Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình trong những năm gần đây gặp nhiều vấn đề như chất lượng công trình kém, hiệu quả thấp, lãng phí, thất thoát tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
LÊ VĂN THÔNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÔNG TRÌNH THOÁT NƯỚC THÀNH PHỐ PHAN RANG-THÁP CHÀM, NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NINH THUẬN, NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
LÊ VĂN THÔNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÔNG TRÌNH THOÁT NƯỚC THÀNH PHỐ PHAN RANG-THÁP CHÀM, NINH THUẬN
Chuyên ngành : Quản lý xây dựng
Mã số : 8580302
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Đỗ Văn Lượng
NINH THUẬN, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Lê Văn Thông
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm học tập và nghiên cứu chương trình Quản lý xây dựng tại trường Đại học Thủy lợi- Phân viện đào tạo và Khoa học ứng dụng miền Trung, được sự quan tâm của Ban Giám hiệu Nhà trường, sự giảng dạy nhiệt tình và đầy trách nhiệm của các Thầy giáo, Cô giáo; Tôi đã được trang bị vốn kiến thức cơ bản và thiết thực về lý thuyết, cơ
sở lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý xây dựng Đến nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Để có được kết quả như hôm nay, ngoài sự nổ lực bền bỉ của bản thân còn nhờ rất nhiều vào sự hỗ trợ, giúp đỡ và động viên của nhiều người Qua đây, Tôi xin chân thành cảm ơn và gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
Quý thầy, cô trường Đại học Thủy lợi đã hết lòng truyền đạt các kiến thức về chuyên môn, chuyên ngành về quản lý xây dựng, đã giúp tôi có cái nhìn sâu hơn, rộng hơn và
đa dạng hơn về công tác quản lý xây dựng của các nước đang phát triển Đặc biệt Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo - PGS.TS Đỗ Văn Lượng đã nhiệt tình giúp đỡ, định hướng và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Đề tài tốt nghiệp đã được tác giả đầu tư nhiều công sức, thời gian và tâm huyết để thực hiện Tuy nhiên do kinh nghiệm thực tế chưa nhiều và trình độ còn hạn chế nên trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện luận văn của mình vẫn tồn tại những sai sót và hạn chế nhất định Tác giả rất mong nhận được sự góp ý quý báu của quý Thầy, Cô để giúp cho tác giả khi trở về đơn vị công tác của mình hoàn thành tốt hơn nữa những nhiệm
vụ mà Ban lãnh đạo của đơn vị giao phó, đồng thời thực hiện tốt hơn nữa chức trách của một người cán bộ viên chức trong việc thực thi nhiệm vụ của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của Đề tài 1
2 Mục đích của Đề tài 2
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Cách tiếp cận và Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Kết quả đạt được 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÔNG TRÌNH 4
1.1 Tổng quan về công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng 4
1.1.1 Công trình xây dựng 4
1.1.2 Chất lượng công trình xây dựng 4
1.1.3 Quản lý chất lượng công trình xây dựng 7
1.1.4 Các phương thức quản lý chất lượng công trình xây dựng 8
1.2 Tổng quan về quản lý chất lượng xây dựng công trình ở Việt Nam và Ninh Thuận 9
1.2.1 Tổng quan về QLCL XD công trình ở Việt Nam: 9
1.2.1.1 Mô hình QLCL công trình xây dựng ở Việt Nam: 12
1.2.1.2 Hệ thống quản lý chất lượng trong ngành xây dựng hiện nay 16
a) Hệ thống quản lý chất lượng tại các doanh nghiệp: 16
b) Hệ thống quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng 17
1.2.2 Những mặt tồn tại trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Việt Nam 19
1.3 Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Ninh Thuận 22
1.3.1 Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng 22
Cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng 23
Doanh nghiệp quản lý về chất lượng công trình xây dựng 23
1.3.2 Những mặt tồn tại 25
Trang 6Kết luận chương 1 30
CHƯƠNG 2: CÁC CƠ SỞ PHÁP LÝ, CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÔNG TRÌNH 31
2.1 Hệ thống pháp luật về chất lượng và công tác quản lý chất lượng thi công công trình 31
2.1.1 Các văn bản pháp quy của Nhà nước 31
2.1.2 Vai trò, trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến công tác quản lý chất lượng thi công công trình 34
2.2 Trình tự thực hiện và nội dung quản lý chất lượng thi công công trình 41
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất lượng thi công công trình 42
2.3.1 Nhóm nhân tố khách quan 42
2.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan 44
2.4 Lựa chọn phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến công tác quản lý CL thi công công trình xây dựng thoát nước 46
2.4.1 Phân cấp công trình xây dựng và công trình thoát nước: 46
2.4.2 Đặc điểm của Hệ thống thoát nước 46
2.4.3 Quản lý hệ thống công trình thoát nước 47
2.4.4 Phương pháp nghiên cứu: 48
2.4.3.1 Nghiên cứu định tính 50
2.4.3.2 Nghiên cứu định lượng 50
2.4.3.3 Xây dựng thang đo 51
2.5 Kết quả khảo sát lấy ý kiến chuyên gia: 55
Kết luận chương 2 65
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÔNG TRÌNH THOÁT NƯỚC THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, NINH THUẬN 66
3.1 Giới thiệu chung về dự án thoát nước thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, Ninh Thuận[9] 66
3.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ, đặc điểm kết cấu và quy mô của dự án 68
3.1.1.1 Mục tiêu dự án 68
3.1.1.2 Nhiệm vụ, đặc điểm kết cấu và quy mô của dự án 68
3.1.1.3 Quy mô công trình: 69
3.1.2 Giới thiệu về mô hình tổ chức, quản lý dự án của Chủ đầu tư 71
3.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất lượng tại Ban Xây dựng năng lực và Thực hiện các dự án ODA ngành nước tỉnh 77
Trang 73.2.1 Với Ban Xây dựng năng lực và Thực hiện các dự án ODA ngành nước tỉnh Ninh
Thuận 77
3.2.2 Với tư vấn khảo sát và thiết kế: 83
3.2.3 Với tư vấn giám sát: 84
3.2.4 Với tư vấn kiểm định: 84
3.2.5 Với nhà thầu thi công xây dựng: 85
3.2.6 Với Cơ quan quản lý nhà nước: 85
3.3 Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý chất lượng thi công công trình thoát nước thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, Ninh Thuận 87
3.3.1 Xây dựng mô hình quản lý chất lượng dự án thoát nước thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, Ninh Thuận 88
3.3.2 Giải pháp quản lý chất lượng của chủ đầu tư 92
3.3.3 Giải pháp quản lý chất lượng của các đơn vị liên quan 94
3.3.3.1 Giải pháp đối với đơn vị tư vấn thiết kế, thẩm tra 94
3.3.3.2 Giải pháp đối với đơn vị nhà thầu thi công 95
3.3.3.3 Giải pháp đối với đơn vị tư vấn giám sát, kiểm định chất lượng 96
3.3.4 Giải pháp quản lý chất lượng của cơ quan quản lý nhà nước 97
Kết luận chương 3 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
Kết luận: 99
Kiến nghị: 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 103
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Sơ đồ quản lý chất lượng sản phẩm 5
Hình 1.2 Sơ đồ hóa các yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng CTXD 7
(Nguồn: Tài liệu tham khảo) 7
Hình 1.3 Nhà máy xử lý nước thải phía Nam thành phố Nha Trang 9
(Nguồn : nhatrangxanhsachdep.vn) 9
Hình 1.4 Nhà máy nước Hồ Đá Đen 10
(Nguồn : Báo điên tử công ty cổ phần cấp nước Bà Rịa – Vũng Tàu) 10
Hình 1.5 Những vết nứt lớn trên mặt đường Bắc Kạn 11
(Nguồn : Báo điện tử nongnghiep.vn) 11
Hình 1.6 Nước rò rỉ tại tầng hầm tòa nhà HH03 E trong đêm 5/7 12
(Nguồn : Báo điện tử nguoihanoi.com.vn) 12
Hình 1.8: Hệ thống văn bản pháp lý về QLCL công trình XD[13] 13
Hình 1.9: Phương thức QLNN về CLCTXD 19
Hình 1.10: Mô hình quản lý chất lượng theo Quyết định số 92/2018/QĐ-UBND 22
Hình 1.11: Trụ đèn chiếu sáng nằm dưới lòng đường 21 Tháng 8 26
Hình 1.12: Dùng cây để cảnh báo nguy hiểm đường Nguyễn Thị Minh Khai 27
Hình 1.13: Cao trình không đồng bộ 2 dự án thoát nước thị trấn Khánh Hải 28
Hình 1.13: Nền bị sụt lún Khu ĐTM công viên biển Bình Sơn 29
Hình 2.1 Sơ đồ phân cấp quản lý văn bản pháp quy 31
Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu đề xuất 49
Hình 2.3: Mô hình các chủ thể liên quan đến chất lượng công trình 50
Bảng 2.1: Bảng khảo sát mức độ ảnh hưởng 55
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp đánh giá tiêu chí ảnh hưởng 59
Hình 2.4: Biểu đồ khảo sát mức độ ảnh tại Chủ đầu tư 59
Hình 2.5: Biểu đồ khảo sát mức độ ảnh tại đơn vị thi công 60
Hình 2.6: Biểu đồ khảo sát mức độ ảnh tại đơn vị tư vấn thiết kế 61
Hình 2.7: Biểu đồ khảo sát mức độ ảnh tại đơn vị tư vấn thiết kế 62
Hình 2.8: Biểu đồ khảo sát mức độ ảnh tại đơn vị kiểm định 63
Hình 2.9: Biểu đồ khảo sát mức độ ảnh tại cơ quan quản lý nhà nước 64
Hình 3.1 Hình ảnh mưa lớn ngập đường 21/8 Tp Phan Rang – Tháp Chàm năm 2016 67
Hình 3.2: Mặt bằng tổng thể phương án thiết kế 69
Bảng 3.1 Quy mô dự án thoát nước thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 70
Hình 3.3: Sơ đồ tổ chức Ban Xây dựng năng lực và Thực hiện các dự án ODA ngành nước tỉnh Ninh Thuận 71
Hình 3.4: Sơ đồ phối hợp trong giám sát thi công xây dựng tại Ban QLDA 79 Hình 3.5: Mô hình điều hành dự án Hệ thống thoát nước Tp Phan Rang – Tháp Chàm
Trang 9Hình 3.11: Sơ đồ tổ chức hiện trường của đơn vị thi công 90 Hình 3.12: Sơ đồ quy trình QLCL thi công xây dựng công trình 92 Hình 3.13: Mô hình đề xuất của Chủ đầu tư 94
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng khảo sát mức độ ảnh hưởng 55Bảng 2.2: Bảng tổng hợp đánh giá tiêu chí ảnh hưởng 59Bảng 3.1 Quy mô dự án thoát nước thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 70
Trang 11HTKT : Hạ tầng kỹ thuật
KT-XH : Kinh tế - Xã hội
GPMB : Giải phóng mặt bằng
ISO : Tiêu chuẩn hóa Quốc tế
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Trong 15 năm trở lại đây, quá trình đô thị hoá diễn ra khá nhanh, đô thị phát triển cả
về quy mô dân số, diện tích đất đai và ĐTXD công trình HTKT như: Hệ thống giao thông, cấp nước, thoát nước, chiếu sáng, cây xanh, thu gom và xử lý chất thải rắn, nâng cao chất lượng đô thị, cải thiện môi trường sống của người dân và tạo nền tảng phát triển đô thị bền vững đạt các tiêu chuẩn, tiêu chí theo phân loại đô thị Việc ĐTXD cơ sở HTKT được xem là bước đột phá quan trọng, là nhân tố tạo đà thúc đẩy phát triển KT - XH Để dự án thành công đòi hỏi các chủ thể liên quan phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầy đủ và nghiêm túc từ giai đoạn chuẩn bị dự án, giai đoạn thực hiện dự án và nghiệm thu, kết thúc XD đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng thì mới đạt được kết quả mong đợi, điều này thật sự là mong muốn của các Chủ đầu tư
và Nhà đầu tư Khi ĐTXD công trình, việc QLCL là trách nhiệm của các bên tham gia
XD, nhưng do công trình XD là sản phẩm đơn chiếc, ảnh hưởng nhiều tới cộng đồng, đòi hỏi tính an toàn cao nên chất lượng XD phải được kiểm tra bởi một bên khác, ngoài các bên trực tiếp XD Từ khi có Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ, công tác QLCL công trình được siết chặt hơn
Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình trong những năm gần đây gặp nhiều vấn đề như chất lượng công trình kém, hiệu quả thấp, lãng phí, thất thoát trong đầu tư do việc chuẩn bị Dự án không tốt, các sự cố về chất lượng công trình do sai sót trong quản lý từ khâu lập Dự án đầu tư, khảo sát, thiết kế, giám sát và thi công xây dựng công trình xảy ra ở nhiều Dự án gây nhiều bất bình trong nhân dân và làm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc dân Các vụ vi phạm đến chất lượng xây dựng công trình trong quá trình thi công với các mức độ khác nhau ngày càng nhiều dẫn đến các Dự án đầu tư không phát huy được hết nhiệm vụ của công trình
Vừa qua một số công trình đã được đầu tư đến khi đưa vào sử dụng đã xảy ra không ít
sự cố liên quan đến chất lượng công trình xây bục bể phốt, đường ống dẫn thải tầng hầm trong Khu đô thị Thanh Hà ; Nhiều công trình còn rất nghiêm trọng như sập đổ
Trang 14hoàn toàn hệ dầm sàn mái khi đang đổ bê tông công trình nhà thờ giáo họ Ngọc Lâm (Thái Nguyên); sập đổ tháp anten Trung tâm Kỹ thuật-Phát thanh truyền hình tỉnh Nam Định, tháp antenna phát sóng của VOV tại TP Đồng Hới (Quảng Bình)… và gần đây nhất là vụ sập giàn giáo công trình Trung tâm dịch vụ việc làm Đắk Lắk,
Xuất phát từ yêu cầu cấp bách đang đặt ra trong thực tiễn nói trên và nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn thi
công, học viên lựa chọn đề tài “Nghiên cứu giải pháp nâng cao công tác quản lý chất
lượng thi công công trình thoát nước thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, Ninh Thuận” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp nhằm góp phần vào công tác
quản lý chất lượng thi công các dự án tại tỉnh Ninh Thuận ngày càng đạt hiệu quả hơn
2 Mục đích của Đề tài
Đề xuất giải pháp quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình thoát nước thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, Ninh Thuận
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý chất lượng thi công công trình
Hạ tầng kỹ thuật (đặc biêt là công trình thoát nước) trong giai đoạn thực hiện đầu tư tại
tỉnh Ninh Thuận
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận về quản lý chất lượng để phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công và đề xuất các giải pháp quản lý chất lượng thi công công trình thoát nước thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, Ninh Thuận
4 Cách tiếp cận và Phương pháp nghiên cứu
- Tổng hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay về quản lý quản lý chất lượng xây dựng công trình ở Việt Nam và tỉnh Ninh Thuận
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê và phân tích từ các báo cáo của các dự án
đã thực hiện, các tài liệu hồ sơ về công tác quản lý chất lượng tại tỉnh Ninh Thuận
Trang 15- Kết hợp nghiên cứu định tính với nghiên cứu định lượng qua việc sử dụng các thông tin, số liệu, tài liệu thu thập, tập hợp từ các nguồn khác nhau
- Phương pháp chuyên gia
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài sẽ có những đóng góp nhất định trong việc quản lý dự án xây dựng công trình hiệu quả Trong đó đề tài tập trung nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn thực hiện đầu tư Trên cơ sở đó vận dụng những kết quả đạt được để quản lý chất lượng cho các dự án khác tương tự
- Kết quả nghiên cứu của đề tài, sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực quản lý dự án, nâng cao năng lực các nhà thầu và các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan, giúp việc quản lý các dự án có chất lượng tốt và đạt hiệu quả cao
6 Kết quả đạt được
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công các công trình hạ
tầng kỹ thuật trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận trong thời gian qua
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chất lượng
thi công công trình thoát nước thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, Ninh Thuận
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÔNG TRÌNH
1.1 Tổng quan về công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng
1.1.1 Công trình xây dựng
Khái niệm công trình xây dựng: là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con
người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất,
có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác [1]
Công trình xây dựng được phân thành các nhóm có đặc điểm kỹ thuật tương tự nhau, gồm: công trình dân dụng; công trình công nghiệp; công trình thủy lợi; công trình giao thông; công trình hạ tầng kỹ thuật
1.1.2 Chất lượng công trình xây dựng
Hiện nay tồn tại nhiều hệ thống quản lý chất lượng như TQM (Total Quanlity Management), ISO 9000 (International Standards Organization), HCCP (Hazard Analysis and Critical Control Point System) Phổ biến trong công tác quản lý hiện nay đó là tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000:2000
Theo định nghĩa của tổ chức tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) nêu trong tiêu chuẩn Quốc
tế ISO 9000:2000, thì:
- Chất lượng là mức độ đáp ứng yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có
- Quản lý chất lượng được hiểu là các hoạt động nhằm điều chỉnh và kiểm soát một cơ quan, tổ chức về (vấn đề) chất lượng
Đảm bảo chất lượng là mọi hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được kiểm định nếu cần để đem lại lòng tin thỏa đáng để sản phẩm thỏa mãn các yêu cầu đã định đối với chất lượng Do đó, người cung cấp phải xây dựng một hệ thống đảm bảo chất lượng có hiệu lực, hiệu quả và chứng tỏ cho khách hàng biết về chất lượng sản phẩm
Trang 17CẢI TIẾN LIÊN TỤC HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
TRÁCH NHIỆM LÃNH ĐẠO
QUẢN LÝ NGUỒN LỰC
ĐÁNH GIÁ, PHÂN TÍCH, CẢI TIẾN
Hình 1.1 Sơ đồ quản lý chất lượng sản phẩm Theo định nghĩa này cĩ thể thấy phạm vi quản lý là rất rộng Tuy nhiên đứng ở vai trị phạm vi Quốc gia về quản lý chất lượng được thực hiện chủ yếu ở cấp độ chính là Nhà nước Đối tượng của quản lý chất lượng chính là các sản phẩm của tổ chức, trong đĩ bao gồm hàng hĩa, dịch vụ hoặc quá trình Đối với chất lượng quản lý các đồ án quy hoạch xây dựng cịn phải tuân thủ các Luật, Nghị định, Thơng tư, quyết định, Quy chuẩn, tiêu chuẩn, liên quan đến lĩnh vực quy hoạch xây dựng của Nhà nước
Trước hết quản lý nhà nước về chất lượng là hoạt động tổng hợp mang tính kỹ thuật, kinh tế - xã hội, cĩ mục tiêu, biến đổi theo thời gian và thơng qua các cơ chế chính sách và hệ thống tổ chức
Mục tiêu quản lý chất lượng của Nhà nước Việt Nam là: Để nâng cao chất lượng hàng hĩa, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động, bảo vệ mơi trường, thúc đẩy tiến bộ khoa học và cơng nghệ, tăng cường năng lực quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác kỹ thuật, kinh tế
và thương mại Quốc tế” (nguồn: pháp lệnh về chất lượng hàng hĩa năm 1999) Để
Trang 18đảm bảo các mục tiêu nói trên cần ban hành các tiêu chuẩn, Quy chuẩn quy định về chất lượng hàng hóa, sản phẩm, áp dụng và chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng, công nhận năng lực kỹ thuật và quản lý của các tổ chức trong hoạt động quản lý chất lượng; thanh tra và xử lý các quy phạm về chất lượng Những biện pháp quản lý chất lượng này được thể hiện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chất lượng Điều đó phù hợp với chủ trương chung của nhà nước ta là nhà nước pháp quyền điều hành các hoạt động dựa trên quy định của pháp luật của Nhà nước
Thông thường, xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người thụ hưởng sản phẩm xây dựng, chất lượng công trình được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: công năng, độ tiện dụng, tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững, tin cậy, tính thẩm mỹ, an toàn trong khai thác, sử dụng, tính kinh tế và đảm bảo về tính thời gian (thời gian phục vụ của công trình) Rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng còn có thể và cần được hiểu không chỉ từ góc độ của bản thân sản phẩm và người hưởng thụ sản phẩm xây dựng mà còn cả trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó với các vấn đề liên quan khác [16]
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị mà còn ở quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của đội ngũ công nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng
Trên cơ sở những khái niệm chung về chất lượng sản phẩm, chất lượng công trình xây dựng có thể được hiểu là sự đảm bảo tốt những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật
Trang 19và mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế
Hình 1.2 Sơ đồ hóa các yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng CTXD
(Nguồn: Tài liệu tham khảo) Nhìn vào sơ đồ các yếu tố tạo nên chất lượng công trình được mô tả trên hình (Hình 1.2), chất lượng công trình xây dựng không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật mà còn phải thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng có chứa đựng yếu tố xã hội và kinh
tế Ví dụ: một công trình quá an toàn, quá chắc chắn nhưng không phù hợp với quy hoạch, kiến trúc, gây những ảnh hưởng bất lợi cho cộng đồng (an ninh, an toàn môi trường…), không kinh tế thì cũng không thoả mãn yêu cầu về chất lượng công trình
1.1.3 Quản lý chất lượng công trình xây dựng
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng theo quy định của Nghị định này (Nghị định 46/2015/NĐ-CP)
và pháp luật khác có liên quan trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác, sử dụng công trình nhằm đảm bảo các yêu cầu về chất lượng
và an toàn của công trình[3] Hoạt động QLCL công trình xây dựng là nhiệm vụ của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm:
Chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức và cá nhân có liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì, quản lý và sử dụng công trình xây dựng; Nghị định số 46/2015/NĐ-CP về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, hoạt động QLCL công trình xây dựng xuyên suốt các giai đoạn từ khảo sát, thiết kế đến thi công xây dựng và khai thác công trình và Thông tư 26/2016/TT-BXD hướng dẫn nghị định trên
Trang 201.1.4 Các phương thức quản lý chất lượng công trình xây dựng
- Kiểm tra chất lượng (Quality Inspection) với mục tiêu để sàng lọc các sản phẩm
không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu, có chất lượng kém ra khỏi các sản phẩm phù hợp, đáp ứng yêu cầu, có chất lượng tốt Mục đích là chỉ có sản phẩm đảm bảo yêu cầu đến tay khách hàng
- Kiểm soát chất lượng (Quality Control) với mục tiêu ngăn ngừa việc tạo ra, sản xuất các sản phẩm khuyết tật Để làm được điều này, phải kiểm soát các yếu tố như con người, biện pháp sản xuất tạo ra sản phẩm (Như dây truyền công nghệ…), các đầu vào (Như nguyên vật liệu…) công cụ sản xuất (như trang thiết bị công nghệ…) và yếu tố môi trường (như địa điểm sản xuất…)
- Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total quality Control) với mục tiêu kiểm soát tất cả các quá trình tác động đến chất lượng kể cả quá trình xảy ra trước và sau quá trình sản xuất sản phẩm như khảo sát thị trường, nghiên cứu, lập kế hoạch, phát triển thiết kế và mua hàng, lưu kho, vận chuyển, phân phối bán hàng và dịch vụ sau bán hàng
- Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management) với mục tiêu là cải tiến chất lượng sản phẩm, thỏa mãn khách hàng ở mức độ tốt nhất có thể Phương pháp này cung cấp một hệ thống toàn diện cho hoạt động quản lý và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia của tất cả các cấp, của mọi người nhằm đạt được mục tiêu chất lượng đề ra
Sự liệt kê các phương pháp quản lý chất lượng nêu trên cũng phản ánh sự phát triển của hoạt động quản lý chất lượng trên phạm vi toàn thế giới diễn ra trong hàng thế kỷ qua thông qua sự thay đổi tư duy của các nhà quản lý chất lượng trong tiến trình phát triển kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ của thế giới
Ngoài các doanh nghiệp, việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức sự nghiệp và các cơ quan hành chính nhà nước cũng được quan tâm Điều này chứng tỏ quản lý chất lượng ngày càng trở nên quan trọng và được áp dụng sâu rộng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống
Trang 211.2 Tổng quan về quản lý chất lượng xây dựng công trình ở Việt Nam và Ninh
Thuận
1.2.1 Tổng quan về QLCL XD công trình ở Việt Nam:
Thời gian qua, công tác QLCL công trình XD được các cơ quan quản lý Nhà nước, các CĐT và các đơn vị liên quan quan tâm chỉ đạo và thực hiện, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng Nhiều công trình XD hoàn thành, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng đã phát huy hiệu quả đầu tư
Có thể kể đến như:
- Nhà máy xử lý nước thải phía Nam thành phố Nha Trang có diện tích 5,6ha (tính luôn vùng đệm là 22ha), đặt tại xã Phước Đồng, Tp Nha Trang Nhà máy thuộc hợp phần 2 Dự án vệ sinh môi trường các thành phố duyên hải – tiểu dự án Nha Trang với tổng kinh phí đầu tư là 426 tỷ đồng (tương đương 19,5 triệu USD) từ nguồn vốn IDA của Ngân hàng Thế giới Nhà máy được xây dựng và hoàn thành trong 24 tháng (3 tháng vận hành thử), chính thức đi vào hoạt động tháng 01/2015
Hình 1.3 Nhà máy xử lý nước thải phía Nam thành phố Nha Trang
(Nguồn : nhatrangxanhsachdep.vn)
- Nhà máy nước Hồ Đá Đen thuộc Công ty Cổ Phần Cấp nước Bà Rịa-Vũng Tàu (BWACO), là nhà máy sản xuất nước mặt có quy mô lớn nhất được xây dựng trên địa
Trang 22bàn phường Phước Hưng,TP Bà Rịa tuyến ống nước thô bằng gang dẻo, đường kính D1200mm, dài 12,3 km với nguồn nước thô của nhà máy được lấy từ Hồ Đá Đen, tự chảy theo tuyến ống về nhà máy nên đã tiết kiệm được một lượng điện đáng kể Nhờ lấy nước hồ nên chất lượng nước thô ổn định, có độ đục thấp Các hạng mục chính của khu xử lý hiện nay bao gồm ngăn tiếp nhận, hai bể phản ứng thủy lực, bốn bể lắng ngang, sáu bể lọc nhanh và các tuyến ống nước sạch từ D600mm đến D1000 mm đã được đưa vào sử dụng ngay Sau hai năm xây dựng, toàn bộ các hạng mục đã được hoàn thành với tổng mức đầu tư khoảng 300 tỷ đồng bằng vốn vay trong nước Sau khi hòan thành, Nhà máy đã phát huy hết công suất giai đoạn 1 là 75.000 m3/ngày quản lý bằng hệ thống điều khiển hoàn toàn tự động
Hình 1.4 Nhà máy nước Hồ Đá Đen (Nguồn : Báo điên tử công ty cổ phần cấp nước Bà Rịa – Vũng Tàu)
- Tuy nhiên bên cạnh những công trình đạt chất lượng, cũng còn không ít các công trình có chất lượng kém, không đáp ứng yêu cầu sử dụng, công trình nứt, vỡ, lún sụt, thấm dột, bong bộp đưa vào sử dụng thời gian ngắn đã hư hỏng gây tốn kém, phải sửa chữa, phá đi làm lại Đã thế nhiều công trình không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ làm giảm tuổi thọ công trình Cá biệt ở một số công trình gây sự
Trang 23cố làm thiệt hại rất lớn đến tiền của và tính mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư Dưới đây là một số ví dụ điển hình như:
- Dự án Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải TP Thái Nguyên đầu tư bằng vốn vay ODA của Chính phủ Pháp (tại Nghị định thư Việt – Pháp ký năm 1998), với tổng mức đầu tư 950.488 triệu đồng Hiện tại, trên nhiều tuyến đường của trung tâm thành phố Thái Nguyên, nơi nào có đường ống thoát nước thải chạy ngầm, thường thấy nhiều vết lún, nứt lớn trên mặt đường nhựa cũ, bám dọc theo vết trải nhựa mới của dự án thoát nước thải thảm hoàn trả như các tuyến đường: Dương Tự Minh; Lương Ngọc Quyến; Bắc Kạn; Minh Cầu…
Hình 1.5 Những vết nứt lớn trên mặt đường Bắc Kạn
(Nguồn : Báo điện tử nongnghiep.vn)
Dự án Khu đô thị Thanh Hà - Cienco 5 có tổng diện tích 416,7ha với quy mô dân số khoảng 34.333 người Trong tổng số hơn 416ha quy hoạch, có khoảng 386,7ha đất dân dụng gồm chung cư, nhà ở thấp tầng, trường học, cây xanh, bãi đỗ xe và các công trình công cộng, đường giao thông…sau khi đưa vào sử sụng chưa lâu đường ống nước thải
bị bục ra
Trang 24Hình 1.6 Nước rò rỉ tại tầng hầm tòa nhà HH03 E trong đêm 5/7
(Nguồn : Báo điện tử nguoihanoi.com.vn) Như vậy ta có thể thấy những tồn tại, hạn chế và bất cập trên trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng cần phải có các biện pháp để khắc phục, nhất là kiên quyết xử lý những sai phạm, hạn chế đến mức thấp nhất sự lãng phí đầu tư để những công trình xây dựng mang lại hiệu quả thiết thực
1.2.1.1 Mô hình QLCL công trình xây dựng ở Việt Nam:
- Qua các thời kỳ phát triển, các cơ quan QLNN, các CĐT ở nước ta đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến quản lý đầu tư XDCT, vì nó quyết định đến tiến độ, chi phí, CLCT góp phần quan trọng đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân Nhà nước đã hoàn thiện các Luật, các Nghị định, Thông tư, các văn bản về quản lý ĐTXD và quản lý CLCT xây dựng từ Trung ương đến địa phương theo một số mô hình quản lý đầu tư khác nhau
- Theo tham khảo các hoạt động quản lý về xây dựng của các nước phát triển so với việc quản lý ở Việt Nam có thể thấy với những văn bản pháp quy, các chủ trương chính sách, biện pháp quản lý ở nước ta cơ bản đã đầy đủ Chỉ cần các tổ chức từ cơ quan QLNN, các chủ thể tham gia xây dựng thực hiện chức năng của mình một cách
Trang 25có trách nhiệm theo đúng trình tự quản lý thì công trình sẽ đảm bảo chất lượng và đem lại hiệu quả đầu tư
- Các văn bản trên quy định: Chính phủ thống nhất QLNN về XDCT trên phạm vi cả nước; Bộ Xây dựng thống nhất QLNN về CLCT xây dựng trong phạm vi cả nước; Các
Bộ có quản lý CTXD chuyên ngành phối hợp với Bộ Xây dựng trong việc QLCL; UBND cấp tỉnh theo phân cấp có trách nhiệm QLNN về xây dựng trên địa bàn theo phân cấp của Chính phủ.[15]
Hình 1.8: Hệ thống văn bản pháp lý về QLCL công trình XD[13]
Tình hình quản lý CLCT xây dựng ở Việt Nam:
Trong thời gian qua, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng ở nước ta được các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ đầu tư và các đơn vị liên quan quan tâm chỉ đạo
Trang 26thực hiện Nhiều công trình xây dựng hoàn thành, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng
đã phát huy hiệu quả đầu tư, tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Bên cạnh những mặt đạt được và những mặt hạn chế cụ thể như sau:
Về cơ chế, chính sách pháp luật có liên quan:
- Hệ thống các văn bản pháp lý về quản lý CLCT đến nay đã cơ bản hoàn thiện, đầy đủ
để tổ chức quản lý, kiểm soát xây dựng, đã tách bạch, phân định rõ trách nhiệm đối với việc đảm bảo CLCT giữa cơ quan QLNN ở các cấp, CĐT và các nhà thầu tham gia Điều kiện năng lực của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng (HĐXD); nội dung, trình tự, trong công tác QLCL cũng được quy định cụ thể, làm cơ sở cho công tác kiểm tra của cơ quan quản lý ở các cấp, tạo hành lang pháp lý tăng cường hiệu lực, hiệu quả QLNN về CLCT xây dựng Cụ thể như sau:
- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 năm 2014 [1] có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, thay thế Luật Xây dựng số 16/2003/QH11, với những đổi mới như là:
Phân biệt rõ các dự án đầu tư xây dựng sử dụng các nguồn vốn khác thì có phương thức quản lý khác nhau Đối với các dự án có sử dụng vốn nhà nước thì cơ quan quản
lý nhà nước phải quản lý chặt chẽ theo nguyên tắc “tiền kiểm” nhằm nâng cao chất lượng công trình, chống thất thoát lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư; đối với các dự án sử dụng vốn ngoài nhà nước thì Nhà nước tập trung kiểm soát về quy hoạch, quy chuẩn tiêu chuẩn, chất lượng, an toàn, bảo vệ môi trường, phòng chống cháy nổ, còn các nội dung khác thì giao quyền chủ động cho người quyết định đầu tư
và chủ đầu tư, nhằm tạo sự chủ động, thu hút tối đa các nguồn lực thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng
Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, đặc biệt là việc kiểm soát, quản lý chất lượng và chi phí xây dựng ở tất cả các khâu của quá trình đầu tư xây dựng thông qua việc thẩm định dự án, thẩm định thiết kế và dự toán, cấp phép xây dựng, quản lý năng lực hành nghề xây dựng, kiểm tra việc nghiệm thu công trình trước khi đưa vào khai thác sử dụng
Trang 27Đổi mới mô hình quản lý dự án theo hướng chuyên nghiệp hóa, áp dụng các mô hình ban quản lý dự án chuyên ngành, ban quản lý dự án khu vực để quản lý các dự án có
sử dụng vốn nhà nước
- Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 năm 2015, thay thế Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06 tháng 02 năm 2013 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng và Nghị định số 114/2010/NĐ-CP ngày 06 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về bảo trì công trình xây dựng, với những đổi mới như sau: Nghị định 46/2015/NĐ-CP sẽ khắc phục được một số tồn tại, hạn chế như việc phân loại, phân cấp công trình xây dựng chưa phù hợp; quy định về nghiệm thu công việc vẫn chưa tạo bước đột phá nhằm giảm lượng hồ sơ không cần thiết; quy định bảo hành công trình xây dựng còn cứng nhắc, gây khó khăn cho một số nhà thầu thi công xây dựng công trình; chưa rõ các quy định, chế tài về xử lý công trình có dấu hiệu nguy hiểm, công trình hết niên hạn sử dụng; thiếu các quy định về đánh giá an toàn đối với các công trình quan trọng quốc gia [3]
- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 năm 2015, thay thế Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về việc quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và Nghị định số 83/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 12/2009/NĐ-CP về quản lư đầu tư xây dựng công trình với những đổi mới như sau:
Nghị định số 59/2015/NĐ-CP nêu rõ, quản lý dự án đầu tư xây dựng phải đảm bảo nguyên tắc quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước, của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến thực hiện các hoạt động đầu tư xây dựng của dự án Bên cạnh đó, quản lý thực hiện dự án phù hợp với loại nguồn vốn sử dụng để đầu tư xây dựng Cụ thể, dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước được quản lý chặt chẽ, toàn diện, theo đúng trình tự để bảo đảm mục tiêu đầu tư, chất lượng, tiến độ thực hiện, tiết kiệm chi phí và đạt được hiệu quả dự án.[2]
Bên cạnh đó các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật cũng đang dần hoàn thiện, tuy chưa thật hoàn chỉnh nhưng đã tạo nên khung pháp lý về QLCL, giúp cho các chủ thể tham
Trang 28gia thực hiện công việc một cách khoa học và thống nhất góp phần đảm bảo và nâng cao CLCT xây dựng
1.2.1.2 Hệ thống quản lý chất lượng trong ngành xây dựng hiện nay
a) Hệ thống quản lý chất lượng tại các doanh nghiệp:
Nhiều DNXD đã áp dụng HTQLCL vào DN của mình để giải quyết các vấn đề liên quan đến chất lượng của dự án xây dựng Tuy nhiên, quá trình áp dụng HTQLCL còn
gặp nhiều khó khăn Trong những năm gần đây, số lượng DNXD có chứng chỉ ISO
9001 ngày càng tăng lên Tuy nhiên, thông qua khảo sát một số DNXD, đơn vị xây dựng có áp dụng HTQLCL tại các công ty thi công, công ty tư vấn thiết kế, kết quả cho thấy quá trình áp dụng HTQLCL vẫn còn tồn tại một số khó khăn
Cam kết từ phía lãnh đạo chưa thực sự mạnh mẽ:
- Ban lãnh đạo chưa thực sự tin tưởng vào hiệu quả mà HTQLCL ISO có thể mang lại cho công ty thể hiện qua việc mặc dù ban lãnh đạo đã có sự phân công cho cá nhân hoặc bộ phận chuyên phụ trách về duy trì và không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng nhưng không thường kiểm tra hoạt động và công việc của cá nhân/bộ phận này
- Lãnh đạo chưa tuyệt đối tuân thủ quy trình, năng động giải quyết công việc theo ý muốn chủ quan nhưng không có cơ sở kiểm soát hay ghi lại các hành động này; hoặc việc không tuân thủ quy trình có diễn ra nhưng lãnh đạo không kỷ luật nghiêm khắc, không quy trách nhiệm cụ thể cho cá nhân, bộ phận vi phạm
Tính hiệu lực của hệ thống tài liệu chưa cao:
- Công tác soạn thảo tài liệu chủ yếu do các thành viên nhóm đảm bảo chất lượng thực hiện mà chưa có sự tham gia một cách tích cực của các phòng, ban chuyên trách;
- Sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng trong việc xây dựng các quy trình còn hạn chế;
- Nhận thức của các thành viên tham gia về yêu cầu tiêu chuẩn chưa đầy đủ, dẫn tới tình trạng soạn thảo tài liệu một cách sơ sài, lấy lệ cho xong;
- Công tác lập và lưu giữ hồ sơ chất lượng dự án ở một số đơn vị thực hiện còn chưa
Trang 29b) Hệ thống quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng
- Chất lượng công trình xây dựng là vấn đề hết sức quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế, đời sống của con người và sự phát triển bền vững Đặc biệt ở nước ta vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân chiếm tỷ trọng rất lớn trong thu nhập quốc dân, cả nước là một công trình xây dựng Vì vậy để tăng cường quản lý dự án, chất lượng công trình xây dựng, các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương đã:
- Ban hành các văn bản pháp quy như Luật, Nghị định, Thông tư, các tiêu chuẩn, quy phạm xây dựng nhằm tạo ra môi trường pháp lý cho việc tổ chức thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng
- Đề ra các chủ trương chính sách khuyến khích đầu tư thiết bị hiện đại, sản xuất vật liệu mới, nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học trong xây dựng, đào tạo cán bộ, công nhân nhằm nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu quản lý đầu tư xây dựng nói chung và quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng
- Tăng cường quản lý chất lượng thông qua các tổ chức chuyên lo về chất lượng tại các Hội đồng nghiệm thu các cấp, các cục giám định chất lượng, phòng giám định
- Có chính sách khuyến khích các đơn vị, tổ chức thực hiện theo tiêu chuẩn ISO 9001 -
2000, tuyên dương các đơn vị đăng ký và đạt công trình huy chương vàng chất lượng cao của ngành, công trình chất lượng tiêu biểu của liên ngành
Tuy nhiên trong quá trình áp dụng các văn bản pháp quy vào thực tế còn nhiều vấn đề cần thiết phải sửa đổi bổ sung nhằm tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, đó là:
Những quy định về việc đảm bảo chất lượng công trình xây dựng trong Luật Đấu thầu còn thiếu cụ thể và chưa cân đối giữa yếu tố chất lượng và giá dự thầu Đó là những quy định có liên quan đến đánh giá năng lực nhà thầu, quy định về chất lượng công trình hồ sơ mời thầu Đặc biệt là quy định việc lựa chọn đơn vị trúng thầu chủ yếu lại căn cứ vào giá dự tầu thấp nhất mà chưa tính một cách đầy đủ đến yếu tố đảm bảo chất lượng đến hiệu quả đầu tư cả vòng đời dự án
Trang 30Những quy định chế tài xử lý, phân rõ trách nhiệm của các tổ chức cá nhân trong quản
lý chất lượng còn thiếu cụ thể Chế tài chưa đủ mạnh để răn đe phòng ngừa:
- Đối với giai đoạn lập dự án, thiết kế, khảo sát đó là những quy định chế tài đối với chủ đầu tư khi vi phạm trình tự, thủ tục đầu tư xây dựng, đối với các nhà thầu khảo sát, thiết kế, thẩm định là những quy định chế tài khi họ vi phạm các quy định về quản lý chất lượng
- Đối với giai đoạn xây dựng đó là những điều quy định chế tài đối với các chủ thể về quản lý chất lượng trong quá trình đấu thầu, xây dựng bảo hành, bảo trì
Cần có chế tài cụ thể vi phạm điều nào, điểm nào thì xử lý thế nào? Phạt bao nhiêu tiền, bao nhiêu % giá trị hợp đồng, đưa vào danh sách “đen”, cấm có thời hạn, vi phạm thế nào thì thu hồi giấy phép kinh doanh, gây hậu quả mức nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự…
Các hoạt động về xây dựng có ảnh hưởng trực tiếp đến con người, môi trường, đến tài sản Các doanh nghiệp hoạt động xây dựng phải là các doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện Vì vậy cần phải ban hành các quy định về năng lực của tổ chức này với các quy định trong giấy phép kinh doanh phù hợp với từng cấp công trình (ở Trung Quốc doanh nghiệp xây lắp chia là 4 cấp, tư vấn 3 cấp do Nhà nước cấp chứng chỉ hoạt động xây dựng)
Về công tác đào tạo còn mất cân đối giữa thầy và thợ, đặc biệt là đội ngũ đốc công, thợ
cả Công tác đào tạo cán bộ quản lý dự án, chủ đầu tư chưa được coi trọng, nhiều chủ đầu tư, ban quản lý dự án làm trái ngành trái nghề, không đủ trình độ năng lực lại không được đào tạo kiến thức quản lý dự án
Công tác thanh tra, kiểm tra xây dựng, quản lý chất lượng xây dựng còn chưa được coi trọng đúng mức và hoạt động còn hạn chế, thiếu một mạng lưới kiểm định chất lượng xây dựng trong phạm vi cả nước, đặc biệt là nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức này còn hạn chế
Trang 31Về bản chất của hoạt động giám sát quản lý nhà nước là theo chiều rộng có tính vĩ mô, tính cưỡng chế của cơ quan công quyền Phương thức quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng được mô tả ở sơ đồ sau:
Hình 1.9: Phương thức QLNN về CLCTXD
Nội dung hoạt động QLNN lĩnh vực này gồm 4 phần chủ yếu:
Thiết lập và tham gia thiết lập hệ thống văn bản pháp lý và chính sách
Tổ chức phổ biến, hướng dẫn cho các chủ thể thực hiện theo các văn bản pháp lý
và chính sách
Tổ chức kiểm tra giám sát các chủ thể thực hiện công tác QLCLCTXD theo pháp luật
Tổng hợp báo cáo tình hình chất lượng công trình xây dựng.[16]
1.2.2 Những mặt tồn tại trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Việt Nam
Công tác QLCL công trình xây dựng ở Việt Nam hiện nay đã được các cơ quan quản
lý Nhà nước quan tâm nhiều, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại như:
Trang 32- Tư vấn giám sát: Các chủ đầu tư (CĐT) thường thuê đơn vị có đầy đủ tư cách pháp nhân và năng lực để giám sát chất lượng công trình nhưng trên thực tế khi thực hiện do thiếu hoặc yếu trong công tác kiểm tra, có trường hợp tư vấn giám sát (TVGS) đã không thực hiện hết trách nhiệm của mình hay thông đồng với nhà thầu bớt xén, rút ruột ở một số công trình dẫn đến công trình không đạt chất lượng
- Công tác tổ chức của các ban quản lý dự án: Trên thực tế vẫn có nhiều các chủ đầu tư
sử dụng mô hình Ban quản lý kiêm nhiệm dẫn đến chồng chéo khi thực hiện nhiệm vụ,
tổ chức chưa phù hợp
- Một số công trình nhỏ lẻ thường bỏ qua quá trình khảo sát địa hình, địa chất Do đó khi thi công thường phát sinh ra nhiều vấn đề cần phải xử lý
- Hầu như CĐT chưa kiểm tra lại năng lực của nhà thầu có phù hợp với hồ sơ dự thầu
và hợp đồng như: Nhân lực, thiết bị thi công, phòng thí nghiệm… Trong hồ sơ dự thầu thì các nhà thầu liệt kê rất nhiều máy móc thiết bị, nhân lực có trình độ chuyên môn cao và có kinh nghiệm nhưng khi ra thực tế thi công lại không đúng như vậy (máy móc đi thuê, nhân lực có 1 đến 2 đồng chí đại diện nhà thầu làm nhiệm vụ trực tiếp thi công tại hiện trường, nhân công thì hầu hết lao động phổ thông chưa qua đào tạo bài bản) Từ đó dẫn đến chất lượng thi công không đảm bảo
- Việc kiểm soát chất lượng vật liệu đầu vào còn rất nhiều vấn đề Các công trình xây dựng với vật liệu xây dựng chủ yếu là gạch, đá, xi măng, cát… Chủ đầu tư thường không quyết liệt xử lý những trường hợp đơn vị thi công thường đưa vào những vật liệu không đúng quy cách và đúng với vật liệu như trong thiết kế Các quy trình nghiệm thu mà các cán bộ của chủ đầu tư đang thực hiện chưa chặt chẽ, trình tự chỉ đúng trên giấy tờ
- Khâu giám sát tác giả: hiện nay các đơn vị tư vấn gần như không có động thái thực hiện giám sát tác giả và chủ đầu tư cũng không kiểm soát vấn đề này Do đó rất nhiều sai sót giữa thiết kế và thi công không được phát hiện ra Trong quá trình thi công đơn
vị tư vấn chỉ tham gia bàn giao tuyến và nghiệm thu hoàn thành công trình
Một số nguyên nhân xảy ra sự cố trong thi công, nhà thầu không thực hiện đúng các
Trang 33quy trình quy phạm kỹ thuật đã dẫn đến sự cố công trình xây dựng:
+ Không kiểm tra chất lượng, quy cách vật liệu trước khi thi công
+ Không thực hiện đúng trình tự các bước thi công
+ Vi phạm các quy định về tổ chức, quản lý, kỹ thuật thi công
Cụ thể:
- Khối lượng và chất lượng vật liệu:
+ Vi phạm phổ biến của các nhà thầu là hạ cấp chất lượng vật liệu Đặc biệt, việc hạ cấp chất lượng vật liệu thực sự là khó kiểm soát khi không có các mô hình giám sát quản lý chất lượng hiệu quả
+ Trong cuộc đấu thầu gần đây có nhiều công trình có giá trúng thầu rất thấp so với giá
dự toán được duyệt Thậm chí có những nhà thầu bỏ thầu thấp hơn rất nhiều so với chi phí cần thiết Do không có giám định về giá cả vật liệu nên các nhà thầu có thể đưa ra các chỉ tiêu chất lượng cao và giá thấp để trúng thầu Song khi thực hiện thi công xây lắp các nhà thầu đã giảm mức chất lượng, chủng loại, xuất xứ, đưa các thiết bị, vật liệu chất lượng kém vào trong công trình và tìm cách bớt xén các nguyên vật liệu để
bù chi phí và có một phần lợi nhuận
- Chất lượng biện pháp thi công:
+ Trong hồ sơ đấu thầu xây lắp, hầu hết các nhà thầu đều đưa ra được phần thuyết minh biện pháp thi công hoàn hảo với một lực lượng lao động hùng hậu, thực tế lại không như vậy Lực lượng công nhân phổ biến ở các công trường hiện nay hầu hết là thợ “nông nhàn” Việc sử dụng lực lượng lao động này là một điều rất đáng lo ngại, không những ảnh hưởng tới chất lượng công trình mà còn có nguy cơ để xảy ra tai nạn lao động nhiều Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý kỹ thuật cũng được sử dụng không đúng với chuyên môn Nhiều các kỹ sư vật liệu trẻ mới ra trường không có việc làm lại được thuê làm kỹ thuật giám sát kiểm tra thi công cọc khoan nhồi mà khi hỏi các kỹ sư này không hiểu cọc khoan nhồi là gì? Chính vì sử dụng những lực lượng lao động như vậy đã làm cho công trình không đảm bảo chất lượng
Trang 34+ Biện pháp thi công không phù hợp luôn chứa đựng yếu tố rủi ro về chất lượng; có khi còn gây ra những sự cố lớn không lường
+ Vi phạm khá phổ biến trong giai đoạn thi công là sự tùy tiện trong việc lập biện pháp
và quy trình thi công Những sai phạm này phần lớn gây đổ vỡ ngay trong quá trình thi công và nhiều sự cố gây thương vong cho con người cũng như sự thiệt hại lớn về vật chất
1.3 Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Ninh Thuận 1.3.1 Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng
Trong thời gian qua các chính sách quản lý CLCT xây dựng và các chính sách có liên quan đến việc đầu tư và xây dựng công trình thường xuyên thay đổi cũng làm ảnh hưởng đến mô hình quản lý CLCT trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Tuy nhiên với sự quan tâm, chỉ đạo của UBND tỉnh cơ quan QLNN về CLCT ở địa phương (Sở Xây dựng tỉnh Ninh Thuận) tham mưu nhiều văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời là các văn bản hướng dẫn thực hiện, nhằm từng bước đưa văn bản Luật và các văn bản dưới Luật liên quan đến công tác quản lý CLCT xây dựng của địa phương và đáp ứng được nhu cầu thực tiễn Mô hình quản lý CLCT thực chất là công tác kiểm soát chất lượng công trình nhằm tuân thủ các quy định đã được cơ quan QLNN có thẩm quyền ban hành, hiện nay mô hình quản lý công tác quản lý chất lượng như sau.[12]
Hình 1.10: Mô hình quản lý chất lượng theo Quyết định số 92/2018/QĐ-UBND
UBND HUYỆN
BQL CÁC KHU
CN
Trang 35Cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng
UBND tỉnh Ninh Thuận ban hành Quyết định số 72/2015/QĐ-UBND ngày 15/10/2015
về việc phân công, phân cấp quản lý nhà nước chất lượng công trình xây dựng[10] và Quyết định số 92/2018/QĐ-UBND ngày 23/10/2018 Sửa đổi đổi bổ sung một số Điều của Quy định về việc phân công, phân cấp quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận cụ thể:
1) Sở Xây dựng là cơ quan đầu mối giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng đối với công trình chuyên ngành do Sở quản lý trừ công trình nâng cấp, sửa chữa
2) Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giao thông Vận tải, Sở Công Thương Thẩm định thiết kế xây dựng công trình xây dựng chuyên ngành do Sở quản lý theo quy định tại Nghị định về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, Kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng theo quy định đối với công trình xây dựng chuyên ngành do Sở quản lý
3) Ủy ban nhân dân cấp huyện (Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc Ủy ban nhân dân các huyện, Phòng Quản lý Đô thị thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm) Kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng đối với công trình được ủy quyền quyết định đầu tư, cấp phép xây dựng trên địa bàn các công trình nâng cấp, sửa chữa thuộc công trình chuyên ngành do các Sở có quản lý xây dựng chuyên ngành thẩm định ngoại trừ các công trình thuộc lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn
và các công trình đi qua địa bàn 2 huyện trở lên
4) Ban quản lý các khu công nghiệp kiểm tra công tác nghiệp thu xây dựng công trình đối với công trình trong phạm vi khu công nghiệp, cụm công nghiệp được giao quản lý
Doanh nghiệp quản lý về chất lượng công trình xây dựng
Chủ đầu tư, tư vấn quản lý dự án, tư vấn thiết kế, giám sát, đơn vị thi công phải tuân thủ theo các quy định tại Nghị định số 59/2015/NĐ-CP[2], Nghị định số 46/2015/NĐ-CP[3], Thông tư số 16/2016/TT-BXD[4], Thông tư số 17/2016/TT-BXD[5], Thông tư
Trang 36số 18/2016TT-BXD[6], Thông tư số 26/2016/TT-BXD[7] và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác quản lý chất lượng công trình cụ thể như sau:
- Trách nhiệm Chủ đầu tư trong công tác quản lý chất lượng thi công XDCT thực hiện theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 26/2016/TT-BXD ngày 26/10/2016; trong tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng theo quy định tại Điều 31 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP; trong công tác bảo hành thực hiện theo quy định tại các Điều 35, 36 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP và báo cáo sự cố theo quy định tại Điều 47 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP; tham gia giải quyết sực cố, giám định nguyên nhân sự cố, lập hồ sơ sự cố theo quy định tại các Điều 48, 49, 50 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP và chịu trách nhiệm với nội dung mình thực hiện trước pháp luật, cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Trách nhiệm của Tư vấn QLDA trong công tác quản lý chất lượng thực hiện theo hợp đồng được ký kết với Chủ đầu tư và chịu trách nhiệm với những nội dung mình thực hiện theo hợp đồng đã ký;
- Trách nhiệm của nhà thầu giám sát chất lượng công trình xây dựng được quy định tại Điều 26 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP và chịu trách nhiệm với những nội dung mình thực hiện trước pháp luật, trước Chủ đầu tư;
- Trách nhiệm của nhà thầu kiểm định chất lượng công trình xây dựng thực hiện theo quy định tại Điều 18 Thông tư số 26/2016/TT-BXD và chịu trách nhiệm với những nội dung mình thực hiện trước pháp luật, trước Chủ đầu tư;
- Trách nhiệm giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình thực hiện Điều 28 Nghị định so 46/2015/NĐ-CP và chịu trách nhiệm với những nội dung mình thực hiện trước pháp luật, trước Chủ đầu tư;
- Trách nhiệm của nhà thầu thi công xây dựng thực hiện theo quy định Điều 25 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP và chịu trách nhiệm với những nội dung mình thực hiện trước pháp luật, trước Chủ đầu tư;
- Trách nhiệm của nhà thầu chế tạo, sản xuất, cung cấp vật liệu, sản phẩm, thiết bị, cấu kiện sử dụng cho CTXD thực hiện quy định điều 24 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP và chịu trách nhiệm với những nội dung thực hiện trước pháp luật, trước Chủ đầu tư
Trang 371.3.2 Những mặt tồn tại
Trong thời gian qua, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng được các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ đầu tư và các đơn vị liên quan quan tâm chỉ đạo thực hiện Nhiều công trình xây dựng hoàn thành, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng đã phát huy hiệu quả đầu tư, tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, vẫn còn nhiều công trình xây dựng chất lượng thấp, cá biệt có công trình vừa xây dựng xong đã xuống cấp, hư hỏng gây bức xúc trong xã hội, làm lãng phí tiền của, không phát huy được hiệu quả vốn đầu tư Nguyên nhân chủ yếu do các chủ đầu tư, các tổ chức tư vấn, các nhà thầu tham gia quản lý về xây dựng công trình không tuân thủ nghiêm túc các quy định quản lý từ khâu khảo sát, lập dự án đầu tư đến thi công xây dựng và kiểm tra chứng nhận sự phù hợp chất lượng, nghiệm thu, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng Hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng từ tỉnh đến cơ
sở còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành Điều kiện năng lực của các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xây dựng chưa đáp ứng yêu cầu
Thực tế một số dự án HTKT đô thị sau khi hoàn thành vẫn còn tình trạng chắp vá, chất lượng công trình còn thấp, điển hình một số dự án [13]:
- Dự án thoát nước và nâng cấp mở rộng lòng đường, bó vỉa hè đường 21 Tháng 8 là đường trung tâm của TP PR - TC, hiện tuyến đường này đang trở thành nỗi bức xúc của người dân
Trang 38Hình 1.11: Trụ đèn chiếu sáng nằm dưới lòng đường 21 Tháng 8
Nguyên nhân: Trách nhiệm của CĐT và TVGS tác giả, TVGS thi công thiếu kiểm soát trong quá trình định vị công trình, vẫn cho tiến hành TCXD và nghiệm thu, bên cạnh
đó thiếu sự kiểm tra của cơ quan quản lý Nhà nước về XD
- Dự án nâng cấp, mở rộng tuyến đường Nguyễn Thị Minh Khai, TP PR - TC, mặc dù mới được nâng cấp, nhưng cuối tuyến đường Nguyễn Thị Minh Khai xuất hiện “ổ gà” giữa đường
Trang 39Hình 1.12: Dùng cây để cảnh báo nguy hiểm đường Nguyễn Thị Minh Khai Nguyên nhân: Thi công nắp đan hào kỹ thuật không đảm bảo khả năng chịu lực bị sụp
bể
- Dự án hệ thống thoát nước đô thị tại thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận có nhiệm vụ kết nối hệ thống, tuy nhiên khi công trình hoàn thành thì bị chênh lệch cao độ đáy cống, cao hơn 0,5m so với hệ thống thoát nước khác để kết nối, hiện tại chấp nhận hệ thống bị bán ngập trong cống
Trang 40Hình 1.13: Cao trình không đồng bộ 2 dự án thoát nước thị trấn Khánh Hải Nguyên nhân: Đơn vị tư vấn khảo sát, thiết kế còn thiếu trách nhiệm trong việc đánh giá hiện trạng khu vực xây dựng, cơ quan chuyên môn về xây dựng khi thẩm định dự
án cũng không nắm rõ cao trình quy hoạch xây dựng
- Khu ĐTM công viên biển Bình Sơn, TP PR - TC được làm theo hình thức đổi đất lấy hạ tầng Sau một năm bàn giao công trình xảy ra hiện tượng xuống cấp, đường đi
bị phồng rộp, sân đài quan sát sụt lún Mái taluy bị sạt lở Hệ thống chiếu sáng, đường dây điện còn tạm bợ