Hồ Chí Minh TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA --- TRẦN THỊ HỒNG HẠNH NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC THIẾT LẬP MẠNG QUAN TRẮC CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT CHO KHU VỰC NUÔI CÁ TRA, BASA CỦA TỈNH AN
Trang 1Đại Học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
TRẦN THỊ HỒNG HẠNH
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC THIẾT LẬP MẠNG QUAN TRẮC CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT CHO KHU
VỰC NUÔI CÁ TRA, BASA CỦA TỈNH AN GIANG
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ NGÀNH : 60.85.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 7 NĂM 2008
Trang 2LỜI CẢM ƠN
[\ ]^
Bằng tất cả lòng chân thành, tôi xin gởi lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Thị Hồng Trân và NCS Đặng Vũ Bích Hạnh đã dày công truyền đạt kiến thức, tận tình chỉ dẫn cũng như giúp đỡ tôi trong thời gian học và hoàn thành luận văn thạc sĩ
Xin cảm ơn tất cả các thầy cô trong khoa Môi trường – Trường Đại học Bách Khoa TpHCM, những người đã tiếp sức và hoàn thiện tôi trong suối thời gian theo học ở trường và hoàn thành luận văn
Chân thành cảm ơn Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản Jica đã cho tôi tài liệu và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình đi lấy mẫu tại An Giang
Tôi cũng xin cảm ơn các anh chị phòng Quản lý Môi trường – Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh An Giang đã cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình
Và cuối cùng là Gia đình, nơi đã cho tôi niềm tin và là chỗ dựa về mọi mặt cho tôi trong đường đời
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 6 năm 2008
Trần Thị Hồng Hạnh
Trang 3ABSTRACT
An Giang is a province in the south – west of Viet Nam, a part of Mekong delta, partially located in the Long Xuyen quadrangle It has 104km length border with Cambodia and it’s about 3.535 square kilometre
Presently, the basa catfish industry plays an important roles for the development of An Giang economy This industry is developing daily and brings a lot of benefits It brings the wealthy as well as creat the jobs to the local people However, there are threatening factors to the sustainable development Starting with spontaneous production, not only causes unstable supply and demands but also makes affect directly to ecological environment and quality of product is not guaranteed
If we don’t have effective tools to manage and monitor environment in above activities then environment will be polluted and affect directly to people health and life as well as province’s socioeconomic development
Starting with above issues, “Research on scientific foundation of
establishing of environmental monitoring network of surface water quality for
An Giang’s basa catfish industry” is implemented to collect data, evaluate vary of
surface water quality, find out timely problems that culture activities basa catfish processing cause This help forecast to prevent and overcome environmental risk as well as announce timely to relative organizations and local government to have effective solutions, create sustainable development for aquatic department in general and culture activities basa catfish processing of An Giang in particular
Trang 4TÓM TẮT
An Giang là tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có một phần diện tích nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên, có biên giới Việt Nam – Campuchia dài 104 km, diện tích tự nhiên 3.535 km2
Hiện nay, ngành nuôi trồng và chế biến cá tra, basa giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của An Giang Sự gia tăng về diện tích nuôi đang diễn ra liên tục theo từng ngày và đã đem lợi ích rất lớn cho ngành kinh tế của tỉnh, đem lại sự giàu
có cho nhiều hộ gia đình và giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động trong tỉnh Bên cạnh đó là một chuỗi nguy cơ luôn đe dọa sự phát triển ổn định và bền vững Bắt đầu từ việc sản xuất tự phát, vừa gây mất ổn định cung cầu, vừa phá
vỡ quy hoạch làm ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái và chất lượng sản phẩm cũng không đảm bảo
Nếu không có các biện pháp hữu hiệu đế sớm quản lý và giám sát môi trường từ các hoạt động trên thì trong tương lai không xa, môi trường sẽ bị ô nhiễm
và trực tiếp ảnh hưởng đến sức khoẻ, đời sống nhân dân cũng như công cuộc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học thiết lập
mạng quan trắc chất lượng môi trường nước mặt cho khu vực nuôi cá tra, basa của tỉnh An Giang” được thực hiện nhằm thu thập dữ liệu, đánh giá sự biến
động của môi trường nước mặt, phát hiện kịp thời những sự cố môi trường do hoạt động nuôi này gây ra, giúp dự báo phòng chống và khắc phục sự cố môi trường cũng như thông báo kịp thời cho các ban ngành có liên quan và các địa phương để
có kế hoạch phòng chống, khắc phục ô nhiễm hiệu quả, tạo điều kiện phát triển bền vững ngành thủy sản nói chung và ngành nuôi cá tra, basa của An Giang nói riêng
Trang 5MỤC LỤC
ABSTRACT
TÓM TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH ẢNH
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH AN GIANG VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG 1.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH AN GIANG 1.1.1 Đặc điểm tự nhiên 6
1.1.1.1 Vị trí địa lý 6
1.1.1.2 Địa hình 7
1.1.1.3 Khí tượng thuỷ văn 7
1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản 8
1.1.2.1 Tài nguyên đất 8
1.1.2.2 Tài nguyên rừng và khoáng sản 8
1.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh 9
1.1.3.1 Thực trạng phát triển kinh tế 9
1.1.3.2 Dân số 12
Trang 61.1.3.3 Hệ thống giao thông 12
1.2 HIỆN TRẠNG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN (NTTS) VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT CỦA TỈNH AN GIANG 1.2.1 Hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản và định hướng phát triển 13
1.2.1.1 Tình hình phát triển NTTS trong thời gian qua 13
1.2.1.2 Kế hoạch phát triển NTTS giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2020 15
1.2.1.3 Các giải pháp thực hiện định hướng phát triển 18
1.2.2 Hiện trạng chất lượng nước mặt tỉnh An Giang 19
1.3 KHÁI NIỆM QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG, NGUYÊN TẮC LỰA CHỌN ĐỊA ĐIỂM VÀ CHỈ TIÊU QUAN TRẮC 1.3.1 Khái niệm quan trắc môi trường 36
1.3.1.1 Định nghĩa 36
1.3.1.2 Mục đích quan trắc 36
1.3.1.3 Phân loại quan trắc 37
1.3.2 Cơ sở khoa học của quan trắc chất lượng môi trường nước 38
1.3.2.1 Phân loại trạm quan trắc môi trường nước 38
1.3.2.2 Thiết kế mạng quan trắc chất lượng nước 39
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC NTTS 1.4.1 Kinh nghiệm của các nước về quan trắc môi trường 42
1.4.1.1 Quan trắc môi trường tại Thái Lan 43
1.4.1.2 Quan trắc môi trường tại Indonesia 44
1.4.1.3 Quan trắc môi trường tại Thụy Điển 45
1.4.2 Tình hình quan trắc môi trường tại Việt Nam 46
1.4.2.1 Tổ chức mạng lưới 46
1.4.2.2 Mạng lưới quan trắc theo Quy hoạch tổng thể Quốc gia 47
1.4.3 Một số nghiên cứu tóm tắt về quan trắc môi trường và chất lượng nước trong
NTTS
Trang 71.4.3.1 Các nghiên cứu về xây dựng mạng quan trắc 48
1.4.3.2 Các nghiên cứu về chất lượng nước NTTS 49
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC PHỤC VỤ VIỆC LẬP MẠNG QUAN TRẮC CHO KHU VỰC 2.1 CÔNG TÁC QUAN TRẮC NƯỚC MẶT CỦA TỈNH TRONG NĂM QUA 2.1.1 Hiện trạng công tác quan trắc môi trường tỉnh An Giang 50
2.1.1.1 Mục đích, phạm vi quan trắc 50
2.1.1.2 Nội dung 50
2.1.1.3 Các căn cứ pháp lý tiến hành quan trắc 51
2.1.1.4 Tổ chức thực hiện 52
2.1.1.5 Vị trí quan trắc 52
2.1.1.6 Các chỉ tiêu phân tích 52
2.1.1.7 Thời gian quan trắc 53
2.1.3 Kết luận về công tác quan trắc nước mặt của tỉnh trong thời gian qua 53
2.2 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA THU THẬP SỐ LIỆU VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TỪ KHU VỰC NUÔI CÁ TRA, BASA 2.2.1 Mô hình nuôi 54
2.2.2 Các vấn đề môi trường từ hoạt động nuôi cá tra, basa 56
2.2.2.1 Quy trình nuôi cá tra, basa 56
2.2.2.2 Tác động đến môi trường của hoạt động nuôi cá tra, basa 56
2.3 ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT NUÔI CÁ TRA, BASA TẠI XÃ MỸ HÒA HƯNG 62
2.3.1 Đánh giá diễn biến chất lượng môi trường nước mặt tại Mỹ Hòa Hưng 63
2.3.1.1 Yếu tố lý học – Hàm lượng cặn không tan 63
2.3.1.2 Các yếu tố hóa học 65
2.3.2 Bùn đáy 71
2.3.3 Kết luận 74
2.3.3.1 Về kết quả quan trắc chất lượng nước tại Mỹ Hòa Hưng 74
Trang 82.3.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả quan trắc và phương pháp nâng cao
độ tin cậy trong quan trắc 74
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT VÀ XÂY DỰNG MẠNG QUAN TRẮC CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT CHO KHU VỰC NUÔI CÁ TRA, BASA CỦA AN GIANG SỬ DỤNG CÔNG CỤ GIS 3.1 ĐỀ XUẤT MẠNG QUAN TRẮC 3.1.1 Mục tiêu 76
3.1.2 Đề xuất tổ chức thực hiện 76
3.1.2.1 Đơn vị thực hiện 76
3.1.2.2 Tiêu chí lựa chọn các vị trí quan trắc 76
3.1.2.3 Mô tả chi tiết mạng quan trắc 77
3.1.3 Ngân sách 82
3.1.3.1 Căn cứ pháp lý 82
3.1.3.2 Kinh phí thực hiện 83
3.2 XÂY DỰNG BẢN ĐỒ QUAN TRẮC SỬ DỤNG CÔNG CỤ GIS 3.2.1 Cơ sở xây dựng dữ liệu 84
3.2.1.1 Giới thiệu phần mềm được sử dụng 84
3.2.1.2 Dữ liệu nền thiết kế mạng lưới quan trắc 85
3.2.2 Các công cụ thao tác trong Arcview 86
3.2.2.1 Các nút 86
3.2.2.2 Các công cụ (Tools) 87
3.2.3 Các thao tác với phần mềm Arcview 88
3.2.3.1 Tạo mạng lưới quan trắc nước mặt khu vực nuôi cá tra, basa của An Giang 90
3.2.3.2 Tạo bản đồ các vị trí quan trắc 92
3.2.3.3 Xem thông tin của đối tượng 93
3.2.3.4 Tạo biểu đồ 94
CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO
NGÀNH NUÔI CÁ TRA, BASA CỦA AN GIANG
Trang 94.1 GIẢI PHÁP QUI HOẠCH 97
4.2 GIẢI PHÁP KỸ THUẬT 98
4.2.1 Kỹ thuật nuôi 98
4.2.1.1 Đối với hình thức nuôi ao 98
4.2.3.2 Đối với hình thức nuôi bè 101
4.2.2 Xử lý nước thải 103
4.2.2.1 Hệ thống làm sạch nước thải trong điều kiện tự nhiên 103
4.2.2.2 Phương án xử lý sinh học hiếu khí lơ lửng liên tục 104
4.2.2.3 Phương án xử lý sinh học hiếu khí lơ lửng từng mẻ 106
4.2.3 Xử lý bùn thải 106
4.2.4 Quản lý chất thải rắn 108
4.3 TĂNG CƯỜNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 111
4.4 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ 112
4.4.1 Giải pháp pháp lý 112
4.4.2 Giải pháp kinh tế 113
4.4.2.1 Công cụ kinh tế 113
4.4.2.2 Nguồn vốn 114
4.4.3 Giải pháp về tăng cường năng lực quản lý 115
4.4.3.1 Nâng cao năng lực và nhận thức công tác BVMT cho đội ngũ cán bộ quản lý 115
4.4.3.2 Nâng cao năng lực quan trắc, phân tích môi trường 116
4.4.4 Giải pháp về giáo dục – tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng 117
4.4.5 Chương trình hành động 118
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 BCN : Bán công nghiệp
2 BOD : Nhu cầu oxy sinh hóa
3 BVMT : Bảo vệ môi trường
4 CHXHCNVN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
5 COD : Nhu cầu oxy hóa học
6 CN/KCN : Công nghiệp/Khu công nghiệp
7 DO : Oxy hòa tan
8 ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
9 GDP : Tổng sản lượng nội địa
10 GIS : Hệ thống thông tin địa lý
11 KHCN&MT : Khoa học công nghệ và môi trường
12 NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
13 NTTS : Nuôi trồng thủy sản
14 QA : Bảo đảm chất lượng (Quality Assurance)
15 QC : Kiểm soát chất lượng (Quality Control)
16 QLMT : Quản lý môi trường
17 QT&PTMT : Quan trắc và phân tích môi trường
18 SS : Chất rắn lơ lửng
19 TCN : Tiên chuẩn ngành
20 TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
21 TCN : Tiêu chuẩn ngành
22 TN&MT : Tài nguyên và môi trường
23 TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
24 UBND : Ủy ban nhân dân
25 VAC : Vườn ao chuồng
Trang 11DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Bản đồ địa lý tỉnh An Giang
Hình 1.2: Biểu đồ biểu diễn nồng độ BOD qua các năm trên sông Tiền Hình 1.3: Biểu đồ biểu diễn nồng độ SS qua các năm trên sông Tiền Hình 1.4: Biểu đồ biểu diễn nồng độ NH3 qua các năm trên sông Tiền Hình 1.5: Biểu đồ biểu diễn tổng Coliform qua các năm trên sông Tiền Hình 1.6: Biểu đồ biểu diễn nồng độ BOD5 qua các năm trên sông Hậu Hình 1.7: Biểu đồ biểu diễn nồng độ SS qua các năm trên sông Hậu Hình 1.8: Biểu đồ biểu diễn nồng độ DO qua các năm trên sông Hậu Hình 1.9: Biểu đồ biểu diễn nồng độ NH3 qua các năm trên sông Hậu Hình 1.10: Biểu đồ biểu diễn tổng Coliform qua các năm trên sông Hậu Hình 1.11: Biểu đồ nồng độ SS qua các năm trên kênh rạch nội đồng Hình 1.12: Biểu đồ nồng độ NH3 qua các năm trên kênh rạch nội đồng Hình 1.13: Biểu đồ nồng độ BOD5 qua các năm trên kênh rạch nội đồng Hình 1.14: Biểu đồ tổng Coliforms qua các năm trên kênh rạch nội đồng Hình 1.15: Biểu đồ thể hiện nồng độ SS qua các năm trên hồ OTuk Xa Hình 1.16: Biểu đồ thể hiện nồng độ SS qua các năm trên Lòng hồ số 1 Hình 2.1: Mô hình nuôi cá tra công nghiệp
Hình 2.2: Quy trình cấp nước, thoát nước tại các ao nuôi
Hình 2.3: Sự biến thiên hàm lượng SS trong ao 1 và ao 2
Hình 2.4: Sự biến thiên hàm lượng SS tại mương xả và Khe Long Hình 2.5: Sự biến thiên hàm lượng SS trên sông Hậu
Hình 2.6: Sự biến thiên hàm lượng SS tại Trà Ôn
Hình 2.7: Sự biến thiên nồng độ N-NH3 trong ao 1 và ao 2
Hình 2.8: Sự biến thiên nồng độ N-NH3 tại mương xả và Khe Long Hình 2.9: Sự biến thiên nồng độ N-NH3 trên sông Hậu
Hình 2.10: Sự biến thiên nồng độ N-NH3 tại Trà Ôn
Hình 2.11: Sự biến thiên nồng độ BOD5 trong ao 1 và ao 2
Trang 12Hình 2.12: Sự biến thiên nồng độ BOD5 tại mương xả và Khe Long
Hình 2.13: Sự biến thiên nồng độ BOD5 tại Trà Ôn và sông Hậu
Hình 2.14: Sự biến thiên nồng độ COD trong ao 1 và ao 2
Hình 2.15: Sự biến thiên nồng độ COD tại mương xả và Khe Long
Hình 2.16: Sự biến thiên nồng độ COD trên sông Hậu
Hình 2.17: Sự biến thiên nồng độ DO tại Khe Long, sông Hậu và 2 ao khảo sát Hình 2.18: Sự biến thiên hàm lượng Cu trong các ao khảo sát
Hình 2.19: Sự biến thiên hàm lượng Cu tại mương xả và Khe Long
Hình 2.20: Sự biến thiên hàm lượng Pb tại các ao khảo sát
Hình 2.21: Sự biến thiên hàm lượng Cu tại mương xả và Khe Long
Hình 3.1: Cửa sổ chọn project
Hình 3.2: Bản đồ nền tỉnh An Giang
Hình 3.3: Chọn phông chữ hiển thị trên bản đồ
Hình 3.4: Hộp thoại chọn loại đối tượng
Hình 3.5: Hộp thoại chọn thuộc tính cho trường dữ liệu
Hình 3.6: Hộp thoại chọn mẫu hiển thị bản đồ
Hình 3.7: Bản đồ mạng lưới quan trắc nước mặt được xây dựng
Hình 3.8: Thông tin thuộc tính của đối tượng được chọn
Hình 3.9: Hộp thoại chọn trường dữ liệu cần tạo biểu đồ
Hình 3.10: Cửa sổ hiển thị biểu đồ
Hình 4.1: Sơ đồ hệ thống làm sạch nước thải NTTS trong điều kiện tự nhiên Hình 4.2: Sơ đồ làm việc của bể aerotank truyền thống
Hình 4.3: Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải NTTS theo phương án liên tục Hình 4.4: Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải NTTS theo phương án dạng mẽ Hình 4.5: Hầm ủ biogas
Hình 4.6: Hệ thống quản lý công tác thu gom rác cho khu vực theo hình thức
thu gom từ nguồn Hình 4.7: Cơ cấu tổ chức quản lý chất thải rắn trong địa bàn từng huyện
Trang 13DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu chủ yếu về NTTS đến năm 2010
Bảng 1.2: Quy hoạch NTTS tỉnh An Giang đến năm 2010
Bảng 2.1: Kết quả thống kê qui mô và mô hình nuôi cá tra,basa trên địa bàn tỉnh
An Giang Bảng 2.2: Kết quả thống kê hiện trạng môi trường nuôi cá tra,basa trên địa bàn
tỉnh An Giang Bảng 2.3: Hiện trạng xử lý nước thải và bùn của hoạt động nuôi cá tra,basa trên
địa bàn tỉnh Bảng 3.1: Các vị trí quan trắc được xây dựng
Bảng 3.2: Kinh phí cho công tác quan trắc ngoại nghiệp và nội nghiệp
Bảng 3.3: Kinh phí cho công tác báo cáo kết quả quan trắc
Bảng 3.4: Các trường thuộc tính được thiết lập
Trang 14MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, trên đà phát triển chung của nghề nuôi trồng thủy sản
cả nước, con cá tra, basa ở đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có An Giang, ngày một chiếm vị trí quan trọng góp phần trong phát triển kinh tế của khu vực Sản lượng thu được, kim ngạch xuất khẩu ngày một tăng đang hứa hẹn một hướng phát triển đầy tiềm năng trong tương lai
Tuy nhiên, nuôi trồng thủy sản thường phải đối mặt với các rủi ro về môi trường và các dấu hiệu bệnh thủy sản, làm giảm năng suất thu hoạch, gây thất thu hàng loạt Thêm vào đó, một số lượng lớn thức ăn từ hoạt động nuôi sẽ tác động vào môi trường nên nước thải thủy sản thường chứa nhiều chất dinh dưỡng hữu cơ gây ô nhiễm môi trường mà đặc biệt là môi trường nước mặt Đồng thời, hiện trạng các vùng nuôi chưa quy hoạch cũng là hệ quả gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường
do sự ô nhiễm vượt quá khả năng tự làm sạch môi trường
Vì vậy, việc thiết lập mạng quan trắc để đánh giá chất lượng môi trường nước mặt, giảm thiểu các tác động tiêu cực vùng nuôi và cảnh báo sớm các diễn biến môi trường là rất cần thiết để phục vụ cho hoạt động nuôi trồng thủy sản
Quan trắc chất lượng nước thường xuyên còn giúp phát hiện môi trường bất lợi, từ đó có thể đề ra biện pháp khắc phục kịp thời, đảm bảo chất lượng nước tốt hơn
Đề tài thực hiện trong bối cảnh hiện nay của tỉnh là phù hợp và kết quả của
đề tài có ý nghĩa:
− Góp phần phản ánh được hiện trạng chất lượng môi trường nước nuôi cá tra, basa trong vùng
− Nêu lên các tác động của việc nuôi cá tra, basa đến chất lượng môi trường
nước mặt qua quan trắc
− Mạng quan trắc được thiết lập sẽ tạo thuận lợi cho công tác quản lý môi
trường nước khu vực nuôi về sau hiệu quả và kịp thời hơn
Trang 15− Kết quả của đề tài còn giúp người dân nhận biết rõ hơn về các tác động của hoạt động nuôi thủy sản của mình Qua đó, người dân có ý thức tốt hơn về bảo vệ môi trường, thấy được những lợi ích thiết thực trong việc cân đối giữa lợi ích kinh tế và việc bảo vệ môi trường
− Việc thực hiện đề tài này còn góp một phần trong mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh theo hướng phát triển bền vững
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các cơ sở, luận cứ khoa học phục vụ quan trắc chất lượng môi trường nước mặt cho khu vực nuôi cá tra, basa của tỉnh An Giang và đánh giá chất lượng môi trường nước mặt và bùn đáy cho một khu vực nuôi cá tra, basa điển hình của tỉnh Trên cơ sở đó, thiết lập mạng quan trắc chất lượng nước mặt cho khu vực nuôi cá tra, basa của An Giang và đề xuất các giải pháp thích hợp phục vụ công tác quản lý môi trường cho ngành nuôi cá tra, basa của tỉnh
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
− Đối tượng: khu vực nuôi cá tra, basa của tỉnh An Giang
− Phạm vi nghiên cứu: quan trắc một số chỉ tiêu nước mặt và bùn đáy của một khu vực nuôi cá tra, basa điển hình
4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
− Tìm hiểu về tỉnh An Giang và tình hình nuôi trồng thủy sản của tỉnh với các nội dung như:
• Tổng quan về tỉnh An Giang và thực trạng phát triển kinh tế của tỉnh
• Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản của tỉnh
• Quy hoạch nuôi trồng thủy sản, định hướng phát triển ngành thủy sản của tỉnh đến năm 2020 và các giải pháp thực hiện định hướng phát triển
− Tìm hiểu cơ sở lý thuyết về quan trắc và kinh nghiệm của các quốc gia về quan trắc môi trường để làm cơ sở đánh giá những ưu, khuyết điểm của mạng quan trắc chất lượng môi trường nước mặt hiện tại của An Giang
Trang 16− Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ việc thiết lập mạng quan trắc chất lượng nước mặt cho khu vực nuôi cá tra, basa của tỉnh An Giang dựa trên cơ sở:
• Phân tích ưu, khuyết điểm của mạng quan trắc chất lượng nước hiện tại
• Điều tra và khảo sát một số các cơ sở nuôi về loại hình, qui mô và các biện pháp xử lý môi trường (nước mặt và bùn đáy) trong quá trình nuôi Việc khảo sát được tiến hành trên phiếu điều tra
• Phân tích các vấn đề môi trường từ hoạt động nuôi cá tra, basa
• Quan trắc và phân tích diễn biến chất lượng môi trường nước mặt và bùn đáy tại một khu vực nuôi điển hình
− Đề xuất mạng quan trắc chất lượng môi trường nước mặt cho khu vực nuôi nuôi cá tra, basa của tỉnh: lựa chọn địa điểm, thời gian, tần suất và các thông
số quan trắc
− Thiết kế cơ sở dữ liệu, tạo mạng lưới quan trắc và biểu diễn mạng quan trắc vừa xây dựng lên bản đồ GIS
− Đề xuất các giải pháp quản lý tổng hợp môi trường cho ngành nuôi cá tra,
basa của An Giang
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thu thập, chọn lọc số liệu
− Tổng quan về tỉnh An Giang, hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản và những định hướng phát triển ngành nuôi trồng thủy sản của tỉnh Những tài liệu này tôi thu thập được từ website, từ Sở Thuỷ Sản, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
An Giang
− Các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: kinh nghiệm của các nước về quan trắc môi trường, tình hình quan trắc môi trường tại Việt Nam, quyết định của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc của Quốc gia,…
Trang 17− Thu thập tài liệu về công tác quan trắc môi trường (chủ yếu là môi trường nước mặt) của An Giang trong thời gian qua Tài liệu này được cấp từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang
Phương pháp khảo sát hiện trường
− Khảo sát thực địa: thu thập số liệu, tài liệu, quan sát trực tiếp, lập phiếu điều tra thu thập thông tin, thu thập một số chỉ tiêu ô nhiễm môi trường nước và bùn đáy, lấy mẫu đo đạc và phân tích chất lượng môi trường nước ở khu vực nuôi cá điển hình của tỉnh An Giang
− Phân tích đánh giá, định lượng loại hình nuôi cá trên địa bàn tỉnh
Phương pháp xác định, phân tích các thông số môi trường và cách bảo
quản mẫu
− Mẫu nước phân tích các chỉ tiêu: pH, DO, BOD, SS, N-NH3, N tổng, P tổng
Một số chỉ tiêu quan trắc môi trường nước, bao gồm:
STT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Phương pháp phân tích
Trang 18Một số chỉ tiêu quan trắc bùn đáy, bao gồm:
STT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Phương pháp phân tích
Phương pháp so sánh
Phương pháp này dùng để đánh giá chất lượng các yếu tố môi trường nước
căn cứ theo quy chuẩn
Phương pháp mô hình
Áp dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) và phần mềm Arcview để xây dựng
và hiển thị mạng lưới quan trắc trên bản đồ số hoá và cập nhật dữ liệu
Trang 19Hình 1.1 Bản đồ địa lý tỉnh An Giang
Ranh giới hành chính
− Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp (107,628 km)
− Phía Tây Bắc giáp với vương quốc Campuchia (104 km)
− Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang (69,789 km)
− Phía Nam và Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ (44,734 km)
Trang 20An Giang hiện có 11 đơn vị hành chánh trực thuộc gồm thành phố Long Xuyên, thị trấn Châu Đốc và 9 huyện: An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Châu Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Thành, Chợ Mới và Thoại Sơn
1.1.1.2 Địa hình
An Giang có 2 dạng chính là đồng bằng và đồi núi:
− Đồng bằng: có 2 loại chính là đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi
− Đồi núi: gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác nhau phân bố
theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100km, khởi đầu từ xã Phú Hữu huyện
An Phú, qua xã Vĩnh Tế (Châu Đốc), Vọng Thê và Vọng Đông rồi dừng lại ở thị trấn Núi Sập huyện Thoại Sơn
1.1.1.3 Khí tượng thuỷ văn
Các yếu tố khí tượng
− Mây: tương đối ít Lượng mây trung bình tháng của các tháng mùa khô là
3,1/10 và của các tháng mùa mưa là 6,9/10
− Nắng:chói chang, trở thành địa phương có số giờ nắng trong năm lớn kỷ lục của cả nước Tổng tích ôn cả năm lên trên 2.400 giờ
− Nhiệt độ: trung bình vào khoảng 26-27oC Nhiệt độ tối cao vào khoảng
40-41oC, nhiệt độ tối thấp có thể xuống đến 15-16oC ở vùng đồng bằng và 13 -
14oC ở vùng đồi núi.cao và rất ổn định
− Gió: mùa khô gió thịnh hành là Đông Bắc, còn mùa mưa là gió Tây Nam
Tốc độ gió tương đối mạnh, trung bình đạt tới trên 3m/giây An Giang là tỉnh nằm sâu trong đất liền Nam Bộ nên ít chịu ảnh hưởng gió bão
− Mưa: mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 11 Tổng
lượng mưa mùa mưa chiếm 90% tổng lượng mưa năm Lượng mưa mùa mưa lớn lại trùng vào mùa nước lũ của sông Mê Kông nên đã gây ra tình trạng úng tổ hợp với ngập lụt, chi phối đến nhiều hoạt động sản xuất và đời sống
Trang 21 Sông ngòi
An Giang có hai nhánh sông chảy qua là sông Tiền và sông Hậu
− Sông Tiền chảy qua An Giang không liên tục, là ranh giới chung của hai tỉnh
An Giang – Ðồng Tháp (ở Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới)
− Sông Hậu đi qua chia An Giang thành hai phần: các huyện cù lao An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới; huyện còn lại nằm ở khu vực tứ giác Long Xuyên
Nghề nuôi cá bè truyền thống của An Giang tập trung chủ yếu trên sông Hậu
vì sông Hậu có tốc độ dòng chảy thấp, thấp hơn so với sông Tiền, độ sâu của lòng sông thấp, địa hình đáy sông Hậu thoai thoải hơn sông Tiền, chiều rộng lòng sông lớn nên rất thích hợp cho nghề nuôi cá lồng bè và một số mô hình nuôi cá khác Ngoài các sông lớn, An Giang còn có một hệ thống rạch tự nhiên rải rác khắp địa bàn của tỉnh như rạch Mương Khai (huyện Phú Tân), Ông Chưởng và Cái Tàu Thượng (huyện Chợ Mới), Long Xuyên (thành phố Long Xuyên) v.v
1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản
ở, đất chuyên dùng…) và nhóm đất chưa sử dụng là 2.309 ha, chiếm 0,65% [26]
Đất An Giang hình thành qua quá trình tranh chấp giữa biển và sông ngòi, nên rất đa dạng, gồm 3 nhóm chính: nhóm đất phèn (gồm: đất phèn tiềm tàng, đất phèn nhiều, đất phèn ít và đất than bùn chứa phèn); nhóm đất phù sa và đất đồi núi
1.1.2.2 Tài nguyên rừng và khoáng sản [26]
Diện tích có rừng tính đến cuối năm 2004 là 12.809,46 ha, tỷ lệ che phủ 3,76% Rừng tự nhiên có các loại Sao, Dầu, Giáng Hương Rừng trồng chủ yếu là
Trang 22bạch đàn, keo lá tràm, tai tượng và các loại cây mọc nhanh, ngoài ra còn có nhiều loại cây ở các khu rừng ngập nước
An Giang tuy là tỉnh ở ĐBSCL nhưng lại có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng với các loại: đá xây dựng 2.100 triệu m3, đá ốp lát 139 triệu m3, kaolin 2,2 triệu m3, đá áplit 200 nghìn tấn, than bùn 16 triệu tấn, cát sông Hậu 67 triệu m3, sông Tiền 50 triệu m3 và sét gạch ngói 39 triệu m3 Bên cạnh đó, An Giang còn có
mỏ nước khoáng chuẩn bị đưa vào khai thác công nghiệp
1.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh
1.1.3.1 Thực trạng phát triển kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành
Thương mại – dịch vụ có bước chuyển dịch rõ nét với cơ cấu từ 50,33% năm
2005 lên 52,46% năm 2006 và đến năm 2007 tăng lên 54,44% Nông nghiệp đã giảm cơ cấu từ 37,57% năm 2005 còn 34,82% năm 2006 và tiếp tục giảm còn 32,13% năm 2007 Đối với công nghiệp, tình hình chuyển dịch cơ cấu tương đối chậm do tác động của tình hình đầu tư các cụm, khu công nghiệp, mức tăng cơ cấu
từ 12,1% năm 2005 lên 12,72% năm 2006 và đến năm 2007 tăng lên 13,43%.[20]
Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế
Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đã chuyển dịch theo hướng sắp xếp lại và đổi mới khu vực kinh tế nhà nước, phát huy tiềm năng của thành phần kinh tế dân doanh, kinh tế hợp tác và các thành phần kinh tế khác Ước tính đến cuối năm 2007, giá trị sản xuất của khu vực doanh nghiệp quốc doanh chiếm 22,76% tổng giá trị; khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 51,82% tổng giá trị; khu vực cá thể chiếm 24,67% tổng giá trị và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 0,75% tổng
giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.[20]
Tình hình phát triển các ngành
(a) Khu vực kinh tế công nghiệp [26]
Năm 2007, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 4.375 tỷ đồng, tăng 17,8% so cùng kỳ Toàn tỉnh có 11.480 cơ sở công nghiệp chuyên nghiệp, thu hút hơn 63.000 lao động; ngoài ra còn hơn 10.200 cơ sở với 25.500 lao động kinh tế phụ gia đình
Trang 23− Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm
Đây là ngành công nghiệp phát triển ổn định và chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất toàn ngành với 59,5%, tăng trưởng hàng năm 19,35% Hiện có 3.622 cơ
sở, thu hút 42.815 lao động
− Công nghiệp may mặc, giày da
Toàn tỉnh có 664 cơ sở, thu hút 8.329 lao động; tăng trưởng hàng năm
25,2%, chiếm 3,2% giá trị sản xuất toàn ngành
− Công nghiệp cơ khí chế tạo, sửa chữa
Ngành cơ khí hoạt động ổn định và có tiềm lực khá mạnh so các tỉnh ĐBSCL, chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp, đồng thời còn phục vụ giao thông vận tải, xây dựng và tiêu dùng sinh hoạt Toàn tỉnh có 2.882 cơ sở cơ khí, giải quyết việc làm cho 11.255 lao động
− Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
Đây là ngành có thế mạnh của tỉnh so với toàn vùng ĐBSCL do được thiên nhiên ưu đãi có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đặc biệt là khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, đá ốp lát, sét gạch ngói, cát Hiện hoạt động mạnh và thu hút nhiều lao động là sản xuất gạch ngói thủ công với trên 970 lò, thu hút 6.800 lao động, sản xuất 550 triệu viên/năm
(b) Khu vực kinh tế nông nghiệp [26]
Khu vực nông – lâm – thuỷ sản tiếp tục phát triển, giá trị tăng thêm của khu vực trong năm qua khoảng 4.843 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng 9,03%/năm, vượt cao
so với chỉ tiêu tăng bình quân của kế hoạch 2006 – 2010 là 3,6%; trong đó nông nghiệp tăng 6,58%, lâm nghiệp tăng 1,69% và thuỷ sản tăng 24,59%
− Lĩnh vực nông nghiệp
Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân trên ha tăng dần theo từng năm, năm
2006 là 34,94 triệu đồng; năm 2007 ước đạt 38,3 triệu đồng Lúa vẫn là cây lương thực chủ yếu, diện tích gieo trồng 570.602 ha, tăng 20.374 ha so năm 2006, sản lượng lúa năm 2007 ước đạt 3,1 triệu tấn, tăng 176 ngàn tấn so năm 2006
Trang 24Nhóm cây rau, dưa, đậu thực phẩm và các cây trồng mùa nước nổi (sen, ấu ) có hiệu quả kinh tế cao (gấp 2 – 3 lần trồng lúa) đang được khuyến khích phát triển thành vùng nguyên liệu tập trung gần các khu vực nhà máy chế biến xuất khẩu Nhóm cây công nghiệp lâu năm gồm dừa, hồ tiêu, điều và thốt lốt chủ yếu trồng phân tán Nhóm cây ăn quả cũng phân bố rải rác do ảnh hưởng mùa nước nổi Ngành chăn nuôi có thế mạnh là chăn nuôi gia súc với tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành đạt 7,13% trong cơ cấu lĩnh vực nông nghiệp An Giang có quy mô đàn
bò lớn trong vùng với gần 73.000 con; đàn trâu có trên 5.000 con; đàn heo trên 175.000 con; đàn gia cầm có trên 5,3 triệu con Đàn gia súc, gia cầm có bị biến động
do ảnh hưởng dịch bệnh trực tiếp như cúm gia cầm hoặc bệnh heo tai xanh…
An Giang là tỉnh đầu nguồn nước ĐBSCL, rất thuận lợi để phát triển nhanh
và mạnh ngành thuỷ sản, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản Tăng trưởng bình quân cả năm là 24,59%; cơ cấu giá trị năm 2007 trong khu vực I đạt 15,94%, tăng khá so với năm 2006 là 13,96% Đất nuôi trồng thủy sản năm 2007 là 2.527 ha, tăng 167
ha so năm 2006; số lượng lồng bè là 2.600 chiếc, giảm 200 chiếc so năm 2006 do qui mô sản lượng cá bè trong vài năm qua đã bão hoà Xu thế hiện nay là phát triển mạnh cá nuôi ao và đăng quầng để giảm thiểu chi phí đầu vào Năm 2007 sản lượng
thuỷ sản nuôi trồng ước đạt 263,6 ngàn tấn, gấp 1,45 lần so năm 2006
(c) Ngành du lịch
Đây là thế mạnh của tỉnh An Giang bởi có nhiều đồi núi giữa đồng bằng, ẩn chứa các di tích lịch sử, văn hoá, các danh lam, thắng cảnh nổi tiếng như cụm di
Trang 25tích núi Sam, đồi Tức Dụp, khu du lịch núi Cấm, núi Két, núi Giài hoặc du lịch sinh thái rừng Trà Sư, sinh thái cù lao Mỹ Hoà Hưng, làng bè Châu Đốc
An Giang còn có lợi thế thuận tiện đường bộ, đường sông với Campuchia, có thể đến được các điểm du lịch di tích nổi tiếng trên đất bạn Lượng khách du lịch đến An Giang bình quân mỗi năm từ 3,5 – 4 triệu người
1.1.3.3 Hệ thống giao thông
Mạng lưới giao thông thủy: An Giang có hệ thống sông ngòi dày đặc thuận
lợi cho phát triển giao thông thủy; những con sông, kênh chính trong vùng như sông Hậu, sông Tiền, kênh Vĩnh Tế, Mặc Cần Dưng v.v Ngoài ra, An Giang còn có hệ
thống cảng, bến tàu như cảng Mỹ Thới, bến tàu liên tỉnh ở Châu Đốc,…
Giao thông đường bộ: Bao gồm các quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện,… với tổng
bình quân chiều dài là 5.040 km, mật độ bình quân 2,164 km/km2
Giao thông hàng không: Hiện An Giang có 2 sân bay quân sự cũ là sân bay
Vàm Cống và sân bay Châu Đốc
1.2 HIỆN TRẠNG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN (NTTS) VÀ CHẤT LƯỢNG
NƯỚC MẶT CỦA TỈNH AN GIANG
An Giang là tỉnh đầu nguồn nước ĐBSCL, rất thuận lợi để phát triển nhanh
và mạnh ngành thuỷ sản, đặc biệt là nuôi trồng thuỷ sản Tăng trưởng bình quân cả giai đoạn là 5,2%, cơ cấu giá trị năm 2005 trong khu vực I đạt 14%, cao nhất trong
Trang 263 năm trở lại đây Đất nuôi trồng thuỷ sản năm 2005 là 2.334 ha tăng 1.631 ha so năm 2000 (tức tăng 1,43 lần), số lượng lồng bè là 3.135 cái, chỉ tăng 135 cái so năm
2000 do qui mô sản lượng cá bè trong vài năm qua đã bão hoà Do vậy, xu thế hiện nay là phát triển mạnh cá nuôi ao và đăng quầng để giảm thiểu chi phí đầu vào Năm 2005 sản lượng thuỷ sản nuôi trồng ước đạt 181 ngàn tấn, gấp 2,26 lần so năm
2000 Ngành thuỷ sản đã và đang đóng góp một phần đáng kể vào sự phát triển kinh
tế của tỉnh, phát huy được lợi thế về tài nguyên thiên nhiên (sông ngòi, đồng bằng…), về con người Ðóng góp vào sự phát triển công nghiệp, dịch vụ phù hợp định hướng giảm bớt phát triển kinh tế ở khu vực nông nghiệp
1.2.1 Hiện trạng NTTS và định hướng phát triển
1.2.1.1 Tình hình phát triển NTTS trong thời gian qua
Đối tượng nuôi và tình hình phát triển
Đối tượng nuôi chính của tỉnh là cá tra, cá lóc bông, cá basa, cá hú, cá he, tôm càng xanh, cá rô phi Ngoài ra còn có các đối tượng nuôi phụ là cá lóc, cá rô đồng, cá thát lát, cá trê phi,…Giai đoạn này đối tượng nuôi xuất khẩu chủ lực là cá tra, cá basa, cá lóc bông, cá he, cá rô phi và được nuôi bằng lồng bè Xu hướng nuôi
cá basa xuất khẩu trong giai đoạn này giảm rất mạnh do thời gian nuôi lâu (12 – 18 tháng), giá bán chênh lệch so với cá tra không nhiều đôi khi bằng hoặc thấp hơn
Cá tra ngày càng trở thành đối tượng nuôi chiếm ưu thế vượt trội và là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh An Giang, do thời gian nuôi ngắn (khoảng 6 tháng), giá bán cao, vòng quay vốn nhanh, được người dân chấp nhận nuôi cao Ðây cũng là một lợi thế trong xuất khẩu, nhưng cũng bất tiện do quá phụ thuộc vào một loại đối tượng nuôi khi gặp khủng khoảng
Mô hình nuôi thủy sản
− Nuôi trong lồng bè: đây là loại hình nuôi truyền thống ở An Giang Nuôi cá
lồng bè là mô hình có hiệu quả kinh tế nhất, cung cấp chủ yếu nguyên liệu chế biến xuất khẩu Hiện nay, mô hình này đang được áp dụng phổ biến và
có xu hướng gia tăng về qui mô diện tích
Trang 27− Nuôi chân ruộng: (chủ yếu là nuôi tôm) được áp dụng với qui mô diện tích
lớn, năm 2004 là 539 ha và hiện đang có xu hướng tăng về qui mô diện tích
− Nuôi đăng quầng: là loại hình nuôi mới áp dụng ở An Giang từ năm 2000
Nhược điểm của mô hình này là gây ô nhiễm môi trường (đặc biệt vào mùa khô), rất khó phòng trị khi có dịch bệnh xảy ra, làm phù sa bồi lắng lòng sông, gây cản trở luồng lạch giao thông, có tiềm năng làm giảm tài nguyên nước của tỉnh Người nuôi thuỷ sản bằng mô hình này đã vi phạm luật tài nguyên nước (điều 9,17)
− Nuôi ao: đối tượng nuôi chính là cá tra, cá lóc, cá rô, tôm càng xanh, rô phi,
cá trê, cá thát lát Hiện nay người nuôi cá đang tận dụng đất bãi bồi, đất dọc theo bờ sông Tiền, sông Hậu đào ao nuôi cá có hiệu quả kinh tế cao, chất
lượng cá tốt
Hiện trạng về thức ăn
− Thức ăn tự chế: Hiện đa số các hộ nuôi cá tỉnh An Giang sử dụng thức ăn tự
chế như tấm cám, cá tạp, bột cá, đậu nành trong qui trình nuôi Nguyên liệu chất đốt để chế biến thức là trấu Tỉnh có khoảng 95% sử dụng thức ăn tự chế, 5% thức ăn viên trong qui trình nuôi cá tra bằng mô hình ao
Ưu điểm việc sử dụng thức ăn tự chế là chi phí thức ăn rẻ, chất lượng cá thương phẩm tương đương so với sử dụng thức ăn viên, đây cũng là một trong những lợi thế của tỉnh An Giang cũng như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
– Thức ăn công nghiệp: Hiện tại có các loại thức ăn viên là Cargill (Mỹ),
Proconco (Pháp), Cataco (Việt Nam), Ocialis (Pháp), Uni-President (Ðài Loan), Mỹ Trường, AFIEX, CP (Thái Lan) Hiện thức ăn viên không được người nuôi sử dụng phổ biến liên tục, do giá thành cao
Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân
Ngành nuôi thủy sản đang phát triển về chiều rộng nhiều hơn chiều sâu, chiều rộng là sự phát triển về qui mô diện tích và sản lượng, chiều sâu là nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu khoa học vào ngành nuôi thủy sản, ngành chế biến
do nước ta còn lạc hậu so với các nước trong khu vực ASEAN
Trang 28Kinh tế của An Giang còn nghèo, mặt bằng trình độ văn hóa thấp, chính vì những lý do đó nên những đầu tư cho phát triển nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ còn hạn chế, do vậy những thành tựu đạt được vẫn còn thấp
1.2.1.2 Kế hoạch phát triển NTTS giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng
Trang 29Bảng 1.2: Quy hoạch NTTS tỉnh An Giang đến năm 2010 [21]
Hạng mục Ðơn vị Toàn An Phú Châu Ðốc Châu Phú Châu Thành Chợ Mới Long Xuyên Phú Tân Tân Châu Thoại Sơn Tịnh Biên Tri Tôn
- Con giống Con 28214771.89 9516031.65 1945678.523 616130.8877 2362932.837 627957.7758 0 10401412.18 2308356.037 70272 366000 0
Tổng số giống cá nuôi
(ao, chân ruộng, B.bồi ) Con 1367960000 43950000 97650000 516600000 288600000 95060000 60750000 123000000 58150000 45600000 38600000 0
Trang 30- Mật độ thả con/ha 100000 100000 100000 100000 100000 100000 100000 100000 100000 100000 100000 100000
- Mật độ thả con/ha 400000 400000 400000 400000 400000 400000 400000 400000 400000 400000 400000 400000
Tổng số con giống Con 309670000 20700000 0 51500000 36000000 6300000 4320000 50600000 5250000 135000000 0 0
- Mật độ thả con/ha 150000 150000 150000 150000 150000 150000 150000 150000 150000 150000 150000 150000
- Con giống Con 239670000 20700000 0 40950000 26100000 6300000 4320000 1800000 4500000 135000000 0 0
- Mật độ thả con/ha 610000 610000 610000 610000 610000 610000 610000 610000 610000 610000 610000 610000
Trang 31 Định hướng đến năm 2020
Diện tích nuôi thuỷ sản năm 2020 là 11.500 ha trong đó ưu thế là diện tích nuôi cá chiếm 6.696 ha, diện tích nuôi tôm chiếm 4.652 ha, tổng số lượng bè là 1.900 cái Tổng sản lượng nuôi năm 2020 là 401.792 tấn trong đó chiếm ưu thế là sản lượng nuôi cá ao chiếm 317.411 tấn, sản lượng cá lồng bè chiếm 52.446 tấn; sản lượng tôm chiếm 4.489 tấn
Sản lượng thuỷ sản tự nhiên chỉ còn 2.587 tấn, chiếm 0,64% trong tổng số 404.379 tấn sản lượng thuỷ sản của tỉnh
1.2.1.3 Các giải pháp thực hiện định hướng phát triển
Về quy hoạch phát triển ngành thủy sản
Nhằm thực hiện tốt kế hoạch năm 2008 và các năm tiếp theo, Sở Thủy sản xây dựng kế hoạch sản xuất theo hướng quy hoạch, cụ thể, đẩy nhanh việc triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển sản xuất thủy sản ở các huyện, thị
Về giống thủy sản
− Nâng cấp trại sản xuất giống thủy sản Bình Thạnh, Châu Thành thành Trung tâm giống thủy sản cấp I và nâng chất các trại sản xuất giống thủy sản trong tỉnh đáp ứng về số lượng và đảm bảo chất lượng con giống
− Tập huấn và chuyển giao công nghệ sản xuất, đẩy mạnh việc thực hiện xã hội hóa công tác sản xuất giống đảm bảo cung cấp đủ cho nhu cầu sản xuất
− Tăng cường công tác kiểm tra các Trại sản xuất giống
− Tiếp tục tổ chức và nhân rộng mô hình sản xuất sạch theo tiêu chuẩn SQF
1000CM.
Về quản lý chất lượng
− Tiếp tục thực hiện và mở rộng phạm vi chương trình huấn luyện an toàn và chất lượng năm 2007 và các năm tiếp theo giao nhiệm vụ cụ thể cho từng Sở ban ngành có liên quan trong việc tổ chức thực hiện
− Tranh thủ nguồn kinh phí ngân sách sự nghiệp khoa học công nghệ để thực hiện một số đề tài nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm thủy sản và hoàn
Trang 32thiện các qui trình sản xuất giống các loài thủy sản có giá trị kinh tế nhằm đa dạng hóa giống loài nuôi trên địa bàn tỉnh
− Tiếp tục thực hiện chương trình kiểm soát dư lượng, hóa chất kháng sinh trong thủy sản nuôi
− Thực hiện chương trình xây dựng chỉ dẫn địa lý cho cá tra, cá basa của vùng ĐBSCL
− Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư nhà máy sản xuất thức ăn cho tôm cá và chế biến thủy sản đạt tiêu chuẩn và đảm bảo vệ sinh môi trường
− Khuyến khích ngư dân sử dụng thức ăn công nghiệp thay thức ăn tự chế trong NTTS
− Củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu phải tiến hành đồng thời với phát triển thị trường tiêu thụ nội địa, nhằm khai thác mọi tiềm năng, tiêu thụ hết nguyên liệu cho ngư dân, giảm bớt rủi ro khi thị trường có biến động xấu
− Khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh việc ký kết hợp đồng tiêu thụ nguyên liệu thủy sản cho ngư dân trước vụ hoặc trong chu kỳ sản xuất với hình thức ký trực tiếp hoặc thông qua đại diện để người dân an tâm và ổn định sản xuất theo kế hoạch
1.2.2 Hiện trạng chất lượng nước mặt tỉnh An Giang
Nguồn nước mặt của An Giang phần lớn phục vụ cho mục đích sinh hoạt, hoạt động sản xuất, giao thông thuỷ, tưới tiêu nông nghiệp của người dân, đặc biệt nguồn nước mặt đã và đang mang lại nguồn lợi không nhỏ từ việc NTTS
Trang 33 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt sông Tiền
pH
Năm 2007, chất lượng nước trên sông Tiền có pH ổn định vào mùa khô, trung bình 7,44 dao động trong khoảng 6,5 – 7,9 và nằm trong giới hạn cho phép của TCVN 5942-1995 (6 – 8,5) Đối với mùa mưa, pH trung bình 5,43 dao động trong khoảng 4,9 – 6,8 thấp hơn TCMT
Nhiệt độ
Nhiệt độ vào mùa khô trung bình 29,70C, cao hơn cùng kỳ năm 2006 từ 0,5 –
10C Nhiệt độ vào mùa mưa là 28,20C, biến động từ 28 – 28,60C, cho thấy nhiệt độ trong mùa mưa ổn định
Chất hữu cơ (BOD 5 )
Chất lượng nước sông Tiền có mức độ ô nhiễm chất hữu cơ cao hơn, trung bình BOD 21 mg/l, dao động từ 1 – 55mg/l vào mùa khô, cao gấp 5,1 lần TCMT và gấp 8 lần so với cùng kỳ năm 2006 Đối với mùa mưa, hàm lượng BOD trung bình
14 mg/l, cao hơn cùng kỳ năm 2006 là 5,1 lần Tóm lại, nồng độ chất hữu cơ trong năm trên sông Tiền đều vượt TCMT cho phép, ô nhiễm hơn năm 2006 từ 5,1 – 8 lần, đặc biệt càng về cuối nguồn, nồng độ càng cao nhất là vào mùa khô Mùa mưa, nồng độ thấp ở đầu nguồn, cao ở cuối nguồn
M ùa khô Trung bình M ùa mưa TC
Hình 1.2 Biểu đồ biểu diễn nồng độ BOD qua các năm trên sông Tiền [22]
Trang 34Qua biểu đồ cho thấy, hàm lượng chất hữu cơ từ năm 1998 đến năm 2007 có giá trị cao nhất vào năm 2007, thấp nhất năm 2006, hầu hết mùa mưa có giá trị cao hơn mùa khô Đây là một kết quả cảnh báo đến chất lượng nước mặt sông Tiền đang có chiều hướng bị ô nhiễm nặng bởi chất hữu cơ
COD
Trung bình COD mùa khô là 33 mg/l, dao động từ 10 – 84mg/l, cao gấp 3 lần TCVN 5942 - 1995, mùa mưa, COD trung bình là 47,2mg/l, dao động từ 19 – 93mg/l So với năm 2006 (COD = 9 – 14mg/l), nồng độ COD năm 2007 có giá trị cao hơn từ 3,4 – 3,5 lần Kết quả quan trắc năm 2007 cho thấy sông Tiền đang có chiều hướng bị ô nhiễm chất hữu cơ ngày càng tăng nhất là ở các khu vực nuôi bè, đăng quầng so với năm 2006
Chất rắn lơ lửng (SS)
Hàm lượng SS mùa khô trung bình SS là 14,04 mg/l, biến động từ 6 – 36 mg/l, trừ 2 vị trí có nồng độ SS vượt nhẹ hơn TCVN 5942 – 1995 đó là kênh xáng Tân An (Tân Châu) (SS = 29 mg/l), rạch Ông Chưởng (Chợ Mới) (SS = 36 mg/l), Kiến An (SS = 34mg/l), hầu hết các vị trí còn lại đều đạt tcvn 5942 – 1995 Nồng
độ SS mùa mưa là 216,4mg/l, dao động từ 98 – 340 mg/l, gấp 10,8 lần tiêu chuẩn
M ùa khô Trung bình M ùa mưa TC
Hình 1.3 Biểu đồ biểu diễn nồng độ SS qua các năm trên sông Tiền [22]
Nồng độ SS vào mùa mưa qua các năm có giá trị cao hơn rất nhiều lần so với mùa khô cùng năm Từ năm 2005 đến năm 2007 nồng độ SS có giá trị tương đương nhau, điều này nói lên được rằng nồng độ SS trên sông Tiền không tăng so với từ
Trang 35năm 2005 đến nay Tuy nhiên nồng độ chất rắn lơ lửng vào mùa mưa qua các năm đều vượt xa TCVN 5942 – 1995 Nguyên nhân dẫn đến nồng độ chất rắn tăng vào mùa mưa là do các làng bè dọc theo sông Tiền đầu nguồn, nước lũ thượng nguồn đổ
về kéo theo các chất rắn lơ lửng trên đường đi, theo dòng chảy xuống làm tăng nồng
độ chất rắn lơ lửng dưới hạ nguồn Đồng thời, tại các vị trí trên tập trung nhiều đăng quầng, chất thải của quá trình NTTS thải ra làm tăng nồng độ SS trong nước Trong
đó, nguyên nhân chủ yếu là do chất thải trên thượng nguồn đổ về và trên mặt đất theo nước mưa cuốn trôi vào các dòng sông
Amoniac (NH 3 )
Nồng độ NH3 vào mùa khô trung bình 0,25mg/l, ở một số vị trí cuối làng bè Long Hòa (Phú Tân) có giá trị cao gấp 40 lần so với TCVN 5942 – 1995, đầu và cuối đăng quầng Kiến An cũng có nồng độ NH3 cao (NH3 = 0,46 – 0,55mg/l), còn lại nằm trong giới hạn cho phép của TCVN 5942 – 1995 NH3 vào mùa mưa trung bình 0,07 mg/l
Hình 1.4 Biểu đồ biểu diễn nồng độ NH3 qua các năm trên sông Tiền [22]
Qua biểu đồ cho thấy nồng độ NH3 tăng dần từ năm 2000 đến năm 2003, sau
đó giảm dần những năm sau đến năm 2007 nồng độ NH3 có giá trị thấp nhất, chỉ vượt nhẹ tiêu chuẩn cho phép Tại những vị trí có nồng độ NH3 cao đều thuộc các làng bè hay đăng quầng, do các chất thải từ khu vực NTTS phân hủy trong nước
Trang 36Coliforms
Mật độ vi sinh mùa khô trung bình là 74,1*103 MPN/100ml nằm trong khoảng 480 – 250*103 MPN/100ml, cao gấp 14,8 lần TCMT, đồng thời cao hơn so với các năm Mùa mưa trung bình tổng Coliforms là 4,1*103 MPN/100ml, dao động
từ 1*103 – 7*103 MPN/100ml, nằm trong giới hạn cho phép của TCVN 5942-1995, thấp hơn 124 lần so với mùa mưa năm 2006
Hình 1.5 Biểu đồ biểu diễn tổng Coliforms qua các năm trên sông Tiền [22]
Một số chất độc hại như NO3-, NO2- nằm trong giới hạn cho phép của TCVN
5942 – 1995
Oxy hòa tan (DO)
Hàm lượng DO trên sông Tiền năm 2007 đều đạt TCVN 5942 – 1995 (mùa khô, DO = 6,1 mg/l, mùa mưa DO = 5,84mg/l) với hàm lượng oxy hòa tan như vậy tạo điều kiện phát triển của các loài thủy sinh trong nước
Trang 37Ngoài ra còn có hiện tượng khai thác đất, cát, đào kênh không hợp lý đã làm tăng độ phèn từ đất và trong nước, gây hiện tượng sạt lở bờ sông nghiêm trọng ảnh hưởng đến đường giao thông nội bộ, nhà dân và các công trình
Các nhà máy xí nghiệp, các cơ sở sản xuất, chế biến thủy sản, trại chăn nuôi hầu như không có hệ thống xử lý nước thải trước khi thải ra sông Bên cạnh đó, chất thải từ các phương tiện giao thông đường thuỷ cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường nước Cùng với nước trên thượng nguồn tràn về là một trong những nguyên nhân làm tăng nồng độ các chất lơ lửng, chất hữu cơ dưới hạ nguồn Chính điều đó,
có thể gây hiện tượng bồi lắng trên sông từ năm này qua năm khác, nếu không có biện pháp nạo vét hợp lý có thể làm nước trên sông dâng cao bất thường vào mùa mưa lũ
Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt sông Hậu
Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình mùa khô năm 2007 là 30,060C, biến động trong khoảng 29,6 – 310C, mùa mưa trung bình nhiệt độ là 28,60C, biến động trong khoảng 28 – 28,80C, cho thấy nhiệt độ trong mùa mưa ổn định
pH
pH mùa khô năm 2007 dao động từ 5,3 – 7,8 nằm trong giới hạn cho phép của pH mùa mưa dao động từ 4,75 – 6,9 thấp hơn giới hạn cho phép của TCMT Giá trị của pH mùa khô phù hợp với sự phát triển của các loài thuỷ sinh trong nước, còn mùa mưa chưa phù hợp
Chất hữu cơ (BOD 5 )
Nồng độ chất hữu cơ BOD5 trung bình 13 mg/l biến động trong khoảng 1 –
48 mg/l cao hơn so với TCVN 5942 – 1995 Một số khu vực, nồng độ của chất hữu
cơ rất cao, gấp từ 7 – 12 lần tiêu chuẩn như ở ngã 3 xép Katambon (BOD5 = 29 mg/l) Như vậy, so với mùa khô của các năm trước, mùa khô năm 2007 nước sông Hậu bị ô nhiễm chất hữu cơ cao nhất
Trang 38Mùa mưa BOD5 trung bình 11 mg/l biến động từ 5 – 22 mg/l cao hơn so với TCVN 5942 – 1995 Tất cả các vị trí đều vượt tiêu chuẩn Kết quả phân tích cho thấy, nồng độ BOD5 năm 2007 trên sông Hậu có giá trị gấp 3 lần so với năm 2006
Hình 1.6 Biểu đồ biểu diễn nồng độ BOD5 qua các năm trên sông Hậu [22]
Qua biểu đồ, hàm lượng chất hữu cơ trên sông Hậu năm 2007 có giá trị cao nhất Điều đó, cho thấy sông Hậu tiếp tục bị ô nhiễm nặng bởi chất hữu cơ Đây là dấu hiệu đáng báo động, nhất là tại các khu vực ao nuôi
Chất rắn lơ lửng (SS)
Nồng độ SS trung bình vào mùa khô 104,54 mg/l biến động từ 10 – 768 mg/l, cao hơn TCVN 5942 – 1995 cho phép, đồng thời cao hơn các năm trước Ở khu vực sông Bình Di giáp sông Hậu nồng độ SS nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn, cao nhất tại ao nuôi Bình Thạnh (Châu Thành) giá trị lên đến 786mg/l, gấp 38,4 lần tiêu chuẩn, nguyên nhân tại khu vực này, các ao nuôi tập trung cao và
kế tiếp nhau, thời điểm lấy mẫu một số ao nuôi đang xả nước ao nên SS cao
Nồng độ SS trung bình vào mùa mưa 158,6 mg/l biến động từ 20 – 330mg/l, cao hơn TCVN 5942 – 1995 cho phép
Trang 39M ùa khô Trung bình M ùa mưa TC
Hình 1.7 Biểu đồ biểu diễn nồng độ SS qua các năm trên sông Hậu [22]
Biểu đồ trên cho thấy, hàm lượng SS vào năm 2003, 2005 thấp Năm 2007
có giá trị dao động nhẹ so với năm 2006 Trong đó, mùa mưa có giá trị cao hơn mùa khô Nguyên nhân chủ yếu do các làng bè dọc theo sông như làng bè Châu Đốc, ao nuôi Mỹ Hòa Hưng, ao nuôi Bình Thạnh,…cùng với lượng chất rắn trên thượng nguồn theo nguồn nước lũ tràn về làm tăng hàm lượng SS trong nước, nhất là về cuối nguồn dòng sông
Oxy hòa tan (DO)
Hàm lượng DO mùa khô trung bình 4,96 mg/l biến động từ 1,25 – 7,02 mg/l, thấp hơn tiêu chuẩn cho phép, thấp nhất tại cuối ao nuôi Vĩnh Thạnh Trung (DO = 1,25mg/l), ảnh hưởng đến quá trình sinh trường của thủy sinh
Mùa mưa DO trung bình 5,6 mg/l biến động từ 5,02 – 8,86 mg/l, đều thấp hơn tiêu chuẩn cho phép, 2 vị trí có giá trị đạt TCVN 5942 – 1995 đó là tại phà An Hòa (DO = 8,86mg/l), ngã ba kênh Cái Sắn (DO = 6,9mg/l)
Trang 40Hình 1.8 Biểu đồ biểu diễn nồng độ DO qua các năm trên sông Hậu [22]
Amoniac (NH 3 )
Nồng độ NH3 trung bình 0,44 mg/l cao gấp 10 lần TCVN 5942 – 1995 Hàm lượng NH3 qua các năm đều vượt tiêu chuẩn, nhưng thấp hơn so với năm 2006
Mùa khô Trung bình Mùa mưa TC
Hình 1.9 Biểu đồ biểu diễn nồng độ NH3 qua các năm trên sông Hậu [22]
Từ biểu đồ thấy được nồng độ trung bình của NH3 vào năm 2005 có giá trị cao nhất (NH3 = 0,98mg/l), gấp 19,6 lần tiêu chuẩn, 2,1 lần so với năm 2006 (NH3
= 0,455mg/l) và gấp 3 lần so với năm 2007 (NH3 = 0,33mg/l) Như vậy, năm 2007, nồng độ NH3 trên sông Hậu giảm so với năm 2006, tuy nhiên vẫn vượt tiêu chuẩn
Coliforms
Mật độ tổng Coliforms vào mùa khô trung bình 198*103 MPN/100ml dao động trong khoảng 7*103 – 820*103 MPN/100ml cao gấp từ 1,4 – 164 lần so với