Các nghiên cứu về giao thông công cộng trước giờ chỉ tập trung vào các tuyến buýt trên các trục ñường chính, trong khi ñó tại các khu dân cư trong quận, ñể ñến ñược các trạm xe buýt, ngư
Trang 1- 1 -
ðại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh
TRƯỜNG ðẠI HỌC BÁCH KHOA
Trang 2CÔNG TRÌNH ðƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ðẠI HỌC BÁCH KHOA ðẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3ðẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM
Tp HCM, ngày tháng năm
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khoá (Năm trúng tuyển) : 2007
1- TÊN ðỀ TÀI: “Nghiên cứu thiết kế xe mini buýt ñiện và mạng lưới mini buýt ñiện cho thành phố Hồ Chí Minh.”
2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:
a Nghiên cứu thiết kế mạng lưới mini buýt cho một quận ñược chọn
b Thiết kế xe mini buýt sử dụng ñiện hoạt ñộng tại các tuyến trên mạng lưới
3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 07 / 03 / 2009
4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : 03 / 07 / 2009
5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : PGS TS PHẠM XUÂN MAI
QL CHUYÊN NGÀNH
Nội dung và ñề cương luận văn thạc sĩ ñã ñược Hội ñồng chuyên ngành thông qua
Ngày tháng năm
NGUYỄN HỮU HƯỜNG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm theo học chương trình ñạo tạo thạc sĩ chuyên ngành Kỹ Thuật Ô tô – Máy kéo thuộc Khoa Kỹ Thuật Giao Thông Ở học kỳ cuối, em ñược thực hiện ñề tài “ Nghiên cứu thiết kế xe mini buýt ñiện và mạng lưới mini buýt ñiện cho thành phố Hồ Chí Minh.” do thầy Phạm Xuân Mai hướng dẫn
Sau 4 tháng thực hiện, ñến nay em ñã hoàn tất ñược luận văn Trong quá trình làm luận văn, thầy Phạm Xuân Mai ñã hướng dẫn em rất nhiệt tình, chỉ cho em hướng ñi ñúng cũng như cung cấp các tài liệu cần thiết Ngoài ra em còn nhận ñược sự giúp ñỡ của nhóm nghiên cứu mạng lưới giao thông của khoa về thiết kế mạng lưới, phần mềm cũng như những ñóng góp trong quá trình làm luận văn Bên cạnh ñó là sự hỗ trợ trong công việc của các anh em, bạn bè ñang làm việc tại công ty ô tô ISUZU VIỆT NAM
Em xin ñược gửi lời cảm ơn sâu sắc ñến thầy Phạm Xuân Mai, nhóm nghiên cứu mạng lưới giao thông của khoa và các anh em, bạn bè ñồng nghiệp
Mặc dù luận văn ñã hoàn thành nhưng do hạn chế về khả năng cũng như về thời gian nên chắc chắn không thể tránh khỏi sai sót Mong các thầy cô, bạn bè góp ý, bổ sung
ñể ñề tài có thể nhanh chóng ñưa ra ứng dụng cho thành phố và có ý nghĩa hơn
Học viên KS.LÊ NHẬT TÂM
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong những năm gần ñây, tình trạng ùn tắc, kẹt xe, tai nạn giao thông và ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng Các phương tiện giao thông tỏ ra hoạt ñộng không hiệu quả và không thu hút ñông ñảo người dân tham gia Bên cạnh yếu tố khách quan do tư tưởng, thói quen của người dân còn có các yếu tố chủ quan khác ở cách bố trí tuyến ñường, xe có chất lượng thấp, cách tổ chức và quản lý hoạt ñộng của xe buýt không ñúng dẫn ñến tài xế không tuân thủ quy ñịnh
Các nghiên cứu về giao thông công cộng trước giờ chỉ tập trung vào các tuyến buýt trên các trục ñường chính, trong khi ñó tại các khu dân cư trong quận, ñể ñến ñược các trạm xe buýt, người dân phải ñi bộ khá xa vì vậy họ phải chuyển sang sử dụng xe cá nhân Nội dung nghiên cứu của ñề tài là làm sao ñể người dân có thể tiếp cận tốt với xe
Nội dung nghiên cứu của luận văn gồm có các phần:
Chương 1 nghiên cứu tổng quan về giao thông công cộng ở thành phố Hồ Chí Minh, tìm hiểu về các loại hình giao thông, công trình giao thông công cộng, các vấn ñề gặp phải của giao thông công cộng gồm: khả năng tiếp cận xe buýt của người dân, ô nhiễm môi trường và trùng tuyến
Chương 2 nghiên cứu về hiện trạng sử dụng các loại hình tương tự xe mini buýt ñiện trên thế giới và trong nước, luận văn này thực hiện tìm hiểu 3 thành phố có nét tương ñồng với Hồ Chí Minh là Bangkok, Manila, Hồng Kông Phần này cũng tìm hiểu về quá trình sử dụng các loại xe sử dụng ñiện, các loại xe tương tự mini buýt ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Sau khi phân tích hiện trạng trong nước và trên thế giới, phần này rút ra các vấn ñề cần phát huy và các vấn ñề cần học hỏi ở 3 thành phố nêu trên
Chương 3 tìm hiểu về cấu tạo và nguyên lý hoạt ñộng của xe ñiện từ ñó tìm ra phương án phù hợp cho xe ñiện thiết kế
Chương 4 nghiên cứu mạng lưới các ñường nhỏ trong các quận huyện ở thành phố
Hồ Chí Minh, ñánh giá bề rộng ñường, loại bề mặt ñường, các ñường còn chưa có xe buýt
ñi qua Từ ñây ñưa ra phương án thiết kế loại xe nào cho phù hợp
Chương 5 là nội dung chính của luận văn, ở chương này gồm có tìm hiểu sơ bộ về quận Tân Phú là quận ñược lựa chọn ñể xây dựng các tuyến mini buýt, xây dựng mô hình
Trang 6và ñưa ra phương pháp thiết kế, thông qua quá trình khảo sát ñể chia tuyến, chọn loại xe,
số lượng xe trên từng tuyến cũng như dự báo nhu cầu giao thông cho các năm sau Phần cuối chương là ñề xuất về giá vé, xây dựng bãi ñậu xe và các trạm kỹ thuật trên các mặt bằng còn trống trên quận
Chương 6 tiến hành thiết kế xe ñiện cho các tuyến gồm các phần chính: chọn ñộng
cơ, hệ thống truyền lực, chọn ắc quy, bộ ñiều khiển, tính toán ñộng lực học, tính toán kiểm nghiệm bền xe buýt, cuối chương là ñánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội của mạng lưới xe mini buýt ñiện
Trang 71.3 Các vấn ñề gặp phải của giao thông công cộngvà các biện pháp
CHƯƠNG 2: Hiện trạng sử dụng xe mini buýt ñiện
CHƯƠNG 3: Nguyên lý hoạt ñộng và cấu tạo của
Trang 8CHƯƠNG 5: Nghiên cứu thiết kế mạng lưới mini
Trang 9CHƯƠNG 6: Nghiên cứu, thiết kế xe mini buýt ñiện 95
Trang 10CHƯƠNG 1: Tổng quan về giao thông công cộng
ở thành phố Hồ Chắ Minh
1.1 Những thay ựổi của thành phố Hồ Chắ Minh trong những năm qua:
TP HCM nằm ở phắa Tây sông Sài gòn, cách cửa sông 57 km về phắa Tây Bắc Thành phố ựược chia thành 22 quận, trong ựó có 12 quận ựô thị (từ Quận 1 ựến 12), có 4 quận nội thành ựang ựô thị hóa nhanh chóng (Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình và Phú Nhuận), và 6 quận ngoại vi phần lớn là nông thôn (Củ Chi, Hóc Môn, Thủ đức, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ) Hoạt ựộng kinh tế của thành phố lan tỏa ựến ba tỉnh lân cận, nên cả khu vực này ựược gọi là khu ựô thị TPHCM và vùng lân cận
Sau khi chấm dứt chiến tranh và thống nhất ựất nước vào năm 1975, nền kinh
tế Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng tăng trưởng khá chậm trong thập niên ựầu Nền kinh tế khởi sắc từ sau năm 1986, khi Chắnh phủ bắt ựầu áp dụng chủ trương ựổi mới ựể chuyển ựổi nền kinh tế Việt Nam từ kế hoạch tập trung sang ựịnh hướng thị trường Sau cải cách, Việt Nam ựã tăng trưởng nhanh, và TPHCM còn tăng trưởng nhanh hơn Theo số liệu thống kê chắnh thức thì dân số TPHCM ựã tăng
từ 4,7 triệu năm 1995 lên hơn 6 triệu người năm 2007 Tuy nhiên thực tế dân số TPHCM cao hơn báo cáo chắnh thức do còn 2 triệu người chưa ựăng ký tạm trú
Với sự phát triển nhanh chóng của thành phố, năm 1994 Ngân hàng thế giới quyết ựịnh tài trợ cho ựề án qui hoạch tổng thể ựô thị ựến 2020, báo cáo cuối cùng ựã ựược Thủ tướng Chắnh phủ phê duyệt năm 1998 Tuy nhiên, kế hoạch tỏ ra không hiệu quả một phần vì nó chỉ ựưa ra hướng dẫn chung về nơi nào cần khuyến khắch tăng trưởng nhưng lại thiếu chi tiết về mục ựắch sử dụng và mật ựộ sử dụng ựất cho phép Cộng thêm vào khiếm khuyết này là sự lúng túng và yếu kém trong thực hiện Phần lớn tăng trưởng dân số và việc làm của thành phố diễn ra ở vùng phụ cận, ựặc biệt về phắa Tây Bắc trung tâm thành phố, gần sân bay ở quận Tân Bình và Gò Vấp,
về phắa Tây gần quận Bình Tân và về phắa Bắc quanh quận Thủ đức, bờ Tây sông Sài Gòn ở quận 1, phắa đông và đông Nam thành phố
Trang 11Thay ựổi vượt trội hơn cả là sự phát triển trên vùng ựất thấp ở phắa đông và đông Nam thành phố Dự án ựiện hình là khu ựô thị Nam Sài Gòn (hay còn gọi là Phú Mỹ Hưng), một dự án phát triển thương mại và nhà ở với diện tắch 400 hécta trên vùng ựất thấp phắa Nam Kênh Tẻ, quận 7 Nơi này nhanh chóng trở thành một trong những nơi sinh sống cao cấp nhất TPHCM Thành công này ựã khuyến khắch các nhà phát triển ựịa phương ựầu tư vào vùng ựất thấp quanh ựó Không lâu sau, nhiều kế hoạch ựược ựưa ra ựể xây dựng thêm một cây cầu bắc qua Kênh Tẻ nhằm tăng cường kết nối với vùng này
Cũng vào thời gian ựó, chắnh quyền quyết ựịnh mở rộng khu trung tâm sang
bờ đông sông Sài gòn ở Quận 2, ựối diện với khu trung tâm hiện hữu đó là khu vực Thủ Thiêm nơi còn nhiều quỹ ựất sẽ giúp giải tỏa bớt áp lực cho các khu di tắch trong thành phố ở quận 1 và quận 3
1.2 Các loại hình giao thông của thành phố:
Các loại hình giao thông của thành phố Hồ Chắ Minh gồm có:
1.2.1 Xe máy: TPHCM khác với ựa số các khu ựô thị lớn ở các nước ựang phát triển châu Á ở chỗ giao thông nơi ựây phụ thuộc nhiều vào xe máy và rất ắt vào
xe buýt công cộng TPHCM gần như bỏ qua giai ựoạn cơ giới hóa công cộng, và chuyển thẳng từ xe ựạp, ựi bộ sang xe máy riêng Ở những thành phố khác của các nước có mức ựộ phát triển kinh tế tương tự, xe buýt thường chiếm 50-60% việc ựi lại trong ựô thị, ựi bộ và xe ựạp khoảng 20-30% và ôtô và xe máy cá nhân chiếm 20-30% còn lại Ngược lại ở TPHCM, xe máy chiếm 74% tổng hành trình ựi lại bằng cơ giới, còn xe buýt chỉ ựảm nhận 1,7%, ôtô con 1,4%, phần còn lại chủ yếu là xe ựạp
1.2.2 Xe buýt: Dịch vụ xe buýt TPHCM do Công ty xe buýt Sài Gòn, một doanh nghiệp nhà nước, cung cấp với hai chi nhánh vận hành khoảng 900 xe, cộng thêm 28 hợp tác xã của tư nhân với 2.300 xe, ựa số là buýt loại nhỏ Vài năm sau xuất hiện thêm ựộng lực cải cách khác, khi qui hoạch tổng thể TPHCM ựến 2020 do Ngân hàng Thế giới tài trợ kết luận rằng thành phố phải phát triển hệ thống vận tải công cộng Thủ tướng Chắnh phủ thông qua qui hoạch này năm 2000, và sau 2 năm nghiên cứu, Sở Giao thông công chắnh ựô thị thành phố (GTCC) triển khai mô hình
Ộxe buýt mẫuỢ và các Ộtuyến ựường thắ ựiểmỢ Ý ựịnh là khôi phục hệ thống xe buýt bằng cách tài trợ chi phắ mua ựội xe gồm 1.300 chiếc cỡ lớn, có máy ựiều hòa, cho
Trang 12Công ty xe buýt Sài Gòn và các hợp tác xã ( HTX ), ñồng thời thiết lập các “tuyến ñường thí ñiểm” mà công ty hoặc một HTX cụ thể ñồng ý triển khai phục vụ ñổi lại khoản trợ giá từ chính quyền
1.2.3 Ôtô Có một số nhỏ gia ñình ở TPHCM sở hữu ôtô, còn lại số ôtô lưu thông trên ñường là xe cơ quan Sở hữu ôtô tư nhân không ñược khuyến khích vì thuế nhập khẩu và phí trước bạ rất cao, khiến cho giá ôtô cập cảng tăng gần gấp 3 lần Nhưng số lượng ñăng ký ôtô bắt ñầu tăng lên, và nếu tốc ñộ tăng trưởng kinh tế hiện nay ñược duy trì thì không bao lâu nữa, thu nhập của người Việt Nam sẽ ñạt ñến mức làm bùng nổ tình trạng sở hữu ôtô
1.2.4 Taxi Sau cùng, TPHCM có khoảng 8.000 taxi thông dụng và một số lượng xe ôm mà chưa cơ quan nào ước tính ñược Taxi chuyên dụng ñược Sở GTCC cấp giấy phép hoạt ñộng và không hạn chế số lượng, mặc dù taxi cũng phải ñóng thuế nhập khẩu và trước bạ ñăng ký cao như ôtô thông thường Số người ñi taxi ñã tăng gấp bốn lần trong 5 năm qua, nhưng xuất phát ñiểm cũng rất thấp Có rất nhiều
xe ôm nhưng không ñược cấp phép nên không có thông tin lưu trữ Người lái xe ôm thường chờ ñón khách ở các góc ñường ñông ñúc trong thành phố
1.3 Các vấn ñề gặp phải của giao thông công cộng và biện pháp khắc phục :
Các vấn ñề ñặt ra hiện nay ñối với giao thông công cộng thành phố Hồ Chí Minh là mức ñộ tiếp cận của người dân với các phương tiện giao thông công cộng còn khó khăn , mức ñộ ô nhiễm môi trường lớn, trùng lặp tuyến xe buýt gây ra ách tắc giao thông
1.3.1.1 Mức ñộ tiếp cận của người dân với xe buýt:
năm 2006 ( 6.2 % ) Trong ñó, có 114 tuyến xe buýt trợ giá, 36 tuyến xe buýt không trợ giá và 5 tuyến học sinh – sinh viên – công nhân Tổng số cự ly tuyến là 3470 km ( trung bình 22.39 km/ tuyến )
Mạng lưới tuyến buýt hiện nay có dạng hướng tâm, kết nối trực tiếp từ khu vực ngoại vi ñến trung tâm thành phố ðặc ñiểm của mạng lưới là chưa có sự phân cấp giữa các tuyến, hầu hết các tuyến ñược xây dựng trên cơ sở kết nối trực tiếp giữa
Trang 132 ñiểm có nhu cầu ñi lại, là gia tăng số lượng các tuyến, mặc dù thuận tiện cho các tuyến ñi trực tiếp nhưng sẽ hạn chế khả năng ñi lại toàn mạng
Cấu trúc mạng lưới hiện nay ñã tạo ra những khó khăn cho người dân trong việc tiếp cận do khoảng cách ñi bộ quá xa, ñặc biệt là tại các khu dân cư nội thành nằm khá xa các tuyến xe buýt hoặc tại các nơi ít có khả năng tổ chức tuyến buýt
Mặc khác do cơ cấu và phân bố các khu vực chức năng ñô thị chưa hợp lý, hệ thống dịch vụ ñô thị hiện nay chủ yếu ñược tổ chức với quy mô nhỏ và nằm rải rác theo kiểu truyền thống, hầu hết các khu vực nhà ở, giải trí, thương mại, công nghiệp… ñược bố trí xen kẽ nhau nên người dân ít có xu hướng sử dụng xe buýt cho các mục ñích mua sắm hay ñi chợ
Theo khảo sát có ñến 91% người ñược hỏi cho rằng khoảng cách hợp lý từ nhà ñến trạm xe buýt nên ít hơn 300m Mạng lưới hiện tại chưa bao phủ hết các khu vực trong thành phố, các vùng có thể tiếp cận xe buýt >300m vẫn còn nhiều
Giả sử nếu khả năng tiếp cận xe buýt ≤300m thì bán kính khu vực tiếp xúc với ñường
xe buýt là 200m Như vậy phần diện tích bao phủ của mạng lưới hiện chỉ ñạt 294.4
62.4% dân số
Hình 1.1: Quãng ñường ñi bộ trên thực tế
Trang 14Hình 1.2: Vùng có khả năng tiếp cận mạng lưới xe buýt <300m
Biện pháp khắc phục:Mạng lưới luồng tuyến cần ñược phân bố lại cho hợp lý sao cho với mỗi chặng hành trình, hành khách chỉ cần chuyển tuyến tối ña hai lần, khoảng cách từ trạm dừng xe buýt ñến nơi hành khách muốn ñến phải ngắn hơn 300
m Mạng lưới xe buýt cần tiếp cận tốt ñến người dân với hệ thống xe buýt chạy nội vùng, liên vùng và chạy trên các ñường trục Có như thế mới kêu gọi ñược người dân quen ñi xe buýt lâu dài
1.3.1.2 Vấn ñề ô nhiễm môi trường:
Một vấn ñề gặp phải của xe buýt nữa là vấn ñề ô nhiễm môi trường Quá trình
ñô thị hóa phát triển không ñồng bộ với hạ tầng kỹ thuật trong khi khả năng quản lý xây dựng và cải tạo ñô thị còn nhiều yếu kém ñã khiến chất lượng không khí ở các
ñô thị lớn bị ô nhiễm trầm trọng Thực trạng ô nhiễm môi trường hiện nay tại các thành phố lớn ñang ñòi hỏi các cơ quan chức năng phải nhanh chóng có những giải pháp mạnh
Biện pháp khắc phục: Ðể giảm thiểu ô nhiễm không khí, thành phố cần sớm thực hiện giải pháp cấp bách:
Trang 15- Phát triển giao thông công cộng và hạn chế sử dụng các phương tiện cá nhân với mục ñích giảm thiểu lượng xe cơ giới lưu thông trên ñường là giải pháp cơ bản giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường
-Tổ chức lại hệ thống giao thông theo hướng thân thiện với môi trường
- Mở rộng và xây dựng mới các ñường giao thông ñô thị ñể giảm áp lực xe cộ
và các tuyến ñường vành ñai nhằm giảm lưu lượng xe vận chuyển liên tỉnh và quốc gia ñi ngang qua khu vực nội thành
-Bên cạnh ñó, trong khu vực nội thành nên có một số ñường hoặc khu dành riêng cho xe ñạp và người ñi bộ ñể giảm ô nhiễm không khí và tiếng ồn, ñặc biệt là những nơi có nhiều trường học, bệnh viện, nơi nghỉ ngơi, giải trí của người già và trẻ
em cũng như vùng danh lam thắng cảnh
- Khi ñã xây dựng các tuyến nội quận, do xe phải chạy ở khu ñông dân cư nên phải dùng xe ñiện ñể giảm ô nhiễm môi trường
1.3.1.3 Vấn ñề trùng lặp tuyến gây ách tắc giao thông:
Mặc dù thành phố có nhiều nỗ lực cải thiện tình hình giao thông công cộng, tuy nhiên nhu cầu ñi lại của người dân rất lớn nhưng lại sử dụng phương tiện cá nhân, ít người sử dụng phương tiện vận tải hành khách công cộng nên mạng lưới xe buýt hoạt ñộng chưa ñạt hiệu quả cao, còn bị trùng tuyến, tăng nguy cơ ùn tắc
Hình 1.3: Xe buýt tại ngã tư Hàng Xanh
Trang 16Tình trạng trùng tuyến là do mạng lưới tuyến hiện nay hình thành theo kinh nghiệm thực tiễn qua nhiều năm tổ chức hoạt ñộng chứ không theo một qui hoạch ñược duyệt và công bố Bên cạnh ñó, cấu trúc mạng lưới ñường thành phố theo dạng hình rẻ quạt và phân bổ không ñều giữa các vùng nội và ngoại thành Thực ra, về mặt
lý thuyết, việc tổ chức mạng lưới tuyến ở bất cứ quốc gia nào cũng gặp phải vấn ñề này vì chỉ có mạng lưới tuyến theo kiểu "ñiểm nối ñiểm” mới không có sự trùng lắp, nhưng trên thực tế chưa có quốc gia nào tổ chức theo kiểu này
Nghiên cứu của Trường ñại học Bách khoa cho thấy mức ñộ trùng lắp của xe buýt ở thành gần 57% tuyến xe buýt hiện nay bị trùng lắp, trong khi ở nước ngoài cao lắm là 30-40%
Việc trùng tuyến ở TP.HCM thường cao hơn các nước khác là do ñặc ñiểm của thành phố ta có quá nhiều ñơn vị vận tải tham gia (31 ñơn vị, thuộc 4 thành phần kinh tế khác nhau) trong khi ở các nước khác thường chỉ do một ñơn vị duy nhất ñảm nhận thị trường chính và chừng vài ba ñơn vị nhỏ cùng chia sẻ thị trường tuyến nhánh hoặc khu vực ngọai ô
Việc trùng tuyến vừa có mặt thuận lợi và bất lợi là:
Trang 17+ Trong ñiều kiện hiện nay của thành phố, sẽ gây nên sự cạnh tranh giữa các xe trên các tuyến buýt cùng qua một ñoạn ñường
Vì thế, việc phát triển xe buýt trong những năm tới cần phải có những ñiều chỉnh cần thiết ñể tăng sức hấp dẫn của loại hình vận tải khách công cộng này Trước hết, phải sắp xếp, phân luồng, tuyến theo quy hoạch mạng lưới xe buýt ñến năm 2010 Ðiều chỉnh các tuyến, nhánh, kết nối với hệ thống tuyến trục chính, ñồng thời ñiều chỉnh các tuyến hoạt ñộng kém hiệu quả Nghiên cứu, tổ chức tuyến hoặc ñoạn tuyến dành riêng, ưu tiên cho xe buýt theo mô hình tuyến buýt nhanh
Biện pháp khắc phục: Cần phải nghiên cứu bố trí mạng lưới luồng tuyến sao cho thật khoa học ñể sự trùng lắp ñó là thuận lợi và không gây lãng phí Cần thống nhất các ñơn vị vận tải lại thành một ñơn vị ñảm nhận thị trường chính cùng với vài ba ñơn vị nhỏ khác nắm giữ thị trường tuyến nội quận, tuyến nhánh, hoặc khu ngoại ô Các ñơn vị vận tải này sẽ chịu sự kiểm soát của bộ giao thông vận tải thành phố
1.4 Các công trình giao thông của hệ thống giao thông công cộng:
ðường, cầu trong thành phố ña số còn chật hẹp, chưa thật sự hình thành các tuyến trục và ñường phố chính cấp 1, cấp 2 làm giảm khả năng hoạt ñộng của xe buýt Thiếu Garage, thiếu bãi ñậu xe tại các bến trạm xe buýt…Hiện trạng ñô thị phát triển lan toả và nhà liền nhà cũng tạo nên khó khăn trong việc phát huy hiệu quả sử dụng
xe buýt Các công trình bến bãi (hệ thống giao thông tĩnh) gồm: bến ñầu, bến cuối, trạm ñỗ dọc ñường, trạm chuyển tuyến trên tuyến, bãi ñậu xe ban ñêm, xưởng sửa chữa và gara bảo dưỡng,…
1.4.1 Các bến xe buýt:
Có 3 bến xe buýt ñô thị và 5 bến xe buýt liên tỉnh
Trang 18
1.4.2 Bến tiếp chuyển : Cần có 1 diện tích tối thiểu cho phòng khách ñợi, chỗ phục
vụ của nhân viên quản lý, nhà vệ sinh, quầy ăn uống giải khát… (tại ñầu, cuối tuyến
xe buýt hoặc nơi gần ñó chỗ quay xe và ñỗ xe…
1.4.3 Trạm dừng , nhà chờ : Trạm dừng và nhà chờ là nơi ñể khách xuống, chờ lên
xe, chờ chuyển tuyến Bố trí cách nhau không quá 600m, nếu tuyến xe chạy tốc ñộ cao - không quá 1000m Hiện nay tại TPHCM ñã có các loại như: 4*1,5; 5*1,25; 6*2…
Hình 1.5: Các loại trạm dừng
1.4.4 Bãi ñỗ xe (bãi hậu cần): Bãi ñỗ xe dùng cho xe ñậu qua ñêm sau ngày hoạt
lối ra, vào, cây xanh, văn phòng…
1.4.5 Xưởng sửa chữa: Thực hiện sửa chữa cấp 1, 2, 3, ñại tu, hư hỏng ñột xuất, tai nạn…
Trang 191.5 Mục tiêu ñề tài, ñối tượng nghiên cứu:
1.5.1 Mục tiêu ñề tài
+/ Thiết kế mạng lưới mini buýt nội quận: nhằm mục ñích kết nối và thu gom, ñón khách trên các ñường nhỏ, ñường hẻm ñưa ra các ñường có xe buýt chạy nhờ ñó giảm lượng xe cá nhân lưu thông trên thành phố, giảm tiêu hao năng lượng, giảm ô nhiễm môi trường và kẹt xe
+/ ðưa ra một phương án thiết kế xe mini buýt ñiện phù hợp với thành phố +/ Góp phần nghiên cứu sự liên kết giữa các tuyến nội quận - tuyến nhánh - tuyến trục - ñường sắt cao tốc, ñường trên cao, tàu ñiện trên mặt ñất, buýt tốc hành - sân bay, cầu cảng, bến xe
1.5.2 ðối tượng nghiên cứu
+/ Xây dựng các tuyến nội quận sử dụng xe mini buýt ñiện cho quận Tân Phú +/ Xe mini buýt ñiện
1.6 Kết luận:
Mặc dù các tuyến buýt ñã tăng rất nhiều, nhưng vẫn còn ít so với ñô thị tương ñương về dân số như Hồ Chí Minh Hiện tại, các tuyến xe buýt chưa bao phủ khắp ñịa bàn thành phố nên chưa ñáp ứng ñược nhu cầu ñi lại, chính vì sự bao trùm của mạng lưới xe buýt không ñồng ñều làm cho khả năng tiếp cận xe buýt của người dân còn chưa ñạt nhiều ñường phố có nhu cầu ñi lại lớn nhưng chưa có tuyến xe buýt ñi qua ðể phủ lắp các khu vực này rất cần thiết phải xây dựng riêng cho từng khu vực một tuyến mini buýt riêng ñể giúp người dân tiếp xúc tốt hơn với các tuyến ñường có
xe buýt lớn chạy Tuyến nội quận là một mắt lưới quan trọng trong toàn bộ mạng lưới giao thông công cộng Nếu ngay từ ñầu ta thực hiện tốt việc mạng lưới xe buýt tiếp cận tốt ñến người dân với hệ thống xe buýt chạy nội vùng, liên vùng và chạy trên các ñường trục thì mới ñảm bảo mạng lưới ấy hoạt ñộng ñồng bộ, ñáp ứng ñược nhu cầu ñi lại của người dân và thu hút ñược ñông ñảo quần chúng tham gia vào mạng lưới này
Trang 20CHƯƠNG 2: Hiện trạng sử dụng xe mini buýt
ñiện trên thế giới và trong nước
2.1 Hiện trạng sử dụng mini buýt ñiện tại các thành phố lớn trên thế giới
2.1.1 Lịch sử phát triển xe ñiện:
Hình 2.1 Xe ñiện ñầu tiên Giữa các năm 1832 – 1839, Robert Anderson người Scotland ñã chế tạo ra chiếc xe ñiện thô sơ ñầu tiên Năm 1935, một chiếc xe ñiện với tỉ lệ thu nhỏ ñược thiết kế bở giáo sư Stratingh ở Groningen, Hà Lan cùng với cộng sự Christopher Becker Lúc này, các xe ñều sử dụng các ắc quy không sử dụng lại ñược Vào năm
1865, Gaston Plante người Pháp mới chế tạo ra ắc quy có khả năng tích trữ ñiện lớn hơn, khả năng trữ ñiện của ắc quy càng ñược cải thiện ñến năm 1881, ñiều này ñã giúp ñưa ñến thời kỳ thịnh vượng của xe ñiện Mãi ñến năm 1895 thì người Mĩ mới bắt ñầu quan tâm ñến xe ñiện ðến năm 1897 thì chiếc xe thương mại ñầu tiên mới ñược ñưa vào sử dụng ở New York với hình thức là xe taxi
Hình 2.2: Xe taxi ñiện ở New York năm 1897
Trang 21ðến năm 1916, ngoài các xe sử dụng năng lượng ñiện, thì nhiều xe sử dụng cả ñộng cơ ñốt trong và motor ñiện ñược chế tạo ra
Hình 2.3: Xe sử dụng ñộng cơ ñốt trong và ñộng cơ ñiện
Xe ñiện ñã ñạt ñược nhiều thành tựu cho ñến năm 1920 với ñỉnh ñiểm của sản lượng xe vào năm 1912 ðến năm 1920, việc khai thác ñược nguồn dầu mỏ ở Texas
ñã làm giảm giá xăng dầu vì vậy ñộng cơ ñốt trong trở nên phát triển mạnh lấn át ñộng cơ ñiện.ðến năm 1940, với sự cạn kiệt dần của dầu mỏ, nhu cầu sử dụng dầu
mỏ ngày càng mở rộng sang nhiều lĩnh vực làm cho giá cả dầu tăng vọt Nhờ ñó, các nghiên cứu về năng lượng thay thế lại ñược ñưa ra bàn luận lại trong ñó có cả xe ñiện Những năm sau ñó, nhờ vào việc tích cực nghiên cứu ñiện năng và các thiết bị ñiện, nên ñã ñóng góp cho ngành công nghiệp ô tô ñiện nhiều tính năng vượt trội
ðến năm 1970, cuộc khủng hoảng dầu mỏ ñã càng thúc ñẩy nền công nghiệp
ô tô ñiện phát triển Những năm gần ñây, với yêu cầu giảm lượng khí thải gây ô nhiễm môi trường càng thúc ñẩy ô tô ñiện phát triển Trong ñó Trung Quốc là một trong những nước ñi ñầu trong công nghiệp ô tô ñiện với các sản phẩm rất ña dạng
Trang 22
Hình 2.4: Xe buýt ựiện ở Trung Quốc
2.1.2 Hiện trạng sử dụng xe mini bus tại vài thành phố lớn trên thế giới:
2.1.2.1 Bangkok:
a Tổng quan về Bang kok:
Hình 2.5 Mạng lưới giao thông ở Bang kok Bangkok, hay Băng Cốc, là thủ ựô và thành phố lớn nhất của Thái Lan Thành phố nằm ở toạ ựộ 13ồ45′ Bắc và 100ồ31′ đông, ở hữu ngạn sông Chao Phraya Dân số năm 2007 là 8,160,522 người, tuy nhiên chưa kể một số lớn người ựịnh cư không ựăng kắ Bangkok là thành phố có tốc ựộ phát triển về kinh tế rất nhanh ở vùng đông Nam Á, có thể ngang hàng với Hồng Kông và Singapore đây cũng là nơi thu hút nhiều khách du lịch Bangkok là trung tâm kinh tế của Thái Lan Năm 2005, thành phố tạo ra Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo sức mua thực tế (PPP) là 220 tỷ USD vào GDP, chiếm 43% tổng GDP của Thái Lan GDP danh nghĩa là: 72,5 tỷ USD
b Các loại hình giao thông công cộng tương tự mini bus ở Băng Cốc:
Trang 23Bangkok là một thành phố trên sông, tuy nhiên bên cạnh giao thông bằng ựường thủy, thì giao thông ựường bộ cũng rất phát triển với nhiều loại hình khác nhau: xe máy, ô tô, taxi, tàu ựiện trên không 2 làn SkytrainẦ Ngoài ra Băng Cốc còn rất nổi tiếng với một loại hình giao thông truyền thống khác là xe tuk tuk
đã từ lâu xe tuk tuk là một phần của cuộc sống ựô thị Thái Lan, hơn thế nữa
nó còn là biểu tượng ựộc ựáo của Thái Lan
Hình 2.6 Xe tuk tuk ở Thái Lan
Xe tuk tuk xuất hiện hầu hết trong các sách du lịch Thái Lan Hơn thế nữa một
số khách sạn cao cấp 4- 5 sao còn ựặt riêng cho mình những chiếc xe tuk tuk ựẹp trưng bày trước khách sạn và ựể chở du khách ựi chơi phố
Có khoảng 7000 xe tuk tuk ựang hoạt ựộng tại Bangkok và khoảng 30000 xe khắp Thái Lan, chủ yếu tập trung ở các thành phố và các ựiểm ựến du lịch như Pattaya, Chiang Mai, Surat Thani, Koh Samui, and Had Ya
đi bằng xe tuk tuk quanh thành phố sẽ nhanh hơn hầu hết các dạng vận tải khác Nó có thể ựi vào các ựường hẻm nhỏ mà các loại xe khác lớn hơn không ựi vào ựược Xe tuk tuk cũng dễ dàng luồn lách trong các khu phố ựông người Nhiều người thắch sử dụng xe tuk tuk ựối với các chuyển ựi ngắn hoặc mang hàng hóa về nhà từ siêu thị
Trang 24Hình 2.7 Xe tuk tuk chở khách ñi dạo của khách sạn Lúc mới ra ñời, loại xe này chưa gắn ñộng cơ, là chiếc xe ñạp ñược cải tiến có thêm một chỗ ñủ cho hai người ngồi ở ñuôi xe Sau ñó, người ta thay bánh xe ñằng sau bằng hai bánh xe ñể giữ thăng bằng
Thông số kỹ thuật xe tuk tuk:
Khả năng chuyên chở 3 – 5 người
Khung, sườn, mui ñược gia công chế tạo tại Thái
Hiện nay xe tuk tuk ñược chế tạo số lượng lớn tại các xưởng lớn nằm ở ngoại
ô Bangkok Phần lớn ñộng cơ tuk tuk có phân khối từ 650 cc trở xuống, ña số là ñộng cơ ñã qua sử dụng nhập từ Nhật về Chỉ duy nhất ñộng cơ là ñược nhập ngoại còn các phần khác như khung, sườn, chuyền ñộng, mui.vv… ñều ñược gia công, chế tạo tại Thái Lan
Hiên tại ở Thái Lan phổ biến 2 loại tuk tuk, một loại chạy dầu và một loại chạy bằng khí gas Do ñược Chính phủ hỗ trợ giá gas nên giá cước phí ñi xe tuk tuk
rẻ hơn so với taxi Tuy nhiên, vì xe không lắp ñồng hồ tính tiền như xe taxi thông thường nên khách phải ngã giá trước khi lên xe Trung bình nếu chạy lòng vòng trong thành phố với khoảnh cách từ 5km ñến 10 km mình chỉ phải trả từ 30-100 baht, tương ñương với 15- 50 nghìn ñồng, ñắt rẻ tùy vào sự khéo léo mặc cả của mình
Trang 25Hình 2.8 Sự phổ biến của xe tuk tuk
số dân lên ñến 17 triệu người
Trang 26Thành phố Manila ựược xếp hạng là thành phố ựô thị hóa cao hạng ựặc biệt Tuy nằm trong vùng thủ ựô Manila, nhưng nó ựộc lập với thành phố này về mặt hành chắnh và trực thuộc trung ương Manila còn ựược phân loại là thành phố cấp ba toàn cầu (Gamma World city) bởi tổ chức Globalization và World Cities Study Group and Network
b Các loại hình giao thông công cộng tương tự mini bus ở Manila:
đến thủ ựô Manila của Philippines, ta sẽ rất thắch thú với những chiếc xe
tự ỘchếỢ - jeepney và xe 3 bánh (xe ba bánh), không chỉ ở cách trang trắ xe mà còn ở cách người dân sử dụng loại phương tiện ựặc biệt này
+ Xe 3 bánh: xe 3 bánh là phương tiện tự chế của người Philippines và cũng ựược trang trắ tùy thắch theo ý chủ nhân đó là một xe máy thông thường ựược gắn thêm thùng và phủ mui bạc cả xe ựầu và thùng xe Thông thường một chiếc xe 3 bánh chở ựược ba người: một người ngồi sau người lái và hai người ngồi ở sau Hiện tại ở Manila có khoảng 250000 xe 3 bánh máy và hàng chục xe 3 bánh cải tiến từ xe ựạp ựang phục vụ khắp mọi nẻo ựường của thành phố này xe 3 bánh hoạt ựộng như
xe ôm tại Việt Nam
Hình 2.10 Xe 3 bánh ở Philippin Thông số kỹ thuật xe 3 bánh:
Khả năng chuyên chở 3
Trang 27Hình 2.11: Xe 3 bánh đang hoạt động tại Philippines +Xe jeepney: Jeepney là loại xe tự chế của người Philippines với phần đầu máy lấy từ những chiếc Jeep trước đây Phần thân được “chế” nối dài ra sau với hai băng ghế được thiết kế đối diện nhau
Theo thống kê năm 1987, cĩ khoảng 21700 xe jeepney lưu thơng tại Manila Khơng như xe buýt, jeepney cĩ thể dừng bất cứ đâu mà khơng cần trạm Thường jeepney sẽ đĩn và trả khách ở mỗi ngã tư Khách đi xe jeepney sau khi lên xe từ phía sau (tương tự như xe lam ở Việt Nam) sẽ nĩi với tài xế - thường kiêm luơn vai trị thu tiền - điểm đến và đưa đúng số tiền mà họ đã ước lượng sẵn Jeepney chạy theo tuyến cố định, tuyến đường do chủ xe chọn mà khơng phụ thuộc vào hiệp hội hay nghiệp đồn nào
Hình 2.12: Xe jeepney với đủ màu sắc tại thủ đơ Manila, Philippines Thơng số kỹ thuật xe jeepney:
Trang 28Thông số ðặc ñiểm
Khả năng chuyên chở 14 – 18 người
Chắc chắn là gây ô nhiễm và tiềm tàng nguy cơ gây tai nạn, nhưng nhà nước Philippines, dù không khuyến khích nhưng vẫn cho lưu hành những chiếc jeepney, tất nhiên là kèm với rất nhiều thứ thuế, lệ phí ðơn giản vì chúng ñã và ñang phục vụ việc ñi lại của một bộ phận rất ñông người thu nhập thấp và quan trọng hơn, có lẽ là
vì Jeepney ñã trở thành một phần quan trọng trong nền văn hóa ña dạng của ñất nước này
Hiện nay, Philippin ñang thử nghiệm xe jeepney chạy ñiện nhằm mục ñích giảm ô nhiễm môi trường
Trang 29Thơng số ðặc điểm
Quãng đường hoạt động 120 km
Sau các xe jeepney điện, chính quyền thành phố Makati đã để mắt đến các xe
3 bánh để đẩy mạnh các chương trình chống ơ nhiễm và chiến dịch chống lại sự nĩng dần lên của trái đất
Hình 2.14: Xe 3 bánh sử dụng điện Loại xe 3 bánh chạy điện này được đưa vào hoạt động trên các đường phố đơng đúc ở thành phố Davao, do tập đồn DC electric vehicle chế tạo ðể nạp đầy điện, chỉ mất 3 – 5 giờ và cho phép xe hoạt động hằng ngày trong thành phố Xe điện này cĩ thể chở được 8 hành khách Do được chính phủ trợ giá nên giá vé của loại xe này cịn rẻ hơn cả xe jeepney thơng thường
Quãng đường hoạt động Nguyên ngày ở thành phố Davao
2.1.2.3 Hồng Kơng:
Trang 30a Tổng quan về thành phố Hồng Kông:
Hình 2.15: Bản ựồ Hồng Kông đặc khu hành chắnh Hồng Kông thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
là một đặc khu hành chắnh thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH), nằm trên bờ biển đông Nam của Trung Quốc Hồng Kông là một trong hai ựặc khu hành chắnh của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (ựặc khu hành chắnh còn lại là Ma Cao) Lãnh thổ này, gồm hơn 260 hòn ựảo, nằm về phắa đông của đồng bằng châu thổ Châu Giang, giáp với tỉnh Quảng đông về phắa Bắc và nhìn ra Biển Nam Trung Hoa
ở phắa đông, Tây và Nam Hồng Kông chủ yếu bao gồm đảo Hồng Kông, đảo Lạn đầu, Bán ựảo Cửu Long và Tân Giới Bán ựảo Cửu Long gắn liền với Tân Giới về phắa Bắc và Tân Giới nối về phắa Bắc và cuối cùng nối với Trung Hoa đại Lục qua con sông Thâm Quyến
còn lại chủ yếu là không gian cây xanh với khoảng 40% ựất ựược giành cho công viên thôn quê và các khu dự trữ thiên nhiên Phần lớn sự phát triển ựô thị của lãnh thổ hiện hữu ở Bán ựảo Cửu Long, dọc theo các bờ biển phắa Bắc của đảo Hồng Kông và ở khu ựịnh cư rải rác khắp Tân Giới
Hình 2.16: Toàn cảnh ựảo Hồng Kông nhìn từ Cửu Long
Trang 31Hồng Kông là vùng lãnh thổ thương mại lớn thứ 11 thế giới, với tổng giá trị nhập khẩu và xuất khẩu vượt quá GDP của mình Dân số Hồng Kông tăng nhanh chóng trong thập niên 1990, ñạt 6,99 triệu vào năm 2006
b Hiện trạng sử dụng mini bus ở Hồng Kông:
Xe buýt nhẹ công cộng chạy suốt chiều dài và chiều rộng của Hồng Kông, qua những khu vực nơi các tuyến xe buýt tiêu chuẩn không thể ñến hoặc không thể chạy thường xuyên, nhanh chóng hoặc trực tiếp Mini bus là giải pháp giao thông nhanh
và hiệu quả vì công suất nhỏ, tần suất cao, ñi lại trên các tuyến trực tiếp Dịch vụ mini bus phổ biến ở Hồng Kông là vì mật ñộ dân số ở thành phố này rất ñông, sống tập trung Có 2 loại xe mini bus ở Hồng Kông Một loại có số lượng tuyến lớn, có bến ñỗ cố ñịnh, một loại có ít tuyến hơn và không có bến ñỗ cố ñịnh
Những năm gần ñây, với yêu cầu giảm lượng khí thải gây ô nhiễm môi trường nên xuất hiện loại hình mini bus ñiện ñược sử dụng trên các ñường phố Hồng Kông
Trang 322.2 Hiện trạng sử dụng mini buýt ở Việt Nam:
2.2.1 Hiện trạng sử dụng xe mini buýt ựiện ở Việt Nam:
2.2.1.1 Hiện trạng sử dụng xe ựiện ở thành phố Hồ Chắ Minh:
Năm 1911, các lãnh ựạo của công ty Tramways đông Pháp (Compagnie Franẫaise des Tramways de lỖIndochine) hay (CFTI ) yêu cầu Toàn Quyền Nam Bộ cho phép họ ựược dùng ựiện ựể kéo xe thay cho các cổ máy hơi nước trên một vài tuyến ựường Vào tháng mười một 1913, chắnh quyền chắnh thức cho phép công ty CFTI dùng ựiện kéo xe trên tuyến ựường Sài Gòn - Chợ Lớn dọc theo bờ kinh và nới rộng tuyến ựường ựến chợ Bình Tây Ngày 30 tháng tư 1916, xe tramway ựiện nới rộng ra trên các tuyến ựường ở trung tâm Sài Gòn
Hình 2.18: đường xe ựiện ở gần nhà máy ựiện Chợ Quán - 1930
Tiếp theo ựó, CFTI xây dựng thêm một tuyến ựường xe ựiện Gò Vấp - Thủ Dầu Một qua ngả Lái Thiêu Công ty cũng xây một tuyến ựường dài 32 kilômét ựể nối liền Thủ Dầu Một và Bến đông Sơ (giữa Bến Cát và Chơn Thành) ựể nối liền với tuyến ựường Lộc Ninh của Công Ty đường Sắt đông Dương CFI, tuyến nầy vẫn dùng ựầu kéo hơi nước vì chưa dẩn ựược ựiện ựến Tổng kết vào năm 1939, công ty CFTI có một hệ thống ựường hàng trăm kilômét mà ớ ựã dùng ựiện Tất cả các tuyến ựường ựiện ựược cung cấp bởi 3 trạm biến ựiện
2.2.1.1 Hiện trạng sử dụng xe ựiện ở Hà Nội:
Ở Hà Nội, công ty CFTI dùng các xe kéo ựiện trên ựường sắt với cần câu mắc ựiện, các loại xe nầy có thể kéo thêm 4 hoặc 5 toa xe chở khách
Trang 33Hình 2.19: Xe ựiện trên phố Hàng Lụa Ờ Hà Nội Công ty Tramways Tonkin Ờ CTT
đường tramways ở Hà Nội, có từ năm 1899, do nhiều công ty sát nhập lại ựể trở thành công ty Tramways Tonkin Ờ CTT Ờ Công Ty Tramways Bắc Bộ chứ không ựấu ựá cạnh tranh nhau như các công ty khai thác tuyến ựường ở Sài Gòn
Hình 2.20: Xe ựiện trước Phố Tràng Tiền Ờ Hà Nội Công Ty Tài Chắnh đông Dương thành lập từ năm 1901, chắnh thức trở thành Công Ty Tramways Bắc Bộ - CTT (Compagnie des Tramways du Tonkin) vào năm
1929, sau ựó trở thành Công ty Vận Chuyển Công Cộng Hà Nội vào năm 1952 Công
ty nầy ựã sát nhập từ trước vào năm 1904 với Công ty Xe điện Hà Nội Ờ CTEH mà Công Ty CTEH ựã khai thác nhiều tuyến ựường ở Hà Nội từ năm 1899, công ty nầy
có nhà máy ựiện và những tuyến ựường chạy dọc theo khoảng ựất của Công ty Tài Chắnh đông Dương
Trang 34Hình 2.21: Xe ựiện trên ngả Hàng Khay Ờ Hàng Bài Ờ Tràng Tiền Ờ đinh tiên Hoàng,
Hà Nội Nhà máy cung cấp ựiện cho CTT cũ kỹ và hư nát nên phải ựóng cửa vào năm
1926, kể từ ựó việc cung cấp ựiện ựược giao phó cho Công ty điện Lực đông Dương
Hình 2.22: Xe ựiện Hà Nội trong những năm 80 - Thời bao cấp
Công ty không thể phát triển rộng như ở phiá nam, chẳng hạn như việc xây dựng thêm nhà máy phát ựiện, hoặc nối liền với các thành phố lân cận Sự thu nhập cũng tùy thuộc vào thời tiết, một vài vụ muà luá bị thất thu ựã buộc dân Hà Nội rời thành phố ựể về quê hoặc những muà mưa lũ ngập nước sông Hồng, bỏ rơi các tuyến ựường tramways Hà Nội
Công ty ngưng hoạt ựộng vào ngày 1 tháng sáu 1955 sau khi quân ựội Pháp thất trận tại điện Biên Phủ và rút khỏi miền bắc VN, Công ty chuyển giao toàn bộ máy móc, thiết bị và các tuyến ựường lại cho chắnh phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
Trang 35Hình 2.23: Xe ñiện Hà Nội trong cuối thập niên 70
Do bộ cơ khí cần câu ñiện bị hỏng, một sợi dây thừng ñược xử dụng ñể nâng
và hạ cần câu bắt ñiện, một người lái xe, một người thứ hai vừa bán vé vừa lo vận hành cần câu ñiện bằng dây thừng
Từ những năm 1975, Việt Nam ñã ñược một số nước tài trợ ñưa xe ñiện vào vận chuyển ở một số nhà máy cơ khí, sau một thời gian, các xe ñiện này ñã bị hư và không thể khắc phục ñược Năm 2003, tỉnh Lào Cai nhập khẩu 10 chiếc xe 11 chỗ ngồi từ Trung Quốc, các xe này ñược UBND tỉnh cho chạy thử nghiệm ñể vận chuyển khách tham quan trong phạm vi thị xã ðến năm 2004, một nhóm nhỏ gồm vài người ñã chế tạo thành công xe mini ñiện và ñã ñem vào sử dụng
Hình 2.24: Xe ñiện hiện ñang sử dụng thử ở Hà Nội
2.2.1.2 Hiện trạng sử dụng xe mini buýt ở thành phố Hồ Chí Minh:
Xe xích lô: Xe xích lô trước kia rất phổ biến ở thành phố Hồ Chí Minh, nhưng sau này khi có quy ñịnh mới của UBND thành phố về hoạt ñộng của loại phương tiện này: “không chở khách du lịch vẫn bị cấm hoạt ñộng trên các tuyến phố Xích lô du lịch ñã ñăng ký từ năm 2005 trở về trước chỉ ñược hoạt ñộng ngoài giờ
Trang 36cao ñiểm (từ 8h30 ñến 16h30 và từ 19h ñến 6h hôm sau).” Thì lượng xe xích lô giảm hẳn ñi
Hình 2.25: Xe xích lô
Xe ngựa thồ: Vào khoảng những năm 1965, xe ngựa thồ là một loại hình giao thông công cộng rất phổ biến Tuy nhiên có nhược ñiểm là khả năng vận chuyển
ít ðể giải quyết ứ ñọng lưu thông trong thành phố do vận tốc di chuyển không ñồng
bộ của các phương tiện chuyên chở công cộng Nằm trong chương trình thay thế các
xe ngựa thồ trên ñường phố Sài Gòn vào năm 1965, chính phủ Việt Nam Cộng Hoà ( VNCH ) ñã ra sắc lệnh khuyến khích những người chạy xe ngựa chuyển qua lái xe Lambro 3 bánh - bằng cách cho học thi miển phí bằng lái xe do Bộ Công Chánh và Giao Thông tổ chức và cho mua xe Lambro 3 bánh trả góp nhiều kỳ với lãi suất nhẹ
Xe lam 3 bánh:
Xe Lambro 3 bánh ñược sản xuất bởi công ty Innocenti tại Ý-ñại-lợi Là một công ty chuyên về sản xuất thép ống trước ñệ nhị thế chiến do ông Ferdinando Innocenti (1891-1966) sáng lập từ năm 1930 và bắt ñầu sản xuất thép ống vào năm
Trang 371933 dưới tên công ty “Fratelli Innocenti”, trụ sở ñặt tại Roma và nhà máy sản xuất tại Milano
Hình 2.27: Xe lam trong thời kỳ sử dụng Vài nét về xe Lambro 550 thông dụng ở Việt Nam
Chiếc Lambro 550 ñược ñặt tên do sức tải của xe ñược 550 kg xe Lambro
550 vẩn dùng ñộng cơ 200cc cải tiến của Lambro 200 và bộ thắng của xe dùng dây cáp trên chiếc 200 ñược thay thế bởi hệ thống thủy lực trên cả 3 bánh xe
Thùng xe Lambro 550 ñược nối dài ra so với những kiểu trước ñó với 1.420mm chiều dài và 1250mm chiều rộng, xe thùng có mái với chiều cao nguyên thủy là 1015mm và dung tích 2,2 mét khối Thùng xe Lambro ở VN ñược chế tạo trong nước ñể phù hợp với nhu cầu chở khách với mái tôn che mưa nắng và chở ñược từ 10 ñến 14 người
Lambro 550 Năm Sản xuất : Tháng tám 1965 – Tháng chạp 1967
Số lượng sản xuất tại Ý: 34,766
Trang 38Mầu Trắng, xám
Xe mini bus:
Năm 1972, chính phủ VNCH lại bắt ñầu khuyến khích thay loại xe Lambro
550 bằng loại xe 4 bánh nhẹ chạy ñường dài, kiểu xe ñược các tài xế xe Lambro ưa chuộng là chiếc Daihatsu Hi-Jet Cab ñộng cơ 4-thì, 356cc nhập cảng từ Nhật
Hình 2.28: Xe Daihatsu Hi-Jet kiểu ñầu tiên nhập vào VN
(từ ngày 1-7-2006), vài người có thể mua xe mới thay thế, nhưng không phải tất cả mọi người trong giới tài xế lái xe ñều có ñiều kiện chuyển ñổi phương tiện ða số họ ñều thuộc diện nghèo, mỗi ngày chạy xe trừ chi phí còn ñược năm - ba chục nghìn ñồng, cũng chỉ là “tay làm hàm nhai” Do ñó, họ không có vốn ñể ñầu tư mua xe mới khi những chiếc xe lam già nua, cũ kỹ của họ ñã hết niên hạn hoạt ñộng theo quy ñịnh của Nð 23/CP Nhằm có thời gian tìm kiếm loại phương tiện thay thế xe lam,
ñể giới tài xế lái xe học, thi lấy giấy phép lái xe tương ứng, tạo ñiều kiện về thu nhập, việc làm cho các ñối tượng này, UBND tỉnh ñã cho phép gia hạn hoạt ñộng xe lam ñến ngày 31-12-2006 Liên minh hợp tác xã tỉnh cũng ñã làm tờ trình gửi UBND tỉnh
và các ngành chức năng, ñề nghị cho các hợp tác xã nói trên ñược làm dự án vay vốn
ưu ñãi ñể chuyển ñổi phương tiện phù hợp Sở Kế hoạch - ðầu tư ñã thống nhất với
ñề nghị của Liên minh HTX vì việc chuyển ñổi xe lam nằm trong diện ñược vay vốn
ưu ñãi Thời gian qua, lãnh ñạo Sở GT-VT cũng ñã về tận HTX 1-4 và 19-5, triệu tập
xã viên là tài xế lái xe ñể phân tích, hướng dẫn các thủ tục, giới thiệu các loại xe
Trang 39tương ứng Thời gian gia hạn hoạt ñộng xe lam (6 tháng) sẽ trôi qua rất nhanh, trong khi hành trình tìm các loại xe thay thế và tìm nguồn vốn ñể chuyển ñổi phương tiện lại diễn ra rất chậm Có thể thấy rằng, lần gia hạn này của UBND tỉnh sẽ là lần cuối cùng ðến 31-12-2006, xe lam sẽ bị loại bỏ hẳn ðược sự quan tâm của nhà nước, tự thân các HTX và xã viên phải cùng nhau bàn bạc, nghiên cứu ñể tìm ra phương án phù hợp nhất, nhằm kịp thời làm dự án xin vay vốn ưu ñãi chuyển ñổi phương tiện hoạt ñộng Bởi ñây là con ñường “sáng” nhất ñể giới tài xế lái xe nghèo có ñiều kiện tiếp tục hành nghề kiếm sống, thậm chí là cải thiện cuộc sống tốt hơn so với trước
Trên lộ trình thực hiện Nð 23, UBND tỉnh ñã quy ñịnh ñến ngày 1-7-2006 là loại bỏ hẳn xe lam Song, trước tình hình khó khăn của giới tài xế lái xe, xét tờ trình của Sở GT-VT, UBND tỉnh ñã có văn bản số 1678/UBND-XD ngày 16-6-2006, cho phép xe lam tiếp tục hoạt ñộng ñến ngày 31-12-2006 ðồng thời UBND tỉnh cũng cho phép các loại xe dưới 10 chỗ, có kích thước tương tự như xe lam ñược hoạt ñộng theo các tuyến cố ñịnh vào nội thành, nội thị và các huyện liền kề như xe lam hiện nay
Từ năm 2002, trước tình trạng hàng ngàn xe lam 3 bánh cũ tham gia giao thông chở khách, phả khói mù mịt và tạo ra nhiều tiếng ồn khi hoạt ñộng, thành phố HCM bắt ñầu chuyển ñổi sang sử dụng xe buýt mini Vào thời ñiểm ñó, HCM vẫn chưa có chủ trương trợ giá cho xe buýt nên không có vốn hỗ trợ chuyển ñổi, người dân chạy xe này lại phần lớn là người nghèo ðể phù hợp với tình hình thực tế, Tp cho phép người dân mua xe tải nhỏ ñời mới như Suzuki, Daewoo, Asia, Daihatsu sửa chữa thành xe chở khách 12 chỗ, chạy ñược như xe buýt
Trang 40Hình 2.29: Xe buýt mini Giá mỗi xe là 120 triệu, người mua tham gia hợp tác xã sẽ ñược vay trả chậm
70 triệu Nhờ ñó giúp người dân vẫn duy trì ñược nghề cũ là chở khách ñồng thời ñảm bảo yêu cầu chất lượng của xe cũng như mẫu mã ñẹp hơn xe lam
Trong giai ñoạn ñó, hệ thống xe buýt Tp chỉ có vài trăm xe 50 chỗ cũ nát, hoạt ñộng kém Hệ thống xe buýt 12 chỗ ñi vào hoạt ñộng góp phần không nhỏ vào năng lực vận tải hành khách công cộng của Tp, giải quyết nạn kẹt xe ñang diễn ra nghiêm trọng
Nhận thấy hiệu quả, Tp HCM phát triển mạnh kế hoạch xây dựng hệ thống xe buýt ñể hạn chế kẹt xe Theo quy hoạch của Tp, từ nay ñến năm 2013 ( khi Tp có tuyến Metro ñầu tiên ), hệ thống xe buýt vẫn là chủ ñạo Trong ñó xe buýt 12 chỗ chiếm một phần quan trọng vì có ñến 86% tuyến ñường Tp nhỏ hơn 12 km, chỉ phù hợp với xe buýt nhỏ
ðến năm 2004, số lượng xe 12 chỗ ñã lên ñến trên 1000 xe, hoạt ñộng trên các nẻo ñường nhỏ ở thành phố
Thông số kỹ thuật của loại xe này:
Hoạt ñộng của các xe mini buýt này: hoạt ñộng theo các tuyến cố ñịnh vào nội thành, nội thị và các huyện liền kề