Tìm hiểu phương pháp phần tử hữu hạn để giả quyết bài toán phân bố thế cho hệ thống nối đất.. TÊN ĐỀ TÀI: “ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ HỮU HẠN CHO PHÂN BỐ THẾ TRONG HỆ THỐNG NỐI ĐẤT”
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
PHẠM THANH HƯNG
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ HỮU HẠN CHO PHÂN BỐ THẾ TRONG
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
Cán bộ chấm nhận xét 1 :
Cán bộ chấm nhận xét 2 :
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN
THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày tháng năm
Trang 3- -oOo -
Tp HCM, ngày tháng năm
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên: PHẠM THANH HƯNG Giới tính : Nam
Ngày, tháng, năm sinh : 03 – 11 – 1982 Nơi sinh : TP Hồ Chí Minh Chuyên ngành : Thiết Bị, Mạng và Nhà Máy Điện
Khoá (Năm trúng tuyển) : 2006
1- TÊN ĐỀ TÀI:
ỨNG DỤNG PHUƠNG PHÁP PHẦN TỬ HỮU HẠN CHO PHÂN BỐ THẾ TRONG HỆ THỐNG NỐI ĐẤT 2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:
Khảo sát mô hình toán của hệ thống nối đất
Tìm hiểu phương pháp phần tử hữu hạn để giả quyết bài toán phân bố thế cho hệ thống nối đất
Xây dựng bài toán phân bố thế cho hệ thống nối đất dạng một cọc
Xây dựng bài toán phân bố thế cho hệ thống nối đất dạng nhiều cọc
Xây dựng bài toán phân bố thế cho hệ thống nối đất dạng thanh
Xây dựng bài toán phân bố thế cho hệ thống nối đất dạng hai điện cực
Xây dựng bài toán phân bố thế cho hệ thống nối đất dạng bốn điện cực
Xây dựng bài toán phân bố thế cho hệ thống nối đất dạng lưới hình vuông
Xây dựng bài toán phân bố thế cho hệ thống nối đất dạng lưới bất kỳ
Sử dụng ngôn ngữ lập trình MATLAB viết phần mềm ứng dụng để giải bài toán trên
3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ :
4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ :
5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS VŨ PHAN TÚ
Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN
(Họ tên và chữ ký)
Trang 4Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, hôm nay em hoàn thành
đề tài tốt nghiệp cao học của mình, chuẩn bị bước sang một bậc mới
Những gì em tiếp thu trong suốt thời gian học ở bậc Cao Học đã cho em được nhiều hơn về kiến thức chuyên ngành, mà giá trị của nó thật
sự khác biệt so với bậc đại học
Để có được kết quả trên, em đã nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ nhiệt tình của gia đình, đơn vị công tác, thầy cô và bạn bè
Em xin chân thành cám ơn các Thầy Cô giáo Khoa Điện – Điện
Tử trường Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt
cho em những kiến thức quý báu trong suốt những năm tháng học tại trường
Em xin đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến TS Vũ
Phan Tú, người thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt thời gian
vừa qua
Con xin cám ơn Ba mẹ đã che chở, luôn tạo điều kiện tốt nhất cho
con, động viên, khích lệ con vượt qua những khó khăn, thử thách
Xin cám ơn bạn bè, đồng nghiệp tại trường Cao Đẳng Điện Lực
TP.Hồ Chí Minh đã chia sẻ, giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này
Học viên PHẠM THANH HƯNG
Trang 5TÊN ĐỀ TÀI:
“ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ HỮU HẠN CHO
PHÂN BỐ THẾ TRONG HỆ THỐNG NỐI ĐẤT”
Nội Dung:
Hệ thống nối đất là một trong những phần tử chính trong hệ thống điện
Hệ thống nối đất thường dùng để bảo vệ thiết bị, đảm bảo hệ thống điện vận hành khi có sự cố xảy ra và bảo vệ an toàn cho người khi vận hành, khi tiếp xúc hoặc khi đến gần thiết bị
Trong hệ thống nối đất thường thường có: nối đất dạng cọc thẳng đứng, nối đất dạng thanh, hệ thống nối đất dạng điện cực, hệ thống nối đất dạng lưới Mục đích chính của hệ thống nối đất là dùng để tản dòng sự cố vào trong đất
Việc phân tích dòng điện tản vào đất, ta sử dụng thuyết điện từ Maxwell Tuy nhiên nếu sử dụng để tính ở mạng lưới lớn thì sẽ rất khó khăn khi giải bài toán bằng tay, do đó người ta sẽ sử dụng chương trình máy tính để tính Một trong những phương pháp đó là FEM (Finite element Method), FDM (Finite Differences Method)
Trong luận văn này sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn bậc một để giải bài toán phân bố thế trong hệ thống nối đất gồm có hệ thống nối đất dạng thanh, hệ thống nối đất dạng cọc, hệ thống nối đất dạng điện cực và lưới nối đất, bằng cách giải phương trình Laplace với các ràng buộc về biên
Kết quả của bài toán phân bố thế trong hệ thống nối đất bằng phương pháp phần tử hữu hạn đã được kiểm tra đối chiếu với phương pháp sai phân ở một số trường hợp và kết quả cho thấy là hợp lý
Ngoài ra trong luận văn này còn đưa ra một số ví dụ của các bài toán phần
tử hữu hạn khác
Trang 6CHƯƠNG 1: Giới thiệu đề tài 1
1 Giới thiệu chung 1
2 Các công trình đã nghiên cứu 1
3 So sánh phương pháp phần tử hữu hạn với phương pháp sai phân hữu hạn 2
4 Kết luận 3
Chương 2: Hệ thống nối đất 5
1 Giới thiệu .5
2 Các dạng nối đất đơn giản .6
2.1 Dạng nối đất hình bán cầu 6
2.2 Dạng hai bán cầu trên bề mặt của đất 9
2.3 Dạng hai điện cực hình cầu chôn trong đất 11
3 Các dạng hệ thống nối đất 13
3.1 Các phương trình cơ bản 14
3.2 Dạng cọc nối đất thẳng đứng 16
3.3 Dạng thanh nối đất nằm ngang 18
3.4 Một số dạng khác của hệ thống nối đất 19
Chương 3: Phương pháp phần tử hữu hạn 21
1 Giới thiệu phương pháp phần tử hữu hạn 21
1.1 Giới thiệu chung 21
1.2 Lịch sử phát triển phương pháp phần tử hữu hạn 21
1.3 Xấp xỉ bằng phương pháp phần tử hữu hạn 22
1.4 Định nghĩa hình học các phần tử hữu hạn 23
1.5 Các dạng phần tử hữu hạn 23
Trang 71.7 Một số dạng phần tử qui chiếu 25
1.8 Sơ đồ toán bằng phương pháp phần tử hữu hạn 26
2 Phân tích phần tử hai chiều 28
2.1 Bài toán trị biên 28
2.2 Ví dụ về bài toán trị biên hai chiều 30
2.3 Các phương trình phần tử hữu hạn sử dụng phương pháp Galerkin 33
2.4 Phần tử chữ nhật 38
2.5 Phần tử tam giác 46
2.6 Phần tử ánh xạ 55
2.7 Bài toán ba chiều 68
2.8 Thuật toán ghép nối phần tử 75
3 Các bài toán ứng dụng phương pháp phần tử hữu hạn 77
3.1 Bài toán một chiều 77
3.2 Bài toán hai chiều 77
Chương 4: Kết quả chạy mô phỏng 79
1 Mô hình bài toán nối đất 79
2 Mô phỏng phân bố thế của cọc, thanh dẫn nối đất 81
2.1 Một cọc nối đất 81
2.2 Nhiều cọc nối đất 84
2.3 Thanh nối đất 94
2.4 Hệ thống nối đất gồm hai điện cực 97
2.5 Hệ thống nối đất gồm bốn điện cực 100
3 Mô phỏng phân bố thế cho hệ thống lưới nối đất 103
3.1 Lưới nối đất hình chữ nhật 103
3.1 Lưới nối đất bất kỳ 104
Chương 5: So sánh và kết luận 105
1 So sánh 105
Trang 82.1 Một cọc nối đất 106
2.2 Ba cọc nối đất có độ dài bằng nhau 107
3 Kết luận 109
3.1 Nhận xét về kết quả 109
3.2 Ưu điểm của phương pháp phân tử hữu hạn cũng như của luận văn 110
3.3 Hướng phát triển tiếp theo của đề tài 110
Trang 9
Page 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1 Giới thiệu chung:
Hệ thống nối đất là một trong những phần tử chính trong hệ thống điện Nối đất
hệ thống điện bao gồm những mục tiêu sau:
- Bảo vệ thiết bị và đảm bảo hệ thống điện vận hành khi có sự cố xảy ra (dẫn
dòng sự cố tản nhanh vào đất)
- Bảo vệ an toàn cho người khi vận hành, khi tiếp xúc hoặc khi đến gần thiết bị
Ngày nay các chương trình máy tính được sử dụng để tính toán các thông số
an toàn để đạt được mô hình nối đất tin cậy
Việc phân tích dòng điện tản vào đất, ta sử dụng thuyết điện từ Maxwell Tuy
nhiên nếu sử dụng để tính ở mạng lưới lớn thì sẽ rất khó khăn khi giải bài toán
bằng tay, do đó người ta sẽ sử dụng chương trình máy tính để tính Một trong
những phương pháp đó là FEM (Finite element Method), FDM (Finite Differences
Method)
2 Các công trình đã nghiên cứu trước:
Analysis of Transferred Earth Potentials in Grounding Systems: A BEM
Numerical Approach: Bài báo dùng phương pháp số BEM (Boundary Element
method – Phương pháp phần tử biên) để giải bài toán phân bố thế trong đất phân
bố của dây dẫn chôn trong đất, đường ống, hàng rào kim loại, Bài báo này miêu
tả tổng quan về phương pháp BE và trình bày kỹ thuật mới trong phân tích phân bố
thế
Resistance to ground of combined grid - multiple rods electrodes: bài báo này
trình bày các loại lưới nối đất hình vuông, hình chữ nhật với nhiều cọc được chôn
sâu trong đất trường hợp lớp đất là đều, và trường hợp hai lớp đất Tác giả sẽ sử
dụng phần mềm máy tính để phân tích Dựa vào kết quả phân tích tác giả đã đưa
ra công thức và đồ thị của các điện trở nối đất
Trang 10Page 2
Phương pháp phần tử hữu hạn được giới thiệu lần đầu tiên trong luận văn về
toán học của Couran vào thập niên 40, ở đó tác giả sử dụng phần tử tam giác Vào
cuối thập niên 60 những luận văn toán học về phương pháp phần tử hữu hạn được
phát triển nhiều hơn, và cũng vào cuối thập niên 60 thì phương pháp phấn tử hữu
hạn đã được Silvester đưa vào ứng dụng trong ngành điện để phân tích dạng sóng
và sự cộng hưởng Vào những cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 nhiều nhà
khoa học, kỹ thuật đã sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn để nghiên cứu nhiều
lĩnh vực như máy móc, điện, v.v…
Ưu điểm chính của phương pháp phần tử hữu hạn là tương thích với mọi dạng
hình học và vật liệu không đồng nhất mà không cần phần thay đổi lại công thức
cũng như những đoạn mã chương trình của máy tính
3 So sánh phương pháp phần tử hữu hạn với phương pháp sai
phân hữu hạn:
Phương pháp sai phân hữu hạn là một phương pháp khác để giải phương trình vi
phân từng phần Sự khác nhau giữa phương pháp phần tử hữu hạn và Phương
pháp sai phân hữu hạn là:
• Phương pháp sai phân hữu hạn xấp xỉ bài toán phương trình vi phân; còn
phương pháp phần tử hữu hạn thì xấp xỉ lời giải của bài toán này
• Điểm đặc trưng nhất của phương pháp phần tử hữu hạn là nó có khả năng
áp dụng cho những bài toán hình học và những bài toán biên phức tạp với
mối quan hệ rời rạc Trong khi đó phương pháp sai phân hữu hạn về căn
bản chỉ áp dụng được trong dạng hình chữ nhật với mối quan hệ đơn giản,
việc vận dụng kiến thức hình học trong phương pháp phần tử hữu hạn là
đơn giản về lý thuyết
• Điểm đặc trưng của phương pháp sai phân hữu hạn là có thể dễ dàng thực
hiện được
• Trong một vài trường hợp, phương pháp sai phân hữu hạn có thể xem như
là một tập con của phương pháp phần tử hữu hạn xấp xỉ Việc lựa chọn hàm
Trang 11Page 3
cơ sở là hàm không đổi từng phần hoặc là hàm delta Dirac Trong cả hai
phương pháp xấp xỉ, việc xấp xỉ được tiến hành trên toàn miền, nhưng miền
đó không cần liên tục Như một sự lựa chọn, nó có thể xác định một hàm
trên một miền rời rạc, với kết quả là toán tử vi phân liên tục không sinh ra
chiều dài hơn, tuy nhiên việc xấp xỉ này không phải là phương pháp phần tử
hữu hạn
• Có những lập luận để lưu ý đến cơ sở toán học của việc xấp xỉ phần tử hữu
hạn trở lên đúng đắn hơn, ví dụ, bởi vì trong phương pháp sai phân hữu hạn
đặc điểm của việc xấp xỉ những điểm lưới còn hạn chế
• Kết quả của việc xấp xỉ bằng phương pháp phần tử hữu hạn thường chính
xác hơn phương pháp sai phân hữu hạn, nhưng điều này còn phụ thuộc vào
nhiều vấn đề khác và một số trường hợp đã cho kết quả trái ngược
Nói chung, phương pháp phần tử hữu hạn là một phương pháp thích hợp để
phân tích các bài toán về kết cấu (giải các bài toán về biến dạng và ứng suất của
vật thể dạng khối hoặc động lực học kết cấu), trong khi đó phương pháp tính trong
động lực học chất lỏng có khuynh hướng sử dụng phương pháp sai phân hữu hạn
hoặc những phương pháp khác (như phương pháp khối lượng hữu hạn).Những
bài toán của động lực học chất lỏng thường yêu cầu phải rời rạc hóa bài toán
thành một số lượng lớn những “ô vuông” hoặc những điểm lưới (hàng triệu hoặc
hơn), vì vậy mà nó đòi hỏi cách giải phải đơn giản hơn để xấp xỉ các “ô vuông”
Điều này đặc biệt đúng cho các bài toán về dòng chảy ngoài, giống như dòng
không khí bao quanh xe hơi hoặc máy bay, hoặc việc mô phỏng thời tiết ở một
vùng rộng lớn Có rất nhiều bộ phần mềm về phương pháp phần tử hữu hạn, một
Trang 12Page 4
Phương pháp phần tử hữu hạn có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp sai
phân hữu hạn
Luận văn này sẽ thực hiện việc nghiên cứu phương pháp phần tử hữu hạn và
ứng dụng vào để giải bài toán phân bố thế trong hệ thống điện
Trang 13Page 5
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG NỐI ĐẤT
1 Nối đất trong hệ thống điện:
1.1 Giới thiệu:
Tác dụng của hệ thống nối đất là tản dòng điện sự cố như dòng ngắn mạch
(bao gồm ngắn mạch 3 pha đối xứng, ngắn mạch 2 pha, ngắn mạch 2 pha chạm
đất, ngắn mạch 1 pha), dòng sét và dòng điện rò vào trong đất và giữ cho điện
thế của các phần tử được nối đất thấp Có các loại nối đất sau:
Nối đất làm việc: Có nhiệm vụ bảo đảm sự làm việc của trang thiết bị điện
trong các điều kiện bình thường và sự cố theo các chế độ qui định Đó là nối đất
điểm trung tính các cuộn dây máy phát, máy biến áp và máy bù, nối đất máy biến
áp đo lường
Nối đất an toàn: hay nối đất bảo vệ đảm bảo an toàn cho người khi đứng
gần hoặc tiếp xúc với thiết bị điện đã được nối đất khi cách điện của trang thiết bị
điện đó bị hư hỏng gây rò điện Đó là nối đất vỏ máy phát, máy biến áp, vỏ thiết bị
điện, vỏ cáp, nối đất các kết cấu kim loại của trang bị phân phối điện Nói chung
đó lả nối đất các bộ phận kim loại, bình thường có điện thế bằng không, nhưng
khi cách điện bị hư hỏng do phóng điện xuyên thủng hay phóng điện bề mặt sẽ
có điện thế khác không
Nối đất chống sét: Có nhiệm vụ tản dòng sét vào đất 1 cách nhanh chóng
và đảm bảo điện áp của các phần tử không quá cao, do đó tránh được phóng
điện ngược từ các phần tử đó đến các bộ phận mang điện và các trang thiết bị
điện khác Thiết bị nối đất chống sét thường là cột thu sét, dây đai chống sét, …
Trong nhiều trường hợp, cùng một hệ thống nối đất đồng thời thực hiện hai
hoặc ba nhiệm vụ trên Tuy nhiên, việc thực hiện một hệ thống nối đất cụ thể,…
Các loại hệ thống nối đất thông thường được thực hiện bằng một hệ thống
những cọc thép (hoặc đồng) đóng vào đất hoặc những thanh ngang bằng cùng
loại vật liệu chôn trong đất, hoặc cọc và thanh nối liền nhau và nối liền với vật cần
nối đất Cọc thường làm bằng thép ống hoặc thép thanh tròn không rỉ (hoặc mạ
kẽm), đường kính từ 3 đến 6cm, dài từ 2 đến 3m hoặc bằng thép góc
Trang 14Page 6
40mm×40mm, 50mm×50mm đóng thẳng đứng vào đất, còn thanh ngang bằng
đến 20 mm Cọc và thanh được gọi chung là cực nối đất, thường được chôn sâu
cách mặt đất 50 cm đến 80 cm để giảm bớt ảnh hưởng thời tiết không thuận lợi
(quá khô về mùa nắng hoặc băng giá về mùa đông) và tránh khả năng hư hỏng
về cơ giới (do bị đào bới, cày cuốc)
quanh đất một điện trường (điện trường trong môi trường dẫn điện) Mỗi điểm
trong điện trường đó kể cả trên mặt đất có một điện thế nhất định Trên mặt đất
những điểm cách xa điện cực 20m trở lên có thể coi điện thế tại các điểm đó
bằng không do cường độ điện trường ở các khoảng cách đó thường không quá
1V/m Điện thế của các cực nối đất đối với các điểm có điện thế “không” , về trị số
trở của bản thân điện cực phụ thuộc vào vật liệu và kích thước của điện cực Khi
tản dòng một chiều hoặc xoay chiều tần số 50Hz thì bản thân trị số điện trở của
điện cực rất bé có thể bỏ qua Khi tản dòng điện xung có độ dốc lớn thì nó có thể
có trị số đáng kể, cần được xem xét
1.2 Các dạng nối đất đơn giản
1.2.1 Dạng điện cực hình bán cầu
Xét hệ thống nối đất đơn giản với điện cực hình bán cầu, có điện trở suất là ρ
Tâm của điện cực được đặt trên bề mặt đất
Điện trở suất = ρKhông khí
Trang 15Page 7
Do tính đối xứng nên dòng điện chạy vào trong đất của điện cực bán cầu
được xem như điện cực hình cầu được chôn sâu một nửa trong đất Nếu tổng
dòng điện chạy trong điện cực bán cầu là I thì tổng dòng điện chạy trong điện cực
hình cầu là 2I Mật độ dòng điện tại một điểm cách tâm của điện cực một khoảng
là r sẽ được xác định theo công thức sau:
2.1
Trong đó a là bán kính của điện cực bán cầu, là vectơ đơn vị Cường độ
điện trường sẽ được tính như sau:
2.2 Điện áp của điện cực bán cầu đối với điểm x cách tâm điện cực một
V1
V2
r
Điện trở suất = ρĐiện trở suất = ρ
Hình 2.1 – Điện cực bán cầu chôn trong đất
Trang 16Page 8
Điện áp của điện cực hình cầu đối với điểm ở xa vô cùng:
∞ 2 2.5 Điện trở của điện cực bán cầu với điểm đất ở xa vô cùng:
Trang 17Page 9
1.2.2 Dạng hai bán cầu trên bề mặt của đất
Xét một hệ thống đơn giản, gồm hai điện cực nửa bán cầu trên bề mặt của đất
như hình vẽ:
Một nguồn dòng được nối giữa hai điện cực bán cầu có tổng dòng điện I
chạy trong đất Để dễ phân tích ta giả sử rằng các điện cực bán cầu không bị ảnh
hưởng bởi sự phân bố dòng trong bề mặt đất của điện cực bán cầu kia, với giả
thiết này ta có thể xem khoảng cách giữa hai điện cực bán cầu lớn hơn rất nhiều
lần so với bán kính của điện cực khi đó mật độ dòng điện J(x,y) tại điểm (x,y)
được tính theo công thức sau:
Trang 19Page 11
1.2.3 Dạng điện cực hình cầu chôn trong đất
Xét điện cực hình cầu được chôn trong đất có độ sâu d như hình sau:
Không khí Điện trở suất ρ
Trang 20Page 12
Theo phương pháp ảnh điện thì điện áp tại một điểm trong đất được tạo
bởi điện cực chôn sâu trong đất và ảnh của nó đối xứng với điện cực qua bề mặt
đất Đồng thời, xem như không gian giữa hai điện cực được lắp đầy bởi môi
trường có điện trở suất ρ
Nếu điện cực có tổng dòng điện I chạy vào trong đất thì ảnh của nó có tổng
dòng điện là I
Một cách tổng quát, dòng điện phân bố trên bề mặt của quả cầu là không
đồng nhất và phương pháp tính cũng rất phức tạp Để đơn giản, ta sử dụng
khoảng cách d lớn hơn rất nhiều so với bán kính của quả cầu (tỷ lệ trên hình vẽ
chỉ mang tính chất tham khảo) Khi đó các đại lượng J, E, V được tính theo công
điểm khảo sát và và là các vectơ đơn vị
Lấy tích phân hai vế ta được:
Hình 2.4 - Điện cực hình cầu chôn trong đất
c) Hướng tản dòng điện
Trang 21Page 13
1.3 Các dạng hệ thống nối đất
1.3.1 Các phương trình cơ bản:
Khảo sát phương trình vi phân của điện cực kim loại chôn sâu trong đất Giả
Điện áp V(r,φ,z) tại điểm có tọa độ (r,φ,z) trong đất được xác định theo phương
Trong đó: r, φ, z xác định tọa độ điểm A trong hệ trục tọa độ Do bài toán có tính
đối xứng nên kết quả sẽ độc lập với biến φ, vì thế V(r,φ,z) = V(r,z)
Khi đó phương trình Laplace sẽ được viết lại như sau:
Với k là biến giả và θ(k) là hàm bất kỳ của biến k Đối với bài toán cụ thể thì
θ(k) được xác định theo điều kiện biên Có hai dạng nghiệm tổng quát là cộng
hoặc trừ tương ứng với trục +z hoặc –z
Trang 22Page 14
Hình 2.5 – Dòng điện tại một điểm trong đất
Điện áp trong vùng 2 (+z):
,4
Trang 23Page 15
âm vô cùng
phần này được xác định thông qua việc giải bài toán điều kiện biên Tại mặt tiếp
xúc giữa hai môi trường (mặt tiếp xúc giữa hai lớp) hàm điện áp và hàm dòng
điện phải liên tục
∞
2.25
,4
∞
2.31
Trang 241.3.2 Dạng cọc nối đất thẳng đứng
Trong trường hợp này ta khảo sát điện cực nối đất chôn thẳng đứng có đường
kính d, chiều dài l với độ sâu là t và đất có điện trở suất là ρ
Điện áp tại 1 điểm có tọa độ (z,x) và dòng điện I chạy qua điện cực được tính
theo công thức sau :
4 √ 2.36
Trang 25Page 17
Hình 2.6 – Nối đất thẳng đứng
Để đơn giản hơn ta áp dụng phương pháp ảnh điện và giả sử không gian khảo
sát là đồng nhất, điện áp ở 1 điểm có tọa độ (l/2, r) sẽ là :
Trang 26Điện áp trên đoạn từ điểm C đến vô cùng chính là điện áp tại điểm C, vì
điện áp ở xa vô cùng ϕ(∞) = 0 Giá trị điện áp này được tính theo công thức sau :
1.3.3 Dạng thanh nối đất nằm ngang
Xét thanh nối đất được chôn trong đất như hình vẽ
ρ
Z
r
x L/2 -L/2
Trang 27ρ
Để đơn giản trong việc tính toán, ta có thể không xem xét đến ảnh hưởng
của độ chôn sâu t Ngoài ra ta giả thiết rằng điện trường xung quanh điện cực là
đối xứng theo mọi phía của mặt cắt ngang
Trong thực tế l/2r >>1 nên :
ρ
2 2 2.47 Điện trở nối đất :
ρ
2 2 2.48
1.3.4 Một số dạng khác của hệ thống nối đất
Ngoài các dạng cọc, thanh nối đất, trong thực tế còn có một số dạng nối đất khác,
như vòng, đĩa, lưới, v.v…
Trang 28Page 20
Dạng đĩa tròn chôn gần mặt đất :
ρ
4 2.51 Dạng vòng :
ρ
4
8 2.52
Trang 29Page 21
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ HỮU HẠN
1 Giới thiệu phương pháp phần tử hữu hạn
1.1 Giới thiệu chung:
Sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật đòi hỏi kỹ sư thực hiện những đề án ngày
càng phức tạp, đắt tiền và đòi hỏi độ chính xác, an toàn cao
Phương pháp phần tử hữu hạn là phương pháp rất tổng quát và hữu hiệu
cho lời giải số nhiều lớp bài toán kỹ thuật khác nhau Từ việc phân tích trạng thái
ứng suất, biến dạng trong các kết cấu cơ khí, các chi tiết trong ô tô, máy bay, tàu
thủy, khung nhà cao tầng, dầm cầu, … đến những bài toán của lý thuyết trường
như: lý thuyết truyền nhiệt, cơ học chất lỏng, thủy đàn hồi, khí đàn hồi, điện-từ
trường, v.v… Với sự phát triển của ngành công nghệ thông tin và hệ thống CAD,
nhiều kết cấu phức tạp cũng đã được tính toán và thiết kế chi tiết một cách dễ
dàng
Trên thế giới có rất nhiều phần mềm phần tử hữu hạn nổi tiếng như
NASTRAN, ANSYS, TITUS, MODULEF, SAP2000, CASTEM2000, FEMLAB,…
1.2 Lịch sử phát triển phương pháp phần tử hữu hạn
Phương pháp phần tử hữu hạn được bắt nguồn từ những yêu cầu giải các
bài toán phức tạp về lý thuyết đàn hồi, phân tích kết cấu trong xây dựng và kỹ
thuật hàng không Nó được bắt đầu phát triển bởi Alexander Hrennikoff (1941) và
Richard Courant (1942) Mặc dù hướng tiếp cận của những người đi tiên phong là
khác nhau nhưng họ đều có một quan điểm chung, đó là chia những miền liên tục
thành những miền con rời rạc Hrennikoff rời rạc những miền liên tục bằng cách
sử dụng lưới tương tự, trong khi Courant chia những miền liên tục thành những
miền có hình tam giác cho cách giải thứ hai của phương trình vi phân từng phần
Trang 30Page 22
elliptic, xuất hiện từ các bài toán về xoắn của phần tử thanh hình trụ Sự đóng góp
của Courant là phát triển, thu hút một số người nhanh chóng đưa ra kết quả cho
Phương pháp vi phân toàn phần elliptic được phát triển bởi Rayleigh, Ritz, và
Galerkin Sự phát triển chính thức của Phương pháp phần tử hữu hạn được bắt
đầu vào nửa sau những năm 1950 trong việc phân tích kết cấu khung máy bay và
công trình xây dựng, và đã thu được nhiều kết quả ở Berkeley (xem Early Finite
Element Research at Berkeley) trong những năm 1960 trong ngành xây dựng
Phương pháp này được cung cấp nền tảng toán học chặt chẽ vào năm 1973 với
việc xuất bản cuốn Strang và tổng kết trong An Analysis of The Finite Element
Method và kể từ đó Phương pháp phần tử hữu hạn được tổng quát hóa thành một
ngành của toán ứng dụng, một mô hình số học cho các hệ thống tự nhiên, được
ứng dụng rộng rãi trong kĩ thuật, ví dụ như điện từ học và động lực học chất lỏng
Sự phát triển của Phương pháp phần tử hữu hạn trong cơ học kết cấu đặt
cơ sở cho nguyên lý năng lượng, ví dụ như: nguyên lý công khả dĩ, Phương pháp
phần tử hữu hạn cung cấp một cơ sở tổng quát mang tính trực quan theo quy luật
tự nhiên, đó là một yêu cầu lớn đối với những kỹ sư kết cấu
1.3 Xấp xỉ bằng phương pháp phần tử hữu hạn
Giả sử V là miền xác định của một đại lượng cần khảo sát nào đó, ta chia V
ra thành nhiều miền con ve có kích thước và bậc tự do hữu hạn Đại lượng xấp xỉ
của đại lượng trên sẽ được tính trong tập hợp các miền ve
Phương pháp xấp xỉ nhờ các miền con ve được gọi là phương pháp xấp xỉ
bằng các phần tử hữu hạn, nó có một số đặc điểm sau:
• Xấp xỉ nút trên mỗi miền con ve chỉ liên quan đến những biến nút gắn
vào nút của ve và biên của nó
• Các hàm xấp xỉ trong mỗi miền con ve được xây dựng sao cho liên tục
trên ve và phải thỏa mãn các điều kiện liên tục giữa các miền con khác nhau
• Các miền con ve được gọi là các phần tử hữu hạn
Trang 31Page 23
1.4 Định nghĩa hình học các phần tử hữu hạn
1.4.1 Nút hình học
Nút hình học là tập hợp n điểm trên miền V để xác định hình học các phần
tử hữu hạn Chia miền V theo các nút trên, rồi thay miền V bằng một tập hợp các
phần tử ve có dạng đơn giản hơn Mỗi phần tử ve cần chọn sao cho nó được xác
định giải tích duy nhất theo các tọa độ nút hình học của phần tử đó, có nghĩa là
các tọa độ nằm trong ve hoặc trên biên của nó
1.4.2 Qui tắc chia miền thành các phần tử
Việc chia V thành các phần tử ve phải thỏa mãn hai qui tắc sau:
• Hai phần tử khác nhau chỉ có thể có những điểm chung nằm trên biên của
chúng Điều này loại trừ khả năng giao nhau giữa hai phần tử Biên giới
giữa các phần tử có thể là các điểm, đường hay mặt
• Tập hợp tất cả các phần tử ve phải tạo thành một miền càng gần với miền V
cho trước càng tốt Tránh không được tạo lỗ hổng giữa các phần tử
1.5 Các dạng phần tử hữu hạn
Có nhiều dạng phần tử hữu hạn: phần tử một chiều, hai chiều, ba chiều
Trong mỗi dạng đó, đại lượng khảo sát có thể biến thiên bậc nhất (gọi là phần tử
bậc nhất), bậc hai hoặc bậc ba v.v… Một số dạng phần tử hữu hạn hay gặp:
Trang 32Với mục đích đơn giản hóa việc xác định giải tích các phần tử có dạng phức
tạp, chúng ta đưa vào khái niệm phần tử qui chiếu hay phần tử chuẩn hóa, ký hiệu
là vr Phần tử qui chiếu thường là phần tử đơn giản, được xác định trong không
gian qui chiếu, mà từ đó ta có thể biến đổi nó thành từng phần tử thực ve nhờ
phép biến đổi hình học re
Phần tử bậc nhất Phần tử bậc hai Phần tử bậc ba
Hình 3.2 – Các dạng phần tử hữu hạnPhần tử bậc nhất Phần tử bậc hai Phần tử bậc ba
Phần tử bậc nhất Phần tử bậc hai Phần tử bậc ba
Trang 33Page 25
Các phép biến đổi hình học phải sinh ra các phần tử thực, phải thỏa mãn các qui
tắc chia phần tử Muốn vậy, phép biến đổi hình học phải được chọn sao cho có
các tính chất sau:
• Phép biến đổi phải có tính hai chiều, đối với mỗi điểm ξ trong phần tử qui
chiếu hoặc trên biên; mỗi điểm của vr ứng với một và chỉ một điểm ve và
ngược lại
• Mỗi phần tử biên của các phần tử qui chiếu được xác định bởi các nút hình
học của biên đó, ứng với phần biên của phần tử thực được xác định bởi các
Trang 34Page 26
Phần tử qui chiếu hai chiều:
Phần tử qui chiếu ba chiều:
1.8 Sơ đồ toán bằng phương pháp phần tử hữu hạn
Một chương trình tính bằng phương pháp phần tử hữu hạn thường gồm các khối
Phần tử bậc nhất Phần tử bậc hai Phần tử bậc ba
Hình 3.4 – Một số dạng phần tử qui chiếu
Trang 35Page 27
Khối 2: tính toán ma trận độ cứng phần tử k và vectơ lực nút phần tử f của mỗi
phần tử
Khối 3: Xây dựng ma trận độ cứng tổng thể K và vectơ lúc nút F chung cho cả hệ
Khối 4: Áp đặt điều kiện biên bằng cách biến đổi ma trận độ cứng K và vectơ lực
nút tổng thể
Khối 5: giải PTHH, xác định nghiệm của hệ và vectơ chuyển vị chung Q;
Khối 6: Tính toán các đại lượng khác
Khối 7: Lưu và in kết quả, vẽ đồ thị, biểu đồ của các đại lượng theo yêu cầu
Đọc dữ liệu đầu vào:
- Các thông số hình học của kết cấu
- Các thông số điều khiển lưới
- Thông tin ghép nối các phần tử
- Điều kiện biên
Tính toán ma trận độ cứng phần tử k Tính toán vectơ phần tử f
Trang 36Page 28
2 Phân tích phần tử hữu hạn hai chiều
Ở phần trên chúng ta đã nghiên cứu phương pháp phần tử hữu hạn và đã
giải thích các ứng dụng của nó trong không gian một chiều Mặt dù phương pháp
không được sử dụng rộng rãi cho các bài toán một chiều, nó phổ biến trong không
gian hai chiều, ở đó các mô hình toán của hầu hết là các bài toán vật lý thường
phức tạp đến nỗi mà một nghiệm (hoặc lời giải) giải tích hoặc dạng đóng là không
thể Ngày nay phương pháp phần tử hữu hạn được phát triến rất tốt cho các bài
toán hai chiều và đóng một vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực khoa học và kỹ
thuật kể cả điện tử Trong chương này trước tiên ta thành lập nghiệm (lời giải)
hữu hạn cho bài toán giá trị biên hai chiều tổng quát bằng cách dùng các phần tử
ba chiều tuyến tính Tiếp theo chúng ta minh hoạ các ứng dụng của nó trong các
bài toán điện tử, và các lĩnh vực khác
2.1 Bài toán giá trị biên
Bài toán trị biên hai chiều được mô tả bởi phương trình vi phân có dạng
chính tắc sau:
0 3.1
Trong đó: kx(x,y), Ky(x,y), p(x,y), q(x,y) là các hàm định nghĩa trước trên
miền bài toán ẩn số bài toán là hàm u(x,y) Diện tích và biên của miền lần lượt
được ký hiệu là A và C Vị trí biên được định nghĩa bởi tọa độ của các điểm biên
và vectơ pháp tuyến ngoài n: ; | | 1
Trang 37Page 29
Phương trình vi phân chính tắc của bài toán là phương trình vi phân cấp 2
nên các điều kiện biên kể đến u gọi là điều kiện biên chính (EBCs), và kể đến đạo
hàm của nó gọi là điều kiện biên tự nhiên (NBCs) Với dạng bài toán đã nêu các
điều kiện biên có thể có như sau:
Các điều kiện biên chính (EBCs) được định nghĩa trên biên Ce
u là giá trị cho trước trên biên Ce, với c là độ dài của biên Ce
Các điều kiện biên tự nhiên (NBCs) được định nghĩa trên biên Cn:
α β 3.2 Trong đó α(c), β(c) là các thông số định nghĩa trước dọc theo biên
Khi kx = ky = k, vế trái là đạo hàm của u theo pháp tuyến ngoài của biên
Các điều kiện biên tự nhiên sẽ là:
α β 3.2
Phương trình mô tả bài toán cũng như các điều kiện biên ở trên có thể dễ
dàng chứng minh là trường hợp tổng quát cho bài toán trị biên một chiều
Pháp tuyến ngoài n
Diện tích A
Trang 38Page 30
2.2 Ví dụ về bài toán trị biên hai chiều:
Bài toán dòng chảy có thế hai chiều:
Bài toán dòng chảy hai chiều không nén, không ma sát được gọi là bài toán dòng
chảy có thế hai chiều mà nó phải thỏa mãn hai điều kiện sau:
Phương trình liên tục:
0 3.3 Điều kiện không xoáy:
0 3.4 Trong đó:
u(x,y); v(x,y) là vận tốc dòng chảy theo phương x, y Có hai phương pháp
thường được dùng để giải bài toán này là: Phương pháp hàm dòng và phương
pháp hàm thế
a Phương pháp hàm dòng:
Ở đây người ta giả sử 1 hàm vô hướng ψ(x,y) gọi là hàm dòng, mối quan hệ giữa
vận tốc dòng chảy theo phương x,y với hàm ψ(x,y) là như sau:
ψ
; ψ
3.5 Với giả thiết là thỏa mãn điều kiện liên tục, và điều kiện không xoáy là:
0 3.6 Đây là trường hợp đặc biệt của bài toán 2D
Trang 39Page 31
Hình 3.6 – Dòng chảy quanh vật cản Hình 3.7 – Các điều kiện biên với
phương pháp hàm dòng
b Phương pháp hàm thế:
Giả sử một hàm vô hướng φ(x,y) gọi là hàm thế, mối quan hệ giữa vận tốc dòng
chảy theo phương x,y với hàm φ (x,y) là như sau:
φ
; φ
3.7 Với giả thiết là thỏa mãn điều kiện không xoáy, và này điều kiện liên tục là:
0 3.8
Hình 3.8 – Các điều kiện biên với phương pháp hàm thế Chúng ta nhận thấy rằng cả hai phương pháp đều dẫn đến phương trình vi
phân chính tắc cùng loại Tuy nhiên các điều kiện biên áp đặt cho bài toán ở mỗi
phương pháp là khác nhau Để minh họa rõ hơn điều này ta khảo sát dòng chảy
có thế hai chiều xung quanh một vật cản đối xứng Vận tốc dòng chảy theo
Trang 40Page 32
phương x ở vị trí cách xa vật cản một khoảng cách đủ lớn được xem là hằng số
kể cả trước và sau vật cản Giả sử rằng biên của miền khảo sát được giới hạn bởi
các vị trí mà ở đó vận tốc dòng chảy được xem là theo phương ngang Do tính đối
xứng của bài toán nên ta chỉ cần mô hình 1/4 miền khảo sát Chúng ta cũng có thể
chọn giá trị của hàm ψ = 0 dọc theo biên x = 0 Lúc đó các điều kiện biên như sau:
Điều kiện biên với phương pháp hàm dòng:
1 Trên biên dưới và dọc theo lân cận biên vật cản:
Các điều kiện biên với phương pháp hàm thế:
Trên biên trên và dưới:
φ
0 3.14