1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học và nhân giống vô tính cây hoàng đằng (fibraurea tinctoria lour) bằng phương pháp giâm hom tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên

72 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học và nhân giống vô tính cây Hoàng đằng Fibraurea tinctoria Lour bằng phương pháp giâm hom tại huyện Võ Nhai, tỉnh

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG ĐÌNH TRỌNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC VÀ

NHÂN GIỐNG CÂY HOÀNG ĐẰNG (Fibraurea tinctoria Lour) BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM

TẠI HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Thái Nguyên - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG ĐÌNH TRỌNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC VÀ

NHÂN GIỐNG CÂY HOÀNG ĐẰNG (Fibraurea tinctoria Lour) BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM

TẠI HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành: Lâm học

Mã số ngành: 8620201

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS ĐẶNG THỊ THU HÀ

2 TS VŨ VĂN THÔNG

Thái Nguyên - 2020

Thái Nguyên - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các

số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác và chưa từng sử dụng để bảo

vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu

và hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn chính xác

và đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020

TÁC GIẢ

Hoàng Đình Trọng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được

sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các tổ chức và các cá nhân Tôi xin bày

tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này

Trước hết tôi xin chân thàng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Lâm nghiệp, Phòng đào tạo của Nhà trường cùng các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn cô giáo TS Đặng Thị Thu Hà, người đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Võ Nhai và c

ác hộ nông dân trên địa bàn huyện Võ Nhai đã giúp đỡ tôi về thông tin,

số liệu trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn

Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi chắc hẳn không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc để nội dung luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020

TÁC GIẢ

Trang 5

Hoàng Đình Trọng

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa nghiên cứu 2

3.1 Ý nghĩa khoa học………2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn………2

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 3

1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 4

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 9

1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 18

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu 18

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 22

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26

2.2.1 Địa điểm: Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 26

2.2.2 Thời gian tiến hành 26

2.3 Nội dung nghiên cứu 26

2.4 Phương pháp nghiên cứu 26

2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu 27

2.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp 27

2.4.3 Phương pháp nhân giống cây Hoàng Đằng 31

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 35

Trang 6

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Đặc điểm sinh thái học của loài cây Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu 36

3.1.1 Đặc điểm hình thái của cây Hoàng đằng 36

3.1.2 Đặc điểm phân bố của loài Hoàng đằng 39

3.1.3 Đặc điểm của loài Hoàng đằng trong quần xã thực vật rừng 41

3.2 Ảnh hưởng của chất kích thích và nồng độ đến khả năng ra rễ, số rễ và chiều dài rễ của hom cây Hoàng Đằng 43

3.2.1 Ảnh hưởng của nồng độ và loại chất kích thích đến tỷ lệ ra rễ 43

3.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ và loại chất kích thích đến số rễ, chiều dài rễ 46 3.3 Ảnh hưởng của vị trí hom đến khả năng ra rễ 48

3.4 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cây hom 50

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 56

1 Kết luận 56

1.1 Đặc điểm sinh thái học cây Hoàng Đằng tại huyện Võ Nhai 56

1.2 Ảnh hưởng của nồng độ và loại chất kích thích đến khả năng ra rễ 56

1.3 Ảnh hưởng của tuổi hom đến tỷ lệ ra rễ 56

1.4 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cây hom 57

2 Tồn tại 57

3 Kiến nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Hiện trạng đất Võ Nhai phân theo loại đất năm 2017 20

Bảng 1.2 Cơ cấu kinh tế huyện Võ Nhai giai đoạn 2015 - 2017 22

Bảng 1 3 Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế của huyện Võ Nhai giai đoạn 2015-2017 23

Bảng 2.1 Tổng hợp điều tra theo tuyến tại khu vực nghiên cứu 28

Bảng 3.1: Chỉ tiêu về thân cây Hoàng đằng tại huyên Võ Nhai 36

Bảng 3.2: Số đo trung bình 100 lá trưởng thành 39

Bảng 3.3: Số đo trung bình 100 quả trưởng thành 38

Bảng 3.4: Phân bố cây Hoàng Đằng theo độ cao tại huyện Võ Nhai 39

Bảng 3.5: Phân bố cây theo trạng thái rừng 40

Bảng 3.6: Tổng hợp công thức tổ thành tầng cây gỗ 41

Bảng 3.7: Nguồn gốc, mật độ tái sinh của loài Hoàng đằng 424

Bảng 3.8 Chất lượng cây Hoàng đằng tái sinh 43

Bảng 3.9 Kết quả giâm hom Hoàng đằng ở nồng độ và loại thuốc khác nhau 45

Bảng 3.10 Kết quả giâm hom Hoàng đằng ở các vị trí hom khác nhau 49

Bảng 3.11: Sinh trưởng cây hom qua các lần đo 51

Bảng 3.12 Sinh trưởng Doo và Hvn trong các công thức thí nghiệm 53

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Bản đồ huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 19

Hình 3.2: Lá trưởng thành và lá non cây Hoàng đẳng Fibraurea tinctoria Lour tại khu vực nghiên cứu 38

Hình 3.3 Hình ảnh mẫu lá, thân và quả Hoàng đằng 39

Hình 3.4 Cắt hom 44

Hình 3.5a 46

Hình 3.5c 46

Hình 3.5b 46

Hình 3.6a, 3.6b và 3.6c 47

Hình 3.7 Một số hình ảnh về giâm hom cây Hoàng đằng 48

Hình 3.8 Ảnh hưởng của tuổi hom đến tỷ lệ ra rễ, số rễ và chiều dài rễ 50

Hình 3.9 Tỷ lệ sống, đường kính, chiều cao sau 5 tháng cấy hom 53

Hình 3.10 Sinh trưởng chiều cao, đường kính qua 5 lần đo 54

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour hay Fibraurea recisa Pierre) thuộc họ tiết Dê (Menispermaceae) là một trong những loài thực vật có chứa

alkaloid được sử dụng rộng rãi Theo cuốn “Dược liệu” nhà xuất bản Y học –

1983 thì dược phẩm từ cây Hoàng đằng có công dụng chữa đau mắt, mụn nhọt, sốt nóng, kiết lỵ và ngộ độc thức ăn Các nghiên cứu từ trước đến nay trên đối tượng cây Hoàng đằng cho thấy các công dụng mà nó có được là do hợp chất alkaloid palmatin – thành phần hoạt chính trong cây tạo ra

Hiện nay do phong trào khai thác dược liệu để sử dụng hoặc bán trên thị trường và trồng rừng sản xuất nên số lượng, chất lượng các cây thuốc nam bị suy giảm nghiêm trọng Người dân khai thác sản phẩm các cây thuốc không mang tính bền vững thậm chí nhiều loài khai thác mang tính hủy diệt trong đó cây Hoàng đằng cũng không phải là trường hợp ngoại lệ, người dân chủ yếu lợi dụng khai thác từ rừng tự nhiên chưa chú ý đến việc gây trồng Ở một một số tỉnh miền núi phía Bắc đã xuất hiện các hộ gia đình gây trồng loài cây này để

sử dụng nhưng chủ yếu trồng theo tập quán kinh nghiệm, gây trồng manh mún nhỏ lẻ, cây giống không được tuyển chọn, thiếu kỹ thuật

Với những giá trị to lớn đem lại cây Hoàng đằng đã và đang được người dân quan tâm, chú trọng trong công tác phát triển cây dược liệu, huyện Võ Nhai được tỉnh Thái Nguyên lựa chọn là một trong những cây mũi nhọn góp phần xóa đói, giảm nghèo, tiến tới làm giàu cho người dân địa phương nhằm phát triển kinh tế nông lâm nghiệp bền vững Tuy nhiên số lượng cây Hoàng đằng cho năng suất ổn định, chất lượng tốt hiện nay còn rất ít và tại một số địa phương

do khai thác mà không mang tính bền vững do đó đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Mặc dù vậy việc nghiên cứu lựa chọn những cây Hoàng đằng có năng suất, chất lượng tốt để lưu giữ và phát triển nguồn gen chưa được quan tâm đúng mức nhất là việc lựa chọn phương pháp nhân giống và các tiêu chí để

Trang 10

đánh giá cây Hoàng đằng chưa được nghiên cứu Chính vì vậy, việc thực hiện

đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học và nhân giống vô tính cây Hoàng

đằng (Fibraurea tinctoria Lour) bằng phương pháp giâm hom tại huyện Võ

Nhai, tỉnh Thái Nguyên” là rất cần thiết nhằm góp phần phục hồi, bảo tồn và

phát triển loài cây thuốc có giá trị cao, đồng thời phù hợp với chủ trương phát

triển cây dược liệu của nhà nước và nguyện vọng của cộng đồng nhân dân địa

phương, góp phần làm tăng hiệu quả công tác phát triển cây dược liệu của nước

ta

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mô tả được đặc điểm sinh thái học loài cây Hoằng đằng ở khu vực

nghiên cứu

- Xác định được tuổi hom, nồng độ, loại chất kích thích ra rễ, giá thể

giâm hom, hỗn hợp ruột bầu phù hợp trong nhân giống bằng phương pháp

giâm hom

3 Ý nghĩa nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở khoa học và thực tiễn để nhằm

nhân giống loài cây Hoằng đằng chất lượng cao đáp ứng nhu cầu sản xuất thuốc

hiện nay Đồng thời là tư liệu tham khảo có giá trị cho các nhà khoa học, nhà

chuyên môn, các học viên, sinh viên khi nghiên cứu về vấn đề này

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thành công của đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo tồn và

phát triển nguồn giống cây Hoàng đằng giúp cho người dân đa dạng hóa cây

dược liệu phục vụ mục tiêu kinh tế, góp phần tăng thu nhập, nâng cao thu nhập

của người dân huyện Võ Nhai nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Về cơ sở sinh học

Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, ngăn ngừa suy thoái của các loài nhất là các loài động vật, thực vật quý, hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, là cơ sở khoa học xây dựng mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên được tốt hơn

Về cơ sở bảo tồn

Biến đổi khí hậu, chặt phá rừng làm cho nhiều loài động, thực vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng chính vì vậy công tác bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng

Để có thể bảo vệ và phát triển tốt các loài động vật thực quý hiếm Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 quy định về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước

về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp loài cây Hoàng đằng nằm trong nhóm IIA

Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định về Tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được

ưu tiên bảo vệ Tiêu chí xác định các loài cần được ưu tiên ảo vệ gồm có 2 tiêu chí

+ Số lượng cá thể còn ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng

+ Là loài đặc hữu hoặc có một trong các giá trị đặc biệt về khoa học, y

tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường và văn hóa-lịch sử

Trang 12

1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour và Fibraurea recisa Pierre) thuộc

họ Tiết dê (Menispermaceae), bộ Mao lương (Ranunculales) Thành phần hóa

học: Hoạt chất trong Hoàng đằng là Alkaloid mà chất chính là Palmatin 1-3,5%

và một ít jatrorrhizin, columbamin và berberin theo Gao-Xiong Rao et al (2009)

Theo hệ thống phân loại thực vật APG II (Angiosperm Phulogeny Group II) năm 2003 Họ Tiết dê (Menispermaceae) có 75 chi, 450 loài Trong đó có chi Hoàng đằng (Fibraurea) là chi gồm 5 loài dây leo, chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á Loài Fibraurea elliptica phân bố tại bán đảo Luzon Phillipines, loài Fibraurea laxa phân bố tại Indonesia, loài Fibraurea recisa phân

bố tại các tỉnh Nam Bộ của Việt Nam, loài Fibraurea trotteri phân bố tại Ấn

Độ, loài Fibraurea tinctoria Lour phân bố tại Việt Nam, Lào, Campuchia

Theo Lecomte H (1950) mô tả cây Hoàng Đằng trong tập Quần thể thực vật Đàng trong (Flora Cochinchinensis) Hoàng Đằng là cây dây leo bằng thân quấn, dài tới 10m, vỏ ngoài của thân già nứt nẻ và gỗ có màu vàng Thân non nhẵn, màu lục, ít phân nhánh Lá mọc so le, hình trái xoan hoặc thuôn, dài 9-18cm, rộng 3-7cm, gốc bằng hoặc hơi tròn, đầu có mũi nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm bóng, mặt dưới nhạt, 3 gân chính rõ; cuống lá dài 5-14cm, phình ở hai đầu Hoa đơn tính khác gốc, cụm hoa chum mọc ra ở phần thân già

đã rụng lá Hoa nhỏ màu vàng chanh, có 6 lá đài, cánh hoa 3 rộng và mỏng hơn

lá đài, hoa đực có 6 nhị, chỉ nhị dài hơn bao phấn, hoa cái nhị lép hoặc không

rõ, bầu hình trứng Quả hạch hình xoan hay trứng thuôn, khi chín màu vàng, mùi hơi khó chịu Hạt 1 hình vuông dẹt, Hoàng Đằng ra hoa vào tháng 4-5, quả chín vào tháng 11-12 Cây có khả năng tái sinh bằng hạt và chồi sau khi khai thác

Trang 13

Tính chất chung của Alkaloid theo Gao-Xiong Rao et al (2009)

- Mùi vị: Đa số Alkaloid không có mùi có vị đắng và có một số ít có vị cay như capsa, icin, piperidin, Palmatin…

- Màu sắc: Hầu hết các Alkaloid đều không màu, trừ một số ít Alkaloid

có màu vàng như berberin, Plamatin Cần lợi dụng tính chất này trong chiết xuất và phân lập khi nghiên cứu về các thành phần hóa học của cây Hoàng Đằng bằng phương pháp phân tích quang phổ cho thấy các Alkaloid mới từ cây Hoàng đằng đã được xác định là 1,2-methylenedioxy-8-hydroxy-6a (R)-aporphine Thân của cây Hoàng đằng là một loại thảo dược chống nấm hiệu quả Hoàng đằng có tên trong phân những cây thuốc và vị thuốc chữa lỵ, trực trùng Trong Hoàng đằng chủ yếu là Palmatin với tỷ lệ 1-3,5% Ngoài ra còn

có một ít jatrorrhizin, columbamin

Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Laur và Fibraurea recisa Pierre) thuộc

họ tiết dê (Menispermaceae), bộ Mao lương (Ranunculales) Thành phần hóa

học: Hoạt chất trong Hoàng đằng là Alkloid mà chất chính là Palmatin 1 – 3,5%

và một ít jatrorrhizin, columbamin và berberin theo Gao-Xiong Rao ct al (2009)

Nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của từng loài cây thuốc và bản chất hoá học của dược liệu được quan tâm trên quy mô rộng lớn Nhiều nghiên cứu đã khẳng định hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh là một trong những yếu

tố miễn dịch tự nhiên Tác dụng kháng khuẩn là do các hợp chất tự nhiên hay gặp: Sulfua, saponin (Allium odium); becberin (Coptis chinensis Franch.); tamin (Zizyphusjụuba Miller) Mỗi loài cây với từng công năng, tác dụng, ở mỗi địa phương lại được sử dụng riêng theo một bản sắc dân tộc

Ở Trung Quốc, ngoài nền y học cổ truyền chính thống của người hán (Trung y), các cộng đồng không phải người hán, với dân số khoảng 100 triệu người, cũng có các nền y học riêng của mình, gọi là y học dân tộc cổ truyền (Traiditional Ethno-medicine) sử dụng khoảng 8000 loài cây cỏ làm thuốc

Trang 14

Trong đó, có 5 nền y học chính là nền y học cổ truyền Tây Tạng (sử dụng 3.294 loài), Mông Cổ (1.430 loài), Ugur, Thái (800 loài)

Theo A.S Islam, (1991), ở Bangladesh có một số cây thuốc quý như

Tylophora indica (dùng làm thuốc chữa hen), trước kia dễ tìm kiếm, nay đã trở

nên hiếm hoi

Theo O Akerele, (1991), là loài Ba gạc – Rauvolfia serpentina vốn mọc

tự nhiên khá phổ biến ở Ấn Độ, Srilanca, Bangladesh, Thái Lan,… mỗi năm khai thác được khoảng 1.000 tấn nguyên liệu xuất sang thị trường Âu – Mỹ, làm thuốc chữa cao huyết áp (riêng Ấn Độ chiếm 40 – 50%) Song, do bị khai thác liên tục nhiều năm đã làm cho cây thuốc này mau cạn kiệt

Theo He Shan An và Cheng Zhong Ming, (1985), ở Trung Quốc vốn có

một số loài Dioscorea japonica, trữ lượng khá lớn, trong thập kỷ 50, đã từng

khai thác tới 30.000 tấn, hiện đã bị giảm sút nhiều, có loài thậm chí phải trồng

và duy trì loài giống Một vài loài cây thuốc quý như Fritillaria cirrhosa (làm

thuốc ho) phân bố phổ biến ở vùng Tây – Bắc tỉnh Tứ Xuyên nay chỉ còn sót

lại ở 1 – 2 điểm, với số lượng cá thể rất ít Hoặc loài Iphigenia indica có tác

dụng chữa ung thư, chỉ phân bố rất hẹp ở vùng Lijang và Dali tỉnh Vân Nam,

do bị tìm kiếm khai thác gay gắt, hiện có thể đã bị tuyệt chủng Một số loại cây

thuốc quý khác như Paris polyphylla, Gastrodia elata, Nervilia fordii,…cũng

là những ví dụ điển hình

Sara Oldfield, tổng thư ký của Tổ chức bảo tồn các vườn bách thảo quốc

tế, nhận xét “Sự biến mất của các cây thuốc là một thảm họa thực sự” Phần

lớn dân số thế giới, trong đó có 80% người Châu Phi, hoàn toàn phụ thuộc vào dược thảo để chữa bệnh.Theo một báo cáo của tổ chức bảo tồn quốc tế Plantlife, trên khắp thế giới có khoảng 50.000 loại cây có thể dùng làm thuốc, nhưng xấp

xỉ 15.000 trong số đó đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng Tình trạng thiếu dược thảo đã xảy ra ở Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Nepal, Tanzania và Uganda

Trang 15

Tuy nhiên giá trị và lợi nhuận mà cây thuốc đem lại rất lớn Ở Mỹ mỗi năm lợi nhuận thu được từ cây thuốc khoảng 1,5 tỷ USD Ở Trung Quốc, chỉ riêng việc xuất khẩu cao đơn hoàn tán cũng cho doanh thu khoảng 2 tỷ USD/ năm Hiện nay, phong trào dùng cây thuốc để phòng và chữa bệnh trên thế giới

đã đặt ra một vấn đề cần lưu ý: 2/3 trong số 50.000 loài cây thuốc được sử dụng, khai thác từ các cây hoang dại sẵn có nhưng không được trồng lại để bổ sung Theo một nghiên cứu của nhà thực vật học người Anh là Alan Hamilton, thành viên của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (viết tắt là WWF), có từ 4.000 – 10.000 loài cây cỏ dùng làm thuốc có nguy cơ bị tiệt chủng Nguyên nhân không phải hoàn toàn do sự phát triển của Y học cổ truyền mà theo tác giả là

do thị trường dược thảo ở Châu Âu và Bắc Mỹ tăng trưởng 10% mỗi năm, trong vòng 10 năm nay Trên quy mô toàn cầu, doanh số mua bán cây thuốc hàng năm ước tính lên tới 16 tỷ Euro

Nhân giống bằng hom (Cutting propagation): Là một phương pháp nhân giống sinh dưỡng với hom là một đoạn thân, cành, rễ được đặt trong điều kiện môi trường thích hợp sẽ phát triển chồi bất định và mọc thành cây độc lập Đây

là một hình thức nhân giống sinh dưỡng, dựa trên khả năng sinh sản sinh dưỡng của cây, trên cơ sở phân bào nguyên nhiễm Tế bào mẹ sinh ra tế bào con có bộ nhiễm sắc thể giống hệt mình Do vậy sinh sản sinh dưỡng duy trì được các đặc tính di truyền của cơ thể mẹ và ổn định qua nhiều thế hệ Phương pháp này được

áp dụng để duy trì các dòng vô tính để tăng số lượng các cá thể cây hiếm hay duy trì các genotyp quan trọng của cây mẹ , nhân giống bằng hom đã được các nhà làm vườn và trồng cây cảnh ở các nơi khác nhau trên thế giới sử dụng từ lâu đời và áp dụng trong sản xuất lâm nghiệp cách đây hàng trăm năm, được nghiên cứu ở các nước trên thế giới như Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Thuỵ Điển, Australia, Pháp, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Nhật Bản, Công Gô,… đặc biệt từ khi con người tổng hợp được các chất điều hoà sinh trưởng nhân tạo

Ở Liên Xô (cũ) việc nhân giống bằng hom đã được tiến hành trên 50

Trang 16

năm trước, đã thí nghiệm nhân giống 260.000 hom của 240 loài cây thuộc 55

họ Trong đó, có 47 loài lá kim, 113 loài lá rộng cho các loài cây rừng, cây làm cảnh, làm thuốc, cây công nghiệp và cây ăn quả Tại Thụy Điển, hàng năm công ty Hylles hog sản xuất khoảng 4.000.000 cây hom Vân sam Năm

1993 vườn ươm Toolara tại bang Quensland (Australia), sản xuất 700.000 cây hom Thông lai Nhật Bản hàng năm sản xuất 49 triệu hom cây Lãnh sam Ở Trung Quốc, chỉ riêng với nghiên cứu sản xuất chế phẩm ABT, người ta đã nghiên cứu thực nghiệm 1.270 loài cây gỗ, cây ăn quả, cây hoa, cây nông nghiệp, thực vật có ích …Quảng Đông (Trung Quốc) có 4 vườn ươm sản xuất cây hom, trong đó có 3 vườn ươm cấp huyện, đạt công suất 1 triệu cây/năm Tại Malaysia, 75 loài cây họ Quả hai cánh đã được nhân giống bằng hom Tại Thái Lan, 1 ha vườn giống Sao đen 5 tuổi có thể sản xuất 200.000 cây hom đủ trồng 400-500 ha rừng

Theo Gao-Xiong Rao et al (2009) với các loài cây thân gỗ và cây bụi sống nhiều năm trong các hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới, nhu cầu về ánh sáng thường thay đổi qua các giai đoạn phát triển khác nhau Đây là yếu tố sinh thái hết sức quan trọng góp phần quyết định đến sự phân bố, khả năng sinh trưởng, phát triển và tạo ra năng suất sinh vật học của cây Cùng với ánh sáng thì các đặc điểm về tính chất đất đai, đặc biệt là hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng trong đất cũng đóng vai trò chi phối quan trọng đến khả năng cho năng suất của cây Chính vì vậy nghiên cứu về ảnh hưởng của yếu tố ánh sáng, đất đai và phân bón tới sinh trưởng, phát triển của cây là những nội dung không thể thiếu trong nghiên cứu gây trồng và bảo tồn các loài cây thuốc bản địa

Khi nghiên cứu và thử nghiệm các kỹ thuật gây trồng đối với các loài cây thuốc bản địa, các nhà nghiên cứu thường phải quan tâm tìm hiểu rất kỹ

về đặc điểm sinh thái nơi phân bố của loài cây đó trong tự nhiên, nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và phát triển của nó tương ứng với sự biến động các yếu

tố sinh thái trong điều kiện cụ thể ngoài thực địa Với nhiều loài thực vật nhiệt

Trang 17

đới, các yếu tố sinh thái chi phối quan trọng có thể kể đến như: ánh sáng, nhiệt

độ, ẩm độ không khí, tính chất đất đai (hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới đất, độ pH, mùn, ẩm độ đất…) Đây chính là

cơ sở khoa học quyết định thành công của các nghiên cứu gây trồng cây thuốc bản địa

Tại Ấn Độ, việc gây trồng cây thuốc được giới hạn ở các vườn đơn lẻ trong các giai đoạn lịch sử trước đây Việc gây trồng một cách có hệ thống được công ty Đông Ấn du nhập vào năm 1787 Năm 1930, chính phủ đã thành lập chương trình trồng cây thuốc và cây có tinh dầu trên cơ sở khoa học, các loài được gây trồng

như Digiralis lanata, Hyoscyamus sp, Atropa belladona… Sau ngày giành được

độc lập, chính phủ Ấn Độ đã thành lập nhiều tổ chức sử dụng và trồng các loài dược liệu chưa được khám phá trước đây Hàng loạt tổ chức nhà nước và cá nhân tham gia các chương trình nghiên cứu bảo tồn và trồng cây thuốc Viện nghiên cứu làm vườn, Trung tâm nghiên cứu quốc gia, Hội đồng trung ương nghiên cứu các

hệ thống y học Ấn Độ, Bộ nông lâm nghiệp, các trường đại học nông nghiệp

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Theo Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003) Trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” đã mô tả, có hai loài Hoàng đằng ở Việt Nam:

1 Fibrarea recisa Pierre (1885), tên gọi Nam hoàng, Hoàng đằng, Hoàng liên nam, Vàng giang, Khau khem

Phân bố: Thừa Thiên Huế (Hốt Mít), Đà Nẵng (Liên Chiểu), Quảng Nam (Đại Lộc, Trà My), Phú Yên (Sông Cầu), Khánh Hòa (Nha Trang), Kom Tum (Đăk Gle, Sa Thầy), Lâm Đồng (Lạc Dương, Đan Kia, Bảo Lộc, Pnom Sapoum) Còn có ở Lào, Campuchia

Dạng sống và sinh thái: Dây leo, thân to dài tới 20-25m, cây ưa sáng và

ẩm, nhưng cũng chịu được bóng Thường mọc rải rác trong rừng thứ sinh, ven nương rẫy, ở độ cao 1000m Ra hoa tháng 1-3, có quả tháng 4-6

Trang 18

Công dụng: Gỗ làm thuốc nhuộm vàng, rễ làm thuốc bổ đắng, thanh nhiệt, giảm độc, lợi tiểu Còn công dung chữa mụn nhọt, mẩn ngứa, viêm ruột, viêm dạ dày, kiết lỵ, viêm bang quan, đái đường, viêm ruột cấp tính, viêm kết mạc Thân và lá sắc uống chữa đau lung Cây có chữa Palmatin

2 Fibraurea tinctoria Lour (1790), - F.chloroleu Mies (1871) – Cocculus fibraurea DC (1817), tên gọi Hoàng đằng, Nam hoàng liên, Nam hoàng nhuộm

Phân bố: Lâm Đồng (Di Linh), Đồng Nai (Biên Hòa) Còn có ở Trung Quốc, Malaixia, Inđônêxia

Dạng sống và sinh thái: Dây leo, than to Dài 8-10m Mọc rải rác trong rừng thưa, nơi sáng Ra hoa tháng 3-8 Công dụng: Thân và rễ phơi hay sấy khô, tán bột, làm thành viên chữa lỵ, viêm ruột ỉa chảy, sốt rét, viêm tai, lở ngứa ngoài da Rễ bổ, lợi tiểu Gỗ làm thuốc nhuộm vàng Trong cây có chữa Palmatin “Alkloid là những hợp chất hữu cơ chứa nitơ, đa số có nhân dị vòng,

có phản ứng kiềm, thường gặp trong thự vật và đôi khi trong động vật, thường

có dược tính mạnh và có những phản ứng hóa học với một số thuốc thử chung của alkaloid” dựơc điển Việt Nam (2002) Hàm lượng trong cây thường rất thấp, từ một số trường hợp như cây canhkina hàm lượng Alkaloid đạt 6-10% trong nhựa thuốc phiện có 20-30% Bình thường một dược liệu chứa 1-3% Alkaloid được coi là hàm lượng khá cao Trong cây, Alkaloid ít khi có trạng thái tự do (Alkaloid bazơ) mà thường tồn tại ở dạng mưối với axit hữu cơ như malat, oxalate, acelat…đôi khi có ở dạng mưối a xít vô cơ, chúng tan trong dịch

tế bào Ở một số cây Alkaloid kết hợp với tannin với acid hay với đường ở trong cây Điều đáng chú ý là hàm lượng Alkaloid trong cây phụ thuộc nhiều vào yếu tố khí hậu, ánh sang, chất đất, phân bón, giống cây và thời kỳ sinh trưởng Trong tự nhiên Alkaloid phân bố ở cả trong thực vật và động vật nhưng chủ yếu là thực vật Trong cây một lá mầm đã tìm thấy khoảng 500 Alkaloid, trong khi đó ở cây hai lá mầm đã tìm thấy hơn 3600 chất Ở thực vật hạt kín – Angiospermae sự phân bố Alkaloid có tính nhảy vọt theo Nguyễn Văn Đàn –

Trang 19

Nguyễn Viết Trực (1985) Cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae) là một trong những loài thực vật có chữa Alkaloid được sử dụng rộng rãi Theo cuốn “Dược điển Việt Nam” nhà xuất bản Y dược (2002) thì dược phẩm từ cây Hoàng đằng có công dụng chữa đau mắt, mun nhọt, sốt nóng, kiết lỵ và ngộ độc thức ăn

Đỗ Tất Lợi (1999), trong sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của GS Đỗ Tất Lợi đã nêu Hoàng đằng dung để thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu tiện, chữa đinh nhọt, nóng tím, viêm ruột cất tính, đau họng, viêm kết mạc, đau mắt và bệnh hoàng đảm, chữa lỵ, than và lá sắc uống chữa đau lung, đau tai Hoàng đằng còn làm nguồn nguyên liệu chiết xuất Palmatin

Các nghiên cứu về cây Hoàng đằng ở Việt Nam Phạm Hữu Hạnh, Hà Văn Năm (2014) “ Nghiên cứu nhân giống cây Hoàng đằng tại Quảng Ninh” Với mục tiêu bảo tồn và phát triển cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) trên đất Quảng Ninh, bảo tồn nguồn gen, hướng tới công tác cải thiện giống cây Hoàng đằng và bổ sung loài cây trồng quý hiếm vào cơ cấu cây lâm nghiệp của tỉnh Trần Đức Long (2004), đã cho thấy kích thước cây càng lớn thì hàm lượng Alkaloid trong nguyên liệu càng cao Ở các bộ phận khác nhau trong cây hàm lượng Alkaloid là khác nhau Hàm lượng cao nhất ở rễ già và gốc sau đó giảm dần về hai phía rễ và thân Ở phần ngọn và lá không phát hiện thấy Alkaloid

Do đó khi thu hái ta nên lấy bộ phận già của cây để có chất lượng nguyên liệu tốt Nguyễn Thị Lê (2018) “ Nghiên cứu đa dạng sinh học của cây Hoàng đằng tại miền Bắc”, tác giả đã thu thập mẫu cây Hoàng đằng ở 4 khu vực khác nhau (3 mẫu ở Ba Vì Hà Nội; 3 mẫu tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên; 4 mẫu ở thị xã Cao Bằng và Uông Bí Quảng Ninh) Kết quả thu được sau khi phân tích DNA và hàm lượng Palmatin: 2 mẫu Hoàng đằng ở Thái Nguyên tuy có điều kiện sống khác hẳn nhau (núi đất – mẫu 2 – huyện Phú Lương và núi đá vôi – mẫu 3 – huyện Đồng Hỷ), đặc điểm hình thái khác nhau, thành phần và hàm lượng các chất trong dịch chiết có sự khác nhau (mẫu 2 phát hiện 6 thành phần,

Trang 20

tỉ lệ Palmatin chiếm 84,05% trong thành phần dịch chiết, hàm lượng Palmatin đạt 1,11%; mẫu 3 phát hiện 8 thành phần, tỉ lệ Palmatin chiếm 78,05% thành phần dịch chiết, hàm lượng Palmatin đạt 0,73%) nhưng DNA vẫn giống nhau

ở mức cao nhất so với các mẫu khác (0,92) Như vậy, dù điều kiện sống có thay đổi nhưng DNA vẫn ít chịu ảnh hưởng Điều đó góp phần khẳng định thêm việc

sử dụng phương pháp phân loại bằng sinh học phân tử đã và đang trở thành khoa học mũi nhọn trong phân loại học, bổ sung cho phương pháp phân loại học truyền thống Hàm lượng Palmatin trong các mẫu Hoàng đằng: Mẫu Hoàng đằng ở Cao Bằng có hàm lượng cao nhất 3,27%, mẫu Hoàng đằng ở Thái Nguyên (huyện Đồng Hỷ) và ở Hà Nội (Ba Vì) có hàm lượng thấp nhất 0,73% Mẫu ở Quảng Ninh (huyện Uông Bí) 2,18% Mẫu thu ở Thái Nguyên (huyện Phú Lương) 1,11%

Theo Võ Văn Chi đất nước Việt Nam có nguồn dược liệu rất phong phú lên đến trên 4.000 loài thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc; 52 loài tảo biển, 408 loài động vật và 75 loài khoáng vật có công dụng làm thuốc, trong đó

có nhiều loài cây thuốc được sếp vào loài quý và hiếm trên thế giới như: Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Bách hợp, Thông đỏ, Vàng đắng, Hoàng liên ô rô, Hoàng liên gai, Thanh thiên quỳ, Ba gạch Vĩnh Phúc… Võ Văn Chi (2012) từ điển cây thuốc Việt Nam (Bộ mới), tập I, trang 1107, Nxb Y học, Hà Nội “Hoàng đằng có vị đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, sát trùng Palmatin có tác dụng ức chế đối với các vi khuẩn trong đường ruột Công dụng: Thường dùng chữa các loại sưng viêm, chữa chảy máu mắt, sốt rét, kiết lỵ, viêm ruột, ỉa chảy, viêm tai, lở ngứa ngoài da và cũng làm thuốc bổ đắng

Ngoài ra, loài Hoàng đằng cũng được một số tác giả khác như Võ Văn Chi (1997), đã nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng, nhân giống, tuy nhiên chưa

có kết quả cụ thể, nhưng phần lớn các tác giả cho rằng Hoàng đằng có thể trồng được bằng hạt hoặc bằng giâm cành, song hiện tại cây thuốc này chưa có hướng

Trang 21

dẫn kỹ thuật chính thức Trong phạm vi thực nghiệm, người ta đã thành công trong việc nhân giống bằng các đoạn thân và cành (có sử dụng chất kích thích

ra rễ)

Theo Đỗ Huy Bích và cs (2004), cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập I, trang 942, Nxb Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội “Hoàng đằng có vị đắng, tính hàn, vào 2 kinh tâm và can, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, lợi thấp, thông tiện Công dụng: Hoàng đằng được dùng làm thuốc bổ đắng chữa các chứng viêm tấy, kiết lỵ, tiêu chảy, sốt rét, bệnh về gan, nóng trong, lở ngứa ngoài da, mắt đỏ có màng, viêm tai chảy mủ

Thái Văn Trừng (1978), thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có loài thuộc 1850 chi, 289 họ

Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), đã thống kê thành phần loài của VQG có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi, 213 họ thuộc ngành: Dương xỉ, Hạt trần, Hạt kín, các loài này được xếp thành 8 nhóm

có giá tri khác nhau

Ðỗ Tất Lợi (1991), đã mô tả 2 loài Hoàng đằng thuộc họ Tiết dê

(Menispermaceae), trong đó loài Fibraurea tinctoria Lour, khác với loài Fibraurea recisa Pierre ở chỗ lá nhọn, chỉ phân nhánh 2 lần

Lê Ngọc Công (2004), đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số quần xã thực vật và độ che phủ ảnh hưởng theo tính chất hóa học của đất tới lượng vi sinh vật thành phần giun đất, hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi, 654 loài chủ yếu

là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây quý như: Móng bò

(Bauhinnia pyrrhoclaza), Ràng ràng xanh (Ormonsia fordiana), Vang (Caesalpina sappan), Sòi tía (Sapium discolor), Bùm bụp (M, barbatus), Me rừng (Phyllanthus emblica), Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa),Thầu táu (Aporosa microcalyx), Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria), Dây đau xương (Tinospora sinensis)

Trang 22

Trần Công Khánh, (2012), Giám đốc Viện Nghiên cứu và Phát triển cây thuốc cổ truyền dân tộc (CREDEP): “Chính vì không hiểu gì về công dụng của cây thuốc, lại được các chủ đầu tư thu mua tận nơi nên đại đa số bà con sống ở những nơi có cây thuốc sinh trưởng và phát triển đều khai thác theo kiểu chặt tận gốc, nhổ cả rễ Và thế là những thầy lang giàu kinh nghiệm chữa bệnh giờ cũng chẳng dễ dàng gì kiếm được cây thuốc cho những bài thuốc gia truyền của mình, để rồi một ngày nào đó nó sẽ trở thành các “bài thuốc chết” vì không kiếm đâu ra cây thuốc nguyên liệu”

Báo cáo của Tổng Công ty Dược Việt Nam cho thấy Viện dược liệu (2004), cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, đã nhập khẩu 182 loại Dược liệu với tổng khối lượng 18.300 tấn, với 81 loại nhập trên 100 tấn/loại Trong đó, có

13 loại thuốc đi từ động vật và khoáng vật; 169 loại từ cây thuốc, trong đó nhiều loại là thuốc bắc đầu vị, một số không có ở Việt Nam

Nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc, từ năm 2013, VQG Tam Đảo

đã triển khai Đề tài Nghiên cứu, xác định mối đe dọa, xây dựng mô hình thực nghiệm và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững các loài cây thuốc quý, hiếm tại VQG Mục tiêu của Đề tài nhằm xây dựng mô hình trồng bảo tồn

và phát triển một số loài cây thuốc quý hiếm, góp phần bảo tồn tri thức bản địa, phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh tại địa phương; xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống, mô hình trồng các loài cây thuốc quý hiếm, góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Tam Đảo Kết quả thực hiện sau 2 năm nghiên cứu, Vườn đã nghiên cứu và trồng sưu tập thành công 3 ha cây thuốc quý với tổng số 10 loài, bao gồm: ba kích, sâm cau, hoàng tinh hoa trắng, na rừng, hoàng đằng, khổ sâm, gối hạc, hoài sơn, thiên niên kiện, râu hùm hoa tía

Theo Trần Đức Long (2004), khi nghiên cứu khả năng nhân giống loài Hoàng đằng tại vườn quốc gia Bến En - Thanh Hoá, kết quả cho thấy Hoàng đằng có thể nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom với thuốc kích thích ra rễ là IAA 1500ppm trong thời gian 5 giây, độ che bóng thích hợp là

Trang 23

25% và dùng công thức phân vi sinh 5% trộn với đất tầng mặt để làm hỗn hợp ruột bầu thì cây giống sinh trưởng tốt và tỷ lệ sống cao nhất Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu nghiên cứu kỹ thuật nhân giống hữu tính và đặc điểm sinh thái của cây con trong giai đoạn vườn ươm Đồng thời khi nghiên cứu kỹ thuật nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom Hoàng đằng, tác giả mới chỉ đưa ra được tỷ lệ hom sống, hom chết mà chưa chỉ ra được tỷ lệ hom ra rễ và chiều cao của cây đủ tiêu chuẩn để cấy vào bầu là như thế nào

Trong một công trình nghiên cứu khác, Nguyễn Thị Lê (2012), cho thấy giá trị thương mại và khả năng gây trồng của các loài thuốc ở Việt Nam và ở

VQG Tam Đảo Trong đó, tác giả ghi nhận loài Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) có khả năng trồng bằng cành ở Ba Vì Ngoài ra, loài Hoàng đằng

cũng đã được một số tác giả khác như Võ Văn Chi (1999) đã nghiên cứu về

kỹ thuật gây trồng, nhân giống, tuy nhiên chưa có kết quả cụ thể, nhưng phần lớn các tác giả cho rằng Hoàng đằng có thể trồng được bằng hạt hoặc bằng giâm cành, song hiện tại cây thuốc này chưa có hướng dẫn kỹ thuật chính thức Trong phạm vi thực nghiệm, người ta đã thành công trong việc nhân giống bằng các đoạn thân và cành (có sử dụng chất kích thích ra rễ)

Theo Phạm Hữu Hạnh (2014), nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom, sử dụng thuốc kích thích ra rễ IAA với nồng độ 1000ppm đã cho tỷ

lệ ra rễ, số rễ một hom và chiều dài rễ đạt cao nhất Tỷ lệ ra rễ đạt 58,9%, số rễ một hom đạt 6,1, chiều dài rễ 3,8cm Sau 50-60 ngày khi cây hom có từ 3-4 lá

có thể đem cấy chuyển vào bầu

Theo Nguyễn Thị Hải và cs (2017), nghiên cứu nhân giống loài Hoàng đằng ở khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Nhân giống bằng hạt gieo ngay trong cát ẩm có tỷ lệ nảy mầm cao nhất 98,9% chỉ sau 51 ngày Hạt ngâm trong nước ấm khoảng 400C trong 10giờ, sau 55 ngày hạt bắt đầu nảy mầm và hạt có tỷ lệ nảy mầm 84,4 và hạt ngâm trong nước lã 10 giờ có tỷ lệ nảy mầm thấp hơn 82,2% và thời gian bắt đầu nảy mầm là 58 ngày

Trang 24

Theo Vũ Văn Thông và cs (2017), đã nghiên cứu kỹ thuật nhân giống vô tính cây Hoàng đằng, chất kích thích được sử dụng là IAA, IBA và NAA với 5 công thức nồng độ là: I: 500ppm, II: 1.000ppm, III: 1.500ppm, IV: 2.000ppm

và công thức V: Đối chứng (không sử dụng chất kích thích sinh trưởng) kết quả cho thấy: Trong 3 chất kích thích sinh trưởng đã thử nghiệm, chất IAA cho tỉ

lệ ra rễ cao nhất và ở nồng độ là 1.500 ppm, điều này chứng tỏ IAA có tác dụng kích thích ra rễ của hom Hoàng đằng tốt hơn so với IBA và NAA Tuổi hom có ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom cây Hoàng đằng, trong điều kiện cùng loại thuốc kích thích sinh trưởng, cùng nồng độ, cùng thời gian xử lí Hom bánh tẻ đạt tỉ lệ ra rễ cao nhất và bằng 66,66% Thành phần hỗn hợp ruột bầu 80% đất, 15% phân chuồng, 5% phân NPK cho tỉ lệ sống cao nhất và cây sinh trưởng tốt nhất Ở tuần thứ 20 tỉ lệ cây sống đạt 94,67%, tỉ lệ cây chết là 5,33%

Theo Trần Ngọc Hải (2008), cây Hoàng đằng có thể nhân giống bằng hạt

và giâm hom Đối với nhân giống bằng hạt vào tháng 8-9 khi quả bắt đầu chín

có màu vàng nhạt đến vàng đậm thì tiến hành thu hái quả Sau khi thu hái không cần bỏ vỏ có thể phơi trong bóng râm từ 1-2 ngày cho quả chín đều Sau đó đem gieo quả lên luống đất hoặc cát đến khi hạt nảy mầm thì đưa vào trong bầu đất để tiện cho việc mang đitrồng sau này Nhân giống bằng phương pháp giâm, hom sau khi cắt các đoạn thân dài 25-40cm rồi giâm trong luống cát hoặc đất ẩm, cũng có thể giâm trực tiếp trong bầu đất sâu từ 15-20cm Nếu giâm trực tiếp trong bầu đất thì phải chọn loại túi bầu tương đối lớn (10x14cm hoặc 12x16cm) Có thể sử dụng thuốc kích thích ra rễ như IAA, IBA, ABT hoặc NAA Tuy nhiên, tác giả chưa chỉ ra được loại thuốc và nồng

độ thuốc kích thích ra rễ thích hợp nhất

Nguyễn Thị Hải và cs (2017), nghiên cứu nhân giống cây Hoàng đằng ở khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang bằng hom có sử dụng chất kích thích ra rễ nồng độ 2.000ppm sau 20 ngày có tỷ lệ hom ra rễ nhiều nhất (chiếm 51,11%) Sau 40 ngày có tỷ lệ hom ra rễ cao nhất khi sử dụng chất kích

Trang 25

thích IBA nồng độ 2.000ppm đạt 78,89% Sau 60 ngày, khi hom đã đủ tiêu chuẩn cấy vào bầu, sử dụng IBA nồng độ 1.500ppm có tỷ lệ hom ra rễ cao nhất 96,67% Tiếp đến là sử dụng IAA nồng độ 1.500ppm và sử dụng IBA 2.000ppm có tỷ lệ hom ra rễ cùng đạt 94,44% Hom giâm ở các vị trí cắt hom khác nhau cho thấy, các hom bánh tẻ sau 20 ngày, 40 ngày và 60 ngày đều cho kết quả cao nhất với các giá trị tương ứng về tỷ lệ hom sống (100%, 97,8% và 97,8%) và tỷ lệ hom ra chồi (20%, 52,2% và 97,8%) Nhân giống bằng hạt gieo ngay trong cát ấm có tỷ lệ nảy mầm cao nhất (98,9%) chỉ sau 51 ngày Hạt ngâm trong nước ấm khoảng 400C trong 10 giờ, sau 55 ngày hạt bắt đầu nảy mầm thấp hơn (82,2%) và thời gian bắt đầu nảy mầm sau 58 ngày

Cây Hoàng đằng vốn mọc tự nhiên trong rừng và có sức sống mạnh, biên

độ sinh thái rộng Qua nghiên cứu cho thấy có thể trồng được ở nhiều nơi Tuy nhiên, phù hợp nhất vẫn là trồng dưới tán rừng thứ sinh, rừng phục hồi ẩm, đất tơi xốp Xử lý thực bì bằng phương pháp thủ công, chủ yếu lá phát dây leo, cây bụi xung quanh phần hố trồng khoảng 1m2 Cuốc hố theo hàng so le nhau cự ly 2mx2m, kích thước hố 30x30x30cm, bón lót từ 3-5kg phân chuồng hoai Thời vụ trồng ở các tỉnh phía Nam tháng 6-7, tháng 3-4 ở các tỉnh phía Bắc Sau khi trồng chú ý giữa ẩm cho cây, đến cuối mùa khô cần làm cỏ, xới đất một lần Từ năm thứ 2 trở đi mỗi năm tiến hành làm cỏ 1 lần, cắm cọc để cây leo lên, có thể mở tán để cây có nhiều ánh sáng hơn Tuy nhiên, tác giả chưa nói rõ là mở tán với độ tàn che là bao nhiêu % thì phù hợp Trong một công trình nghiên cứu khác, Trần Văn Ơn (2004), cho thấy giá trị thương mại và khả năng gây trồng của các loài thuốc ở Việt Nam và ở VQG

Tam Đảo Trong đó, tác giả ghi nhận loài Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria)

có khả năng trồng bằng cành ở Ba Vì

Theo Diệp Anh Tuấn (2015) cẩm nang thực tập chuyên ngành Sinh thái

và tài nguyên gồm các mục từ mục đích - ý nghĩa, phương pháp thu mẫu, đo đạc các chỉ tiêu tại thực địa, dụng cụ cần thiết, cách thức xử lý mẫu cho tới các

Trang 26

lưu ý những vấn đề có thể dẫn tới sai lệch kết quả, theo trật tự liên quan tới công tác điều tra môi trường vật lý tới môi trường sinh học

* Nhận xét: Điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên

quan đến lĩnh vực nghiên cứu cho thấy đến nay các nghiên cứu về cây Hoàng đằng khá nhiều, tập chung chủ yếu về đặc điểm phân loại, sinh thái học, tác

dụng và kỹ thuật gây trồng Những nghiên cứu này đã góp phần quan trọng

cho bảo tồn và phát triển các loài cây dược liệu quý, cải thiện đời sống của người dân vùng núi Việt Nam Mặc dù là những cây dược liệu thuộc loại quí hiếm và đang có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên nhưng những nghiên cứu về loài cây thuốc này một cách toàn diện lại chưa được thực hiện Đến nay nghiên cứu đặc điểm sinh thái học và kỹ thuật nhân giống loài cây Hoàng đằng bằng phương pháp giâm hom đã được các nhà khoa học trong nước ta nghiên cứu khá nhiều, việc lựa chọn nghiên cứu vấn đề này để làm cơ sở cho việc phát triển bền vững loài dược liệu quý Hoàng đằng cũng như để bảo tồn, thương mại hoá sản phẩm và phát triển kinh tế vùng nông thôn, miền núi nói chung và tại miền núi

nói riêng

1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu

1.3.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Võ Nhai nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Nguyên có vị trí địa

lý 105o45 phút – 106o27 phút kinh độ đông; 21o36 phút – 21o56 phút vĩ độ bắc Phía bắc giáp huyện Chợ Mới và Na Rì tỉnh Bắc Kạn, Phía nam giáp huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang, Phía tây giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương, Phía đông giáp huyện Bình Gia, Bắc Sơn, Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn

Trang 27

Hình 1.1 Bản đồ huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

1.3.1.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình Võ Nhai khá phức tạp, chủ yếu là đồi núi, hình thành 3 vùng rõ rệt: Vùng núi cao nằm ở phía Bắc, gồm 6 xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Cúc Đường, Thần Sa, Vũ Chấn, có đất rừng đa dạng với tập đoàn cây, con phong phú, tạo nên cảnh đẹp tự nhiên Tuy nhiên, do đặc điểm

là núi cao, dốc, phần lớn là núi đá vôi nên đất lâm nghiệp chiếm ưu thế, đồng thời diện tích đất được phân tán

1.3.1.3 Đặc điểm khí hậu

Huyện Võ Nhai có điều kiện địa hình phức tạp và được phân chia thành

3 vùng khác nhau nhưng điều kiện khí hậu miền núi bắc bộ nhưng có phần khắc nghiệt hơn Nhiệt độ bình quân hàng năm là 22,9oC, nhiệt độ cao tuyệt đối khoảng 39,5oC vào tháng 6, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 3oC vào tháng 1

Trang 28

Chịu ảnh hưởng chế độ mưa của vùng núi Bắc Bộ, mùa mưa ở Võ Nhai thường diễn ra từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm 1.941,5mm và phân bố không đều tập trung vào các tháng mùa mưa khoảng 1.765mm (chiếm 91% tổng lượng mưa

cả năm), lượng mưa lớn nhất thường diễn ra vào tháng 8 trung bình 372,2mm

1.3.1.4 Tài nguyên nước

Nguồn nước trên địa bàn huyện Võ Nhai khá phong phú, nhưng phân bố không đều Ngoài nguồn nước mặt từ sông, suối, còn có các mạch nước ngầm

từ các hang động trong núi đá vôi Huyện Võ Nhai có hai con sông nhánh thuộc

hệ thống sông Cầu và sông Thương, được phân bố ở phía bắc và phía nam huyện Bên cạnh đó, huyện còn có sông Nghinh Tường có chiều dài 46km, bắt nguồn từ những dãy núi của vòng cung Bắc Sơn (Lạng Sơn), chảy qua các xã Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Sa, rồi đổ ra sông Cầu Khoảng 40% chiều dài dòng chảy là vùng đá vôi, thung lũng thường hẹp và sâu, vách

đá dựng đứng

Ngoài ra, Huyện Võ Nhai có 11 hồ chứa nước, 50 đập kiên cố, 12 trạm bơm, hệ thống kênh mương do nhà nước hỗ trợ và nhân dân đóng góp xây dựng cũng góp phần đẩy mạnh công tác trồng trọt tại địa phương trong giai đoạn qua

1.3.1.5 Tài nguyên đất

Hiện nay, tổng diện tích đất của huyện Võ Nhai là 84.480,41 ha, trong

đó được chia ra thành nhiều nhómđất theo bảng 1.1 như sau:

Bảng 1.1: Hiện trạng đất Võ Nhai phân theo loại đất năm 2017

(ha)

Cơ cấu (%)

Trang 29

Thứ hai, đất đen với diện tích là 1.869,5 ha, chiếm 2,21% đất tự nhiên của huyện Loại đất này hình thành chủ yếu trên đá mẹ hoặc mẫu chất giàu base, phân bố trong vành đai nhiệt đới ẩm, đã có những biểu hiện khá rõ của quá trình rửa trôi, tích tụ sét, hình thành một tầng B thỏa mãn các yêu cầu của tầng Argic Đất đen này giàu mùn, đạm, lân nhưng nghèo kali Do đó, loại đất này có thể trồng nhiều loại cây trên cạn như: thuốc lá, các loại đậu đỗ, bông vải, bắp,… và các cây dài ngày như chuối, cây ăn quả, cây lúa nước,…

Thứ ba, đất xám bạc màu chiếm nhiều nhất đạt 59.977,2 ha, chiếm 70,97% diện tích Đây là đất Ferelit được phát triển trên đá biến chất được phân

bố đều ở các xã trong huyện, thành phần cơ giới trung bình và tầng đất có kết cấu tơi xốp nên dễ bị sụt lở, có độ chua

Thứ tư, đất nâu đỏ là 5.740,8 ha, chiếm 6,79% diện tích Đây là đất Ferelit được phát triển trên đá vôi Loại đất này có tầng mỏng nhưng cấu tạo của đất tốt, hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong đất như Ca, Mg rất lớn

Thứ năm, đất nâu vàng là 709,5 ha, chiếm 0,83% diện tích được phát triển trên phù sa cổ Loại đất này có tầng dày trên 1m và năm trên sườn đồi có

độ dốc nhỏ hơn 120 Chất lượng đất ở đây chua, nghèo nàn, đồng thời có lượng nhôm di động cao

Trang 30

Thứ sáu, đất vàng nhạt là 3.297 ha, chiếm 3,9% diện tích Đây là tầng đất trung bình, có thành phần cơ giới nhẹ với hàm lượng mùn và chất hữu cơ nghèo Đất này có hạn chế là có độ chua rất cao, dễ bị xói mòn và bị bạc màu

Thứ bảy, các loại đất khác là 11.070,41 ha, chiếm tỷ lệ 13,09% Đây là những loại đất biến đổi, thường xuyên bị ngập nước nên có độ chua cao, hàm lượng dinh dưỡng ở mức trung bình, tầng đất dày khoảng 50cm và có kết cấu kém, dễ bị rửa trôi

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.3.2.1 Đặc điểm kinh tế huyện Võ Nhai

Hiện nay, so với các huyện khác của tỉnh Thái Nguyên, huyện Võ Nhai vẫn là huyện vùng cao nhiều khó khăn, mức sống đồng bào còn thấp, kinh tế

xã hội còn chưa phát triển Chính vì vậy, cấp ủy chính quyền các cấp trong huyện Võ Nhai luôn xác định phát huy tối đa nội lực lồng ghép với những chính sách quan tâm của Nhà nước nhằm phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống

cho nhân dân các dân tộc trong huyện

Bảng 1.2 Cơ cấu kinh tế huyện Võ Nhai giai đoạn 2015 - 2017

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Võ Nhai giai đoạn 2015-2017)

Giao thông: Trên địa bàn huyện Võ Nhai có tuyến quốc lộ 1B dài 27 km chạy qua nối với các huyện của tỉnh Lạng Sơn, tuyến đường liên tỉnh là đường nhựa, đường liên xã bao gồm cả đường nhựa và đường cấp phối còn lại là đường

liên thôn, xóm chủ yếu là đường đất

Trang 31

Thủy lợi: Hệ thống thủy lợi với 73 công trình lớn nhỏ đảm bảo tưới tiêu cho diện tích đất nông nghiệp Tuy nhiên chất lượng các công trình đang bị xuống cấp cần được đầu tư nâng cấp, sửa chữa đồng thời kiên cố hóa lại các hệ thống kênh mương còn lại, xây dựng thêm hồ chứa nước, các hệ thống tiêu lũ

để đảm bảo tưới tiêu cho diện tích đất nông nghiệp và phục vụ công tác phòng

chống chữa cháy rừng

Điện, nước sinh hoạt : Tất cả các xã trong vùng dự án đều đã có điện lưới quốc gia đã cung cấp cho 88% dân số trong toàn xã, nhưng do bán kính phục

vụ của các trạm biến áp quá lớn nên xảy ra quá tải vào giờ cao điểm

Thông tin liên lạc: Hiện nay tất cả các xã trong vùng dự án đều có thông tin liên lạc đến trung tâm xã Tuy nhiên có nhiều thôn bản do nằm cách xa trung

tâm nên thông tin liên lạc còn nhiều hạn chế

1.3.2.2 Đặc điểm xã hội huyện Võ Nhai

Theo niên giám thống kê năm 2015 của huyện Võ Nhai thì vùng dự án bao gồm 14 xã và 01 thị trấn có có 39.128 lao động, chiếm 65 % dân số trong vùng dự án, lao động ở nông thôn là 27.500 người chiếm 80% tổng nguồn lao động Nguồn lao động dồi dào song trình độ lao động còn thấp Vì vậy trong tương lai cần chú trọng tập trung đào tạo nghề, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và giới thiệu việc làm cho người lao động, đảm bảo việc tiếp nhận

và chuyển giao kỹ thuật công nghệ tiên tiến hiện đại áp dụng vào sản xuất nhằm nâng cao chất lượng cũng như sản lượng các sản phẩm làm ra, nâng cao thu nhập, cải thiện và ổn định cuộc sống cho người dân từng bước đi lên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa huyện Võ Nhai nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung Cơ cấu lao động theo cơ cấu kinh tế của huyện Võ Nhai

giai đoạn 2015-2017 cụ thể như sau:

Bảng 1 3 Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế của huyện Võ Nhai

giai đoạn 2015-2017 Ngành kinh tế Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 So sánh So sánh

Trang 32

2016/2015 2017/2016

Số lượng

Cơ cấu (%)

Số lượng

Cơ cấu (%)

Số lượng

Cơ cấu (%)

Số lượng (%)

Số lượng (%)

Nông, lâm, ngư

nghiệp 17.548 52,09 17.479 47.90 17.373 44.40 -69 99.6 -106 99.4 Công nghiệp,

xây dựng 11.422 33,91 13.834 37.91 15.761 40.28 2412 121.1 1927 113.9 Thương mại,

dịch vụ 4.716 14,0 5.174 14.18 5.994 15.32 458 109.7 820 115.8

Tổng cộng 33.686 686 36.487 100,0 39.128 100,0 2.801 108.3 2.641 107.2

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Võ Nhai giai đoạn 2015-2017)

Tỷ trọng lao động làm trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp có xu hướng giảm trong giai đoạn 2015-2017 Cụ thể: năm 2015 là 52,09%, năm 2016

là 47,9%, giảm 4,19% so với năm 2015 Đến năm 2017, con số này chỉ còn là 44,4%, giảm 3,5% so với năm 2016 Mặc dù thu nhập của lao động bình quân

có sự tăng nhẹ nhưng tỷ trọng lao động trong ngành này vẫn giảm so với các ngành khác Điều này xuất phát từ việc thu nhập thực tế của người dân làm trong lĩnh vực này tăng nhưng không cao so với các ngành công nghiệp và dịch

vụ

* Nhận xét: Huyện Võ Nhai có địa hình phức tạp, đồi núi là chủ yếu, đất

ruộng ít, phần lớn diện tích là đồi núi thấp và núi đá vôi, những vùng đất bằng phẳng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nhỏ, chủ yếu theo các khe suối, triền sông và thung lũng Do đó, huyện Võ Nhai gặp khó khăn hơn so với các huyện khác trong tỉnh Bởi đây là huyện có địa bàn nằm ở vùng sâu, vùng xa các trung tâm kinh tế lớn của tỉnh, lại không có cửa khẩu biên giới nên việc giao lưu, buôn bán bị hạn chế, thu hút đầu tư từ bên ngoài gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên địa hình đồi núi cộng với điều kiện khí hậu thuân lợi, nguồn nước khá phong phú , có nhiều loại đất canh tác phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp, cây ăn quả và trồng rừng, đất ở đây chủ yếu là đồi núi thích hợp

Trang 33

cho phát triển các loại rừng trồng; thuận lợi trồng các loài cây lâm nghiệp như

Mỡ, các loại Keo, các loài cây bản địa có giá trị như Lim xanh, Lát hoa, Muồng đen, Trám, Kháo vàng,

Trang 34

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae), bộ Mao lương (Ranunculales)

- Các loại thuốc kích thích ra rễ cho cây Hoàng Đằng được dùng là: IAA, IBA và NAA với 5 công thức nồng độ khác nhau là 500ppm, 1500ppm, 1500ppm, 2000ppm và đối chứng (không sử dụng chất điều hòa sinh trưởng)

- Các loại giá thể cho cây Hoàng Đằng giai đoạn vườn ươm là Cát vàng, Trấu sống, phân chuồng hoai mục và supe lân Lâm thao

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm: Xã Nghinh Tường, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

2.2.2 Thời gian tiến hành

Đề tài được thực hiện từ tháng 7 năm 2019 đến tháng 8 năm 2020

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của cây Hoằng đằng ở khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của loại thuốc kích thích và nồng độ thuốc đến tỷ lệ sống, khả năng chồi và ra rễ của hom cây Hoàng Đằng

- Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí hom đến khả năng ra rễ cây Hoàng Đằng

- Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể (hỗn hợp ruột bầu) đến khả năng ra

rễ của hom cây Hoàng Đằng

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chung để điều tra nghiên cứu là áp dụng theo “Quy trình điều tra dược liệu” của Bộ y tế, 1973 và “Phương pháp điều tra thu thập cây thuốc” của Nguyễn Tập, 2006

Trang 35

2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu

Thu thập các tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu như: bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng rừng, các tài liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, các báo cáo nghiên cứu khoa học về thực vật ở khu vực điều tra

Kế thừa có chọn lọc các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã nghiên cứu tại các địa phương có loài Hoàng đằng phân bố để bổ sung các thông tin cho luận văn

2.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp

Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây có liên quan đến cây Hoàng Đằng đã được công bố lựa chọn các điểm điều tra nghiên cứu cây Hoàng Đằng tại các khu vực có sự phân bố của cây Hoàng Đằng Ở các địa điểm nghiên cứu tiến hành thiết lập các tuyến điều tra để điều tra sự phân bố của loài Hoàng Đằng

a) Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái: Sử dụng phương pháp quan sát mô tả trực tiếp đối tượng lựa chọn đại diện kết hợp với phương pháp đối chiếu, so sánh với các tài liệu đã có Đây là phương pháp thông dụng được dùng trong nghiên cứu thực vật học Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001) Cụ thể như sau:

- Quan sát mô tả hình thái và xác định kích thước của các bộ phận: thân cây, vỏ cây, sự phân cành, lá, hoa và hạt của cây Hoàng đằng, đối với thân cây

ta dùng thước dây để xác định chu vi tại vị trí D1.3, đo lá và quả bằng cách chọn những lá và quả sinh trưởng bình thường không bị sâu bệnh hay biến dạng dùng thước kẻ hoặc thước dây đo chiều dài và rộng rồi ghi lại các thông số đã

đo vào bảng, ngoài ra chúng ta có thể dùng thước kẹp để đo kích thước quả rất tiện lợi và có độ chính xác cao

- Lấy mẫu tiêu bản không những của loài nghiên cứu mà lấy của các loài khác trong quần xã phục vụ cho việc định danh loài Các mẫu vật thu được cần

so sánh với các tiêu bản trước đây hoặc những loài cây có hình thái tương tự nhằm xác định tính chính xác của loài Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001)

Trang 36

- Đo đếm giá trị trung bình của lá và quả cây Hoàng đằng Thu hái 100 mẫu lá, quả ở 3 vị trí trên tán cây (dưới tán, giữa tán và đỉnh tán)

- Dụng cụ thiết bị hỗ trợ: Máy ảnh, thước dây, ống nhòm, thước đo độ cao, GPS,…

b) Điều tra theo tuyến ngẫu nhiên: Dựa trên thực địa để xác định và thu thập được đầy đủ nhất số lượng cây Hoàng đằng hiện có ở khu vực nghiên cứu, tại mỗi điểm điều tra, lập tuyến đi qua các kiểu địa hình và dạng sinh thái đặc trưng để thu thập số liệu về loài theo yêu cầu Chúng tôi đã dựa vào độ cao, hướng phơi và trạng thái rừng để tiến hành lập tuyến cụ thể là 3 tuyến để tiến hành điều tra

Phương pháp được thực hiện là những phương pháp thông dụng được

sử dụng trong điều tra lâm học và nghiên cứu thực vật học của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)

Kế thừa tài liệu đã có kết hợp với điều tra bổ sung theo tuyến ngoài thực địa nhằm xác định vùng phân bố của loài Hoàng đằng Tại Khu vực nghiên cứu lập các tuyến điều tra đi qua khu vực có loài Hoàng đằng phân bố và đi qua các trạng thái rừng khác nhau Trên các tuyến điều tra, tiến hành điều tra phát hiện bằng cách quan sát Nhận dạng qua đặc điểm hình thái trên những tuyến điều tra

Dựa trên bản đồ địa hình và bản đồ quản lý khu vực tiến hành sơ thám khu vực nghiên cứu, tham khảo các tài liệu liên quan và các cán bộ, người dân quen biết thông thạo địa hình Lập kế hoạch cho công tác điều tra ngoại nghiệp

Đề tài đã chọn và lập tuyến điều tra đại diện cho khu vực nghiên cứu như bảng 2.1

Bảng 2.1 Tổng hợp điều tra theo tuyến tại khu vực nghiên cứu

Tuyến Toạ độ

( X – Y)

Độ cao (m)

Độ dốc (độ)

Hướng Phơi

Độ tàn che

Trạng thái rừng

Ngày đăng: 08/03/2021, 22:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w