Ngày nay, khái niệm về khiếu nại thường được sử dụng trong các văn bản pháp luật quy định: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do pháp luật
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG SƠN HẢI
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2015 – 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong luận văn nào khác
Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Hoàng Sơn Hải
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực của mình, tôi còn nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản lí Tài nguyên, cùng gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Có được kết quả như ngày hôm nay, trước hết tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và cảm ơn chân thành đối với Ban chủ nhiệm Khoa Quản lí Tài nguyên;
các thầy giáo, cô giáo; đặc biệt là Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Khắc Thái
Sơn, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin cảm ơn Văn phòng UBND huyện, Thanh tra huyện, Tòa án nhân dân Hưng Nguyên, cùng nhân dân đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình thực hiện luận văn và các cơ quan ban ngành khác có liên quan tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để thực hiện luận văn Tuy nhiên với kinh nghiệm và tầm nhìn còn hạn chế nên bài luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự góp ý chân thành của giáo viên hướng dẫn và các thầy, cô giáo Khoa Quản lí Tài nguyên, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên để tôi khắc phục hạn chế, đúc kết thêm kinh nghiêm trong học tập, và công tác
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận các vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo 3
1.1.1 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai 3
1.1.2 Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai 6
1.1.3 Nội dung giải quyết khiếu nại, tố cáo 7
1.1.4 Một số khái niệm liên quan đến đất đai và khiếu nại, tố cáo 8
1.2 Cơ sở thực tiễn về giải quyết khiếu nại, tố cáo ở một số nước trên thế giới 13
1.2.1 Mỹ 13
1.2.2 Trung Quốc 14
1.2.3 Pháp và Đức 15
1.3 Các quy định và tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam 15
1.3.1 Định hướng và các văn bản pháp luật quy định giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 15
1.3.2 Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam 22
1.3.3 Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Nghệ An 24
1.3.4 Yếu tố ảnh hưởng của giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai 28
Trang 51.4 Một số nghiên cứu về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam 31
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 35
2.3 Nội dung nghiên cứu 35
2.4 Phương pháp nghiên cứu 36
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 36
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 36
2.4.3 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 37
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Khái quát về tình hình cơ bản của huyện Hưng Nguyên 39
3.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên của huyện Hưng Nguyên 39
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Hưng Nguyên 39
3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Hưng Nguyên năm 2019 40
3.1.4 Công tác quản lý đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên 41
3.2 Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên 44
3.2.1 Thực trạng khiếu nại tố cáo đất đai về đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên 44
3.2.2 Nguyên nhân dẫn đến khiếu nại, tố cáo về đất đai 59
3.2.3 Đánh giá hiện trạng đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo 65
3.4 Đánh giá chung về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An 70
3.4.1 Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên 70
3.4.2 Những khó khăn, tồn tại và nguyên nhân trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và nguyên nhân 76
Trang 63.5 Giải pháp tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến
đất đai của huyện Hưng Nguyên 79
1 Kết luận 82
2 Kiến nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 7Hội đồng nhân dân Hành vi hành chính Khiếu nại
Tố cáo Quyết định hành chính Quyền sử dụng đất Quản lý đất đai Tranh chấp đất đai Tiếp công dân
Uỷ ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Danh mục các văn bản pháp luật quy định về giải quyết khiếu nại, Bảng 1.2 Tổng hợp công tác tiếp dân trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn
năm 2017-2019 25
Bảng 3.1 Diện tích cơ cấu các loại đất ở huyện Hưng Nguyên năm 2019 40
Bảng 3.2 Tổng hợp các nguồn thu từ đất giai đoạn 2015 đến 2019 43
Bảng 3.3 Tình hình tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo về đất đai giai đoạn 2015 - 2019 45
Bảng 3.4 Tình hình tiếp nhận và phân loại đơn thư khiếu nại về đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện Hưng Nguyên giai đoạn 2015 – 2019 46
Bảng 3.5 Tình hình tiếp nhận và phân loại đơn thư khiếu nại về tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện Hưng Nguyên giai đoạn 2015 – 2019 48
Bảng 3.6 Đánh giá nguyên nhân dẫn đến khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên 64
Bảng 3.7 Thực trạng cán bộ liên quan đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của huyện Hưng Nguyên năm 2019 68
Bảng 3.8 Thái độ, mức độ hướng dẫn của cán bộ xử lý khiếu nại, tố cáo 69
Bảng 3.9 Thời gian giải quyết các khiếu nại tố cáo về đất đai 70
Bảng 3.10 Kết quả xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo về đất đai 71
Bảng 3.11 Kết quả giải quyết Đơn khiếu nại về đất đai 72
giai đoạn 2015-2019 72
Bảng 3.12 Kết quả giải quyết Đơn tố cáo về đất đai giai đoạn 2015 - 2019 74
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Khiếu nại, tố cáo là một là một trong những quyền cơ bản của công dân,
là công cụ pháp lý để công dân đấu tranh đối với các hành vi vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; đồng thời là hình thức dân chủ trực tiếp để công dân tham gia quản
lý nhà nước, quản lý xã hội
Nguyên nhân gia tăng số vụ việc khiếu nại, tố cáo và tính chất phức tạp của các vụ việc này là do chính sách pháp luật của chúng ta còn nhiều bất cập, chồng chéo, thiếu các quy định cụ thể; bản thân các cơ quan được giao nhiệm
vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng chưa hợp lý; những người làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng chưa được đào tạo nghiệp vụ chính quy, thường xuyên bị thay đổi, thiếu kinh nghiệm
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bộ máy quản lý nhà nước về đất đai, khiếu nại, tố cáo chưa thể hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu của người dân một cách tốt nhất Những hạn chế về năng lực, đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức và vận hành bộ máy nhà nước chưa có hiệu quả cao; đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn và sự hạn chế trong nhận thức của người dân đã làm cho khiếu nại, tố cáo nhất là khiếu nại, tố cáo về đất đai đã trở thành vấn đề mang tính thời sự Huyện Hưng Nguyên đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển do đó công tác thu hồi, bồi thường về đất trong thời gian qua diễn ra mạnh mẽ, mặt khác công tác quản lý nhà nước về đất đai, xây dựng đang được hoàn thiện chính vì vậy tình khiếu nại tố cáo liên quan đến đất đai có chiều hướng gia tăng, mặt khác từ trước đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, chi tiết liên quan đến khiếu nại tố cáo nói chung và khiếu nại
tố cáo về đất đai nói riêng trên địa bàn huyện Hưng Nguyên giúp cho cấp ủy, chính quyền địa phương tham khảo từ đó làm tốt công tác quản lý đất đai, giải
Trang 10quyết khiếu nại tố cáo góp phần xây dựng và phát triển huyện Hưng Nguyên trên tất cả các lĩnh vực
Từ thực trạng trên và nhằm từng bước tăng cường tốt công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo, đề tài “Đánh giá công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về
đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2019” được thực hiện là có ý nghĩa khoa học và thực tiễn hiện nay
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được thực trạng khiếu nại, tố cáo và kết quả giải quyết khiếu
tố về đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên
- Đánh giá được công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của huyện Hưng Nguyên theo ý kiến người dân và cán bộ chuyên môn
- Chỉ ra được khó khăn, tồn tại và giải pháp tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của huyện Hưng Nguyên
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về khiếu nại, tố cáo và pháp luật khiếu nại, tố cáo, những yêu cầu đặt ra của việc nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo theo con đường hành chính.Luận văn cũng góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn là một trong những tài liệu tham khảo cho các học viên các khóa khác
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đây sẽ là đề tài đầu tiên nghiên cứu về tình hình khiếu nại, tố cáo và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên Những giải pháp mà Luận văn đưa ra sẽ giúp các nhà lãnh đạo, những người đang được giao trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo tại các địa phương nói chung và huyện Hưng Nguyên nói riêng vận dụng để nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận các vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo
1.1.1 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai
*Khái niệm khiếu nại
Khái niệm về khiếu nại của Nhà nước Việt Nam được sử dụng lần đầu tiên tại Điều 2, Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký, trong đó quy định: “…Ban Thanh tra đặc biệt có toàn quyền: Nhận các đơn khiếu nại của nhân dân…” (Chính phủ, 1945) Khiếu nại của nhân dân ở đây là sự khiếu nại đối với chính quyền khi người khiếu nại cho rằng cán bộ, nhân viên nhà nước đang làm việc trong bộ máy chính quyền có những hành
vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quyền lợi của mình Thực chất, đó chính là
sự khiếu nại những hành vi nảy sinh trong bộ máy hành chính nhà nước, do những người làm trong các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện
Ngày nay, khái niệm về khiếu nại thường được sử dụng trong các văn
bản pháp luật quy định: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc
cán bộ, công chức theo thủ tục do pháp luật quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” (Khoản 1, Điều 2, Luật Khiếu nại 2011)
*Khái niệm khiếu nại đất đai
Khiếu nại về đất đai là việc các cơ quan, tổ chức, công dân đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính trong quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi đó là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình Quyết định hành chính bị khiếu nại trong quản lý đất đai bao gồm: quyết định giao
Trang 12đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư; quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất Hành vi hành chính trong quản lí đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ, công chức nhà nước khi thực hiện công việc liên quan đến các hoạt động nói trên
Trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, việc giải quyết khiếu nại nhằm đảm bảo mọi quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất và giữa những người sử dụng đất với nhau được thực hiện theo đúng chính sách, pháp luật đất đai Tại Khoản 2 Điều 264 Luật số 64/2010/QH12 Luật Tố tụng Hành chính đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII,
kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai về khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định hành chính,
hành vi hành chính về quản lý đất đai, trong đó quy định: “Người sử dụng đất
có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai” (Quốc hội, 2010)
*Giải quyết khiếu nại
Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được
áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể hành vi hành chính
là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong
cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công
vụ theo quy định của pháp luật (Khoản 8, Điều 2, Luật Khiếu nại 2011) Các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khiếu nại được quy định tại Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai quyết định hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại bao gồm: Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; Quyết định bồi thường, hỗ trợ, GPMB, tái định cư; Quyết
Trang 13định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ; Quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất (Chính phủ, 2004)
Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại theo quy định của pháp luật là hành vi của cán bộ công chức nhà nước khi thực hiện công việc liên quan trực tiếp đến các quyết định hành chính về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất; cấp và thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và hành vi gia hạn thời hạn
sử dụng đất cho người sử dụng đất (Khoản 9, Điều 2, Luật Khiếu nại 2011) Như vậy, các quyết định hành chính và hành vi hành chính nêu trên nếu bị khiếu nại sẽ được giải quyết theo quy định của Luật Đất đai Ngoài các trường hợp nêu trên, nếu các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản
lý đất đai mà bị khiếu nại thì việc giải quyết tuân thủ theo quy định của pháp luật khiếu nại
Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật (Khoản 6 và Khoản 11, Điều 2, Luật Khiếu nại 2011)
Như vậy, có thể hiểu, giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan
hành chính nhà nước là hoạt động kiểm tra, xác minh kết luận về tính hợp
pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và lợi ích chung của nhà nước và xã hội
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan hành chính nhà nước là nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước nhân danh Nhà nước tiến hành xem xét, đánh giá tính hợp pháp, hợp lý của các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý và
Trang 14sử dụng đất theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất
1.1.2 Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai
*Khái niệm tố cáo
Tố cáo được hiểu dưới góc độ pháp lý là việc công dân theo thủ tục do pháp luật quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (Khoản 1, Điều 2, Luật Tố cáo năm 2011)
Pháp luật hiện hành quy định, khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng đất gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì mọi công dân có quyền báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết để giải quyết theo quy định của pháp luật
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
*Tố cáo đất đai
Tố cáo về đất đai là sự phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những hành vi vi phạm pháp luật về quản lí và sử dụng đất của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân thuộc các đơn vị đó hoặc của những người khác, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể và lợi ích của người sử dụng đất
*Giải quyết tố cáo
Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành
Trang 15vi bị tố cáo Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo (Khoản 7, Điều 2, Luật Tố cáo năm 2011)
Điều 139 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật
về khiếu nại, tố cáo” (Chính phủ, 2003) Đây là một quy định mang tính dẫn chiếu, theo đó thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết tố cáo về đất đai sẽ thực hiện theo các quy định của Luật Tố cáo
Như vậy, có thể hiểu, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai là việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai
Giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước là việc kiểm tra, xác minh, kết luận về tính hợp pháp của hành vi bị tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, của các hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
1.1.3 Nội dung giải quyết khiếu nại, tố cáo
Phải đề ra yêu cầu giải quyết khiếu nại rõ ràng (nhân dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân) phải tiến hành những hoạt động gì và không tiến hành những hoạt động gì nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người khiếu nại, người bị khiếu nại, nạn nhân cũng như hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức Những biện pháp xử lý đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có lỗi trong việc ban hành quyết định hành chính và hành vi hành chính hoặc là đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý
Quyết định các biện pháp thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại (những biện pháp gì, ai thực hiện, thời gian thực hiện là bao lâu)
Trang 16Phải ghi rõ quyền được khiếu nại tiếp hoặc khiếu kiện theo quy định của pháp luật
1.1.4 Một số khái niệm liên quan đến đất đai và khiếu nại, tố cáo
1.1.4.1 Khái niệm về đất đai và Quản lý Nhà nước về đất đai
Trong quản lý Nhà nước về đất đai khẳng định: Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng
Quản lý là sự tác động, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt được mục tiêu đề ra, đúng ý chí của con người quản lý và bao gồm 5 yếu tố quản lý: xã hội, chính trị, tổ chức, quyền uy, thông tin
Quản lý Nhà nước về đất đai là nghiên cứu toàn bộ những đặc trưng có thể của đất đai nhằm nắm chắc về số lượng, chất lượng từng loại đất của từng vùng, từng địa phương theo đơn vị hành chính ở mỗi cấp Từ đó thống nhất về quy hoạch, kế hoạch sử dụng, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai
để xây dựng thành một hệ thống quản lý đồng bộ, thống nhất, tránh tình trạng phân tán đất, sử dụng đất không đúng mục đích hoặc để đất hoang, hoá, làm cho đất xấu đi
Như vậy, để quản lý tốt về đất đai thì ở mỗi chế độ chính trị khác nhau
và tại mỗi thời điểm khác nhau, Nhà nước cần có chính sách quản lý đất đai khác nhau Tuy vậy, mục đích cuối cùng là thâu tóm toàn bộ quyền lực của Nhà nước về quản lý tài nguyên đất, đề ra những quyết định quản lý, sử dụng
và tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra về đất đai Thông qua đất đai để điều chỉnh chi phối các hoạt động khác của xã hội
Điều 17 và Điều 18 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng
Trang 17đúng mục đích và có hiệu quả ” (Quốc hội, 1992) Điều 54 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: " Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý" (Quốc hội, 2013) Luật Đất đai 2003 cũng quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai” Điều này đã khẳng định tính chất quan trọng của đất đai; đồng thời là cơ sở pháp lý để Nhà nước thống nhất quản lý đất đai nhằm đưa chính sách quản lý
và sử dụng đất đúng đối tượng, đúng mục đích và có hiệu quả
Tại Khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai năm 2003 quy định 13 nội dung quản
lý nhà nước về đất đai bao gồm: Ban hành các văn bản QPPL về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó; Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng
sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; Quản lý quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất; Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích
sử dụng đất; Đăng ký QSDĐ, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận QSDĐ; Thống kê, kiểm kê đất đai; Quản lý tài chính về đất đai; Quản lý
và phát triển thị trường QSDĐ trong thị trường bất động sản; Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; Giải quyết KNTC các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai; Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai (Quốc hội, 2003) Ngoài 13 nội dung đã quy định trong Luật Đất đai năm 2003 thì tại Điều
22 Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2014) quy định bổ sung 02 nội dung quản lý nhà nước về đất đai đó là: Xây dựng hệ thống thông tin đất đai và phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai (Quốc hội, 2013)
1.1.4.2 Người sử dụng đất
Theo quy định của pháp luật đất đai, người sử dụng đất bao gồm: Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị
Trang 18xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất; Hộ gia đình, cá nhân trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền
sử dụng đất; Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất; Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu
tư, hoạt động văn hoá, hoạt động khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn định tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam giao đất, cho thuê đất, được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở; Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất (Điều 9, Luật Đất đai 2003)
1.1.3.3 Về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, giải phóng mặt bằng
- Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại QSDĐ hoặc thu lại đất đã được giao cho tổ chức, UBND xã, thị trấn, thị trấn quản lý theo quy định của pháp luật (Khoản 5, Điều 4, Luật Đất đai 2003)
- Giải phóng mặt bằng: Khi Nhà nước cần thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích Quốc gia, lợi ích công cộng và phát
Trang 19triển kinh tế thì sẽ Tiến hành các bước theo đúng qui định của pháp luật nhằm mục đích lấy được mặt bằng khu đất cần sử dụng cho các mục đích trên gọi là giải phóng mặt bằng
- Bồi thường: "Bồi thường" hay "Đền bù" (hiểu theo quy định của pháp luật cũ) có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì mọi hành vi của chủ thể khác Việc bồi thường thiệt hại này có thể vô hình (xin lỗi) hoặc hữu hình (bồi thường bằng tiền hoặc bằng vật chất khác) theo đúng qui định của pháp luật hoặc do thoả thuận của các chủ thể
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị QSDĐ đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (Khoản 6, Điều
4, Luật Đất đai 2003)
- Hỗ trợ: Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua việc đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới, ổn định đời sống, ổn định sản xuất (Khoản 7, Điều 4, Luật Đất đai 2003)
- Bố trí tái định cư: Người bị thu hồi đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị QSDĐ tại thời điểm có quyết định thu hồi Đối với các dự án tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở và tiến hành phân lô theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt để bố trí lại cho các hộ giải phóng mặt bằng sau khi đã thi công hạ tầng cơ sở thì được gọi là tái định
cư tại chỗ Việc bố trí lại đất tái định cư tại nơi ở mới phải có điều kiện sinh hoạt tốt hơn hoặc bằng nơi cũ (Chính phủ, 2004)
Giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế là những hành vi được qui định tại Hiến pháp năm 1992, mục 4 chương II Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 201.1.3.4 Giá đất
Luật Đất đai năm 1993, lần đầu tiên khái niệm giá đất chính thức được quy định ở Việt Nam: “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển QSDĐ, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng và theo từng thời gian” (Quốc hội nước CHXHCNVN, 1993)
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì giá QSDĐ (sau đây gọi là giá đất) là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về QSDĐ Giá trị QSDĐ là giá trị bằng tiền của QSDĐ đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2003)
Một số nước trên thế giới có hai loại giá đất: giá đất do Nhà nước quy định và giá đất hình thành trên thị trường Giá đất do Nhà nước quy định trên
cơ sở giá đất thị trường nhằm phục vụ mục đích của Nhà nước Giá đất thị trường được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa bên sở hữu đất và các bên
có liên quan Cả hai loại giá đất có mối quan hệ mật thiết và chi phối lẫn nhau, trong đó giá đất do Nhà nước quy định là cố định trong một khoảng thời gian xác định, còn giá đất thị trường luôn biến đổi
Giá đất được hình thành bởi sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau của ba mặt là hiệu quả, tính khan hiếm tương đối và yêu cầu hữu hiệu, mà những nhân tố này lại luôn luôn ở thế biến động Các nguyên tắc cơ bản trong định giá đất là những nguyên tắc kinh tế, chúng có liên quan mật thiết tới học thuyết kinh tế và có ảnh hưởng trực tiếp đến quan niệm giá thị trường Những nguyên tắc này rất ít khi được xem xét một cách riêng rẽ mà người ta thường
sử dụng các nguyên tắc này trong mối liên quan chặt chẽ với nhau, bởi vì chúng luôn đi với nhau và bổ sung cho nhau
1.1.3.5 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trang 21Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2003)
Tại Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ đã quy định bổ sung về chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và được gọi chung là: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Chính phủ, 2009)
Theo quy định của pháp luật, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành thống nhất một mẫu chung trong cả nước
1.2 Cơ sở thực tiễn về giải quyết khiếu nại, tố cáo ở một số nước trên thế giới
Theo một số tài liệu thì ở nhiều nước trên thế giới, mặc dù việc giải quyết các KNTC hành chính đã có từ lâu và hiện nay đã đi vào nề nếp, song ngoài việc xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì nhiều nước vẫn duy trì và coi trọng việc giải quyết KNTC của cơ quan hành chính Một số nước còn coi việc giải quyết khiếu nại qua cấp hành chính là thủ tục bắt buộc trước khi người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án hành chính hoặc tòa án tư pháp Đa số các nước vẫn cho phép công dân có quyền lựa chọn khiếu nại đến cơ quan hành chính (cơ quan đã ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính) để thực hiện việc khiếu nại Điểm đáng lưu ý là hầu hết các nước đều xác định khiếu nại hành chính dù đã được giải quyết bởi cơ quan hành chính hoặc cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu nại hành chính thì đương sự vẫn có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa
án Xem xét cách tổ chức thực hiện hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính một số nước trên thế giới để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này
1.2.1 Mỹ
Mỹ là nhà nước liên bang, việc tổ chức thực hiện hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính cũng có những nét đặc thù so với các quốc gia khác Việc tổ chức các cơ quan giải quyết khiếu kiện hành chính ở Mỹ chia làm ba loại:
Trang 22Loại thứ nhất là cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính độc lập (hay còn gọi là cơ quan Tài phán hành chính) hiện nay có 26 trên tổng số 53 bang của Mỹ
Loại thứ hai là cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính được tổ chức trong chính cơ quan hành chính nhưng chuyên trách hóa, tức là những người trong cơ quan này chỉ có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết khiếu nại đối với các quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý của cơ quan mình Trong trường hợp bị từ chối thì đương sự có thể gửi đơn đến Tòa án tư pháp để giải quyết khiếu kiện
Loại thứ ba là trong một số lĩnh vực quản lý không có cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu nại hành chính mà chỉ có một bộ phận chịu trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại trong ngành và lĩnh vực đó (điển hình là Hải quan) Trên thực tế 90% vụ việc đương sự chọn con đường khiếu nại hành chính vì vụ việc sẽ được giải quyết nhanh hơn, đồng thời đỡ tốn kém hơn nếu khiếu kiện ra Tòa án Ngoài ra, ở Mỹ còn có cơ quan độc lập chuyên giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật công chức
Pháp luật Mỹ quy định trường hợp hành chính đã được cơ quan hành chính hoặc cơ quan tài phán hành chính giải quyết mà đương sự vẫn tiếp tục khiếu kiện tới Tòa án thì Tòa án không xem xét lại nội dung sự việc mà chỉ xem xét việc áp dụng pháp luật của cơ quan hành chính hoặc cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu nại hành chính trong quá trình giải quyết trước đó (Đinh Văn Minh, 2010)
1.2.2 Trung Quốc
Trung Quốc là nước thành lập hệ thống Tòa hành chính từ những năm
1990 Luật tố tụng hành chính Trung Quốc có những điều khoản liên quan đến khiếu nại hành chính Khiếu nại hành chính không phải là một trình tự bắt buộc Người khiếu nại không buộc phải khiếu nại tới cơ quan hành chính trước khi khởi kiện ra toà án Tuy nhiên, nếu luật hoặc văn bản pháp quy có quy định thì nó trở thành điều kiện bắt buộc Cơ quan hành chính phải giải
Trang 23quyết khiếu nại trong thời gian hai tháng kề từ ngày nhận được khiếu nại Trường hợp không có sự thống nhất quá trình khiếu nại hành chính, người khiếu nại có thể kiện ra Toà án hành chính trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được thống báo trả lời của cơ quan hành chính (Đinh Văn Minh, 2009)
1.2.3 Pháp và Đức
Việc giải quyết khiếu nại hành chính ở Pháp và Đức được giao cho một
cơ quan xét xử đặc biệt là các toà án hành chính độc lập hoàn toàn với các toà
án tư pháp Pháp là nước có lịch sử hơn 200 năm về tổ chức, thực hiện hoạt động tài phán hành chính; Đức có Tòa án hành chính từ nửa sau thế kỷ 19 Đến nay, cả hai nước này đều có hệ thống cơ quan tài phán hành chính được
tổ chức và hoạt động rất chặt chẽ, song việc giải quyết khiếu nại hành chính vẫn được coi trọng Nguyên nhân là do các nước này quan niệm rằng Tòa án hành chính chỉ giải quyết tính hợp pháp của các quyết định hành chính mà không thể giải quyết được các vấn đề phức tạp phát sinh trong quá trình quản lý,
điều hành kinh tế xã hội như các cơ quan hành chính (Đinh Văn Minh, 2009)
1.3 Các quy định và tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam
1.3.1 Định hướng và các văn bản pháp luật quy định giải quyết khiếu nại,
và chính quyền trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
Trang 24Đứng trước tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trong một vài năm gần đây không ngừng gia tăng và diễn biến phức tạp, điển hình như một số vụ việc: vụ việc khiếu nại của một số công dân tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên liên quan đến dự án Khu đô thị, thương mại - du lịch Văn Giang; vụ việc cưỡng chế thu hồi đất ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng (Thanh tra chính phủ 2013), Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã tập trung chỉ đạo và ban hành thêm nhiều văn bản để giải quyết khiếu nại, tố cáo như: Nghị quyết Trung ương 3 khoá VIII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá
IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đều có nội dung nhấn mạnh về công tác xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai; Thông báo Kết luận số 130/TB-TW ngày 10/01/2009 của Bộ Chính trị về tình hình kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo từ năm 2006 và giải pháp trong thời gian tới (Bộ Chính trị, 2009); Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời
kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trong đó nhấn mạnh: Các cơ quan có thẩm quyền phải tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm các KNTC về đất đai theo đúng quy định của pháp luật về KNTC, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự; công bố công khai kết quả giải quyết (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2012);
Ngày 23/11/2012, tại kỳ họp lần thứ 4, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Nghị quyết số 39/2012/QH13 về việc tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật trong giải quyết KNTC của công dân đối với các quyết định hành chính về đất đai đã chỉ rõ: “Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước theo thẩm quyền chủ động xem xét từng vụ việc khiếu nại, tố cáo về đất đai trong phạm vi quản lý để giải quyết kịp thời, dứt điểm, công bố công khai kết quả giải quyết, không để khiếu kiện vượt cấp, diễn biến phức
Trang 25tạp, khiếu kiện đông người; chịu trách nhiệm về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ” (Quốc hội nước CHXHCNVN năm 2012)
Năm 2012, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 14/5/2012 về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC và nhiều văn bản khác để chỉ đạo công tác giải quyết KNTC, trong đó tập trung vào các nội dung: Chấn chỉnh, xử lý những tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về đất đai (như công tác quy hoạch sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, cấp giấy chứng nhận QSDĐ ); giải quyết kịp thời những vụ việc KNTC về đất đai ngay từ khi mới phát sinh, không để trở thành “điểm nóng”, gây phức tạp về an ninh, trật tự; tăng cường thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của Chủ tịch UBND các cấp trong công tác giải quyết KNTC, tập trung vào những địa bàn trọng điểm thường xảy ra các vụ việc KNTC đông người, phức tạp nhằm ổn định tình hình chính trị - xã hội (Chính phủ, 2012)
Có thể nói khiếu nại, tố cáo về đất đai đang là một thách thức đối với Đảng, các cơ quan nhà nước hành chính nhà nước có thẩm quyền và toàn thể
xã hội Việc giải quyết dứt điểm, có hiệu quả vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc duy trì sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong cả nước và ở từng địa phương Việc giải quyết KNTC trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước cần phải đổi mới, thường xuyên tiếp nhận các thông tin phản hồi từ các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để điều chỉnh công tác quản lý nhà nước về đất đai (về thể chế, bộ máy tổ chức…), quan tâm, chú trọng đến lợi ích chính đáng, thiết thực của người dân trong giải quyết KNTC nhằm đảm bảo công bằng xã hội, góp phần ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội là vấn đề hết sức cấp bách hiện nay đối với Đảng và Nhà nước ta
1.3.1.2 Các văn bản pháp luật của Nhà nước quy định về việc giải quyết khiếu nại tố cáo
Trang 26Trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước, trình tự, thủ tục giải quyết KNTC Các văn bản pháp luật được ban hành qua các thời kỳ mặc dù có một số quy định chưa thực sự hợp lý, nhưng nhìn chung đã thể hiện rõ sự phù hợp với thực tiễn của từng giai đoạn, thể hiện sự thay đổi về cơ chế chính sách ngày càng minh bạch, có lợi hơn cho người dân Các văn bản pháp luật được ban hành sau khắc phục được những mâu thuẫn, bất cập chồng chéo của các văn bản đã ban hành trước đó
Các văn bản về giải quyết khiếu nại, tố cáo do Nhà nước ban hành trong giai đoạn từ 01/01/2009 đến 31/12/2013 được thể hiện tại Bảng 1.1 Qua đó
có thể thấy hệ thống pháp luật quy định về giải quyết KNTC còn chưa đồng
bộ, nhiều vấn đề mâu thuẫn, chưa thống nhất giữa các văn bản trong hệ thống pháp luật nước ta về giải quyết khiếu nại, tố cáo
Luật Khiếu nại, tố cáo trước đây (Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 được sửa đổi và bổ sung năm 2004, 2005, hiện nay đã hết hiệu lực thi hành) có các quy định không thống nhất với Luật Đất đai năm 2003 như: quy định về trình
tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về đất đai; quy định về việc khởi kiện vụ việc khiếu nại đến Tòa án trong Luật Đất đai năm 2003 làm hạn chế quyền khởi kiện của người khiếu nại hơn so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998; sự khác nhau giữa các quy định về thời hạn, thời hiệu Đây là những mâu thuẫn giữa Luật Khiếu nại, tố cáo và Luật Đất đai năm 2003 gây khó khăn trong việc áp dụng để giải quyết KNTC
Luật Đất đai năm 2003 ra đời vào thời điểm Luật Khiếu nại, tố cáo năm
1998 chưa được sửa đổi, bổ sung Ngay từ khi mới ra đời, dù có một số quy định về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai mâu thuẫn với quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 nhưng vẫn còn có thể “chấp nhận được” Tuy nhiên, sau khi sửa đổi Luật Khiếu nại, tố cáo (vào các năm 2004 và 2005), nhiều quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về đất đai trong
Trang 27Luật Đất đai đã trở thành lạc hậu, đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung Nội dung đầu tiên cần phải sửa đổi là quy định liên quan đến “quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng” Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005 đã bãi bỏ Khoản 15 Điều 2 Luật Khiếu nại,
tố cáo 1998 về việc giải thích rằng: Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng
là quyết định có hiệu lực thi hành và người khiếu nại không được quyền khiếu nại tiếp Ở lần sửa đổi này, cụm từ “quyết định này là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng” tại đoạn 2 Điều 54 của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005 cũng được thay bằng cụm từ “quyết định này là quyết định có hiệu lực thi hành” Như vậy, trong giải quyết khiếu nại hiện nay không còn tồn tại khái niệm “giải quyết khiếu nại cuối cùng”
Sau đó, Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo năm 2011 ra đời đã quy định thống nhất hơn, tiếp đến Luật Đất đai số 45/2013/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2013 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014), trong
đó quy định về quản lý, sử dụng đất và tại Chương XIII, Mục 2, Điều 204, Điều 205 quy định về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện và tố cáo về đất đai, phần nào đó đã khắc phục những mâu thuẫn nêu trên
Theo quy định của pháp luật, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành thống nhất một mẫu chung trong cả nước
Bảng 1.1 Danh mục các văn bản pháp luật quy định về giải quyết khiếu
I Một số Luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo
Trang 28Luật Tố cáo: quy định về tố cáo và giải quyết
tố cáo đối với hành vi VPPL của cán bộ công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ và đối với hành vi VPPL của cơ quan,
tổ chức, cá nhân về quản lý nhà nước trong
Trang 29các lĩnh vực Đang có hiệu lực thi hành
II Một số Nghị định về giải quyết khiếu nại, tố cáo
Về thi hành Luật Đất đai, trong đó Chương XII quy định về giải quyết khiếu nại về đất đai Có hiệu lực thi hành đến hết ngày 30/6/2014
Quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, thu hồi đất, thực hiện QSDĐ, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Chương VI bổ sung một số quy định đối với giải quyết khiếu nại về đất đai Có hiệu lực thi hành đến hết ngày 30/6/2014
Quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại: quy định cụ thể về nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung, công khai và thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, quy định
về tiếp công dân Đang có hiệu lực thi hành
Quy định chi tiết một số điều của Luật Tố cáo: quy định về trường hợp nhiều người cùng tố cáo về một nội dung, công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm
bị tố cáo, bảo vệ người tố cáo và chế độ khen thưởng đối với người có thành tích trong tố cáo Đang có hiệu lực thi hành
(Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2019)
Trang 30Trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp này chỉ nghiên cứu, đánh giá thực trạng, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015-2019 (giai đoạn Luật Đất đai 2003 đang còn hiệu lực thi hành, trong khi đó Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014) Vì vậy những nội dung liên quan đến khiếu nại,
tố cáo quy định trong Luật Đất đai 2013 được tham chiếu trong việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên, tỉnh Hưng Nguyên
Quyết định giải quyết khiếu nại phải giải quyết tất các yêu cầu được đặt
ra trong giải quyết khiếu nại, yêu cầu nào được chấp nhận và không được chấp nhận, nếu có liên quan đến cơ quan hoặc người có thẩm quyền phải chỉ
rõ trong quyết định khiếu nại
1.3.2 Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam
Tình hình khiếu nại, tố cáo diễn biến phức tạp và bức xúc ở nhiều nơi, có lúc, có nơi đặc biệt phức tạp, gay gắt, biểu hiện rõ nhất là: Số đoàn đông người tăng mạnh, thái độ khiếu kiện thiếu kiềm chế, khiếu nại, tố cáo vượt cấp lên Trung ương gia tăng; tình trạng đơn thử gửi tràn lan mang tính chất phổ biến, nhất là trong các dịp có sự kiện chính trị (họp Trung ương, họp Quốc hội, Bầu cử Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân, Đại hội Đảng …)
Có nhiều vụ việc phát sinh từ những năm trước, đã được các cấp chính quyền xem xét, giải quyết nhưng công dân vẫn không nhất trí tiếp tục khiếu kiện kéo dài, nhất là các vụ việc khiếu nại về thu hồi đất để thực hiện dự án tại các địa phương như TP Hà Nội, tỉnh Hưng Yên, Hà Nam, Hải Dương, Đắk Lắk, Đắk Nông, Thanh Hóa, An Giang, Tiền Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai…, các vụ việc đòi lại đất cũ, tranh chấp đất đai trong nội bộ nhân dân tại các địa phương như: Long An, Bến Tre, Tây Ninh, Bình Dương, TP Hồ Chí Minh
Có hiện tượng những người, nhóm người khiếu nại "liên kết" với nhau
để khiếu nại đông người nhằm tạo thêm sức ép lên các cơ quan Đảng và Nhà
Trang 31nước Đáng chú ý là trong một số trường hợp có sự xúi giục, kích động của các thế lực thù địch nhằm lôi kéo những người khi khiếu nại liên kết đông người có những hành vi quá khích, gây rối Tình hình khiếu nại, tố cáo nêu trên đã ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và tiềm ẩn những nguy cơ làm mất ổn định chính trị - xã hội tại một số địa phương trong một số thời điểm Trong một số trường hợp đã xuất hiện những mâu thuẫn phát sinh giữa người dân với chính quyền, giữa người dân với nhà đầu tư Trong nhiều dự án, do tác động của tình hình khiếu nại, tố cáo nên đã làm cho dự án bị chậm triển khai, kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế xã hội Một số vụ việc khiếu kiện người dân thể hiện thái độ sẵn sàng đối đầu, bất phục tùng chính quyền, thậm chí hăm dọa cán bộ có trách nhiệm Điều đáng lo ngại là tình hình khiếu nại, tố cáo đã tác động tiêu cực vào tâm lý, hành động của cán
bộ, vào đời sống xã hội và niềm tin của một bộ phận không nhỏ nhân dân, cán
bộ đối với chính quyền, đòi hỏi phải được quan tâm chỉ đạo quyết liệt Nội dung khiếu nại của công dân tập trung chủ yếu liên quan đến đất đai (chiếm trên 71%) (Thanh tra Chính Phủ, 2018)
Các cơ quan hành chính nhà nước đã giải quyết 36.750/42.783 vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, trách nhiệm được giao, đạt tỷ lệ trên 85,9%: Theo báo cáo tóm tắt tổng kết công tác năm 2017 và phương hướng nhiệm vụ năm 2018 của Thanh tra Chính phủ: Cơ quan hành chính nhà nước các cấp đã tiếp 394.224 lượt công dân với 271.249 vụ việc (giảm 15% so với năm 2017), có 4.475 đoàn đông người; xử lý 177.709 đơn đủ điều kiện; giải quyết 23.573 vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thấm quyền (đạt 83,7%) Thông qua giải quyết khiếu nại, tô cáo đã kiến nghị thu hồi cho nhà nước và trả lại cho công dân 2.968 tỷ đồng, 100 ha đất; trả lại quyển lợi cho 1.505 người, kiến nghị xử lý hành chính 469 người, chuyển cơ quan điều tra 06 vụ, 08 đối tượng Tiếp tục kiểm tra, rà soát, giải quyết 531 vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, phức tạp theo Kế hoạch 2100; có 449 vụ việc đủ điều kiện ban hành
Trang 32thông báo châm dứt thụ lý (84,6%), đã ban hành 269 thông báo chấm dứt Hiện có 13 địa phương báo cáo không còn vụ việc phức tạp, kéo dài
1.3.3 Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019, trên địa bàn tỉnh Nghệ An nội dung khiếu kiện chủ yếu vẫn tập trung vào một số lĩnh vực, như: công tác thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, tài định cư, công tác quản lý đất đai, nhà ở, xây dựng, giao đất, giao rừng, kiến nghị về chính sách xây dựng cải tạo lại Chợ truyền thống, việc bố trí sắp xếp các điểm kinh doanh, ngành hàng tại các Chợ, phí thuê điểm kinh doanh tại Chợ, công tác quản lý, khai thác Bãi triều, vấn đề ô nhiễm môi trường, hoạt động khai thác khoáng sản, Nội dung đơn tố cáo tập trung vào các lĩnh vực, như: tố cáo hành vi làm trái của cán bộ khi thi hành công vụ trong lĩnh vực quản lý đất đai, tài chính, ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản, thực hiện chính sách xã hội của cán bộ làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, các hành vi làm trái của cán bộ tham gia ứng cử, bầu cử vào Hội đồng nhân dân các cấp Giai đoạn này, cùng với việc tổ chức thực hiện Luật khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành, Chỉ thị số 09/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Thông báo số 130-TB/TW của Bộ Chính trị, Thông báo số 321/TB-VPCP của Văn phòng Chính Phủ, Chỉ thị số 14/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các Chỉ thị của Tỉnh uỷ UBND tỉnh đã thường xuyên chỉ đạo Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố tập trung giải quyết dứt điểm các
vụ việc khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, tồn đọng, kéo dài trên địa bàn; khẩn trương, nghiêm túc tổ chức thực hiện các ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, Tỉnh
ủy, UBND tỉnh về giải quyết khiếu nại, tố cáo Do đó số vụ việc công dân khiếu kiện vượt cấp lên Trung ương giảm; cơ bản những vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài từ nhiều năm đã được giải quyết dứt điểm, tạo được
Trang 33sự đồng thuận cao trong quần chúng nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo tiếp tục được các cấp, các ngành trong tỉnh quan tâm, triển khai thực hiện theo đúng quy định của Luật Khiếu nại, Luật tố cáo, Luật tiếp công dân và các văn bản hướng dẫn thi hành Theo các Biểu tổng hợp về công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại,
tố cáo trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2017-2019 thì từ năm 2017-2019, các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp trong tỉnh đã tiếp 21473 lượt công dân, với 15658 vụ việc; có 748 lượt đoàn đông người, với 509 vụ việc công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Tổng hợp công tác tiếp dân trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo hàng năm của Thanh tra tỉnh)
Trong năm 2019 có tổng số đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh, tranh chấp đất đai là chiếm 84% cụ thê 5155 đơn (tăng 3,1% so với 2018) Nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo là do trong thời gian gần đây, khi chính quyền các cấp tiến hành thu hồi nhiều đất của dân để giao cho các nhà đầu tư thực hiện các dự án xây dựng khu đô thị, thương mại, dịch vụ nhưng vấn đề chính sách liên quan đến lợi ích của người sử dụng đất còn nhiều bất cập, giá đất chưa phù hợp, thường xuyên thay đổi; cơ chế đền bù, hỗ trợ chưa nhất quán nên khó thực hiện
Hiện nay, chính sách bồi thường vẫn thực hiện theo 2 cơ chế: Nhà nước thu hồi đất và thỏa thuận bồi thường nên có chênh lệch với giá trị bồi thường tại các khu vực tương đương, dẫn tới sự chênh lệch quá lớn giữa giá đất bồi
Trang 34thường so với giá thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế, gây tâm lý so sánh cho người khiếu kiện
Mặt khác công tác quản lý đất đai ở một số địa phương còn nhiều hạn chế ở các mặt như: việc thu hồi, định giá, kiểm đếm, kiểm kê tài sản trên đất, xác định diện tích, loại đất, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư có lúc, có nơi làm chưa tốt, dẫn đến công dân không chấp nhận, phát sinh khiếu nại đòi quyền lợi; Thứ hai, việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn xảy ra sai sót, không theo quy hoạch
và quy định của pháp luật Nhiều dự án thu hồi đất của dân rồi để hoang hóa; khả năng sử dụng đất ít nhưng thu hồi với diện tích lớn gây lãng phí đất đai khiến công dân bức xúc đòi lại đất…
Sự bất cập của hệ thống chính sách pháp luật về đất đai: Từ sau khi pháp luật đất đai có đầy đủ các quyền, việc nắm bắt kịp thời các quy định pháp luật của cán bộ và người dân còn hạn chế, việc hiểu các quy định pháp luật cũng không đầy đủ và quan niệm về chế độ sở hữu tư nhân về đất đai trong nhân nhân dân vẫn còn tồn tại Việc ban hành văn bản pháp luật về đất đai theo từng giai đoạn lịch sử, phát triển của đất nước nên thiếu đồng bộ và còn chồng chéo, thiếu công bằng, người hưởng chính sách sau được hưởng lợi hơn người hưởng chính sách trước (có một số do chây ì, không chấp hành pháp luật được lợi hơn người chấp hành nghiêm pháp luật), từ đó dẫn đến so
bì, khiếu kiện
Công tác giải phóng mặt bằng có nhiều bất cập: Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người sử dụng đất đã được pháp luật công nhận, dẫn tới nhấn mạnh quyền thu hồi đất của Nhà nước, nhấn mạnh việc tạo vốn từ quỹ đất mà chưa quan tâm đầy đủ lợi ích chính đáng của người sử dụng đất, đặc biệt trong việc định giá đất bồi thường, xử lý mối tương quan giữa giá đất thu hồi với giá đất tái định cư (thu hồi theo giá Nhà nước quy định quá thấp, giao đất tái định cư lại theo gần sát giá thị trường) Chưa giải quyết tốt mối quan
Trang 35hệ giữa lợi ích của xã hội với lợi ích của những người có đất bị thu hồi, thường chỉ nhấn mạnh đến tính cấp thiết của việc giải phóng mặt bằng để có được dự án, chưa chú ý những vấn đề xã hội nảy sinh sau khi thu hồi đất, dẫn tới không bảo đảm điều kiện tái định cư, không có phương án tích cực về giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi, nhất là đối với nông dân không còn hoặc ít đất sản xuất hoặc những người không còn việc làm như nơi ở cũ Vẫn còn tình trạng không chấp hành đúng các quy định của Nhà nước về trình
tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Quỹ đất tái định cư còn khó khăn, đặc biệt đối với khu vực đô thị lớn như thành phố Vinh Cơ chế chính sách của Luật Đất đai 2003 còn nhiều bất cập chậm được điều chỉnh, đặc biệt là chính sách hỗ trợ đất nông nghiệp trong khu dân cư, tiếp giáp khu dân cư và đất nông nghiệp trong phạm vi địa giới hành chính xã, đây là chính sách bất cập nhất khó áp dụng vào thực tế, gây nhiều bức xúc cho nhân dân, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chậm tiến độ đối với thu hồi đất nông nghiệp Theo Luật 2003 cách thức để nhà đầu tư có đất để thực hiện dự án được phân thành hai trường hợp, một là theo quy trình Nhà nước thu hồi đất hai là cơ chế chuyển đổi đất đai tự nguyện trên cơ sở nhà đầu tư thương thảo với người sử dụng đất để nhận quyền sử dụng đất thông qua chuyển nhượng, thuê hoặc góp vốn dẫn sự khác biệt rất lớn về quyền lợi được hưởng của người dân đặc biệt khi các dự án gần nhau gây nên sự so sánh, khiếu nại và không đồng tình của người dân
Các biện pháp chế tài để triển khai thực hiện các kết luận, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật chưa đủ mạnh, làm cho kết luận, quyết định giải quyết chưa được thực hiện nghiêm
Các cơ quan chức năng của Nghệ An dự báo tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai tiếp tục diễn biến phức tạp và tập trung chủ yếu ở lĩnh vực bồi thường, giải phóng mặt bằng tại các địa bàn thu hồi nhiều đất của dân để thực hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội
Trang 36Vì vậy, bên cạnh việc tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho cán bộ, nhân dân (nhất là khu vực xã, thị trấn, thị trấn) Các cấp chính quyền, ngành chức năng cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý đất đai nhằm hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo, nhất là ở cấp cơ sở; đẩy mạnh thanh, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Bên cạnh đó, kiên quyết thu hồi đất đã giao, đã cho thuê, nhưng không đúng đối tượng, không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả, sai mục đích
1.3.4 Yếu tố ảnh hưởng của giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai
*Sự hoàn thiện pháp luật
Luật đất đai 2013 đã có nhiều sự thay đổi lớn so với các quy định trước đây trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, đồng thời hàng năm đều có những thay đổi, chỉnh sửa và bổ sung như: trong công tác quy hoạch, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, công tác cấp giấy chứng nhận…nên dẫn đến những lúng túng, khó cập nhật cho cả người làm công tác quản lý cũng như người sử dụng đất
Vì vậy, hệ thống pháp luật về quản lý đất đai nói chung, đất đai nói riêng, về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đồng bộ, thống nhất, đầy đủ sẽ là điều kiện tiên quyết, thuận lợi, quyết định hiệu quả của hoạt động giải quyết khiếu nại về đất đai
* Sự phát triển kinh tế và giá trị của đất đai
Nhằm thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà nước cần phải thu hồi đất của những người đang sử dụng để mở rộng, xây dựng công trình công cộng Thiết nghĩ việc thu hồi đất là cần thiết, nhưng có nhiều dự án lợi dụng mục đích công cộng để thu hồi đất của dân Cùng với việc thu hồi đất
là vấn đề đền bù, giải phóng mặt bằng Khung giá để đền bù hiện nay so với giá thực tế là rất thấp Với mức giá đền bù quá thấp so với giá thực tế như vậy người dân không đủ điều kiện để tái lập cuộc sống như lúc chưa đền bù giải phóng mặt bằng, chưa nói gì đến việc họ có cuộc sống tốt hơn Vì vậy, yếu tố
Trang 37giá đất quá thấp để áp cho giá đền bù là nguyên nhân cơ bản dẫn đến khiếu nại, tố cáo của người dân về phương án đền bù thiệt hại và kéo theo đó làm chậm tiến đọ triển khai các công trình
*Năng lực và ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai
Đất đai là một vấn đề phức tạp, đã và đang phát sinh nhiều khiếu nại, tố cáo đất đai, nhưng tổ chức và cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai thiếu
ổn định, còn nhiều bất cập so với yêu cầu thực tế Đặc biệt, tình trạng đơn thư,
vụ việc từ khiếu nại không thành chuyển sang tố cáo cán bộ giải quyết
Giải quyết một vụ khiếu nại, tố cáo đất đai đòi hỏi phải có các bước điều tra, nghiên cứu, kết luận và thi hành kết luận (tương tự như một vụ án hành chính hoặc vụ án dân sự), do đó cần một đội ngũ những người am hiểu pháp luật, có nghiệp vụ chuyên sâu và làm việc chuyên trách Khiếu nại, tố cáo đất đai về đất đai hiện nay chủ yếu nảy sinh ở cấp huyện nhưng bộ máy thụ lý ở cấp này lại không tương ứng Chủ tịch UBND các cấp là người chủ trì, chịu trách nhiệm chính về quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai, nhưng lại phải lo mọi việc của địa phương nên khó có điều kiện chuyên tâm việc này Nguồn nhân lực làm công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai vừa thiếu vừa yếu, tình trạng này tồn tại ở cả cấp trung ương và địa phương Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai chậm chạp, thiếu dứt điểm, chất lượng thấp, tái khiếu kiện nhiều
Ngoài ra, khi phát sinh khiếu nại, tố cáo đất đai, người có thẩm quyền đã không tập trung chỉ đạo giải quyết kịp thời, thậm chí né tránh, đùn đẩy Nhiều
vụ việc đã có quyết định giải quyết cuối cùng nhưng việc tổ chức thi hành quyết định không nghiêm, cơ quan ra quyết định thiếu kiểm tra, đôn đốc kịp thời để giải quyết dứt điểm; một số vụ việc đã có kết luận hoặc quyết định giải quyết nhưng không có tính khả thi trong tổ chức thi hành dẫn tới phát sinh những khiếu nại, tố cáo đất đai mới phức tạp hơn
Trang 38Một số địa phương sau khi ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai cuối cùng cho rằng đã hết trách nhiệm, nhiều trường hợp quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai cuối cùng có sai sót không được sửa đổi, bổ sung Do đó gây tâm lý ngờ vực về chính quyền địa phương giải quyết không đúng chính sách pháp luật và người dân tiếp tục khiếu nại, tố cáo đất đai
Như vậy, có thể thấy rằng, năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai hạn chế, yếu kém, thiếu tinh thần trách nhiệm, không khách quan thì khó có thể phân tích đúng tình huống pháp luật, khó có thể lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp áp dụng cho tình huống pháp luật đó, vì thế hiệu lực, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai sẽ thấp
* Nhận thức của người dân
Nhìn chung việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại nói chung và giải quyết khiếu nại về đất đai đều phụ thuộc vào trình độ dân trí, ý thức pháp luật của người dân
Trình độ dân trí, ý thức pháp luật của người dân cao sẽ giúp cho người dân nhận thức được các quy định của pháp luật, thấy được các quyết định hành chính, hành vi hành chính có đúng pháp luật hay không từ đó quyết định
có sử dụng quyền khiếu nại hay không Khi cần sử dụng đến quyền khiếu nại,
họ sẽ thực hiện đúng quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại và trình tự thủ tục khiếu nại
Trình độ dân trí, hiểu biết pháp luật hạn chế là một trong những trở ngại lớn để người dân thực hiện quyền khiếu nại của mình.Thậm chí khi có khiếu nại và được cơ quan có thẩm quyền giải quyết đúng quy định của pháp luật rồi nhưng họ vẫn cho rằng giải quyết như vậy là không đúng và tiếp tục khiếu nại lần hai Điều này gây mất thời gian, công sức của cơ quan nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại của họ, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại
Trang 39* Các yếu tố khác
Ngoài ra, còn có một số yếu tố khác tác động tới giải quyết khiếu nại về đất đai như: mức độ giám sát của các cơ quan dân cử và toàn xã hội đối với hoạt động giải quyết khiếu nại, mức độ công khai, dân chủ trong giải quyết khiếu nại, tài chính; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác giải quyết khiếu nại; việc ứng dụng công nghệ thông tin…
Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân Mọi hoạt động của nhà nước đều nằm dưới sự giám sát của nhân dân Hoạt động giải quyết khiếu nại
là hoạt động khó khăn, phức tạp, do vậy cần phải huy động sự tham gia của cả
hệ thống chính trị và toàn xã hội Thực tiễn cũng cho thấy, nơi nào và ở đâu phát huy được vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, các tổ chức chính trị -
xã hội và của nhân dân đối với hoạt động giải quyết khiếu nại thì ở đó hoạt động giải quyết khiếu nại được thực hiện đúng quy định của pháp luật, đạt hiệu quả tốt, góp phần bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân
1.4 Một số nghiên cứu về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề khiếu nại, tố cáo và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến ở góc độ lý luận và thực tiễn khác nhau Trong đó phải kể đến các công trình:
Đề tài “Cơ chế giải quyết khiếu nại - Thực trạng và giải pháp” (Năm
2013) của Viện nghiên cứu chính sách pháp luật và phát triển do Hoàng Ngọc Giao chủ biên đã nghiên cứu và tổng hợp các ý kiến độc lập của nhóm nghiên cứu xoay quanh cơ chế giải quyết khiếu nại, góp phần đánh giá thực trạng và hiệu quả của cơ chế giải quyết các khiếu nại của công dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực quản lý, cụ thể là các quyết định và hành
vi của cơ quan hành chính nhà nước tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân, của doanh nghiệp (Hoàng Ngọc Giao, 2013)
Một số bài viết, bài báo đăng tải trên Tạp chí Thanh tra của Thanh tra Chính phủ, Tạp chí nghiên cứu pháp luật của Văn phòng Quốc hội năm 2016
Trang 40như: “Khiếu nại, tố cáo về đất đai - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”
đã đưa ra thực trạng của việc khiếu nại, tố cáo về đất đai và một số nguyên nhân, giải pháp chính nhằm hạn chế thực trạng này (Nguyễn Uyên Minh, 2016)
Với đề tài “Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan hành
chính nhà nước - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn tại thành phố Hà Nội”
năm 2015, tác giả Nguyễn Thị Thu Hương đi sâu nghiên cứu vấn đề phân định thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại hành chính về đất đai trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và phân tích những hạn chế, tồn tại của thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai tại thành phố Hà Nội để đưa ra những giải pháp phù hợp hoàn thiện chế định pháp luật về phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại đất đai, tăng cường pháp chế XHCN, đảm bảo cho công dân thực hiện tốt quyền khiếu kiện hành chính của mình (Nguyễn Thị Thu Hương, 2015)
Tác giả Nguyễn Kim Anh với đề tài “Giải quyết khiếu nại của cơ quan
hành chính nhà nước Thực tiễn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” năm 2012, đã
phân tích rõ thực trạng công tác giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Đánh giá kết quả công tác giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh, chỉ rõ những ưu điểm cũng như những mặt còn tồn tại, đưa ra các giải pháp có tính tổ chức - pháp lý như: về tổ chức, chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại; nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn cũng như ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức… (Nguyễn Kim Anh, 2012)
Tác giả Vũ Thị Vân Dung với đề tài “Giải quyết khiếu nại của cơ quan
hành chính nhà nước - Thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hà Nam”, đã phân tích rõ
thực trạng công tác giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam Từ đó, tác giả tập trung đánh giá kết quả công tác giải