Vì vậy khái niệm "Bảo hiểm xã hội" trở nên gần gũi gắn bó với con người đặc biệt là người lao động, với các đơn vị sản xuất, có được các quan hệ đó bảo hiểm xã hội đã mang lại lợi
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là do tôi tự thực hiện và hoàn thiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Trương Đức Toàn Các số liệu sử dụng trong đề tài hoàn toàn trung thực với thực tế, các tài liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học
của luận văn chưa từng được công bố
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Tuấn Nam
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Kinh tế và quản lý, Phòngđào tạo sau đại học trường Đại học Thủy lợi đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện đề tài nghiên cứu này
Đặc biệt, xin trân trọng và cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo Trương Đức Toàn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thiện luận văn
Xin được cảm ơn Ban giám đốc và các đồng chí cán bộ, viên chức Bảo hiểm xã hội thị
xã Phú Thọ đã cung cấp tài liệu và tạo điều kiện giúp tác giả trong quá trình thực hiện
Xin trân trọng cám ơn!
Tác giả luận văn
Lê Tuấn Nam
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 4
1.1 Tổng quan lý luận về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội 4
1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội 4
1.1.2 Khái niệm quản lý thu bảo hiểm xã hội 17
1.1.3 Vai trò, nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội 18
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá kết quả công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội 24
1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác thu bảo hiểm xã hội cấp huyện 24
1.3 Tổng quan thực tiễn về quản lý thu bảo hiểm xã hội tại một số địa phương 31
1.3.1 Thực trạng chung về quản lý thu bảo hiểm xã hội cấp huyện 31
1.3.2 Kinh nghiệm quản lý thu bảo hiểm xã hội một số địa phương 32
1.3.3 Những bài học kinh nghiệm được rút ra cho thị xã Phú Thọ về thu bảo hiểm 34
1.4 Những công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM TẠI BẢO XÃ HỘI THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ 37
2.1 Giới thiệu chung về cơ quan bảo hiểm thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ 37
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 37
2.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức 37
2.2 Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu của Bảo hiểm xã hội thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ 47
Trang 42.3 Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm tại bảo hiểm xã hội thị xã Phú Thọ
tỉnh Phú Thọ 48
2.3.1 Công tác quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội 48
2.3.2 Công tác quản lý nguồn thu bảo hiểm xã hội 53
2.3.3 Công tác quản lý quy trình thu bảo hiểm xã hội 61
2.3.4 Công tác quản lý nợ đọng trốn đóng bảo hiểm xã hội 61
2.3.5 Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và hậu kiểm 69
2.4 Đánh giá chung tình hình thực hiện thu bảo hiểm tại BHXH thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ 71
2.4.1 Những mặt đạt được 71
2.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân 73
Kết luận chương 2 76
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ 72
3.1 Định hướng hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm tại bảo hiểm xã hội thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ 78
3.1.1 Các thách thức và thời cơ của công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội 78
3.1.2 Mục tiêu, định hướng hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội tại bảo hiểm xã hội thị xã Phú Thọ 78
3.2 Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý thu Bảo hiểm xã hội tại thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ 80
3.2.1 Hoàn thiện quản lý và mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội 80
3.2.2 Hoàn thiện quy trình thu bảo hiểm xã hội 83
3.2.3 Đẩy mạnh công tác thu hồi nợ đọng 86
3.2.4 Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền 90
3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát 94
3.2.6 Nâng cao trình độ nguồn nhân lực 95
3.2.7 Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ công tác thu 98
Kết luận chương 3 100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
Trang 52.1 Kiến nghị đối với bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ 103 2.2 Kiến nghị với bảo hiểm xã hội Việt Nam 103 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động của BHXH thị xã Phú Thọ giai đoạn 2016-2018 47
Bảng 2.2 Tổng hợp đơn vị tham gia BHXH bắt buộc theo khối tại thị xã Phú Thọ giai đoạn 2016-2018 49
Bảng 2.3 Tổng hợp đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo khối tại thị xã Phú Thọ giai đoạn 2016-2018 51
Bảng 2.4 Tổng quỹ tiền lương đóng BHXH bắt buộc (2016-2018) 55
Bảng 2.5 Số thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN bắt buộc(2016-2018) 58
Bảng 2.6 Kết quả thực hiện thu BHXH bắt buộc so với kế hoạch (2016-2018) 59
Bảng 2.7 Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm giai đoạn 2016-2018 70
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ mô hình tổng quan về phân cấp quản lý thu BHXH 22
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của BHXH thị xã Phú Thọ 41
Hình 2.2 Số đơn vị SDLĐ tham gia BHXH bắt buộc theo khối 50
Hình 2.3 Cơ cấu lao động tham gia BHXH bắt buộc tại thị xã Phú Thọ năm 2017 50
Hình 2.4 Tình hình kế hoạch thu BHXH bắt buộc tại BHXH thị xã Phú Thọ (2016- 2018) 60
Hình 2.5 Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý thu của BHXH 62
Hình 2.6 Tình hình nợ đọng tại BHXH thị xã Phú Thọ giai đoạn 2016-2018 68
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
CĐCS
Sử dụng lao động Chế độ chính sách
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là biện pháp nhà nước sử dụng để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm khi họ gặp biến cố rủi ro làm suy giảm sức khoẻ, mất khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động, ốm đau, thai sản hoặc chết Hơn nữa BHXH còn đảm vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết
BHXH Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước quan tâm ngay từ khi mới thành lập vì
sự đóng góp to lớn của ngành cho phát triển đất nước Bước sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ngành BHXH đã từng bước chuyển từ tác phong hành chính sang phục vụ với mong muốn tạo niềm tin trong lòng người lao động cũng như doanh nghiệp khi tham gia BHXH
Tính đến 31/12/2018, cả nước có trên 83 triệu người tham gia BHXH, Bảo hiểm y tế (BHYT), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) Trong đó tham gia BHXH là 14,724 triệu người, BHTN là 12,68 triệu người, BHYT là 83,515 triệu người Đạt tỷ lệ bao phủ BHYT 88,5% dân số [8] Điều này cho thấy người dân và doanh nghiệp đã phần nào nhận thấy tầm quan trọng của việc tham gia BHXH, BHYT, BHTN đối với cá nhân và doanh nghiệp mình Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế như: còn nhiều doanh nghiệp chây ì, trốn trách việc tham gia BHXH cho người lao động, lạm dụng trái quy định quỹ BHXH, lợi dụng kẽ hở của luật để trục lợi quỹ BHXH gây thất thu quỹ BHXH và ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người lao động
Đối mặt với thách thức chung của toàn ngành, BHXH thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ trong những năm qua đã có những giải pháp quyết liệt trong công tác thu BHXH đảm bảo hoàn thành kế hoạch được giao Số người tham gia BHXH liên tục tăng qua các năm, đến nay BHXH thị xã Phú Thọ đang quản lý thu 14.989 người tham gia BHXH Tuy nhiên trên địa bàn vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa hiểu hết được tầm quan trọng của chính sách BHXH dẫn tới việc tham gia BHXH cho người lao động thấp bằng
Trang 10mức lương tối thiểu vùng để đối phó, hay trây ì số tiền nộp trong thời gian dài làm ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của người lao động gây khó khăn cho công tác thu và giải quyết chế độ của BHXH thị xã Phú Thọ
Để đảm bảo hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quản lý thu BHXH giúp bảo vệ quyền lợi
chính đáng cho người lao động trên địa bàn tác giả đã lựa chọn đề tài “Giải pháp hoàn
thiện công tác quản lý thu tại Bảo hiểm xã hội thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ” là
luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu đề tài:
Lấy cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý thu BHXH tại BHXH thị xã Phú Thọ
để đề xuất một số giải pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH tại thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Đề tài lấy công tác quản lý thu BHXH, BHYT, BHTN tại BHXH thị xã Phú Thọ và những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý thubảo hiểm làm đối tượng nghiên cứu chính của đề tài
Về mặt nội dung: Đề tài nghiên cứu công tác quản lý thu BHXH và những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả của công tác này
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 11Phương pháp thu thập số liệu: Sử dụng các nguồn tài liệu đã có của ngành BHXH, báo cáo các năm 2016, 2017, 2018 của BHXH thị xã Phú Thọ, thực tiễn công tác quản lý thị BHXH thị xã Phú Thọ; các thông tin được công bố trên báo, tạp chí, công trình và đề tài khoa học trong nước
Phương pháp tổng hợp số liệu: Trên cơ sở các tài liệu đã thu thập được, tổng hợp và vận dụng các phương pháp thống kê phân tích để đánh giá thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm tại BHXH thị xã Phú Thọ Chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại đó
để có giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH
Phương pháp phân tích số liệu: Dùng các phương pháp trong thống kê và hệ thống hóa tài liệu thu thập được làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá thực trạng áp dụng công tác quản lý thu bảo hiểm tại BHXH trên địa bàn, nghiên cứu theo tiêu thức và góc độ khác nhau như phương pháp so sánh thống kê, phương pháp dùng biểu đồ, đồ thị
5 Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu trúc với 3 chương nội dung chính sau:
Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thu BHXH
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu BHXH tại thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ Chương 3 :Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH tại thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1 Tổng quan lý luận về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội
1.1.1.1 Khái niệm
Trong quá trình lao động sản xuất người lao động gặp rất nhiều biến cố rủi ro do nhiều nguyên nhân khác nhau làm ảnh hưởng đến cuộc sống cá nhân và gia đình họ Có những biến cố xảy ra ngay trong quá trình lao động và cũng có những biến cố xảy ra ngoài quá trình lao động những biến cố này làm người lao động gặp rất nhiều khó khăn và xã hội mất an toàn Tình trạng này ngày càng diễn ra phổ biến khi nền sản xuất phát triển khi có sự thuê mướn nhân công, khi nền sản xuất hàng hoá phát triển đến một mức độ nhất định việc thuê mướn lao động ngày càng diễn ra một cách phổ biến mâu thuẫn chủ thợ bắt đầu phát sinh trong số rất nhiều các mâu thuẫn khác nhau thì mâu thuẫn ngày càng trở nên gay gắt Đó là mâu thuẫn về kéo dài thời gian lao động, tiền lương, tiền công; mâu thuẫn về thu nhập sau khi hết tuổi lao động; khi qua đời Điều này đã ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của xã hội như sản xuất bị đình trệ, chế độ chính trị xã hội bị lung lay Vì vậy, nhà nước đã phải đứng ra can thiệp giải quyết điều hòa mâu thuẫn này Nhà nước yêu cầu giới chủ và thợ phải nộp một khoản tiền nhất định từ tiền lương, tiền công vào nguồn quỹ mang tính chất xã hội để chi trả cho các rủi ro trong cuộc sống của người lao động
Lúc đầu cả giới chủ và giới thợ đều không chấp nhận yêu cầu đóng dẫn đến cuộc đấu tranh diễn ra ngày càng gay gắt hơn với quy mô ngày càng rộng khắp hơn vì vậy chính phủ các nước phải can thiệp lần thứ hai, với tư cách nhà nước là bên thứ ba tham gia đóng góp vào nguồn quỹ này khi đó giới chủ thấy mình có lợi và mục đích đã bắt đầu đạt được và giới thợ cũng thấy mình có lợi Cả ba bên đưa ra bản cam kết cụ thể về xây dựng và hình thành nguồn quỹ này để bảo vệ người lao động khi biến cố xảy ra Tất cả những vấn đề nói trên được thế giới quan nhiệm là bảo hiểm xã hội cho người lao động Như vậy Bảo hiểm xã hội ra đời là đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của
Trang 13không thể thiếu đối với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và mỗi quốc gia Vì vậy khái niệm
"Bảo hiểm xã hội" trở nên gần gũi gắn bó với con người đặc biệt là người lao động, với các đơn vị sản xuất, có được các quan hệ đó bảo hiểm xã hội đã mang lại lợi ích kinh tế xã hội thiết thực cho mọi thành viên, mọi đơn vị có tham gia bảo hiểm xã hội.Theo thời gian cùng với sự tiến bộ của xã hội, lực lượng lao động ngày càng đông, sản xuất càng phát triển thì nguồn quỹ ngày càng lớn mạnh đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, người lao động từ đó yên tâm hăng hái sản xuất ra nhiều của cải cho xã hội và người sử dụng lao động sẽ có lợi từ việc này Đó chính là nguồn gốc
ra đời của quỹ bảo hiểm xã hội
Trên cơ sở thực tiễn áp dụng các cơ chế đa dạng bảo vệ người lao động giảm thiểu những rủi ro khốn khó, hội nghị toàn thế giới của tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã thông qua công ước số 102 về an toàn xã hội, trong đó BHXH là một cơ chế chủ yếu
Ở Việt Nam, sau khi được thành lập, chính phủ ta cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về BHXH Sắc lệnh 54/SL ngày 1-11-1945 qui định những điều kiện cho công chức về hưu Sắc lệnh 105/SL ngày 14-6-1946 qui định việc cấp hưu bổng cho công chức Hai sắc lệnh này đã quy định công chức phải đóng góp hưu liễn và trong quỹ hưu bổng có phần đóng thêm của nhà nước Sắc lệnh 76/SL ngày 20-5-1950 quy định cụ thể hơn các chế độ trợ cấp hưu trí, thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn và tiền tuất đối với công chức Trong khu vực sản xuất, trong lúc này chưa lập quỹ bảo hiểm xã hội, nhưng sắc lệnh 29/SL ngày 12-3-1947 và sắc lệnh 77/SL ngày 22-5-1950 đã quy định cụ thể các chế độ trợ cấp: Ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất đối với công nhân
Trên cơ sở thực tiễn thực hiện BHXH từ trước đến nay, cơ chế BHXH đã được chế định thành một chương trong Bộ luật lao động thông qua ngày 23/6/1994 và đã được
cụ thể hoá trong điều lệ BHXH mới kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995
Đến nay, BHXH được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới nói chung và đã trở thành trụ cột chính của hệ thống ASXH tại Việt Nam BHXH được tiếp cận dưới những góc độ khác nhau:
Trang 14Dưới góc độ chính sách: BHXH là một chính sách xã hội, nhằm giải quyết các chế độ
xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo người lao động và bảo vệ sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị quốc gia
Dưới góc độ tài chính: BHXH là một quỹ tài chính tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nước
Dưới góc độ thu nhập: BHXH là sự đảm bảo thay thế một phần thu nhập khi người lao động có tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập
Dưới góc độ quản lý: BHXH là công cụ quản lý của Nhà nước để điều chỉnh mối quan
hệ kinh tế giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước, thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội
Khái niệm BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất trong Luật BHXH số 58/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII,
ngày 20 tháng 11 năm 2014 [9] như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập
do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”
Trang 151.1.1.3 Bản chất của bảo hiểm xã hội
Mọi quốc gia trên thế giới đều thừa nhận sự nghèo đói của người dân do ốm đau, tai nạn rủi ro, thất nghiệp….gây ra không chỉ là thiệt thòi của bản thân cá nhân, gia đình
mà còn là gánh nặng, trách nhiệm của nhà nước và của cộng đồng xã hội
Cùng với sự phát triển tiến bộ của con người, BHXH được coi là một chính sách xã hội quan trọng của bất kỳ quốc gianào, nhằm bảo đảm an toàn cho sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần củatầng lớp trong xã hội Với vai trò là công cụ quan trọng để quản lý xã hội, nhà nước phải can thiệp và tổ chức bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động đặc biệt là để giải quyết mối quan hệ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động Yêu cầu người sử dụng lao động phải thực hiện việc bảo đảm điều kiện làm việc và đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động Trong đó có nhu cầu
về tiền công, tiền lương, về dịch vụ y tế, về chế độ khi bị ốm đau, tai nạn, về tiền lương hưu khi hết tuổi lao động…Cùng với đó bản thân người lao động cũng phải có trách nhiệm dành một phần thu nhập để đóng góp cho bản thân khi có những rủi ro xảy
ra Mặt khác, nhà nước với vai trò đảm bảo an sinh cho toàn xã hội, trong trường hợp
sự đóng góp của người chủ sử dụng lao động và người lao động không đủ để phân phối cho những khoản chi cho người lao động khi họ gặp phải rủi ro thì nhà nước phải dùng ngân sách của mình để bù đắp sự thiếu hụt, bảo đảm đời sống tối thiểu cho người lao động
Nền kinh tế thị trường phát triển là nền móng, cơ sở của BHXH, việc thuê mướn lao động trở nên phổ biến thì càng đòi hỏi BHXH phát triển và đa dạng BHXH được hình thành trên cơ sở các quan hệ lao động Nhà nước ban hành chế độ, chính sách, tổ chức
ra các cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động BHXH Chủ sử dụng lao động và người lao động có trách nhiệm cùng đóng góp để hình thành quỹ BHXH Người lao động và thân nhân của họ sẽ được cấp tiền từ quỹ BHXH khi họ có
đủ điều kiện theo quy định của luật BHXH Đó là mối quan hệ của các bên tham gia BHXH
Quy tắc phân phối của BHXH là phân phối không đều giữa những người tham gia, có nghĩa là không phải ai tham gia BHXH cũng được chi trả với số tiến giống nhau phân phối trong BHXH vừa mang tính hoàn trả vừa không mang tính hoàn trả BHXH phân
Trang 16phối mang tính hoàn trả với người lao động khi họ gặp những biến cố xảy ra mang tính tất nhiên như: thai sản, tuổi già và chết, vì người lao động tham gia BHXH chắc chắn được hưởng những trợ cấp đó Còn trợ cấp do những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động mất việc làm, xảy ra trái với ý muốn của con người như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và thất nghiệp là sự phân phối không mang tính hoàn trả,
vì chỉ khi nào người lao động gặp phải rủi ro do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hay thất nghiệp thì mới được hưởng khoản các trợ cấp đó
Bảo hiểm xã hội hoạt động theo nguyên lấy số đông bù số ít, tức là mọi người tham gia BHXH đóng góp nho bên nhận BHXH và tích luỹ dần thành một quỹ tài chính độc lập dùng để chi trả trợ cấp cho người lao động khi và chỉ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập hay khả năng lao động theo các chế độ đã xác định Số trợ cấp của họ nhận được lớn hơn rất nhiều so với số tiền đóng góp của họ Muốn làm được việc này thì không có cách nào khác là phải lấy kết quả đóng góp của số đông người tham gia để bù cho số ít người được hưởng trợ cấp
Hoạt động BHXH là một hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội, không vì mục đích lợi nhuận, lấy hiệu quả xã hội là mục tiêu hoạt động Hoạt động của BHXH là quá trình tổ chức triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của cơ quan BHXH đối với người lao động tham gia BHXH Là quá trình tổ chức thực hiện các nghiệp vụ thu BHXH của người sử dụng lao động và người lao động và giải quyết các chế độ chính sách, chi tiền BHXH cho người được hưởng; quản lý quỹ BHXH và thực hiện đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH
BHXH là quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường, trong đó Nhà nước phải có vai trò quản lí vĩ mô mọi hoạt động kinh tế- xã hội trên phạm vi cả nước Với vai trò này, Nhà nước có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng thời cũng có mọi công cụ cần thiết để thực hiện vai trò của mình Đối với người sử dụng lao động, mọi khía cạnh cũng tương tự như trên nhưng chỉ trong phạm vi một số doanh nghiệp Ở đó, giữa người lao động và người sử dụng lao động có mối quan hệ rất chặt chẽ Người sử dụng lao động muốn ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh không chỉ chăm lo đầu
tư máy móc thiết bị mà còn phải chăm lo tay nghề và đời sống người lao động mà
Trang 17khi họ gặp rủi ro, bị ốm đau, tai nạn lao động mà có gắn với quá trình lao động thì phải có trách nhiệm BHXH cho họ Chỉ có như vậy, người lao động mới yên râm công tác góp phần tăng năng xuất lao động và tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.Đối với người lao động, khi gặp rủi ro không mong muốn và không phải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết đó là rủi ro của bản thân Vì thế nếu muốn được BHXH tức là muốn nhiều người khác hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều người khác thì mình cũng phải đóng BHXH Điều đó cho thấy bản thân người lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình
Sự đóng góp của ba bên như trên nếu không được đóng góp cho bên thứ ba là cơ quan BHXH và được tích luỹ dần thành một quỹ tài chính độc lập và tập trung như cách làm đặc trưng của BHXH thì nó sẽ biến thành một phương thức khác với BHXH về chất, đó là phương thức tiết kiệm Như vậy, mục đích, bản chất và yêu cầu của BHXH sẽ không thể thực hiện được
Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa BHXH với bảo hiểm thương mại sẽ rõ hơn bản chất của BHXH
Bảo hiểm thương mại cũng là một loại bảo hiểm có mục đích phục vụ con người, nhưng phương thức hoạt động mang tính kinh doanh rõ rệt, như tên gọi, bảo hiểm thương mại có những đặc trưng khác với BHXH trên những điểm chủ yếu sau
Nội dung BH rất rộng như: bù đắp những tổn thất, thiệt hại về thân thể sinh mạng, tài sản trách nhiệm dân sự, trách nhiệm quản lý do những tai nạn bất ngờ hoặc thiên tai, phạm vi hoạt động của bảo hiểm thương mại cũng rất rộng, có mặt ở tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội không chỉ bó hẹp trong phạm vi lãnh thổ một nước
mà còn trải rộng xuyên quốc gia Người được bảo hiểm không nhất thiết là người lao động mà có thể là các độ tuổi khác nhau, là người không thuộc dân số lao động.Mức tiền bù đắp, bồi thường phụ thuộc vào giá bảo hiểm, hạn mức trách nhiệm bảo hiểm mức độ thiệt hại, tổn thất thực tế, mức phí bảo hiểm mức độ thiệt hại, tổn thất thực tế, mức phí bảo hiểm chọn mua.Quỹ bảo hiểm thương mại được đầu tư vào kinh doanh sinh lời, kể cả đầu tư vào cải thiện hoàn cảnh cho bên mua bảo hiểm
Trang 18Ngược lại BHXH có nội dung hẹp hơn nhiều, đó là quan hệ BHXH là lâu dài.Có những loại hình bảo hiểm người lao động trước sau cũng sẽ được trợ cấp, quỹ BHXH chỉ được dùng phần tiền nhàn rỗi để đầu tư sinh lời
Tuy nhiên hai loại hình BHXH và bảo hiểm thương mại có những điểm đồng nhất mà bất kỳ loại hình bảo hiểm nào cũng phải tuân thủ
Thứ nhất: Bảo hiểm là hình thức tích trữ nhằm phân tán rủi ro, hỗ trợ lẫn nhau giữa các cá nhân tham gia bảo hiểm thực hiện theo nguyên tắc số đông bù số ít số người tham gia càng nhiều thì mức độ tổn thất được phân tán càng rộng
Thứ hai: nguồn quỹ bảo hiểm được hình thành chủ yếu từ người tham gia, quỹ được tính toán cân đối giữa nguồn thu và các khoản chi một cách khoa học tính toán ra mức đóng góp và mức hưởng trợ cấp, chỉ trả
Thứ ba: Quỹ bảo hiểm được quản lý, sử dụng theo chế độ tài chính và sự quản lý của Nhà nước
1.1.1.4 Chức năng của bảo hiểm xã hội
Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia BHXH khi họ
bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm Sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động
sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo các điều kiện quy định của BHXH Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, người lao động cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phải đúng quy định Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và
cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH
Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả những người sử dụng lao động Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm Số lượng những người này thường chiếm phần nhỏ trong
Trang 19hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang Phân phối lại giữa những người lao động có thu nhập cao và thấp, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc… Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội
Góp phần tạo sự hăng hái trong lao động, sản xuất nâng cao năng suất lao động cho cá nhân và xã hội Khi khoẻ mạnh tham gia lao động, người lao động được chủ SDLĐ trả lương hoặc tiền công Khi bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc khi hết tuổi lao động đã có BHXH trả trợ cấp bù đắp nguồn thu nhập bị mất Vì thế cuộc sống của người tham gia BHXH và gia đình họ luôn được đảm bảo ổn định Từ đó, người lao động luôn yên tâm, gắn bó với nơi làm việc và tận tình với công việc Từ đó,kích thích họ tích cực lao động sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế cho bản than, gia đình
và xã hội Chức năng này như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội
Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với xã hội Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động… Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hoà và giải quyết Đặc biệt nhờ có BHXH mà cả chủ SDLĐ và người lao động đều có lợi và được bảo vệ Người lao động không còn nỗi lo bị chủ SDLĐ sa thải, chủ SDLĐ cũng bớt đi gánh nặng khi người lao động không may gặp rủi ro trong quá trình lao động Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được phát triển và an toàn hơn
1.1.1.5 Vai trò của bảo hiểm xã hội
Đối với người lao động:
Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang ngày càng hoàn thiện quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá thì những rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp…lại diễn ra một cách thường xuyên và ngày càng phổ biến hơn,
Trang 20phức tạp hơn Khi những rủi ro này xảy ra sẽ gây khó khăn cho người lao động về cả vật chất lẫn tinh thần, ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển của xã hội
Với tư cách là một trong những trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, BHXH góp phần trợ giúp cho cá nhân những người lao động gặp phải rủi ro bằng cách tạo ra cho
họ một khoản thu nhập thay thế, những điều kiện lao động thuận lợi…giúp họ ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, tạo cho họ một niềm tin vào tương lai Từ đó góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất, chât lượng lao động cho toàn xã hội
Đối với người sử dụng lao động:
Để có được sản phẩm phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển xã hội thì cần phải có người tạo ra sản phẩm và nhờ vào quá trình lao động sản xuất để tạo ra sản phẩm Những người biết vận dụng sức lao động để tạo ra sản phẩm chính là những người chủ
sử dụng lao động Muốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh được đảm bảo thì người
sử dụng lao động phải tạo được mối quan hệ tốt với người lao động, giải quyết thật tốt những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình đối với người lao động để họ yên tâm lao động sản xuất và có niềm tin vào cuộc sống từ đó họ lao động sản xuất hăng say hơn, tạo ra nhiều sản phẩm tốt hơn làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của người chủ sử dụng lao động hoạt động đạt kết quả cao BHXH chính là nguồn bảo đảm những khoản chi trả cần thiết, kịp thời đến người lao động khi họ gặp những rủi ro,bất chắc Việc tham gia BHXH cho người lao động của chủ sử dụng lao động là góp phần làm cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình ngày càng phát triển hơn, nâng cao năng suất, hiệu quả lao động sản xuất của doanh nghiệp cũng như nâng cao thu nhập cho người lao động và góp phần phát triển kinh tế đất nước
Đối với xã hội:
Thứ nhất, Quỹ BHXH được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia dùng để
hỗ trợ cho người lao động khi họ gặp những biến cố trong cuộc sống Tuy nhiên hầu như trong quỹ vẫn có một lượng tiền nhàn rỗi Chính vì vậy, huy động lượng tiền nhàn rỗi của quỹ BHXH để đầu tư vào việc kinh doanh, dịch vụ trên các lĩnh vực khác nhau
sẽ tạo ra một nguồn thu lớn cho quỹ nhằm tạo sự tăng trưởng cho quỹ đồng thời góp
Trang 21Thứ hai, với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, BHXH sẽ “bảo hiểm” cho người lao động, hoạt động BHXH sẽ giải quyết những biến
cố xảy ra đối với những người lao động, góp phần tích cực vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng tạo của người lao động Sự góp phần này tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất lao động cá nhân, đồng thời góp phần tích cực vào việc nâng cao năng suất lao động xã hội Với sự trợ giúp người lao động của BHXH bằng cách tạo ra thu nhập thay thế thì BHXH đã gián tiếp tác động đến chính sách tiêu dùng quốc gia làm tăng sự tiêu dùng cho xã hội
Thứ ba, BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội, BHXH là công cụ phân phối lại thu nhập giữa những nguời tham gia: giữa người khoẻ và người ốm, giữa người đang làm việc với người đã nghỉ hưu, giữa người trẻ tuổi với người lớn tuổi, giữa nam với
nữ, và giữa những người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp Tuy nhiên, BHXH không bao hàm ý phân phối bình quân, cũng không hàm ý lấy của người giàu chia cho người nghèo Ý tưởng của BHXH nhiễu điều phủ lấy giá gương, là đoàn kết tương trợ, phát huy tính tự thân, sống hoà nhập có tình có nghĩa giữa các nhóm, các giới bạn trong cùng cộng đồng với nhau mà vốn là tiềm lực của dân tộc ta đã được lịch
sử chứng minh
1.1.1.6 Nguyên tắc của bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức thực hiện và không vì mục đích lợi nhuận [9] nên BHXH hoạt động dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
Mọi người lao động đều có quyền tham gia và hưởng trợ cấp BHXH
Thực hiện nguyên tắc này sẽ góp phần đảm bảo quyền bình đẳng giữa những người lao động trên phương diện xã hội, nhất là trong điều kiện BHXH có sự bảo trợ của Nhà nước Vì vậy hiện nay, BHXH đã là một hình thức bắt buộc, trở thành quyền của người lao động, xét trên cả bình diện quốc gia và quốc tế Ở Việt Nam, quyền tham gia
và hưởng BHXH của người lao động đã được ghi trong Hiến pháp (Điều 56) và Bộ luật lao động (Điều 7) Thực tế, một trong các tiêu chí để đánh giá hệ thống BHXH là diện bao phủ của nó trên tổng số người trong độ tuổi lao động trên phạm vi cả nước
Vì vậy, hệ thống bảo hiểm xã hội được thiết kế để ngay cả những người ít có khả năng
Trang 22cũng có cơ hội được tiếp cận và tham gia BHXH ở mức độ nhất định Quyền tham gia
và hưởng BHXH không thể bị phân biệt về khu vực, ngành nghề, thành phần kinh tế…Tuy nhiên, người lao động được tham gia và hưởng bảo hiểm ở mức độ nào, trong những trường hợp nào, khả năng được chia sẻ, khắc phục rủi ro đến đâu còn phụ thuộc
vào điều kiện kinh tế xã hội và thể chế chính trị của mỗi quốc gia
Mức hưởng trợ cấp BHXH phải tương quan với mức đóng góp
BHXH là một trong những hình thức phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm nên cần được xác định mức hưởng một cách công bằng, hợp lý Mức đóng có vai trò quan trọng trong việc xác định mức hưởng BHXH Nếu người lao động đã đóng tiền trên một mức thu nhập nào đó thì có nghĩa là họ đã mua bảo hiểm cho mức thu nhập đó Khi mức thu nhập này bị giảm hoặc mất thì BHXH phải đảm bảo cho người tham gia hưởng bằng mức đã nhận bảo hiểm Tuy nhiên, do mục đích BHXH chi phối, trong điều kiện có sự bảo trợ của Nhà nước đối với quỹ BHXH thì mức đóng góp và thu nhập được bảo hiểm thường bị khống chế ở mức trần nhất định Điều đó là để đảm bảo công bằng, NSNN sẽ không phải bảo trợ cho những mức bảo hiểm quá cao, sẽ ảnh hưởng đến hoạt động chi ngân sách nói chung Ngoài ra, trong một số trường hợp, mức bảo hiểm còn phải dựa trên thời gian tham gia bảo hiểm Yếu
tố này đặc biệt quan trọng đối với các chế độ bảo hiểm dài hạn Tuy vậy, căn cứ vào mức đóng bảo hiểm không có nghĩa là người lao động đóng bảo hiểm bao nhiêu thì họ
sẽ được hưởng bấy nhiêu BHXH còn thực hiện mục đích chia sẻ rủi ro trong cộng đồng nên trong tương quan với tiền lương, các hệ thống BHXH thường thiết kế sao cho mức thu nhập được bảo hiểm không được cao hơn mức lương khi người lao động đang làm việc Như vậy, người lao động không thể đặt hết rủi ro của mình cho cộng đồng mà họ cũng phải gánh chịu một phần Mặt khác, sự chênh lệch đáng kể về thu nhập sẽ khuyến khích người lao động tích cực lao động sản xuất, tìm kiếm việc làm
không ỷ lại hay lạm dụng chế độ bảo hiểm để nghỉ việc
Mức trợ cấp bảo hiểm cho người lao động phải được tính toán hợp lý trong tương quan với rất nhiều yếu tố, trong đó mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ là những yếu tố chủ yếu nhất Việc xác định mức trợ cấp bảo hiểm hợp lý là nguyên tắc quan
Trang 23trọng để đảm bảo tính hấp dẫn và tính bền vững của BHXH Đây cũng là nguyên tắc thể hiện rõ nét yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội của hình thức bảo hiểm này
Nhà nước thống nhất quản lý BHXH
BHXH là một chính sách lớn ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội Nhà nước với chức năng quản lý xã hội của mình phải có trách nhiệm thực hiện chính sách xã hội, quản lý các hoạt động BHXH để đảm bảo ổn định và công bằng xã hội Bên cạnh đó, BHXH còn là một yếu tố quan trọng để hình thành và phát triển thị trường lao động Nếu BHXH được Nhà nước quản lý thống nhất, ổn định sẽ tạo điều kiện cho người lao động dịch chuyển lao động từ đơn vị này đến đơn vị khác, từ khu vực này đến khu vực khác… theo yêu cầu của thị trường mà quyền lợi bảo hiểm của họ không
bị ảnh hưởng Khi Nhà nước quản lý sẽ đảm bảo tính thống nhất và là yêu cầu khách quan, nhất là trong giai đoạn đầu thực hiện BHXH theo yêu cầu của cơ chế thị trường
Kết hợp hài hoà các lợi ích, các mục tiêu và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước
Khác với bảo hiểm thương mại, BHXH ngoài mục đích là đảm bảo thu nhập cho người lao động còn phải tính đến lợi ích chung và lợi ích của người sử dụng lao động, kết hợp với các mục tiêu đó là mục tiêu xã hội Vì vậy, kết hợp hài hòa các lợi ích, các mục tiêu đó vừa là cơ sở thiết kế hệ thống, vừa là điều kiện để tổ chức thành công BHXH
Trang 241.1.1.7 Hệ thống các chế độ Bảo hiểm xã hội
Chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách, là hệ thống các quy định cụ thể và chi tiết được pháp luật hoá về đối tượng hưởng, điều kiện hưởng, mức hưởng, thời gian hưởng BHXH, nghĩa vụ và mức đóng góp của từng trường hợp cụ thể phù hợp với quy luật khách quan của xã hội và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXH được sử dụng để trợ cấp cho các đối tượng tham gia BHXH, nhằm ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình họ, khi đối tượng tham gia BHXH gặp rủi ro Thực chất là trợ cấp cho 9 chế
độ mà tổ chức này đã nêu lên trong công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ [11]: (1) Chăm sóc y tế
(9) Trợ cấp mất người nuôi dưỡng (tiền tuất)
Chín chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH Tuỳ điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được ba chế độ Trong đó, ít nhất phải có một trong năm chế độ: (3), (4), (5), (8), (9) Mỗi chế độ trong hệ thống trên khi xây dựng đều dựa trên những cơ sở kinh tế xã hội tài chính, thu nhập, tiền lương.v.v…Đồng thời tuỳ từng chế độ khi xây dựng còn phải tính đến các yếu tố sinh học; tuổi thọ bình quân của quốc gia, nhu cầu dinh dưỡng; xác suất tử vong…
Trang 25BHXH Việt Nam và địa phương có nhiệm vụ thực hiện tốt chính sách BHXH nói chung cũng như công tác chi trả các chế độ BHXH nói riêng cho người lao động và nhân dân trên phạm vi cả nước Nội dung chi BHXH bắt buộc ở nước ta hiện nay bao gồm các chế độ:
1.1.2 Khái niệm quản lý thu bảo hiểm xã hội
Tổ chức BHXH muốn tồn tại và phát triển phải có một quỹ tài chính độc lập để chi cho công tác thực hiện chế độ chính sách Do đó, thu BHXH là nhân tố có vai trò là xương sống của sự tồn tại và phát triển BHXH ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới Thu BHXH là việc nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng trong luật định phải đóng BHXH theo mức quy định cùng với cho phép một số đối tượng được tự nguyện tham gia, tự nguyện lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung thống nhất nhằm thực hiện mục đích đảm bảo cho các hoạt động BHXH
Tuy nhiên, hiện nay hiệu quả thu BHXH nói chung và thu BHXH bắt buộc nói riêng đạt kết quả chưa cao Trong nền kinh tế Việt Nam nhiều thành phần như hiện nay, lợi ích của các bên tham gia BHXH là không giống nhau Đơn vị SDLĐ thì mong muốn tối đa hóa lợi nhuận, tiếu thiểu hóa chi phí Trong khi đó, người lao động thì lại muốn
Trang 26đóng góp ít mà lại được hưởng lợi nhiều nhất.Quỹ BHXH là có hạn, để bảo đảm cho mọi hoạt động được bền vững, cơ quan BHXH phải luôn tiến hành cân đối quỹ sao cho phù hợp nhất Từ những mâu thuẫn về lợi ích trên và có thể đảm bảo lợi ích hợp pháp cũng như trách nhiệm của các bên tham gia cần phải có cơ quan đóng vai trò trọng tài đó là Nhà nước Với chức năng quản lý, Nhà nước sẽ sử dụng quyền lực của mình xây dựng các thể chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu và quản
lý thu BHXH
Vậy quản lý thu BHXH là “sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý để điều chỉnh các hoạt động thu Sự tác động đó được thực hiện bằng hệ thống các biện pháp hành chính, kinh tế và pháp luật nhằm đạt được mục tiêu thu đúng đối tượng, thu đủ số lượng và không để thất thu tiền đóng BHXH, đảm bảo thời gian theo quy định”.[2]
1.1.3 Vai trò, nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.1.3.1 Vai trò của quản lý thu bảo hiểm xã hội
Đầu tiên, quản lý thu BHXH góp phần ổn định cuộc sống của người lao động khi đã hết tuổi lao động, hoặc không đủ khả năng lao động, do phải phải rủi ro, biên cố trong quá trình làm việc
Với mục tiêu đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, người tham gia BHXH sẽ được nhận một phần thay thế thu nhập khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập, làm cho người lao động yên tâm làm việc, sáng tạomà không phải lo lắng khi có biến
cố xảy ra BHXH góp phần tạo môi trường làm việc bình đẳng, ổn định cho mọi người tham gia
Thứ hai: Góp phần làm gắn bó lợi ích, trách nhiệm giữa người sử dụng lao động, người lao động đối với Nhà nước
BHXH vừa bảo đảm tính ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ vừa góp phần bảo vệ lợi ích của người sử dụng lao động khi người lao động đang phục vụ cho mình gặp rủi ro, tạo điều kiện cho đơn vị có thể nhanh chóng phục hồi, ổn định sản xuất kinh doanh Đồng thời, BHXH giúp người sử dụng lao động thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm của đơn vị đối với người lao động thông qua việc đóng góp một phần
Trang 27vào quỹ BHXH, do đó người lao động có ý thức được trách nhiệm hơn trong công việc, tích cực,chủ động sáng tạo nâng cao năng suất lao động
Thứ ba: Góp phần đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện công bằng xã hội và phát triển kinh tế đất nước
BHXH thực hiện tính công bằng thông qua việc mức hưởng BHXH phụ thuộc trên mức đóng, thời gian đóng theo nguyên tắc “có đóng có hưởng” và “đóng ít hưởng ít, đóng nhiều hưởng nhiều” Quỹ BHXH là nguồn tài chính nhàn rỗi rất lớn to việc tồn tích, đóng góp của các bên tham gia Quỹ này được dùng một phần để đầu tư vào các
dự án kinh tế - xã hội giúpsinh lời, bảo toàn, phát triển quỹ BHXH, tăng thêm nguồn lực cho sự phát triển nền kinh tế đất nước Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là phát triển kinh tế dựa vào nội lực là chính thì nguồn đầu tư từ quỹ BHXH một kênh rất quan trọng
1.1.3.2 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội
a) Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm:
Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa đơn vị với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức;
Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu đối với trường hợp BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Công an nhân dân bàn giao cho BHXH tỉnh;
Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương; Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn;
Trang 28Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
Người hưởng chế độ phu nhân hoặc phu quân tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (thực hiện từ ngày 01/01/2018 theo quy định của Chính phủ)
Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: cơ quan nhà nước, đơn vị
sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác;
cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ [4]
b) Xây dựng, điều chỉnh và giao kế hoạch thu hàng năm
Bảo hiểm xã hội huyện xây dựng, điều chỉnh kế hoạch thu: Lập 02 bản kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN (Mẫu K01-TS) gửi 01 bản đến BHXH tỉnh theo quy định; Lập 02 bản kế hoạch ngân sách địa phương đóng, hỗ trợ mức đóng BHYT, 01 bản gửi cơ quan tài chính cùng cấp theo phân cấp ngân sách địa phương để tổng hợp trình UBND huyện quyết định, 01 bản gửi BHXH tỉnh để tổng hợp toàn tỉnh; Xây dựng, điều chỉnh kinh phí hỗ trợ thu, hoa hồng đại lý: trên cơ sở dự kiến kế hoạch,
kế hoạch điều chỉnh để xây dựng điều chỉnh kinh phí hỗ trợ thu, hoa hồng đại lý gửi BHXH tỉnh theo quy định
Thời gian: theo hướng dẫn của BHXH Việt Nam
Bảo hiểm xã hội tỉnh tỉnh xây dựng, điều chỉnh kế hoạch thu:Lập 02 bản kế hoạch điều chỉnh thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN (Mẫu K01-TS) và kinh phí hỗ trợ công tác thu đối với đơn vị do tỉnh trực tiếp thu; Tổng hợp toàn tỉnh, lập 02 bản kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN (Mẫu K01-TS), gửi BHXH Việt Nam; Lập 02 bản kế hoạch ngân sách địa phương đóng, hỗ trợ mức đóng BHYT, gửi Sở Tài chính để tổng hợp trình UBND tỉnh quyết định
Trang 29Giao kế hoạch thu: Trên cơ sở kế hoạch thu, phân bổ kinh phí hỗ trợ công tác thu, hoa hồng đại lý được BHXH Việt Nam giao, tiến hành phân bổ kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN; kế hoạch kinh phí hỗ trợ công tác thu, hoa hồng đại
lý cho BHXH tỉnh và BHXH huyện
Thời gian: theo hướng dẫn của BHXH Việt Nam
Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Tổng hợp, xây dựng và điều chỉnh kế hoạch, giao kế hoạch đảm bảo sát tình hình thực tế và khả năng thực hiện [4]
c) Phân cấp quản lý thu BHXH
Thu tiền hỗ trợ mức đóng BHYT, hỗ trợ mức đóng BHXH tự nguyện của ngân sách nhà nước theo phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Thu tiền đóng BHXH tự nguyện; thu tiền đóng BHYT của người tham gia BHYT cư trú trên địa bàn huyện
Thu tiền đóng BHYT của đối tượng do ngân sách nhà nước đóng; ghi thu tiền đóng BHYT của đối tượng do quỹ BHXH, quỹ BHTN đảm bảo, ngân sách trung ương hỗ trợ học sinh, sinh viên đang theo học tại cơ sở giáo dục do Bộ, cơ quan Trung ương quản lý theo phân cấp của BHXH tỉnh
Trang 30Thu tiền hỗ trợ mức đóng BHYT, hỗ trợ mức đóng BHXH tự nguyện của ngân sách nhà nước
Thu tiền đóng BHYT của đối tượng do ngân sách nhà nước đóng; ghi thu tiền đóng BHYT của đối tượng do quỹ BHXH, quỹ BHTN đảm bảo, ngân sách trung ương hỗ trợ học sinh, sinh viên đang theo học tại cơ sở giáo dục do Bộ, cơ quan Trung ương quản lý
BHXH Tỉnh N
BHXH Tỉnh
Bộ Quốc phòng, Ban cơ yếu Chính phủ
Trang 31d) Quản lý tiền thu Bảo hiểm xã hội
Khi nhận được tiền đóng của đơn vị có trách nhiệm đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN, cơ quan BHXH hạch toán thu tiền đóng vào các quỹ liên quan
Trường hợp số tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN của đơn vị không
đủ so với số tiền phải đóng theo chế độ quy định, thì hạch toán thu theo thứ tự sau đây: Thu đủ số tiền phải đóng vào quỹ BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN kể cả tiền lãi chậm đóng đối với người lao động đủ điều kiện hưởng BHXH hoặc chấm dứt HĐLĐ, HĐLV để kịp thời giải quyết chế độ BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN cho người lao động;
Thu đủ số tiền phải đóng vào quỹ BHYT và tiền lãi phạt chậm đóng, trốn đóng BHYT (nếu có);
Thu đủ số tiền phải đóng vào quỹ BHTN và tiền lãi phạt chậm đóng, trốn đóng BHTN (nếu có);
Thu đủ số tiền phải đóng vào quỹ BHNTLĐ, BNN và tiền lãi phạt chậm đóng, trốn đóng BHTNLĐ, BNN (nếu có);
Thu tiền đóng vào quỹ BHXH và tiền lãi phạt chậm đóng, trốn đóng BHXH (nếu có) Hoàn trả tiền đóng trong các trường hợp:
Trang 32Đơn vị giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật hoặc di chuyển nơi đăng ký tham gia đã đóng thừa tiền BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN
Các trường hợp hoàn trả BHXH tự nguyện, BHYT
Đơn vị chuyển tiền vào tài khoản chuyên thu không thuộc trách nhiệm quản lý thu của
cơ quan BHXH tỉnh, huyện theo phân cấp
Số tiền đơn vị, cá nhân đã chuyển vào tài khoản chuyên thu không phải là tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN
Kho bạc hoặc ngân hàng hạch toán nhầm vào tài khoản chuyên thu
Trường hợp một người có từ 02 sổ BHXH trở lên có thời gian đóng BHXH, BHTN trùng nhau thì cơ quan BHXH thực hiện hoàn trả cho người lao động số tiền đơn vị và người lao động đã đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất và số tiền đã đóng vào quỹ BHTN (bao gồm cả số tiền thuộc trách nhiệm đóng BHXH, BHTN của người sử dụng lao động), không bao gồm tiền lãi
Trường hợp đóng BHXH cho người lao động không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Phân cấp thực hiện:Cơ quan BHXH quản lý đơn vị, người tham gia thực hiện hoàn trả tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN từ tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH [5]
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá kết quả công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội
Hoàn thành kế hoạch thu hàng năm:
Là số tiền thu BHXH trên địa bàn tỉnh theo tính toán của BHXH Việt Nam và trên địa bàn huyện theo tính toán của BHXH tỉnh Số thu bằng hoặc cao hơn mức kế hoạch đã giao thì được tính là hoàn thành
Thời gian hoàn thành kế hoạch thu:
Trang 33Hàng tháng, quý, năm BHXH huyện báo cáo BHXH tỉnh; BHXH tỉnh báo cáo BHXH Việt Nam theo quy định:vào các ngày cuối cùng của tháng, quý, năm BHXH tỉnh, huyện tiến hành chốt số liệu báo cáo Số tiền thu BHXH phát sinh sau thời điểm trên được tính vào tháng, quý, năm sau
Tốc độ phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội:
Công tác quản lý thu BHXH trong đó công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH tốt
sẽ giúp cho cán bộ quản lý thu quản lý chặt chẽ, điều tra nắm rõ số lượng đối tượng tham gia bao gồm số đơn vị và số lao động tham gia BHXH Từ đó, mở rộng độ bao phủ của BHXH làm tăng số đối tượng tham gia BHXH Chính vì thế, đây là thước đo,
là tiêu chí đánh giá hiệu quả của công tác quản lý thu BHXH
Theo quy định của luật BHXH thị đối tượng thu bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm: Người lao động đồng thời có từ 02 HĐLĐ trở lên với nhiều đơn vị khác nhau thì đóng BHXH, BHTN theo HĐLĐ giao kết đầu tiên, đóng BHYT theo HĐLĐ có mức tiền lương cao nhất, đóng BHTNLĐ, BNN theo từng HĐLĐ
Người lao động làm việc theo HĐLĐ (không bao gồm người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn theo quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ về chế độ HĐLĐ một số loại công việc sau đây trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp) trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước thì đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN căn cứ tiền lương ghi trong HĐLĐ
Đơn vị được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất vẫn phải đóng vào quỹ ốm đau
và thai sản, quỹ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, quỹ BHYT, quỹ BHTN Hết thời hạn được tạm dừng đóng, đơn vị tiếp tục đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN theo phương thức đã đăng ký và đóng bù cho thời gian tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất Tiền đóng bù không bị tính lãi chậm đóng
Trong thời gian được tạm dừng đóng, nếu có người lao động nghỉ việc, di chuyển hoặc giải quyết chế độ BHXH thì đơn vị đóng đủ tiền BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN và tiền lãi chậm đóng (nếu có) đối với người lao động đó để xác nhận sổ BHXH
Trang 34Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó Thời gian này không được tính để hưởng BHXH
Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng theo quy định của pháp luật về BHXH thì không phải đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN nhưng vẫn được hưởng quyền lợi BHYT
Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì đơn vị và người lao động không phải đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN, thời gian này được tính là thời gian đóng BHXH, không được tính là thời gian đóng BHTN và được cơ quan BHXH đóng BHYT cho người lao động
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được ghi trên sổ BHXH theo mức tiền lương đóng BHXH của tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản Trường hợp trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản người lao động được nâng lương thì được ghi theo mức tiền lương mới của người lao động từ thời điểm được nâng lương Người lao động đang làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên nghỉ việc hưởng chế độ thai sản thì thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên
Người lao động mà bị tạm giam, tạm giữ hoặc tạm đình chỉ công tác để điều tra, xem xét kết luận có vi phạm hay không vi phạm pháp luật thì người lao động và đơn vị được tạm dừng đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN nhưng vẫn phải đóng BHYT hằng tháng bằng 4,5% của 50% mức tiền lương tháng mà người lao động được hưởng theo quy định của pháp luật Sau thời gian tạm giam, tạm giữ hoặc tạm đình chỉ công tác nếu được cơ quan có thẩm quyền xác định bị oan, sai, không vi phạm pháp luật thì thực hiện việc đóng bù BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN trên tiền lương tháng đóng
Trang 35quan có thẩm quyền xác định người lao động là có tội thì không thực hiện việc đóng
bù BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN và không phải truy đóng BHYT cho thời gian bị tạm giam
Người lao động ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động mà vẫn được hưởng tiền lương thì người lao động và đơn vị thực hiện đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN theo mức tiền lương người lao động được hưởng trong thời gian ngừng việc [4]
Tỷ lệ nợ đọng Bảo hiểm xã hội:
Đây là tiêu chí để đánh giá quản lý thu BHXH, theo đó bên cạnh việc hoàn thành kế hoạch thu trong năm thì việc thu hồi nợ đọng, giảm nợ đọng theo từng năm là tiêu chí
để xác định kết quả hoạt động công tác quản lý thu trong năm đó, việc thu hồi số tiền
nợ đọng hay số tiền nợ đọng giảm theo từng năm phản ánh công tác quản lý đối tượng, công tác thanh tra kiểm tra đơn vị, cùng sự phối hợp giữa ngành BHXH và các ban ngành chức năng, các cơ quan quản lý nhà nước Vì vậy tỷ lệ nợ đọng tiền BHXH giảm theo từng năm là tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý thu BHXH trong năm đó của cơ quan BHXH các huyện, thị xã và các tỉnh, thành phố trong cả nước
Nợ BHXH được phân thành bốn loại đó là:
Nợ chậm đóng: các trường hợp nợ có thời gian nợ dưới 1 tháng
Nợ đọng: các trường hợp có thời gian nợ từ 1 tháng đến dưới 3 tháng
Nợ kéo dài: thời gian nợ từ 3 tháng trở lên và không bao gồm các trường hợp nợ khó thu
Nợ khó thu, gồm các trường hợp:Đơn vị không còn tại địa điểm đăng ký kinh doanh (đơn vị mất tích); Đơn vị đang trong thời gian làm thủ tục giải thể, phá sản; đơn vị có chủ là người nước ngoài bỏ trốn khỏi Việt Nam; đơn vị không hoạt động, không có người quản lý, điều hành; Đơn vị chấm dứt hoạt động, giải thể, phá sản theo quy định
Trang 36của pháp luật; đơn vị nợ đang trong thời gian được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và
từ tuất; đơn vị được cấp có thẩm quyền cho khoanh nợ
Tổ chức thu và thu nợ tại BHXH huyện, BHXH tỉnh
Phòng/Tổ Quản lý thu:
Hằng tháng, cán bộ thu thực hiện đôn đốc đơn vị nộp tiền theo quy định
Trường hợp đơn vị nợ quá 02 tháng tiền đóng, đối với phương thức đóng hằng tháng;
04 tháng, đối với phương thức đóng 03 tháng một lần; 07 tháng, đối với phương thức đóng 06 tháng một lần, cán bộ thu trực tiếp đến đơn vị để đôn đốc, lập Biên bản làm việc về việc đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN cho người lao động (Mẫu D04h-TS); gửi văn bản đôn đốc 15 ngày một lần Sau 02 lần gửi văn bản mà đơn vị không nộp tiền, chuyển hồ sơ đơn vị đến Phòng/Tổ Khai thác và thu nợ tiếp tục xử lý, gồm:
- Biên bản của cán bộ thu đôn đốc đơn vị đóng tiền;
- 02 văn bản đôn đốc đơn vị nộp tiền
- Trường hợp đơn vị có văn bản cam kết nộp đủ số tiền nợ trong thời hạn 30 ngày thì tiếp tục theo dõi, đôn đốc đơn vị nộp tiền
Hằng tháng chuyển báo cáo chi tiết đơn vị nợ (Mẫu B03-TS) kèm theo dữ liệu cho Phòng/Tổ Khai thác và thu nợ để quản lý, đôn đốc thu nợ và đối chiếu
Phòng/Tổ Khai thác và thu nợ:
Tiếp nhận hồ sơ đôn đốc thu hồi nợ từ Phòng/Tổ Quản lý thu
Căn cứ hồ sơ do Phòng/Tổ Quản lý thu bàn giao, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện đôn đốc đơn vị thực hiện đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN cho người lao động theo quy định của pháp luật ký biên bản đối chiếu thu nộp BHXH, BHYT (mẫu C05-TS)
Sau 06 tháng kể từ ngày đến đơn vị đôn đốc và thực hiện các biện pháp đôn đốc mà
Trang 37Phòng/Tổ Thanh tra - Kiểm tra lập Danh sách đơn vị đề nghị thanh tra đột xuất (Mẫu
số D04m-TS) trình Giám đốc để tổ chức thanh tra chuyên ngành hoặc phối hợp với cơ quan quản lý lao động, cơ quan Thuế thành lập đoàn thanh tra liên ngành Trường hợp có dấu hiệu phạm tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN cho người lao động, phối hợp chuyển hồ sơ sang cơ quan công an đề nghị điều tra theo quy định của pháp luật hình sự
Đối với chủ đơn vị là người nước ngoài vi phạm pháp luật có dấu hiệu bỏ trốn thì phối hợp với cơ quan công an để có biện pháp ngăn chặn bỏ trốn khỏi Việt Nam
Nhận kết quả thanh tra, kiểm tra từ Phòng/Tổ Thanh tra - Kiểm tra theo dõi, đôn đốc đơn vị thực hiện theo quy định
Phòng/Tổ Thanh tra - Kiểm tra:
Nhận hồ sơ từ Phòng/Tổ Khai thác và thu nợ chuyển đến, tổ thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN đảm bảo nguyên tắc theo quy định và
xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật
Chuyển 01 bộ hồ sơ thanh tra, kiểm tra cho Phòng/Tổ Khai thác và thu nợ để theo dõi, đôn đốc đơn vị thực hiện
Hằng quý, Phòng/Tổ Khai thác và thu nợ lập, gửi báo cáo đánh giá tình hình thu nợ (Mẫu B03a-TS) kèm theo dữ liệu điện tử chi tiết đơn vị nợ BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN (Mẫu B03-TS) của tháng cuối quý gửi BHXH cấp trên [5]
1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác thu bảo hiểm xã hội cấp huyện
Hoạt động quản lý thu BHXH bắt buộc chịu nhiều ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau Công tác quản lý thu BHXH thực hiện đạt kết quả tốt hay không phụ thuộc vào các nhân tố sau:
Trình độ dân trí: Một địa phương có trình độ dân trí cao, các mặt của đời sống văn hóa
xã hội phát triển, khả năng tiếp cận với các nguồn thông tin văn minh, chính thống của người dân sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các chính sách xã hội phát triển, đi sâu vào
Trang 38đời sống người dân hơn so với một địa phương có trình độ dân trí kém phát triển, người dân bị hạn chế về các mặt của văn hóa xã hội
Đối với chính sách BHXH, yếu tố quyết định để đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống đó là nhận thức của các tầng lớp nhân dân, trong điều kiện trình độ nhận thức của người dân tiến bộ sẽ đơn giản hơn rất nhiều Người dân dễ dàng hiểu và nắm bắt được
ý nghĩa to lớn của chế độ chính sách BHXH thông qua các định hướng của Đảng và Nhà nước cũng như công tác tuyên truyền của cơ quan BHXH Khi nhận thức của đại
bộ phận người dân, đặc biệt là người lao động và người sử dụng lao động được nâng lên rõ rệt sẽ tác động tích cực đến công tác quản lý thu BHXH, giảm bớt tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHXH đã và đang gây khó khăn cho công tác quản lý thu BHXH
Điều kiện kinh tế-xã hội: Đây là một trong những nhân tố quan trọng làm ảnh hưởng
đến công tác quản lý thu BHXH Khi kinh tế xã hội phát triển, đời sống vật chất của mọi người dân trong xã hội được đảm bảo thì họ mới có phần kinh tế tích luỹ để quan tâm tới vấn đề bảo hiểm cho bản thân cũng như gia đình Từ đó, chính sách BHXH mới có cơ hội phát huy được vai trò to lớn của mình
Khi kinh tế phát triển, số lượng người lao động có việc làm sẽ tăng lên từ đó làm cho đối tượng thuộc diện tham gia BHXH không ngừng tăng lên Người lao động sẽ có sự lựa chọn việc làm và tất nhiên các đơn vị có tham gia BHXH cho người lao động sẽ được quan tâm nhiều hơn Ngược lại, khi kinh tế kém phát triển do khủng hoảng, lạm phát cũng đồng thời làm giảm số người tham gia BHXH, tăng các đơn vị nợ đọng, trốn đóng do không đủ nguồn lực để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh
Chính sách tiền công-tiền lương: Cùng với tốc độ phát triển kinh tế trong nước cũng
như thế giới mà Nhà nước cũng điều chỉnh chính sách tiền lương tiền công sao cho phù hợp với sự phát triển đó Theo quy định BHXH ở Việt Nam thì tiền lương, tiền công của người lao động và tổng quỹ lương của đơn vị SDLĐ được dùng làm căn cứ
để tính đóng BHXH Hàng năm, Chính phủ thường có điều chỉnh về tiền lương cơ sở cũng như quy định mức lương tối thiểu cho từng vùng Qua đó tiền lương làm căn cứ đóng BHXH cũng tăng theo từng thời điểm Sự biến động thường xuyên liên tục này
Trang 39công tác quản lý thu gặp một số khó khăn nhất định do nhiều đơn vị sử dụng lao động gặp áp lực phải tăng lương cho nhân viên cũng như tăng số tiền phải nộp BHXH dẫn tới dễ xảy ra nợ đọng, nợ chậm đóng
Trình độ của người làm công tác quản lý: bên cạnh những nhân tố khách quan trên thì
công tác quản lý thu BHXH còn chịu ảnh hưởng của nhân tố chủ quan từ chính những người làm công tác quản lý Để nắm bắt kịp thời những biến động tăng, giảm của đối tượng tham gia, diễn biến tiền lương làm căn cứ đóng BHXH… cán bộ quản lý thu phải đảm bảo đủ năng lực về trình độ chuyên môn, khả năng phân tích, nhận địnhdiễn biến của kinh tế xã hội, tình hình sản xuất kinh doanh, có tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình với công việc… Như vậy, công tác quản lý thu mới có thể tiến hành thu đúng, thu đủ, thu kịp thời và đạt hiệu quả cao, phát hiện kịp thời những hành vi sai phạm, trục lợi để có biện pháp xử lý phù hợp
1.3 Tổng quan thực tiễn về quản lý thu bảo hiểm xã hội tại một số địa phương
1.3.1 Thực trạng chung về quản lý thu bảo hiểm xã hội cấp huyện
Hàng năm căn cứ vào số thu của năm trước, cùng với nghiên cứu tình hình biến động
về số lao động, biến động về tiền lương của năm sau mà BHXH cấp Tỉnh tính toán, giao kế hoạch thu cho từng BHXH huyện
Ban lãnh đạo BHXH huyện căn cứ vào số thu được giao trong năm để đưa ra phương hướng lãnh chỉ đạo, các giải pháp nhằm đảm bảo hoàn thành kế hoạch thu BHXH Tổ trưởng tổ thu và các cán bộ được phân công chuyên quản thực hiện theo dõi, đôn đốc các đơn vị trên đại bàn huyện thực hiện việc thu nộp theo đúng quy định
Căn cứ vào mức lương của người lao động đã đăng ký đóng với cơ quan BHXH, chủ
sử dụng lao động định kỳ hàng tháng trích chuyển số tiền phải nộp vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH cấp huyện qua hệ thống ngân hàng và kho bạc
Hàng ngày, nếu số dư trên tài khoản chuyên thu lớn hơn 1.000.000 đồng (một triệu đồng)thì BHXH cấp huyện tiến hành đối chiếu, chuyển tiền thu về BHXH tỉnh Hàng
tháng, quý thực hiện quyết toán với ngân hàng, kho bạc huyện
Trang 40Hàng tháng, BHXH huyện thực hiện báo cáo bằng văn bản về việc thực hiện công tác quản lý thu, tình hình thu nộp trong tháng và tiến độ thu về BHXH tỉnh trước ngày 05 hàng tháng
1.3.2 Kinh nghiệm quản lý thu bảo hiểm xã hội một số địa phương
1.3.2.1 Kinh nghiệm của Bảo hiểm xã hội huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ
Theo số liệu báo cáo của BHXH huyện Thanh Ba: Năm 2017, BHXH huyện Thanh Ba có 204 đơn vị sử dụng lao động với tổng số 8.907 lao động đang tham gia BHXH bắt buộc Số thu theo kế hoạch giao năm 2017 là 182 tỷ đồng Số nợ năm 2016 chuyển sang là 5 tỷ đồng
Để giải quyết vấn đề này, BHXH huyện đã có nhiều biện pháp như: Tuyên truyền sâu rộng đến mọi người ao động Phối hợp với đài truyền thanh huyện để tuyên truyền trên loa truyền thanh tại các xã, thị trấn; tuyên truyền bằng pa-nô, áp phích trên các trục đường chính và tại khu công nghiệp Phát các tờ rơi tuyên truyền về chính sách BHXH, BHYT, BHTN, dùng các văn bản hướng dẫn gửi đơn vị sử dụng lao động Ký phối hợp với cơ quan công an huyện, liên đoàn lao động huyện, chi cục thuế về phối hợp thực hiện chính sách pháp luật BHXH,đảm bảo quyền lợi cho người lao động Đối với những đơn vị cố tình vi phạm thì lập Biên bản xử lý hành chính hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý Đối với những doanh nghiệp nợ đọng BHXH có thể sử dụng biện pháp tạm dừng giải quyết các quyền lợi mà người lao động được hưởng, nhờ đó
mà việc đăng ký tham gia BHXH của các doanh nghiệp được chấn chỉnh và tình trạng
nợ đọng BHXH cơ bản được giải quyết Năm 2017, BHXH huyện Thanh Ba đã đạt 101% số thu theo kế hoạch BHXH tỉnh giao; tỷ lệ nợ giảm xuống dưới 2%
1.3.2.2 Kinh nghiệm của Bảo hiểm xã hội huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng
Theo số liệu báo cáo của BHXH huyện Thủy Nguyên:Năm 2016, theo số liệu chi cục thuế cung cấp trên địa bàn huyệncó 369đơn vị sử dụng lao động với17.300 người lao động đang làm việc, nhưng mới có 320 đơn vị với 16.500 lao động đã tham gia BHXH Các đơn vị đang tham gia vẫn còn số nợ lớn do chậm đóng Kết quả công tác thu BHXH năm 2016 số thu đạt 648 tỷ đồng đạt 114.7% kế hoạch được giao