ lục 79

Phụ lục 1: Bảng câu hỏi khảo sát tần suất xuất hiện và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro tác động lên thời gian hoàn thành các công tác 80

Trang 9

Phụ lục 3: Một phần chương trình CSRAM 92

Trang 10

CHƯƠNG I :

GIỚI THIỆU

Trang 11

I Giới thiệu :

Những năm gân đây, ngành Xây Dựng Việt Nam có những bước phát triển

khởi sắc cùng với sự tăng trưởng lạc quan của nền kinh tế đất nước Các nguồn

đầu tư mạnh mẽ từ nhiều thành phần kinh tế cho cở sở hạ tầng mang đến sức

sống cho bức tranh chung của ngành, là tiền đề cho sự hình thành các công ty xây

dựng lớn, đặc biệt thu hút các tập đoàn xây dựng lớn từ nước ngoài kể từ sau khi

Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO

Những cơ hội hợp tác về công nghệ và trao đổi kinh nghiệm cũng mang

theo những nguy cơ đáng kể về sự đánh mất thị phần ngay thị trường trong nước

Sự cạnh tranh gay gắt là 1 điều khó tránh khỏi trong một môi trường kinh tế mở

rộng

Trong bối cảnh đó, yếu tố tạo niềm tin hàng đầu cho khách hàng là đảm bảo

các điều khoản đã kí kết trong hợp đồng, trong đó có đảm bảo về mặt tiến độ

Một trong những vi phạm thường thấy trong các dự án xây dựng ở Việt Nam là

thời gian hoàn thành dự án không được đảm bảo Những dự án lớn thường thực

hiện với vốn vay ngân hàng, và chuyện chậm trễ trong quá trình đưa công trình

vào khai thác bao giờ cũng mang lại những hệ quả không mong muốn Do đó,

vấn đề này cần được quan tâm thỏa đáng từ phía nhà thầu thi công

Để đảm bảo tiến độ thực hiện của dự án xây dựng, các diễn biến thực tế

công trường, kể cả các sự kiện rủi ro, phải nằm trong tầm kiểm soát của người

quản lí, nhất là về mặt thời gian Do đó, việc tìm ra những biện pháp hữu hiệu để

thiết lập và kiểm soát tiến độ dự án luôn đóng vai trò thiết yếu

I.1Cơ sở hình thành đề tài:

Lập tiến độ là lên kế hoạch chính xác thời gian diễn ra của dự án, trong sự

kiểm soát về diễn tiến, sử dụng nguồn tài nguyên hiệu quả Trong tình hình bị tác

động bởi nhiều nguyên nhân rủi ro, không chắc chắn thì các phương pháp lập tiến

độ truyền thống như CPM, tiến dộ ngang với các điều kiện xác định chắc chắn

thông tin có nhiều hạn chế

Trang 12

Do đó, vấn đề đặt ra là 1 mô hình tiến độ có xét tới các yếu tố rủi ro, không

chắc chắn của các điều kiện môi trường làm việc

Các phương pháp tiến độ mạng có phân tích rủi ro như : PERT, MCS và

PNET có thể đưa yếu tố rủi ro vào trong tính toán, nhưng lại không phân tích

được độ nhạy của thời gian hoàn thành của các công tác hay toàn bộ dự án theo

các yếu tố rủi ro Hơn nữa, các chương trình đó không xét tới sự tương quan giữa

các công tác khi chịu cùng một yếu tố rủi ro tác động Mục đích chính của các

chương trình là xác định 1 khoảng dao động tin cậy của thời gian hoàn thành dự

án Trong các trường hợp mà nhiều công tác bị ảnh hưởng bởi 1 yếu tố rủi ro thì

thời gian hoàn thành các công tác có mối tương quan với nhau Nếu các công tác

đó cùng nằm trên 1 chuỗi thì độ dao động của thời gian hoàn thành dự án càng

lớn

Mô hình đánh giá tiến độ mạng bằng phân tích hệ số tương quan giữa các

yếu tố rủi ro và thời gian hoàn thành dự án có thể giải quyết các điểm chưa hoàn

chỉnh của các phương pháp lập tiến độ nêu trên Đồng thời, việc đánh giá tác

động của từng yếu tố rủi ro lên tổng thể tiến độ công trình có thể thực hiện

I.2 Mục tiêu nghiên cứu:

 Nhận dạng các nhân tố rủi ro ảnh hưởng đến tiến độ của dự án

 Phân tích, định lượng, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố

rủi ro đến tiến độ của dự án

 Xây dựng chương trình tính để :

Ước lượng thời gian hoàn thành dự án

Các đường công tác chịu nhiều ảnh hưởng bởi các yếu tố rủi

ro để người quản lí có thể khái quát được những nguy cơ có thể xảy

ra

Đánh giá sự tương quan giữa các yếu tố rủi ro và giữa các công tác

 So sánh mô hình đề xuất (CSRAM , giải thích ở phần II.1) với các

mô hình hiện có, để đưa ra những giải pháp tối ưu

Trang 13

I.3 Giới hạn nghiên cứu :

Do tính chất đặc trưng của mỗi công trình xây dựng nên cơ cấu phân chia

công việc (Work breakdown structure) mỗi loại công trình có sự khác biệt đáng

kể Đó là sự khác nhau giữa công trình xây dựng dân dụng và xây dựng công

nghiệp, công trình giao thông, thủy lợi Vì thế, từng loại công trình sẽ được đánh

giá trong những khảo sát riêng lẽ (nhà công nghiệp,nhà dân dụng ) Nghiên cứu

này sẽ tập trung vào loại hình nhà dân dụng

Rủi ro trong tiến độ dự án bao gồm cả về thời gian và chi phí Mô hình

CSRAM chỉ quan tâm đến yếu tố thời gian với các giả thiết sau:

 Khả năng tài chính của các bên là đầy đủ để thực hiện các công tác

theo kế hoạch đã định trước phù hợp theo tiến độ

 Việc tăng thời gian thi công công trình là do những tác động không

mong muốn, chi phí cũng sẽ tăng lên cho công tác quản lí,tổ chức

Việc thu thập thông tin để phân tích định lượng tác động của các nhân tố rủi

ro được thực hiện thông qua phỏng vấn và bảng câu hỏi vì thế số liệu ghi nhận

được sẽ có một khoảng tin cậy nhất định, tùy thuộc vào mức độ tham gia và vai

trò của người được phỏng vấn khi tham gia dự án

I.4.Đóng góp kì vọng của đề tài:

Đề tài sẽ thực hiện một chương trình dựa trên mô hình đánh giá tiến độ

mạng bằng phân tích sự tương quan giữa các yếu tố rủi ro và thời gian để giúp

các nhà quản lí có thêm 1 kênh thông tin dự báo tiến độ dự án, từ đó có những

biện pháp kiểm soát rủi ro một cách hữu hiệu

Các nhà quản lí có kinh nghiêm thường phân tích dự án, cụ thể là tiến độ thi

công công trình theo kinh nghiệm làm việc và trực quan Đây là 1 công cụ hỗ trợ

cho quá trình phân tích và đưa quyết định

Trang 14

Đối với các kĩ sư mới tham gia công tác quản lí dự án thì đây là những sổ

tay kinh nghiệm, là ý kiến của những người đi trước về vấn đề quản lí tiến độ

Góp phần phổ biến khái niệm “ quản lí rủi ro” trong xây dựng nói chung, và

trong quá trình thi công công trình nói riêng, đến các thành phần làm công tác

quản lí cũng như kĩ thuật xây dựng

Trang 15

CHƯƠNG II :

TỒNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trang 16

II.Tổng quan:

II.1 Đánh giá tổng quan các nghiên cứu trước :

Vấn đề thiết lập tiến độ mạng có xét đến sự ảnh hưởng của các yếu tố ngẫu nhiên đã được quan tâm từ những năm 1960 Các phương pháp cũng như mô hình tính toán hỗ trợ cho việc lập tiến độ có xét đến yếu tố rủi ro lần lượt được đề xuất và sử dụng như :[1]

 PERT (Program Evaluation and Review Technique) :1958 : viện hải quân Hoa Kì

 PNET (probability network evaluation Technique) : 1975 : Ang et

Al

 NRB (narrow reliability bounds) :1979 : Ditlevsen

 MCS (Monte Carlo Simulation) 1993 : Diaz và Hadipriono)

Tất cả đều phát triển cơ bản trên CPM (Critical Path Method) và được xem như là công cụ phân tích rủi ro trong tiến độ dự án

Những phương pháp vừa nêu trên đều xét tới yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến thời gian thi công các công tác Tuy nhiên, chúng đều có điểm chung là chưa xét tới sự tương quan giữa các công tác hay toàn bộ dự án đến từng yếu tố rủi ro cụ thể Rủi ro được đưa vào gián tiếp thông qua việc nhận ngẫu nhiên giá trị thi công của công tác trong 1 biểu đồ xác suất phân phối Rủi ro tác động đến các công tác do đó được xem là độc lập với nhau Tuy vậy, trong thực tế, một yếu tố rủi ro có thể tác động đến nhiều công tác, sự ảnh hưởng của yếu tố rủi ro đó đến các công tác đó phải có mối tương quan với nhau Từ đó suy ra thời gian hoàn thành các công tác đó tương quan với nhau Nếu chúng nằm trên cùng 1 đường công tác đang xét thì biên độ dao động của thời gian hoàn thành đường đó sẽ tăng lên

Trang 17

Sau đó, các mô hình khác được phát triển và cơ bản giải quyết được mối tương quan giữa các công tác với nhau khi cùng chịu ảnh hưởng của 1 yếu tố rủi

ro Một số được trích dẫn dưới đây :[1]

 MUD (Model for uncertainty determination) 1979 Carr

 PRODUR (Project duration forecast) 1985 Ahujar và Nandakumar

 NETCOR (network under correlation uncertainty) 2000 Wang và Demsetz

Các phương pháp này xét đến sự tương quan giữa các công tác trực tiếp bằng hệ số tương quan hoặc gián tiếp bằng cách khai báo ảnh hưởng của yếu tố rủi ro chung lên từng công tác Một số chương trình chỉ xét mặt tiêu cực của rủi

ro, trong khi phần còn lại đánh giá ở cả mặt tích cực lẫn tiêu cực Tuy vậy, chưa

có chương trình nào xét tới sự tương quan giữa các yếu tố rủi ro

Năm 2003, Daud Nasir, Brenda McCabe và Loesie Hartono giới thiệu phương pháp xác định 2 giá trị thời gian hoàn thành cận trên (bi quan) và cận dưới (lạc quan) cho từng công tác dựa trên mô hình Belief Network [6] Nguyên tắc cơ bản là giá trị bi quan hay lạc quan của thời gian hoàn thành đạt được là do các yếu tố rủi ro gây ra( tác động tiêu cực hay tích cực) Xác suất xảy ra, khả năng ảnh hưởng, mối tương quan giữa các yếu tố sẽ quyết định biên độ dao động

về mặt thời gian

Thời gian công tác được xem xét với những khả năng vượt quá hay rút ngắn

so với thông thương, tính theo phần trăm Mỗi giá trị gia tăng hay giảm đi đó được xem là 1 sự kiện và có xác suất xảy ra tương ứng Mục đích của mô hình là tính toán các xác suất này

Một mạng lưới với các điểm nút là sự kiện xảy ra đối với công tác và các yếu tố rủi ro được thiết lập Mỗi điểm nút trên mạng lưới có các trị xác suất tương ứng Với công thức tính xác suất Bayes, các giá trị xác suất của thời gian công tác sẽ được tính toán từ các giá trị xác suất đã biết

Trang 18

Kết quả của nghiên cứu này là dữ liệu đầu vào của bài toán PERT và các bài toán sơ đồ mạng không xác định khác ( Tmax, Ttb, Tmin) Từ đó, có thể tìm

ra cách tiếp cận đầy đủ cho vấn đề quản lí tiến độ mạng không xác định

II.2 Mô hình CSRAM :

Trên tạp chí chuyên ngành quản lí xây dựng ASCE của Hoa Kì, số tháng 1

năm 2008 giới thiệu mô hình CSRAM (Correlated Schedule Risk Analysis Model) do 2 tác giả Onder Okmen và Ahmet Oztas trình bày[1] Đây là mô hình phân tích rủi ro tác động lên tiến độ dự án, với những đặc tính hoàn thiện hơn so với các chương trình trước trong việc xem xét các mối tương quan có thể xảy ra giữa các yếu tố rủi ro và giữa các công tác trong dự án Mô hình

này có ý nghĩa quan trọng trong qui trình quản lí rủi ro về mặt tiến độ tại công trường xây dựng nếu được ứng dụng hiệu quả

Hình 2.1 : Vị trí của mô hình CSRAM trong qui trình quản lí rủi ro[1]

Mô hình sử dụng phép mô phỏng Monte Carlo với các biến ngẫu nhiên là

sự xuất hiện (có hay không) và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro để tìm ra các giá trị thời gian hoàn thành của các công tác trong dự án Sau đó, CPM sẽ được sử dụng để thiết lập tiến độ mạng trong mỗi vòng lặp Kết quả thu được là

Trang 19

các hàm phân phối xác suất của các thông số cần thiết như thời gian hoàn thành

dự án, thời gian dự trữ của từng công tác Thuật toán tương đối đơn giản, dễ hiểu

và có khả năng ứng dụng cao Trong giai đoạn đầu của công trình, mô hình sẽ được ứng dụng hiệu quả trong công tác dự báo và kiểm soát tiến độ Các yếu tố rủi ro có độ nhạy cao, ảnh hưởng tới dự án đáng kể sẽ được chú ý trong quá trình thực hiện dự án

Tuy nhiên, bài báo chỉ dừng lại ở mức độ đề xuất mô hình tính, các thông

số đầu vào còn tương đối thô sơ và phụ thuộc nhiều vào ý kiến chủ quan của người dùng

Các điểm cần hoàn thiện của mô hình :

Khả năng xuất hiện yếu tố rủi ro, mức độ ảnh hưởng của yếu tố lên các công tác nhập vào theo ý kiến chủ quan của người sử dụng Điểm

này có những mặt tích cực nếu người sử dụng có kinh nghiệm trong việc đánh giá các yếu tố tác động, nhưng chương trình sẽ gây khó khăn cho các kĩ sư chưa

có trải nghiệm nhiều trong môi trường thực tế

Thực hiện các cuộc phỏng vấn các chuyên gia, những người làm công tác tiến độ để có được thông tin khách quan hơn Tốt nhất là nên để cho người

sử dụng có được sự lựa chọn : nhập theo ý kiến cá nhân hay theo 1 tập dữ liệu mặc định cho trước của chương trình, tập này được xây dựng từ cuộc khảo sát nêu trên

Tác động của rủi ro lên từng công tác cụ thể làm cho việc nhập dữ liệu phức tạp và mất nhiều thời gian

Thay vào đó, các công tác trong 1 tiến độ dự án có thể chia làm những nhóm công tác chính, đây là những nhóm có sự tương đồng nếu xét đến sự ảnh

hưởng của các yếu tố rủi ro

Trang 20

Phương pháp xét tới sự tương quan giữa các yếu tố rủi ro bằng việc lấy chung 1 số ngẫu nhiên là chưa thể hiện hết được mối quan hệ tương quan

Phải bổ sung thêm điều kiện thứ 2 là 2 yếu tố đó dùng chung hàm phân phối xác suất nếu như tương quan thuận và ngược lại, 2 hàm phân phối xác suất phải ngược chiều nhau

Việc phát triển, hoàn thiện mô hình này, đồng thời xây dựng 1 tập dữ liệu đầu vào để có thể ứng dụng trong điều kiện của Việt Nam là mong muốn của tác giả trong đề tài nghiên cứu này

II.3 Tiến độ dự án xây dựng:

Công trình xây dựng được tiến hành bởi nhiều tổ chúc xây lắp với sự tham gia của các nhà thầu, người thiết kế, doanh nghiệp cung ứng máy móc thiết bị và các loại tài nguyên…Xây dựng 1 công trình là 1 chuỗi các công việc có quan hệ phức tạp và mỗi công việc mang tính ngẫu nhiên, biến động Để thực hiện điều

đó, cần có 1 mô hình khoa học điều khiển các quá trình tổ chức và chỉ đạo việc xây dựng Mô hình đó chính là tiến độ thi công [5]

Có 3 loại tiến độ ứng dụng rộng rãi trong các dự án xây dựng:

 Tiến độ ngang (Bar chart) hay tiến độ ngang liên kết (Linked bar chart):

 Tiến độ xiên (Line of balance)

 Tiến độ mạng (CPM , PERT)

II.3.1 Tiến độ ngang :

Là 1 dạng đồ thị trình bày sự diễn tiến của các công việc trong dự án theo lịch thời gian (3) Tiến độ ngang đơn giản là 1 danh sách các công tác với các thông số như thời gian bắt đầu, thời gian kéo dài, thời gian kết thúc trình bày trên

Trang 21

1 trục thời gian Mức độ chi tiết hơn phụ thuộc vào từng yêu cầu cụ thể trong lúc

sử dụng

Tiến độ ngang liên kết: thể hiện mối quan hệ trước sau của các công tác, thường

dùng để thể hiện kết quả của tiến độ mạng

Việc tính toán tài nguyên, nhân vật lực cho dự án khi sử dụng tiến độ ngang khá dễ dàng bằng đường tích lũy tài nguyên

Do tính đơn giản, dễ hiểu nên tiến độ ngang có ứng dụng rộng rãi trên các công trường, ứng dụng chủ yếu là thể hiện lại kết quả của tiến độ mạng

Những hạn chế :

Thực hiện những dự án phức tạp với số lượng công tác lớn, tiến độ trở nên

phức tạp

Không thể hiện được tầm quan trọng khác nhau giữa các công tác

Không dự đoán được hậu quả do biến động thời gian của 1 công tác đến toàn bộ tiến độ

II.3.2 Tiến độ xiên :

Là kĩ thuật lập tiến độ dành cho các dự án có các công tác lặp lại nhiều lần trong suốt quá trình thực hiện Nguyên tắc chính của nó là tìm ra lượng tài nguyên theo yêu cầu thích hợp cho mỗi dây chuyền thực hiện để không làm ảnh hưởng đến dây chuyền theo sau

II.3.3 Tiến độ mạng:

Tiến độ mạng coi dự án là 1 tập hợp các công việc liên quan đến nhau, được thể hiện dưới dạng đồ thị, gồm các nút và các cung để chỉ mối liên quan giữa các công việc Phân tích sơ đồ mạng có thể xác định các công việc nếu bị trì hoãn sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ dự án (công tác Găng)[3]

Trang 22

Có nhiều loại sơ đồ mạng với những mục đích và yêu cầu ứng dụng khác nhau Nhưng sơ đồ mạng xác định (CPM) và sơ đồ mạng xác suất (PERT) là được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất

CPM (Critical Path Method) và PERT : (Program Evaluation and Review Technique) : là 2 phương pháp quản lí tiến độ dự án được phát triển song song,

có những điểm tương đồng

CPM được phát triển bởi công ty DuPont (Pháp), còn PERT được phát triển bởi Hải Quân Mĩ trong thời kì những năm 1950

Các đặc điểm chung của PERT và CPM :

Dự án được phân chia thành những công tác và công tác thứ cấp bằng WBS (Work breakdown structure) Các công tác có thể có hoặc không có các mối quan

hệ với nhau về mặt trình tự thời gian Cả hai phương pháp đều cho phép dùng công tác giả để tạo những chuỗi công tác xuyên suốt và hợp lí

Đường giới hạn (Critical path) là đường nối dài nhất các công tác có quan

hệ với nhau về mặt trình tự thời gian Khi sơ đồ mạng được thiết lập, đường giới hạn được xác định, những công tác nằm trên đường giới hạn có thời gian dự trữ (float) bằng không, việc kéo dài các công tác này sẽ làm ảnh hưởng đến tiến độ chung của cả quá trình Trong khi đó, các công tác có thời gian dự trữ có thể được kéo dài hay lùi ngày khởi công trong giới hạn cho phép Từ đó, xác định được các công tác cần được quan tâm đặc biệt để không ảnh hưởng đến thời gian hoàn thành dự án

Thời gian hoàn thành dự án là thời gian mà tất cả các công tác được hoàn thành

Trình tự thực hiện sơ đồ mạng :

1 Xác định các công tác

2 Xác định các chuỗi công tác dựa vào các yêu cầu thực tế

Trang 23

3 Xây dựng sơ đồ mạng

4 Ước lượng thời gian của các công tác

5 Xác định đường giới hạn

6 Cập nhật tiến độ khi dự án đang tiến hành

Sự khác biệt của PERT và CPM :

PERT dùng 3 giá trị ước lượng thời gian cho mỗi công tác : thời gian trong điều kiện bất lợi nhất, thời gian trong điều kiện thuận lợi nhất, thời gian trong điều kiện thông thường Từ đó, giá trị kì vọng sẽ được ước lượng Trong khi CPM chỉ dùng 1 giá trị ước lượng duy nhất

Sự khác biệt về ước lượng thời gian hoàn thành công tác thể hiện sự khác biệt trong phạm vi ứng dụng của mỗi phương pháp

CPM thể hiện các công tác một cách xác định, phù hợp với những công việc lặp lại định kì, trong những điều kiện giống nhau Ví dụ như việc kiểm tra, bảo trì định kì các thiết bị nhà máy sản xuất

PERT thể hiện các công tác theo xác suất , do đó, cho phép chúng ta đưa vào các yếu tố rủi ro và ngẫu nhiên trong quá trình ước lượng Do đó, PERT thích hợp cho những dự án mà yếu tố ngẫu nhiên làm cho việc tính toán thời gian công tác trong phạm vi dao động rộng, ứng dụng đầu tiên của nó là chương trình chế tạo tên lửa của hải quân Mĩ, một công việc chưa có nhiều kinh nghiệm trong quá khứ nên việc sử dụng hết sức hiệu quả

II.4 Các yếu tố rủi ro tác động đến thời gian thi công của các công tác: II.4.1 Khái niệm rủi ro:

Rủi ro là 1 khái niệm dùng xuất hiện thường xuyên trong các dự án xây dựng, nơi mà các điều kiện làm việc thay đổi và có tính chất đơn lẻ.[2]

Người đưa ra quyết định trong điều kiện được gọi là rủi ro nếu sau quyết định đó, nhà quản lí có thể đưa ra được xác suất của các sự kiện xảy ra tiếp theo

Trang 24

Trong khi đó, ra quyết định trong môi trường ngẫu nhiên, không có các thông tin trong quá khứ, các khả năng xảy ra rất khó dự báo.Các công ty luôn hoạt động trong môi trường nhiều rủi ro và không chắc chắn Quá trình thu thập, phân tích, đánh giá thông tin là bước quan trọng để chuyển từ môi trường không chắc chắn sang môi trường rủi ro Khi đó, nhà quản lí sẽ giảm bớt “rủi ro” trong quá trình quản lí rủi ro.[2]

II.4.2 Phân loại :

Trong quá trình làm việc trong dự án, các tác động của môi trường đến mỗi

cá nhân thực hiện dự án có thể phân chia thành 4 loại, từ tác động có thể kiểm soát (rủi ro) đến các tác động không thể kiểm soát ( ngẫu nhiên):

 Rủi ro nằm trong tầm kiểm soát của bản thân

 Rủi ro từ tác động của các cấp lãnh đạo

 Rủi ro từ ảnh hưởng của tầng lớp quản lí vĩ mô như chính quyền, chính sách, tiêu chuẩn

 Các yêu cầu về tiến độ công trình, đây là yêu cầu từ thực tế, kĩ sư không có nhiều cơ hội để tránh những quyết định như trên

 Sự thay đổi tiêu chuẩn thiết kế, thi công hay các văn bản luật phải

có những điều chỉnh Yếu tố này không thể kiểm soát nhưng có thể dự báo vì thường các tiêu chuẩn mới bao giờ cũng có qui định giai đoạn chuyển tiếp

 Thời tiết là yếu tố khó kiểm soát nhất, dù các kênh thông tin dự báo

là khá nhiều nhưng mức độ tin cậy chưa cao

Trang 25

II.4.3 Các yếu tố tác động đến tiến độ dự án :

Theo Edward (1995) và Flanagan, Norman(1993), các yếu tố rủi ro có

thể tác động đến thời gian hoàn thành của các công tác như :[2]

 Nguồn cung cấp nguyên vật liệu và thiết bị xây dựng

Trong nghiên cứu của Odeh and Battaineh về các dự án xây dựng tại vùng Viễn Đông [7], họ nhận thấy 7 yếu tố chủ yếu gây ra sự chậm trễ tiến độ :

 Sự can thiệp cuả chủ đầu tư

 Nhà thầu không có kinh nghiệm phù hợp (inadequate contractor experience)

 Vấn đề tài chính và thanh quyết toán (financing and payments)

 Tính hiệu quả của lao động (labour productivity)

 Ra quyết định không phù hợp (slow decision making)

 Xây dựng kế hoạch không phù hợp (improper planning)

 Nhà thầu phụ (subcontractors)

Nghiên cứu của Murali Sambasivan và Yau Wen Soon cho thấy các yếu

tố gây chậm trễ trong ngành xây dựng Malaysia gồm :[8]

 Kế hoạch không phù hợp của nhà thầu

 Quản lí công trường kém

 Kinh nghiệm nhà thầu không đáp ứng

 Khả năng thanh toán của chủ đầu tư

 Nhà thầu phụ không đảm bảo

 Sự thiếu hụt vật tư

 Nhân công không đáp ứng

 Khả năng cung ứng thiết bị và sự hư hỏng

Trang 26

 Thiếu đồng bộ thông tin giữa các bên

 Các sai lầm trong qui trình thi công

Nhìn chung, các nghiên cứu trên dù thực hiện ở quốc gia hay vùng, lãnh thổ nào, các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến tiến độ dự án gồm :

 Nguyên nhân khách quan :

Thời tiết Điều kiện cơ lí của đất

 Nguyên nhân từ tính chất riêng biệt của công trình:

Vị trí đặt công trình Mức độ phức tạp của công việc Kinh nghiệm thi công của nhà thầu đối với công trình đang thực hiện

 Nguyên nhân từ phía nhà thầu thi công:

Sự chuẩn bị về nhân công, vật liệu và thiết bị của nhà thầu Hiệu quả quản lí trên công trường

Hiệu quả làm việc của nhân công Hiệu quả làm việc của nhà thầu phụ

 Nguyên nhân từ phía chủ đầu tư, thiết kế,giám sát :

Sai sót trong thiết kế hay thay đổi thiết kế Tác động của chủ đầu tư

Trình độ của đội ngũ tư vấn, giám sát

II.4.4 Công thức định lượng tác động của các yếu tố rủi ro :

Nghiên cứu của Shen et al.’s (2001) đã đề nghị công thức để xác định hệ số

quan trọng của nhân tố rủi ro: [9]

i j i j i j

n

S RS

n

j

i j i

Trang 27

Trong đó:

 n là số lượng người khảo sát

S i j là hệ số quan trọng của yếu tố rủi ro thứ i của người khảo sát thứ j

i j

 là giá tri xác suất xảy ra của nhân tố rủi ro thứ

i cho bởi người kháo sát thứ j

i j

 là giá trị mức độ ảnh hưởng của yếu tố rủi ro thứ i cho bởi người khảo sát thứ j

 RSi là hệ số quan trọng của nhân tố rủi ro thứ i Cũng trong nghiên cứu này, tác giả cũng đề xuất các hệ số qui đổi của i

 / i j

 Ảnh hưởng đáng kể (1) trung bình(0.5) Ảnh hưởng Ảnh hưởng ít(0.1)

Bảng 2.1: Ma trận hệ số quan trọng của các yếu tố rủi ro

II.5 Phân phối xác suất ( Probability distribution) :

II.5.1 Xác suất :

Xác suất là khái niệm quan trọng gắn liền với rủi ro Trong quá trình ra quyết định trong quản lí, các sự kiện mang tính ngẫu nhiên có thể chuyển sang sự

kiện rủi ro với giá trị xác suất

Việc xác định xác suất cũng phân chia theo 2 hướng :

Xác suất khách quan : xác suất được xác định là tần suất xuất hiện

trong 1 thời gian dài quan sát Vì thế, khả năng xuất hiện, xác suất, của các sự kiện chỉ được xác định sau sự lặp đi lặp lại nhiều lần

Trang 28

Xác suất chủ quan : là mức độ tin cậy vào sự xuất hiện của 1 sự

kiện dựa theo những cơ sở có độ tin cậy nhất định Theo quan điểm này thì xác suất mang tính chủ quan Mỗi người trong hoàn cảnh và mức độ thông tin cụ thể

sẽ có những nhận định khác nhau Hơn thế nữa, cùng 1 môi trường ra quyết định,

cá nhân khác nhau có thể đưa ra những đánh giá khác nhau

Trong môi trường thi công ngành xây dựng, với đặc điểm sản phẩm mang tính đơn chiếc, sự lặp đi lặp lại một sự kiện là không thể tuyệt đối như trong 1 qui trình sản xuất Người quản lí ra quyết định với xác suất 1 phần dựa vào kinh nghiệm

II.5.2 Các loại phân phối xác suất thông dụng :

1 Phân phối đều

2 Phân phối tam giác

3 Phân phối chuẩn & Phân phối Bêta

Trang 29

Hình 2.2 : Các loại phân phối thông dụng

II.6 Phương pháp mô phỏng Monte Carlo :[10]

Mô phỏng Monte Carlo là một công cụ để phân tích các hiện tượng có chứa yếu tố rủi ro nhằm rút ra lời giải gần đúng Nó còn được gọi là phương pháp thử nghiệm thống kê

Mô phỏng Monte Carlo thường được sử dụng khi việc thực hiện các thí nghiệm hoặc các phương pháp tính toán bằng giải tích gặp nhiều khó khăn hoặc không thể thực hiện được, đặc biệt là khi sử dụng các máy tính số và không yêu cầu những công cụ toán học phức tạp

Thực chất của mô phỏng này là lựa chọn một cách ngẫu nhiên của các biến đầu vào (risk variables) ngẫu nhiên để có một kết quả thực nghiệm của đại lượng tổng hợp cần phân tích Quá trình đó được lặp lại nhiều lần để có một tập hợp đủ lớn các kết quả thực nghiệm Cuối cùng xử lý thống kê để có các đặc trưng thống

kê của đại lượng tổng hợp đó Các bước tính toán, thực hiện có thể tóm tắt như

sơ đồ dưới đây:

Trang 30

Hình 2.3:Lí thuyết quá trình mô phỏng Monte Carlo[10]

Bước 1: Mô hình toán học

Mô hình này xác định các mối quan hệ đại số giưa các biến số Nó là một

tập hợp các công thức cho một vài biến số mà các biến này có ảnh hưởng đến kết

quả

Bước 2: Xác định biến rủi ro (risk variables)

Phân tích độ nhạy sẽ được sử dụng trước khi áp dụng phân tích rủi ro để

xác định những biến số quan trọng nhất trong mô hình đánh giá dự án và giúp

người phân tích lựa chọn các biến số rủi ro quan trọng (những biến số này giải

thích hầu hết các rủi ro của dự án)

Bước 3: Xác định các dạng phân phối của các biến số

Khi lựa chọn dạng phân phối, người ta sử dụng dạng phân phối xác suất đa

trị Các dạng phân phối xác suất cơ bản như: phân phối đều, phân phối tam giác,

phân phối chuẩn, phân phối dạng bậc thang Phân phối dạng bậc thang có ích cho

những trường hợp có nhiều ý kiến chuyên gia Một loại phân phối bậc thang đặc

1.Lập mô hình toán học

2.Xác định các biến rủi ro và biến kết quả

3 Giả thiết dạng phân phối xác suất cho các biến rủi ro

4.Xác định các thông số cho hàm phân phối xác suất

(probability distribution function)

5 Tạo các số ngẫu nhiên

6 Tiến hành mô phỏng

7 Phân tích kết quả

Trang 31

biệt là phân phối “bậc thang - rời rạc”, nó được dùng khi giá trị của một biến số

có thể chỉ giả thiết những con số phân biệt trong một phạm vi nào đó

Bước 4: Xác định giới hạn phạm vi của hàm phân phối xác suất

Các giới hạn phạm vi được xác định bởi các giá trị nhỏ nhất và lớn nhất Đó

là các giá trị biến mà các biến số không được vượt qua Với những phân phối dạng tam giác hay bậc thang cũng cần xác định cụ thể những phạm vi phụ nằm bên trong hai giới hạn Xác định các giới hạn phạm vi cho các biến số dự án là một quá trình đơn giản bằng cách thu thập và phân tích những dữ liệu có sẵn từ quá khứ của các biến rủi ro, từ đó chúng ta có thể tìm được dạng phân phối xác suất phù hợp của nó

Bước 5: Tạo ra các số ngẫu nhiên

Tìm cách phát ra hay lựa chọn một cách ngẫu nhiên kết cục của các biến ngẫu nhiên với yêu cầu việc lựa chọn phải đảm bảo cho các kết cục có thể có phân phối xác suất giống như phân xác suất ban đầu của các biến ngẫu nhiên Trong thực tế, người ta thường sử dụng sẵn bảng số ngẫu nhiên hay có thể lập các chương trình phát số ngẫu nhiên để tạo ra các số đó

Bước 6: Vận hành mô phỏng

Giai đoạn vận hành mô phỏng là công việc khó khăn nhất, mất nhiều thời gian nhất, vì thế nó được dành cho máy tính Quá trình trên được lặp đi lặp lại cho đến khi đủ những kết quả cần thiết, cần phải thực hiện một số khá lớn những phép thử Monte Carlo, có khi đến hàng trăm lần Nói chung, số phép thử càng lớn, các kết cục trung bình càng ổn định.Chọn số lần mô phỏng bao nhiêu là một vấn đề phức tạp

Bước 7: Phân tích các kết quả

Cuối cùng là phân tích và giải thích các kết quả thu được trong giai đoạn vận hành mô phỏng Sử dụng các phép tính thống kê để xác định các đặc trưng thống kê như kỳ vọng (mean), phương sai (variance) của đại lượng tổng hợp cần phân tích Từ hàm phân phối xác suất tích luỹ của các kết quả, người ta có thể quan sát mức độ mong đợi của kết quả dự án với từng giá trị đã cho bất kỳ

Trang 32

CHƯƠNG III :

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 33

III Phương pháp nghiên cứu :

III.1 Trình tự thực hiện nghiên cứu:

Hình 3.1: Trình tự thực hiện nghiên cứu

Bước 1 : Phỏng vấn các kỹ sư, chuyên gia đang hoạt động tại thành phố Hồ

Chí Minh và lược khảo qua các báo cáo, tạp chí chuyên ngành để xác định các nhân tố rủi ro chính ảnh hưởng đến tiến độ dự án Đánh giá tổng thể khả năng tác động của các yếu tố rủi ro cũng như khả năng xuất hiện của yếu tố đó Các yếu tố rủi ro được phân chia thành những nhóm ảnh hưởng chính tác động đến những nhóm công tác chính để đơn giản hoá số liệu đầu vào của chương trình Từng công tác cụ thể chịu sự ảnh hưởng của mỗi yếu tố rủi ro đơn lẻ sẽ tham chiếu theo những quan hệ từ nhóm của mình

Bước 2 : Phân loại và đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến tiến

độ về mặt thời gian

Từ đánh giá tổng thể ban đầu, một cuộc khảo sát được thực hiện để xây dựng ma trận mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến thời gian hoàn thành các công tác Ngoài ra, cuộc khảo sát còn thu thập các số liệu liên quan đến xác

Trang 34

suất xuất hiện của các yếu tố rủi ro và sự tương quan nếu có giữa chúng Các câu hỏi về mặt định tính được đưa ra để tránh sự khó khăn cho người tham gia trả lời câu hỏi

Bước 3: Xây dựng phần dữ liệu đầu vào cho chương trình CSRAM

Các số liệu thu thập được, sau khi kiểm tra ý nghĩa về mặt thống kê sẽ được chuyển sang các số liệu mang ý nghĩa định lượng phục vụ cho công tác tính toán sau này

Xác suất xuất hiện các yếu tố rủi ro (*) sẽ được lập thành các hàm phân phối xác suất Biểu đồ phân phối xác suất của các yếu tố rủi ro được lập sao cho mỗi số ngẫu nhiên được lựa chọn có xác suất ứng với khả năng xuất hiện yếu tố

đó trong kết quả khảo sát ở bước 2 Các hệ số sẽ được sử dụng trong quá trình

mô phỏng

Hệ số ảnh hưởng (**) được tính từ hệ số nghiêm trọng của các yếu tố rủi ro theo nguyên tắc tổng hệ số ảnh hưởng của tất cả các yếu tố rủi ro lên công tác thứ

i là bằng 1

Bảng 3.1: Ma trận tần suất xuất hiện và ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro

Simulation :Monte Carlo

N=1000

Ma trận hệ số ảnh hưởng công tác-rủi ro(*)

Xác suất tích luỹ của rủi

Công tác trước

Quan hệ Mức độ ảnh hưởng của rủi ro lên công tác

Trang 35

Bước 4: Thực hiện chương trình tính CSRAM để thực hiện mô phỏng sự

ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến tiến độ dự án

Từ kết quả chạy thử của chương trình, đề xuất những biện pháp cải thiện, những hướng giải quyết mở ra trong tương lai

III.2 Phương pháp luận và cơ sở lí thuyết:

Tiến độ dự án có thể khái quát cho người đọc 1 bức tranh tổng thể quá trình thực hiện dự án, với thời gian và chi phí là ước lượng theo kinh nghiệm người lập cũng như các số liệu thống kê được cung cấp Mức độ tin cậy của thông tin phụ thuộc vào kinh nghiệm làm việc của người kĩ sư dựa án, cùng 1 công trình, mỗi người sẽ có những ước lượng khác nhau, sự khác biệt này là do quá trình phân tích các thông tin và kĩ năng làm việc Quá trình lập tiến độ dự án không phải là

1 bài toán chính xác, mà mỗi đáp án được nhìn nhận trên mỗi quan điểm khác nhau và điều kiện nhân vật lực khác nhau Mục đích chung của việc lập tiến độ là ước lượng các công việc trong một biên độ dao động cho phép, mà tại đó, nhà quản lí có thể đưa ra các giải pháp đề phòng hay giải quyết khi vấn đề xảy ra Xác định các yếu tố ngẫu nhiên chính tác động đến dự án cũng quan trọng như việc lên kế hoạch tổ chức thực hiện Kế hoạch tiến độ dự án được thực hiện hoàn hảo, nhưng không có những biện pháp kiểm soát hiệu quả thì quá trình thực hiện cũng không được đảm bảo vì môi trường xây dựng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro do các đặc thù của ngành như : thời gian thi công kéo dài, tiến trình thực hiện phức tạp, điều kiện thực hiện phức tạp và chịu áp lực lớn về mặt tài chính

Một tiến độ dự án thể hiện được cho nhà quản lí 2 yếu tố quan trọng của dự

án là thời gian và chi phí Việc rút ngắn thời gian hoàn thành dự án chỉ có ý nghĩa nếu điều kiện chi phí cho phép, cũng như việc tiết kiệm chi phí ngoài vấn đề phải đảm bảo kĩ thuật phải thỏa mãn các yêu cầu về mặt thời gian Một trong những biện pháp hiệu quả để tiết kiệm thời gian và chi phí là phải lên kế hoạch (tiến độ) cho các dự án cũng như kiểm soát các yếu tố rủi ro trong quá trình thực hiện Các giá trị ước lượng về thời gian hoàn thành từng công tác một phần đã đưa các yếu tố dự báo (rủi ro) nhưng hoặc chưa đầy đủ hoặc chưa định lượng các yếu tố rủi ro tác động Nhà quản lí có thể ước lượng thời gian cho công tác đào

Trang 36

đất là 4 ngày ,dựa vào hiệu suất làm việc của xe máy và số xe máy có thể huy động được Nhưng kinh nghiệm làm việc cho thấy thông thường thời gian thực tế khoảng 6 ngày, nhưng các yếu tố rủi ro xảy ra có thể không được xét đến cụ thể Trong khoảng thời gian trước, làm việc trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, mặt bằng phức tạp nên công việc liên tục bị trì hoãn Thời gian tăng hơn 30% so với dự kiến Trong khi đó, dự án sắp tới được thực hiện trong điều kiện địa hình tương tự nhưng lại thực hiện trong mùa khô Việc định lượng cụ thể tác động của mỗi yếu tố rủi ro là không thể, nhưng việc gián tiếp đưa vào tính toán có thể được thực hiện thông qua một loạt các thử nghiệm mô phỏng dựa trên trọng số của các yếu tố rủi ro

Hơn nưa, tác động của những yếu tố rủi ro không chỉ bao gồm những kết quả không tích cực Ở khía cạnh khác, các yếu tố ngẫu nhiên cũng bao gồm những điều kiện tích cực, tạo điều kiện cho thời gian hoàn thành công tác sớm hơn dự kiến Lấy ví dụ yếu tố thời tiết, vào buổi trưa làm việc thông thường vào tháng 10, các công nhân thường làm trong điều kiện nắng gay gắt Hiệu suất làm việc của công nhân ở mức trung bình và thời gian hoàn thành công tác bô thép trong điều kiện đó được xem là thời gian thông thường Nếu trong điều kiện thời tiết mưa nhiều, chia làm nhiều cơn, công tác bị gián đoạn thì thời gian hoàn thành công tác sẽ tăng lên tiến đến thời gian hoàn thành công tác trong điều kiện bi quan Ngược lại, nếu trời đột ngột mát dịu trong buổi chiều đó, năng suất của công nhân sẽ tăng lên, thời gian hoàn thành công tác lại tiến về giá trị lac quan Phương pháp CPM lập tiến độ với thời gian cố định ban đầu phù hợp với các dự án, công việc trong môi trường có tính ổn định Tiến độ dự án được thiết lập dựa trên thời gian của mỗi công tác, theo quan hệ về mặt công nghệ Kĩ thuật lập tiến độ mạng CPM cơ bản chỉ xử lí thời gian xác định của mỗi công tác Tính toán tiến độ là một bài toán với các thông số về công tác xác định, tức là thời gian hoàn thành mỗi công tác được xác định Nếu thực hiện trong môi trường nhiều rủi ro thì việc ước lượng chính xác các công tác của nhà quản lí phải chính xác hoàn toàn, đây là 1 điều khó xảy ra

Phương pháp PERT có xét đến yếu tố ngẫu nhiên được sử dụng trong các

dự án mang tính biến động cao Mỗi công tác, xét về mặt thời gian thực hiện, có

Trang 37

3 thông tin cơ bản: thời gian hoàn thành dự án trong điều kiện bi quan, thời gian hoàn thành dự án trong điều kiện lạc quan, thời gian hoàn thành dự án có xác suất cao nhất Thời gian hoàn thành mỗi công tác sẽ phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau như điều kiện thời tiết, địa hình công tác, khả năng quản lí cũng như trình

độ chuyên môn của đội ngũ kĩ thuật

Các yếu tố ngẫu nhiên được đưa vào quá trình tính toán trong giai đoạn xác định thời gian hoàn thành của mỗi công tác trong mỗi lần lặp Với 3 thông số chính nêu trên, thời gian hoàn thành của công tác được sẽ nằm trong khoảng nhất định Khi các điều kiện thực hiện công tác ở mức độ vừa phải, thời gian hoàn thành công tác là thời gian có xác suất lớn nhất Tại mỗi lần lặp, thời gian thực hiện mỗi công tác được xác định bằng với thời gian có xác suất lớn nhất cộng hoặc trừ với thời gian do các yếu tố rủi ro tác động Khi các yếu tố ngẫu nhiên xuất hiện theo chiều hướng tích cực, thời gian thi công sẽ tiến về giá trị lạc quan, ngược lại sẽ ngược về hướng giá trị bi quan

Các yếu tố rủi ro tác động lên thời gian hoàn thành công tác với trọng số khác nhau Sự xuất hiện của các yếu tố rủi ro cũng không phải là chắc chắn, mà cũng là ngẫu nhiên Cùng 1 công tác, có thể lần tính toán này, yếu tố rủi ro này xuất hiện mà không có rủi ro kia trong khi 1 lần lặp khác có thể ngược lại, hoặc

cả 2 xuất hiện, hoặc không có yếu tố nào xuất hiện Thời gian công tác chỉ đạt giá trị bi quan hay lạc quan khi tất cả các yếu tố rủi ro xuất hiện đồng thời và có cùng chiều hướng tác động Đây là sự kiện mà xác suất xảy ra rất thấp

Về mặt định lượng, tác động của các sự kiện ngẫu nhiên sẽ là tổng đại số các tác động thành phần của từng yếu tố rủi ro lên công tác thực hiện, tác động của mỗi yếu tố rủi ro lại phụ thuộc vào trọng số tác động và xác suất xuất hiện yếu tố rủi ro đó

Yếu tố ngẫu nhiên được xét đến khi quá trình tính toán được lặp lại nhiều lần Trong mỗi lần lặp, các thông số được xác định đầy đủ Sau n lần lặp, với giá trị n đủ lớn, các giá trị cần khảo sát sẽ nhận được 1 tập n giá trị, tạo thành một phân phối xác suất Từ phân phối này, nhà quản lí có thể ước lượng các đại lượng cần thiết trong khoảng tin cậy nhất định

Trang 38

III.2.1 Khái quát các yếu tố rủi ro tác động đến tiến độ dự án :

Nhìn chung, các nghiên cứu trên dù thực hiện ở quốc gia hay vùng, lãnh thổ nào, các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến tiến độ dự án gồm :

Hình 3.2: Các yếu tố rủi ro tác động đến dự án

Đánh giá khái quát các nhân tố ảnh hưởng đến tiến độ dự án:

(1)Thời tiết : Đây là 1 yếu tố rủi ro đặc trưng của ngành xây dựng Nhân

công và các thiết bị sản xuất trong ngành xây dựng làm việc trong môi trường không có bao che kiên cố, nhất là thi công những hạng mục thuộc về móng của công trình Thời tiết không ổn định có thể làm gián đoạn công việc đang thực hiện Thời gian làm việc của nhân công không đảm bảo Mặt khác, theo khảo sát, các nhân công đạt hiệu suất cao nhất tại 1 khoảng thời gian nhất định sau khi bắt đầu 1 ca làm việc, việc gián đoạn liên tục có thể làm mất sự tập trung trong công việc, hiệu suất cao nhất của nhân công có thể không đạt được

(2)Tính chất cơ lí của đất: Chịu ảnh hưởng lớn nhất từ yếu tố này là các

hạng mục kết cấu móng của công trình Nếu cấu tạo địa chất phức tạp, các công tác đào đất, thi công cọc sẽ gặp nhiều trở ngại Thực tế một số công trình ở Việt Nam phải gián đoạn trong giai đoạn thi công cọc do gặp các túi bùn hay các mảng đá sỏi nằm sâu dưới mặt đất vài chục mét trong quá trình khoan

Trang 39

Vị trí đặt công trình: Vị trí giao thông thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho các

việc cung cấp vật liệu, thiết bị, đảm bảo những điều kiện làm việc cho đội ngũ thi công Các công trình xây dựng tại những địa điểm có tình hình giao thông không thuận lợi, nhà quản lí phải kiểm soát chặt chẽ quá trình cung cấp vật tư, thiết bị Trong 1 chừng mực nhất định, ảnh hưởng của yếu tố rủi ro này có thể thay bằng ảnh hưởng của sự chuẩn bị về nhân vật lực của nhà thầu thi công chính, giả thiết này không làm ảnh hưởng nhiều đến kết quả nghiên cứu đồng thời làm giảm khối lượng thông tin cần thu thập trong quá trình nghiên cứu

(3)Mức độ phức tạp của công việc : Những công trình thi công luôn mang

tính cá biệt về hình dáng, kích thước, cũng như nhu cầu sử dụng Các vị trí thiết

kế có cấu tạo đặc biệt đòi hỏi sự tỉ mĩ và chính xác của đội ngũ công nhân và kĩ thuật Mặt khác, các công trình xây dựng hiện nay thi công không chỉ theo TCVN mà còn đáp ứng các tiêu chuẩn của các nước tiên tiến, do đó, nhà thầu phải đáp ứng các điều kiện kĩ thuật nghiêm ngặt Thời gian thực hiện, kiểm tra các hạng mục tỉ lệ với chất lượng thi công hạng mục đó

(4)Kinh nghiệm thi công của nhà thầu đối với công trình đang thực hiện: Như đã trình bày ở trên về tính đơn lẻ của các sản phẩm xây dựng, mỗi

công trình, mỗi dự án có những đặc điểm riêng biệt mà nhà thầu phải đáp ứng Kinh nghiệm thi công giúp cho nhà thầu có kế hoạch tiến độ thích hợp, đồng thời

có khả năng giải quyết các tình huống phát sinh Kinh nghiệm thi công bao gồm

cả về mặt công nghệ Nếu cùng một loại công trình, ứng dụng những công nghệ thi công khác nhau có thể mang hiệu quả khác nhau Sân vận động, cầu cảng, các bồn chứa xây dựng trên nền đất yếu là những công trình phức tạp, thời gian thi công có thể dao động theo kinh nghiệm thực tế của nhà thầu thi công

(5)Sự chuẩn bị về nhân công, vật liệu và thiết bị của nhà thầu :

Tổ chức công trường khoa học và hiệu quả sẽ mang lại những kết quả tích cực trong xuyên suốt quá trình thực hiện dự án Sự đáp ứng đầy đủ các nguồn lực cần thiết như nhân công, vật tư thiết bị được xem là yếu tố hàng đầu trong việc đảm bảo tiến độ Sự chuẩn bị không chu đáo về vật tư và nhân công có thể làm cho công việc gián đoạn, do việc chờ người, người thì chờ vật tư

Trang 40

(6)Hiệu quả quản lí trên công trường: Sắp xếp công việc không khoa học

có thể dẫn đến tình trạng dẫm chân lên nhau giữa các tổ đội Tình trạng tổ đội này phải chờ tổ đội kia thực hiên công việc của mình sẽ làm giảm sự hiệu quả của công việc, không tận dụng được hết các nguồn lực của tổ chức Và kết quả là các công tác sẽ thi công kéo dài, các ảnh hưởng dây chuyền mà bản thân người làm công tác quản lí phải lưu ý

(7)Hiệu quả làm việc của nhân công: Đây là 1 yếu tố quan trọng quyết

định đến thời gian hoàn thành của các công tác Công nhân là người trực tiếp tạo

ra sản phẩm của ngành xây dựng Ngoài sự giám sát của người quản lí, tay nghề của đội ngũ lao động sẽ quyết định thời gian hoàn thành Đặc thù của ngành xây dựng là lao động không chính qui, thay đổi theo công trình hoặc địa phương nên

sự ảnh hưởng của yếu tố này là tương đối lớn

(8)Hiệu quả làm việc của nhà thầu phụ: Cũng như nhân công, kinh

nghiệm cũng như khả năng của nhà thầu phụ quyết định đến thời gian hoàn thành

dự án Các thầu phụ đảm bảo thực hiện nghiêm túc vấn đề chất lượng và thời gian thi công các hạng mục được giao sẽ giúp ích rất lớn cho đội ngũ quản lí của nhà thầu chính đảm bảo các mốc thời gian quan trọng của dự án, giúp nhà thầu

có thể chủ động trong việc sắp xếp, cũng như lên kế hoạch thi công tổng thể

(9)Sai sót trong thiết kế hay thay đổi thiết kế: Sai sót và thay đổi trong

thiết kế là 1 trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến thời gian hoàn thành dự án Các sai sót nhỏ sẽ được đội ngũ kĩ thuật tại công trường thông qua, nhưng một số trường hợp phải tạm ngừng thi công hạng mục đó để bổ sung, sửa đổi Theo qui định, việc thay đổi các thiết kế cần phải qua nhiều thủ tục phức tạp, nhất là đối với các công trình mà nhà thầu thiết kế là các công ty nước ngoài Thời gian chờ đợi để các bên thống nhất các phương án đưa ra sẽ làm tiến độ bị xáo trộn

(10)Tác động của chủ đầu tư: Chủ đầu tư là người không trực tiếp quản lí

quá trình thi công, nhưng ảnh hưởng của họ là không nhỏ Việc không nhất quán trong các thủ tục, chủ trương đầu tư sẽ làm cho công trình bị gián đoạn do tác động của các cơ quan chức năng tại địa phương hay việc thay đổi thiết kế của công trình Dự án Pacific tai Nguyễn Thị Minh Khai (Tp.HCM) là 1 ví dụ Do chủ trương xây vượt số tầng hâm, gây ra sự cố, buộc công trình phải tạm dừng thi

Ngày đăng: 09/03/2021, 04:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Onder Okmen & Ahmet OZtas. “Construction Project Network Evaluation with Correlated Schedule Risk Analysis Model”. Journal of Construction Engineering and Management, 134(1), 49-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Construction Project Network Evaluation with Correlated Schedule Risk Analysis Model
[2] Roger Flanagan & George Norman. “Risk management and Construction”. Blackwell Science-1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk management and Construction
[3] Lê Văn Kiểm – Ngô Quang Tường. “Quản lý dự án bằng sơ đồ mạng”. Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia TP. HCM – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dự án bằng sơ đồ mạng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia TP. HCM – 2001
[4] Lại Hải Đăng (2006). “Nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết tập mờ trong kế hoạch hóa tiến độ”. Luận văn thạc sỹ, ĐHBK TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết tập mờ trong kế hoạch hóa tiến độ
Tác giả: Lại Hải Đăng
Năm: 2006
[5] Trịnh Tuấn . “Lập kế hoạch và quản lí dự án bằng MS Project 2002”. Nhà xuất bản Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập kế hoạch và quản lí dự án bằng MS Project 2002
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống Kê
[6] Daur Nasir, Brenda McCabe & Loesie Hartono. “Evaluating Risk in Construction-Schedule Model (ERIC-S)Construction Schedule Risk Model”.Journal of Construction Engineering and Management, 129(5), 518-527 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluating Risk in Construction-Schedule Model (ERIC-S)Construction Schedule Risk Model
[7] Oder & Battaineh,. “Causes of Construction Delay : Traditional Contract”. International Journal of Project Management, 20(1), 67-73. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Causes of Construction Delay : Traditional Contract
[8] Murali Sambasivan & Yau Wen Soon. “Causes and effect of delay in Malaysian construction Industry”. International Journal of Project Management, 25(5), 517-526 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Causes and effect of delay in Malaysian construction Industry
[9] Shen et al. “ Risk assesssment for Construction Joint Ventures in China”. Journal of Construction Engineering and Management, 127(1), 76-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk assesssment for Construction Joint Ventures in China
[11] Đỗ Thị Xuân Lan. “Quản lý dự án xây dựng”. Nhà xuất bản đại học quốc gia TP.HCM. 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dự án xây dựng
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học quốc gia TP.HCM. 2003
[12] Đặng Thị Trang (2008). “Ứng dụng logic mờ trong phân tích chậm trễ và cập nhật tiến độ thích hợp”. Luận văn thạc sỹ, ĐHBK TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng logic mờ trong phân tích chậm trễ và cập nhật tiến độ thích hợp
Tác giả: Đặng Thị Trang
Năm: 2008
[13] Nguyễn Đình Thám. “Lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thi công”. NXB khoa học và kỹ thuật Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thi công
Nhà XB: NXB khoa học và kỹ thuật Hà Nội 2001
[10] Patrick. Zou, Gouming Zhang & Jia-Yuan Wang.” Identifyung Key Risk in Construction Project : Life Cycle and Stakeholder Perspectives” Khác
[14] Syed M.Ahmed & Salman Azhar.” Risk Management in Florida Constrution Industry”. LACCEI 2004 Khác
[15] Trần Xuân Kim & Nguyễn Xuân Thi. “ Nghiên cứu tiếp thị “. NXB Lao Động Xã Hội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w