Các biện pháp chống bán phá giá là các biện pháp phòng vệ thương mại đơn phương mà một Thành viên có thể áp dụng sau khi thực hiện một cuộc điều tra và xác định rằng, phù h[r]
Trang 11
NGUY CƠ ĐÁNH TRÙNG THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG TRỢ CẤP ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG - BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Trang 22
Trang 33
BỘ CÔNG THƯƠNG CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH
NGUY CƠ ĐÁNH TRÙNG THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG TRỢ CẤP ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG - BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
NHÀ XUẤT BẢN CÔNG THƯƠNG
Hà Nội – 2013
Trang 44
Mã Số: VB02ĐH13
Trang 55
MỤC LỤC
trang
Chương I TỔNG QUAN VIỆC ÁP DỤNG KÉP CÁC
BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI CÁC
QUỐC GIA CÓ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG
11
I Những khái niệm cơ bản 11
2 Khái niệm về áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương
mại (chống bán phá giá và chống trợ cấp)
14
II Khuôn khổ pháp lý của WTO về áp dụng các biện pháp
phòng vệ thương mại
16
1.2 Cơ sở pháp lý áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với
quốc gia có nền kinh tế phi thị trường
19
2.2 Cơ sở pháp lý áp dụng biện pháp chống đối kháng đối với
quốc gia có nền kinh tế phi thị trường
25
3 Áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại đối với các
nước có nền kinh tế phi thị trường
26
3.2 Cơ sở pháp lý cho việc không áp dụng kép biện pháp phòng
vệ thương mại
28 3.3 Những thách thức trong vấn đề áp dụng kép các biện
pháp phòng vệ thương mại đối với các nước có nền kinh tế
phi thị trường
32
III Thực tiễn áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại
của các nước đối với các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường
– Một số bài học rút ra từ các vụ việc với Trung Quốc
62
Trang 66
Chương II: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG KÉP CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ
75
I Tổng quan về các vụ áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam
75
2 Khả năng áp dụng kép các biện pháp phòng vệ thương mại
đối với hàng xuất khẩu củaViệt Nam trong thời gian tới
77
II Ðánh giá những tác động của các vụ việc áp dụng kép biện pháp phòng vệ thương mại (AD và CVD đối với Việt Nam
80
1 Nguy cơ áp dụng trùng thuế AD và CVD khi áp dụng kép các
biện pháp phòng vệ thương mại
80
Hiệp định thực thi điều VI của Hiệp định chung về thuế
quan và thương mại – GATT(1994) Hiệp định chống bán
phá giá(ADA)
92
Phụ lục 2:các thông tin tốt nhất có được theo các điều kiện của khoản 8 điều 6
137
Phụ lục 1 Mức thuế và các ngành mục tiêu trong các vụ việc điều tra chống trợ cấp của Hoa Kỳ nhằm vào hàng xuất khẩu của Trung Quốc
143
Phụ lục 2 Chương trình trợ cấp được xác định là có thể đánh thuế đối kháng của Bộ Thương mại Hoa Kỳ
148
Phụ lục 3 Chương trình trợ cấp được xác định là đối kháng của CBSA 150 Phụ lục 4: Tổng hợp các vụ việc chống trợ cấp và chống bán phá giá đối với hàng hóa từ các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường
152
Trang 77
DANH MỤC VIẾT TẮT
ADA Hiệp định Chống bán phá giá (CBPG)
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CBSA Cơ quan dịch vụ biên giới Canada
CIT Tòa Thương mại quốc tế Hoa Kỳ
CAFC Tòa Phúc thẩm Liên bang Hoa Kỳ
CFSB Giấy tráng cao cấp
FIEs Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
GATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
GDP Tổng sản lượng quốc nội
ITC Ủy ban thương mại quốc tế Hoa Kỳ
IFC Tổ chức tài chính quốc tế
KTTT Kinh tế thị trường
Trang 88
MỤC LỤC HÌNH VÀ BẢNG
MET Đối xử kinh tế thị trường
NHTMNN Ngân hàng thương mại Nhà nước
NME Nền kinh tế phi thị trường
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
UNDP Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc
SCM Hiệp định về Trợ cấp và thuế đối kháng
SIMA Đạo luật về các biện pháp nhập khẩu đặc biệt
của Canada
SIMR Quy định về các biện pháp nhập khẩu đặc biệt
của Canada
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Bảng 1 Các biện pháp chống trợ cấp đối với Trung Quốc từ các thành viên WTO
27
Hình 1 Cấu trúc bù đắp thuế đối kháng trong việc tính toán
biên độ phá giá
29 Bảng 2: Các vụ việc điều tra đồng thời AD và CVD 63 Bảng 3: Thông tin cơ bản về các vụ việc của Việt Nam 76
Trang 99
LỜI NÓI ĐẦU
Thời gian vừa qua, do khủng hoảng của nền kinh
tế thế giới, sức mua giảm, doanh nghiệp và các ngành công nghiệp trong nước gặp khó khăn là một trong nhiều nguyên nhân mà các biện pháp phòng vệ thương mại bao gồm: chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ được các nước trên thế giới áp dụng ngày càng nhiều nhằm bảo hộ ngành sản xuất nội địa trước sự cạnh tranh gay gắt của hàng nhập khẩu
Tính đến hết năm 2012, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt với 65 vụ kiện phòng vệ thương mại do các nước khởi xướng điều tra Riêng trong năm 2012, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt tới 10 vụ việc, trong đó có 8 vụ điều tra chống bán phá giá,
01 vụ điều tra chống lẩn tránh thuế và 01 vụ điều tra chống trợ cấp
Đặc biệt, trong hai năm gần đây, một số nước có xu hướng kiện kép gồm chống bán phá giá và trợ cấp đối với các quốc gia bị coi là nước có nền kinh tế phi thị trường như Việt Nam, Trung Quốc (cả 04 vụ kiện gần đây do Hoa Kỳ khởi xướng điều tra đối với Việt Nam đều là điều tra kép cả chống bán phá giá và chống trợ cấp) Đặc điểm của các vụ kiện kép
là mức thuế bị đẩy lên rất cao do sản phẩm bị áp đồng thời cả thuế CBPG và thuế chống trợ cấp (Ví dụ trong vụ mắc áo, mức thuế suất chống bán phá giá toàn quốc là 187% và thuế chống trợ cấp là 16% dẫn đến tổng mức thuế là 203%)
Để cập nhật, phân tích đồng thời đưa ra các giải pháp, khuyến nghị cho doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam chủ động có những ứng phó phù hợp trước các thay đổi nói trên,
Trang 1010
Cục Quản lý cạnh tranh (QLCT) - Bộ Công Thương phối hợp
với Nhà xuất bản Công Thương biên soạn cuốn sách “Nguy
cơ đánh trùng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với nền kinh tế phi thị trường - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” Nội dung cuốn sách phân tích cơ sở pháp lý cũng
như tiền lệ những vụ kiện kép mà các nước đã khởi xướng điều tra để từ đó rút ra một số kiến nghị đối với cơ quan quản
lý Nhà nước và các doanh nghiệp xuất khẩu nhằm hạn chế tối
đa những vụ việc tương tự có thể xảy ra trong tương lai
Trong quá trình biên soạn khó tránh khỏi những sơ suất, Ban biên tập rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để hoàn thiện hơn trong lần xuất bản tiếp theo
CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH
Trang 1111
Chương I
TỔNG QUAN VIỆC ÁP DỤNG KÉP CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI CÁC QUỐC GIA CÓ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG
I Những khái niệm cơ bản
1 Khái niệm về nền kinh tế phi thị trường
Nền kinh tế phi thị trường (NME) – hay còn được gọi
là nền kinh tế kế hoạch tập trung – là tên gọi được dùng đến cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 cho nền kinh tế các nước Trung và Đông Âu, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác, trong đó, các hoạt động kinh tế được dựa trên kế hoạch hàng năm thông thường do một cơ quan giống như ủy ban kế hoạch Nhà nước soạn thảo Đa số các nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung nay đã chuyển thành nền kinh tế thị trường hoặc đang trong quá trình hướng tới mục tiêu đó (còn gọi là thời kỳ quá độ)
Trong khuôn khổ WTO, khái niệm NME được đề cập
trong khoản 1 điều VI của GATT 1994 “Thừa nhận rằng trong trường hợp nhập khẩu từ một nước mà thương mại hoàn toàn mang tính chất độc quyền hoặc hầu như độc quyền hoặc toàn bộ giá trong nước do nhà nước định đoạt, việc xác định tính so sánh của giá cả nhằm mục đích nêu tại khoản 1
có thể có những khó khăn đặc biệt và trong những trường hợp đó, các bên ký kết là bên nhập khẩu có thể thấy cần tính đến khả năng rằng việc so sánh chính xác với giá cả trong nước của nước đó không phải lúc nào cũng thích đáng”
Trang 1212
Thông qua quy định này, các thành viên của WTO nhận thấy một cách rõ ràng rằng, các quốc gia NME có thể cần phải đối xử một cách khác biệt hơn các quốc gia có nền kinh tế thị trường (Market Economy-ME) trong vụ kiện chống bán phá giá
Theo đó, nhiều nước thành viên của WTO đã không chấp nhận các thông tin về giá cả hay chi phí sản xuất được cung cấp bởi các quốc gia được xem là NME Các quốc gia này cho rằng giá cả và chi phí do các quốc gia NME được điều chỉnh và can thiệp bởi Chính phủ và không theo quy luật của thị trường Do đó, Cơ quan điều tra sẽ sử dụng giá và chi phí sản xuất của hàng hóa tại một nước thứ ba có nền kinh tế thị trường để thay thế, làm cơ sở tính toán cho giá thông thường Trong mỗi vụ kiện, các quốc gia ME được lựa chọn
để thay thế phải ở một mức phát triển cùng với quốc gia NME bị điều tra chống bán phá giá
Để có cơ sở xem xét một quốc gia có được coi là nền kinh tế thị trường hay không, một số quốc gia đã nội luật hóa quy định về các tiêu chí xác định quốc gia có nền kinh tế thị trường:
Một số tiêu chí xác định quốc gia có nền kinh tế thị trường
a Tiêu chí của Hoa Kỳ
Từ khi áp dụng Luật chống bán phá giá 1921 cho đến khi thông qua Luật Thương mại 1974, việc áp dụng thuế chống bán phá giá đối với các nền kinh tế NME đã được Hoa Kỳ đưa ra và áp dụng duy nhất thông qua hoạt động của cơ quan quản lý Trong thập kỷ 1960, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (US DOC) đã sử dụng thuật ngữ “quốc gia thay thế” để áp
Trang 1313
dụng cho các quốc gia NME Phương pháp tiếp cận này đã được thông qua và được pháp điển hóa bởi Quốc hội Hoa
Kỳ vào trong Luật Thương mại 1974 Trong Đạo luật Cạnh tranh và Thương mại 1988, Nghị viện Hoa Kỳ đã ban hành một số đổi mới đối với luật chống bán phá giá, bắt đầu là định nghĩa NME, cũng như là đặt ra quy định DOC đưa ra
và xem xét khi nào thì một quốc gia cụ thể được xem là NME Theo đó, một quốc gia được coi là NME khi “không hoạt động theo nguyên tắc thị trường của cơ cấu giá và chi phí, vì thế doanh số bán hàng của hàng hóa trong quốc gia
đó không phản ánh được giá trị thông thường của hàng hóa” Đạo luật quy định US DOC sẽ xem xét đưa ra sáu tiêu chí trước khi quyết định, bao gồm:
1) Mức độ chuyển đổi của đồng nội tệ;
2) Mức độ theo đó mức lương được xác định thông qua đàm phán tự do giữa người lao động và đơn vị sử dụng lao động;
3) Mức độ theo đó việc liên doanh hoặc các dự án đầu tư nước ngoài được phép thực hiện;
4) Mức độ kiểm soát của chính phủ đối với phương tiện sản xuất;
5) Mức độ kiểm soát của chính phủ về việc phân bổ các nguồn lực, giá cả và sản lượng của doanh nghiệp;
6) Các tiêu chí khác do DOC đưa ra;
b Tiêu chí của EU
Tương tự như Hoa Kỳ, để được EU công nhận là quốc gia có nền kinh tế thị trường, quốc gia đó phải đáp ứng được những tiêu chí theo luật định của EU, các tiêu chí
đó như sau:
Trang 1414
- Chuyển đổi hối đoái được thực hiện theo tỷ giá thị trường;
- Các quyết định của doanh nghiệp về giá cả, chi phí và đầu vào – gồm chi phí nguyên vật liệu, công nghệ và lao động, sản lượng, doanh số và đầu tư – được đưa ra để đáp ứng với những tín hiệu thị trường phản ánh cung và cầu, không
có sự can thiệp đáng kể nào của Nhà nước, và chi phí của những đầu vào chính về cơ bản phản ánh giá thị trường;
- Các doanh nghiệp có một loạt các sổ sách kế toán cơ bản
rõ ràng, được kiểm toán độc lập theo các chuẩn mực kế toán quốc tế và được áp dụng cho tất cả các mục đích;
- Chi phí sản xuất và tình hình tài chính của doanh nghiệp không chịu sự bóp méo đáng kể dưới tác động của hệ thống kinh tế phi thị trường, nhất là liên quan tới khấu hao tài sản, các dạng xóa nợ và các dạng thanh toán bù nợ khác;
- Các doanh nghiệp liên quan chịu sự điều chỉnh của các luật về phá sản và tài sản đảm bảo sự chắc chắn và ổn định
về pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động
2 Khái niệm về áp dụng kép các biện pháp phòng
vệ thương mại (chống bán phá giá và chống trợ cấp)
Việc cơ quan điều tra của một nước thành viên WTO đồng thời áp dụng hai biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp nhằm đền bù cho cùng một hành vi thương mại không công bằng được xem là “áp dụng kép” hay còn gọi là đánh trùng thuế (double counting) Trong trường hợp này, các nhà xuất khẩu cùng lúc phải đối mặt với cả vụ kiện điều tra chống
bán phá giá lẫn điều tra chống trợ cấp
Trang 1515
Trong trường hợp cùng áp dụng biện pháp chống bán phá giá và biện pháp chống trợ cấp đối với một mặt hàng cụ thể từ nước có nền kinh tế thị trường, cơ quan điều tra của nước nhập khẩu sẽ tiến hành cộng thêm mức thuế đối kháng
để loại bỏ trợ cấp xuất khẩu trên giá xuất khẩu của sản phẩm trước khi tiến hành tính toán thuế chống bán phá giá Lý do cho sự điều chỉnh này là trợ cấp xuất khẩu có tác động làm
giảm giá của hàng hóa xuất khẩu
Đối với nước có nền kinh tế phi thị trường, các cơ quan điều tra như Bộ Thương mại Hoa Kỳ hay Ủy ban Châu
Âu đã không sử dụng chi phí thực của nhà sản xuất của các nước có nền kinh tế phi thị trường và giá bán của sản phẩm nội địa Thay vào đó, cơ quan điều tra dựa vào thông tin của
nước thay thế
Nếu như những nước có nền kinh tế phi thị trường có trợ cấp sản xuất nội địa, cả giá xuất khẩu và giá thông thường
sẽ bị ảnh hưởng bởi trợ cấp nội địa và chi phí và giá nội địa ở những nước có nền kinh tế phi thị trường cũng bị loại bỏ và chúng bị thay thế bởi chi phí và giá nội địa của nước thay thế Với phương pháp tính toán này, cơ quan điều tra - trừ phi đã điều chỉnh giá thông thường phản ánh tác động của trợ cấp nội địa ở nước có nền kinh tế phi thị trường - sẽ so sánh một mức giá xuất khẩu thấp hơn so với thực tế có thể nếu giá nội địa ở những nước có nền kinh tế phi thị trường không tồn tại, với giá thông thường ở nước thay thế, mức giá mà không bị ảnh hưởng bởi trợ cấp nội địa của nước phi thị trường Nói theo cách khác, việc tính thuế hai lần có thể xảy ra nếu biện pháp chống bán phá giá và trợ cấp có thể cùng áp dụng song song và không điều chỉnh theo giá thông thường đã được điều chỉnh để phản ánh trợ cấp nội địa ở nước có nền kinh tế phi thị trường
Trang 1616
II Khuôn khổ pháp lý của WTO về áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại
1 Áp dụng biện pháp chống bán phá giá
1.1 Cơ sở pháp lý chung
Hiệp định về thi hành Điều VI của Hiệp định khung
về thuế quan và thương mại 1994 (“Hiệp định chống bán phá giá - CBPG”) điều chỉnh việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá của các Thành viên WTO Các biện pháp chống bán phá giá là các biện pháp phòng vệ thương mại đơn phương mà một Thành viên có thể áp dụng sau khi thực hiện một cuộc điều tra và xác định rằng, phù hợp với quy định của Hiệp định CBPG, hàng hóa nhập khẩu là “bán phá giá” (hàng hóa được đưa vào nước nhập khẩu với mục đích thương mại với mức giá thấp hơn giá trị thông thường), và việc bán phá giá đó gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu sản xuất sản phẩm tương tự
Không như Hiệp định về trợ cấp và thuế đối kháng (“SCM Agreement”), Hiệp định CBPG không thiết lập bất kỳ quy tắc nào về phá giá, chủ yếu do việc phá giá là hành vi định giá do các doanh nghiệp thực hiện và do đó không nằm trong phạm vi điều chỉnh trực tiếp của các quy tắc đa phương Hiệp định CBPG tập trung vào các quy tắc về nội dung và thủ tục của việc điều tra, áp dụng, và khoảng thời gian áp dụng các biện pháp chống bán phá giá Các nguyên tắc này được
áp dụng cho tất cả các thành viên WTO Phạm vi của Hiệp định CBPG rộng hơn và khả năng các quy tắc của Hiệp định CBPG sẽ có hiệu lực là lớn hơn