1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu đánh giá và đề xuất giải pháp giảm thiểu nguy cơ đối với sức khỏe công nhân do phơi nhiễm bụi trong ngành công nghiệp chế biến gỗ tại tp hồ chí minh

147 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÊ THỊ TƯỜNG VI NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU NGUY CƠ ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CÔNG NHÂN DO PHƠI NHIỄM BỤI TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ... Đề tài đã thực hiện được 4

Trang 1

LÊ THỊ TƯỜNG VI

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU NGUY CƠ ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CÔNG NHÂN DO PHƠI NHIỄM BỤI TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ

Trang 2

Cán bộ chấm nhận xét 2 : TS Phạm Hồng Nhật (Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG Tp HCM ngày tháng năm

Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)

Trang 3

Tp HCM, ngày tháng năm 2009

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: LÊ THỊ TƯỜNG VI Phái: Nữ

Ngày, tháng, năm sinh: 25 – 06 – 1984 Nơi sinh: Tp.HCM Chuyên ngành: Quản lý Môi trường MSHV: 02606626

I- TÊN ĐỀ TÀI:

Nghiên cứu đánh giá và đề xuất giảm thiểu nguy cơ đối với sức khỏe công nhân do phơi nhiễm bụi trong ngành công nghiệp chế biến gỗ tại Tp.HCM II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

- Đánh giá hiện trạng môi trường lao động của ngành chế biến gỗ ở Tp.HCM

- Đánh giá tình hình sức khỏe người lao động

- Đánh giá rủi ro sức khỏe do phơi nhiễm bụi gỗ

- Đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu các tác hại của yếu tố nguy cơ trong môi trường lao động ngành chế biến gỗ tại Tp.HCM

III- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 06/2008

IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 7/2009

V- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN 1: PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH TUẤN

Trang 4

PGS.TS Nguyễn Đinh Tuấn và PGS.TS Đỗ Văn Dũng, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ

Xin cảm ơn tất cả các thầy cô trong khoa Môi trường – Trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM, đặc biệt là TS.Lê Thị Hồng Trân, những người

đã tiếp sức và hoàn thiện tôi trong suốt thời gian theo học ở trường và hoàn thành luận văn

Chân thành cảm ơn thầy Hoàng Văn Hòa, Đại học Nông Lâm TP.HCM đã tạo điều kiện cho tôi khảo sát và phỏng vấn người lao động trong ngành chế biến gỗ

Chân thành cảm ơn Trung tâm Bảo vệ sức khỏe lao động – Môi trường TP.HCM đã cung cấp các số liệu cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ở bên cạnh ủng

hộ, động viên tôi trong quá trình tôi học tập tại Trường đến khi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Một lần nữa tôi xin gủi đến tất cả Thầy Cô, Gia đình, Bạn bè lời tri

ân sâu sắc nhất

TP.HCM, ngày tháng 07 năm 2009

Lê Thị Tường Vi

Trang 5

Đánh giá rủi ro phơi nhiễm nghề nghiệp là một trong những hoạt động quan trọng nhất để bảo vệ sức khỏe cho người lao động Đề tài đã thực hiện được 4 nội dung chính: đánh giá hiện trạng môi trường lao động của ngành chế biến gỗ ở Tp.HCM, đánh giá tình hình sức khỏe người lao động, đánh giá rủi ro sức khỏe do phơi nhiễm bụi gỗ và đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu các tác hại của yếu tố nguy cơ trong môi trường lao động ngành chế biến gỗ tại Tp.HCM

Từ kết quả điều tra, khảo sát và tra cứu các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan cho thấy, môi trường lao động ngành chế biến gỗ tại Tp.HCM có các yếu tố nguy cơ chính như: nóng, tiếng ồn, nồng độ bụi và hơi khí hóa chất; trong đó yếu tố bụi gỗ hầu như là yếu tố nguy cơ xuyên suốt trong các quá trình sản xuất Và người lao động có rủi ro mắc bệnh nghề nghiệp như điếc nghề nghiệp, nhiễm độc hóa chất, hen suyễn nghề nghiệp Trên thực tế, sức khỏe người lao động vẫn chưa được quan tâm đúng mức, và nhận thức của người lao động về các yếu tố nguy cơ còn thấp

Dựa vào việc phân tích, đánh giá các yếu tố trên, đề tài đã đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu tác hại của các yếu tố nguy cơ đến sức khỏe người lao động

Trang 6

Exposed job risk assessment is one of the important actions to protect health worker The thesis has four main contents: assessing the current work environment

in wood production, assessing the health of worker, assessing the risk of health due

to exposing to wood dust and proposing solutions to reducing harmful effects of the risk factors in wood product environment

From survey results and gathered documents, work environment of wood production in Ho Chi Minh City has many risk factors such as: heat, noise, dust concentration and chemical gas; Among them, wood dust is the complete factor in productive process The worker in wood production environment may be deaf, chemical poisoned, asthmatic In reality, health of the worker has not been interested reasonability and awareness of the worker about these risk factors is still low

From analyzing and assessing the factors above, the thesis proposes some solutions to reducing harmful effects of the risk factors in wood product environment

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC THUỘC LĨNH VỰC ĐỀ TÀI 2

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

Ý NGHĨA KHOA HỌC – Ý NGHĨA THỰC TIỄN 6

CƠ SỞ PHÁP LÝ 6

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8

1.1 Phương pháp đánh giá nguy cơ sức khỏe do phơi nhiễm các yếu tố hay các chất ô nhiễm môi trường 8

1.2 Chỉ số tốc độ nhận thức và xử lý thông tin của công nhân trước và sau một ca lao động: (bảng vòng hở Landolt) 13

1.3 Các yếu tố môi trường trong môi trường lao động 15

1.3.1 Nồng độ bụi nơi sản xuất 15

1.3.2 Vi khí hậu nơi sản xuất 37

1.3.3 Mức áp suất âm thanh nơi sản xuất 40

1.3.4 Chiếu sáng nơi sản xuất 42

1.3.5 Yếu tố hóa học 44

1.4 Một số chỉ tiêu đánh giá thể chất con người 45

1.5 Những điều kiện bất lợi cho sức khỏe của người lao động khi tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ 47

1.5.1 Điều kiện khách quan do môi trường ngoại cảnh 48

1.5.2 Các yếu tố chủ quan của người lao động 49

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG NGÀNH CHẾ BIẾN GỖ 50

2.1 Các loại hình sản xuất trong ngành công nghiệp chế biến gỗ 50

Trang 8

2.1.3 Tình hình chế biến gỗ ở Tp.HCM 54

2.2 Quy trình chế biến gỗ 56 2.3 Đánh giá các yếu tố vật lý và hóa học trong môi trường lao động của các

nhà máy chế biến gỗ tại TP.HCM 56 2.4 Đánh giá thể chất của công nhân và sự mệt mỏi sau ca lao động 61

Chương III : KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI

TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG 66 3.1 Xác định các yếu tố nguy cơ sức khỏe trong môi trường nhà xưởng 66

3.1.1 Hiện trạng môi trường của từng yếu tố nguy cơ tại khu vực chế biến gỗ 66 3.1.2 Đánh giá mức độ nặng nhọc độc hại của từng công đoạn trong quy trình

chế biến 67 3.1.3 Đánh giá tình hình sức khỏe của công nhân lao động trong ngành công

nghiệp sản xuất chế biến gỗ tại TP.HCM 69 3.1.4 Nhận thức của người lao động và nhà quản lý đơn vị chế biến gỗ về các

yếu tố nguy cơ trên 73

3.2 Ước đoán khả năng tiếp xúc với bụi qua đường hô hấp của người lao

động trong khu vực chế biến gỗ 81

3.2.1 Mô tả các nguồn phát sinh bụi 81 3.2.2 Đánh giá độc tính 82

3.3 Đánh giá khả năng gây nguy hại sức khỏe công nhân trong các nhà máy

chế biến gỗ 84 CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU

NGUY CƠ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG DO PHƠI

NHIỄM BỤI TRONG NHÀ MÁY CHẾ BIẾN GỖ 87 4.1 Cơ sở đề xuất giải pháp giảm thiểu nguy cơ trong môi trường lao động 87

4.1.1 Nguyên tắc quản lý các yếu tố nguy cơ trong lao động 87

Trang 9

4.2 Đề xuất giải pháp giảm thiểu nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe người lao

động trong nhà máy chế biến gỗ 92

4.2.1 Giải pháp quản lý 92

4.2.2 Giải pháp kỹ thuật 97

4.2.3 Biện pháp phòng hộ cá nhân 98

4.2.4 Giải pháp phòng chống cháy nổ 98

4.2.5 Biện pháp y tế bảo vệ sức khỏe 99

4.2.6 Giải pháp nâng cao ý thức cộng đồng 100

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 10

HRA Đánh giá rủi ro sức khỏe (Health Risk Assessment)

NIOSH Viện nghiên cứu quốc gia về An toàn và Sức khoẻ nghề nghiệp

(National Institute for Occupational Safety and Health) OEL Giới hạn phơi nhiễm nghề nghiệp (Occupational Exposure Limit)

OSHA Cơ quan quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp (Occupational

Health and Safety)

STEL Giới hạn phơi nhiễm ngắn hạn (Short Term Exposure Limit)

TLV Giá trị giới hạn ngưỡng (Threshold Limit Value)

TWA Phơi nhiễm trung bình tính theo thời gian (Time Weighted

Averages) VSLĐ Vệ sinh lao động

WHO Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)

Trang 11

Bảng 1.2 : Hệ số ô nhiễm bụi trong công nghệ sản xuất gỗ gia dụng

Bảng 1.3: Giá trị nồng độ tối đa cho phép bụi không chứa silic

Bảng 1.4: Tiêu chuẩn huớng dẫn tiêu chuẩn nồng độ bụi gỗ của OSHA và ACGIH

về An toàn trong chế biến gỗ năm 2000

Bảng1.5: Hướng dẫn giới hạn phơi nhiễm nghề nghiệp (Occupational Exposure

Limit – OEL)

Bảng1.6: Tiêu chuẩn hướng dẫn liên quan nồng độ bụi PM10 của WHO 2006 (giá

trị giới hạn trung bình năm)

Bảng 1.7: Yêu cầu về nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió trong lao động (theo QĐ

3733/2002/QĐ-BYT)

Bảng 2.1: Yếu tố vi khí hậu tại các nhà máy chế biến gỗ

Bảng 2.2: Yếu tố ánh sáng, tiếng ồn và nồng độ bụi tại các nhà máy chế biến gỗ Bảng 2.3: Yếu tố hơi khí hóa chất tại khâu sơn các nhà máy chế biến gỗ

Bảng 2.4 : Chiều cao và cân nặng trung bình của nam – nữ công nhân được khảo sát Bảng 2.5: Chỉ số BMI ở nữ công nhân

Bảng 2.6 : Chỉ số BMI ở nam công nhân

Bảng 2.7 : Tốc độ xử lý thông tin của công nhân sản xuất ở khâu cưa xẻ gỗ trước và

Bảng 2.10 : Tốc độ xử lý thông tin của công nhân sản xuất ở khâu lắp ráp và đóng

gói trước và sau ca lao động

Bảng 3.1: Kết quả trung bình các số liệu đo môi trường tại 3 xưởng chế biến gỗ năm

2008 (nhà máy Satimex, nhà máy Savi Woodtech, công ty Nam Việt) Bảng 3.2 : Kết quả tính điểm của các công đoạn

Trang 12

ngoài gỗ và các công ty chế biến gỗ

Bảng 3.5: So sánh kết quả KSK các bệnh có liên quan đến tai mũi họng giữa các

công ty ngoài gỗ và các công ty chế biến gỗ

Bảng 3.6: So sánh kết quả KSK các bệnh khác giữa các công ty ngoài gỗ và các

công ty chế biến gỗ

Bảng 3.7 : Kết quả khám điếc nghề nghiệp

Bảng 3.8: Kết quả khám bệnh nhiễm độc hóa chất nghề nghiệp

Bảng 3.9: Kết quả đo chức năng hô hấp (CNHH)

Bảng 3.10: Tình hình hiểu biết về các quy tắc an toàn – vệ sinh lao động

Bảng 3.11: Tỉ lệ lao động nam/nữ trong nhà xưỡng tại thời điểm khảo sát

Bảng 3.12: Tình hình cấp phát trang bị bảo hộ lao động cho công nhân trực tiếp sản

xuất

Bảng 3.13: Đánh giá nồng độ bụi khu vực sản xuất theo ngưỡng phơi nhiễm của

SCOEL, 2003

Trang 13

Hình 1.2: Sự lắng đọng của các hạt bụi trong hệ thống hô hấp

Hình 1.3: Kích thước bụi và sự xâm nhập vào cơ quan hô hấp

Hình 1.4: Tác hại của tiếng ồn đối với cuộc sống con người

Hình 1.5 : Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe

Hình 3.1: So sánh tỷ lệ mắc các bệnh về mắt của người lao động

Hình 3.2: So sánh tỷ lệ mắc các bệnh về Tai mũi họng của người lao động Hình 3.3: So sánh tỷ lệ mắc các bệnh khác của người lao động

Hình 3.4: Tỉ lệ tuổi nghề ở công nhân khảo sát

Hình 3.5: Tỷ lệ nhận xét điều kiện lao động so với năm trước của CN Hình 3.6: Các yếu tố môi trường độc hại mà công nhân phải tiếp xúc Hình 3.7: Các yếu tố nguy cơ gây TNLĐ

Hình 3.9: Tình hình cấp phát các trang bị bảo hộ lao động (BHLĐ)

Hình 3.10: Tình hình sử dụng thường xuyên các trang bị BHLĐ

Hình 3.11: Tình trạng sức khỏe CN sau ca lao động

Hình 3.12: Các triệu chứng thường gặp ở CN

Hình 3.13: Mức độ cơ giới hóa ở các xưỡng sản xuất

Trang 14

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho biết mỗi năm thế giới có hơn hai triệu người chết do tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Con số này đang tăng lên ở những nước đang phát triển như Trung Quốc và Braxin Mỗi năm thế giới mất 4% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) do năng suất ảnh hưởng khi công nhân phải nghỉ việc và công ty phải đền bù thiệt hại cho các ca tử vong, thương tật và bệnh tật do công việc gây ra

Nguyên nhân chính là do công nhân ở những nền kinh tế đang trỗi dậy thường ít được đào tạo về an toàn lao động Phần lớn những công nhân này không biết đến các mối nguy hiểm công nghiệp ILO và tổ chức Y tế thế giới (WHO) kêu gọi các nước thực hiện những biện pháp phòng ngừa tốt hơn để bảo vệ công nhân

Trên con đường đổi mới nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, TP.HCM

là trung tâm kinh tế chính trị xã hội của cả nước đang từng ngày có những thay đổi

về công nghệ hướng tới những kỹ thuật cao nhằm gia tăng năng suất, chất lượng hàng hóa và hướng tới nâng cao đời sống người lao động Tốc độ tăng trưởng kinh

tế năm 2001 của thành phố là 7,4%, và đến năm 2007 đã đạt được 12,2% trong đó đứng đầu là khu vực dịch vụ (6,76%), kế đến là khu vực công nghiệp - xây dựng (5,41%) Tầm vóc phát triển của TP.HCM là rất lớn kéo theo sự gia tăng của lực lượng sản xuất Nền kinh tế muốn phát triển mạnh thì cần phải có một lực lượng sản xuất dồi dào, nhiều kinh nghiệm và quan trọng nhất là phải có đủ sức khỏe để đảm bảo công việc

Trong đó ngành công nghiệp chế biến gỗ cũng là một trong những ngành công nghiệp mang lại nhiều lợi nhuận kinh tế và thu hút số lượng lớn lực lượng sản xuất Tháng 12/07, kim ngạch xuất khẩu gỗ và đỗ gỗ cả nước đạt 261,22 triệu USD, tăng 19,8% so với tháng 11/07 và tăng 45,1% so với tháng 12/06 Tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ cả năm 2007 đạt 2,37 tỷ USD, tăng 22,8% so với năm 2006 Ước tính, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ tháng 1/2008 đạt 250 triệu USD, tăng 11,6% so với tháng 1/2007

Trang 15

Người lao động trong các cơ sở chế biến gỗ thường xuyên phải làm việc trong điều kiện có nhiều yếu tố độc hại như nóng, tiếng ồn, bụi, hơi khí hóa chất, vi sinh, tư thế làm việc không thuận lợi , điều này ảnh hưởng đến chức năng hô hấp, thính giác, sức khỏe và năng suất lao động của người lao động

Vì lý do trên, ta cần phải xác định các yếu tố nguy cơ trong môi trường không khí bên trong nhà xưởng tại các cơ sở, xí nghiệp chế biến gỗ đóng trên địa bàn TP.HCM ảnh hưởng lên sức khỏe của người lao động, nhằm giúp cho các nhà chuyên môn, nhà quản lý, và người lao động có sự quan tâm đầy đủ, đúng mức và

có các biện pháp kịp thời để phòng chống hiệu quả hơn Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này, tôi chọn yếu tố bụi phát sinh trong nhà xưởng để nghiên cứu và quản

lý rủi ro sức khỏe Vì thế tôi thực hiện đề tài “Đánh giá nguy cơ và đề xuất giải pháp giảm thiểu nguy cơ đối với sức khỏe công nhân do phơi nhiễm bụi trong ngành công nghiệp chế biến gỗ tại TP.HCM”

II TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI

NƯỚC THUỘC LĨNH VỰC ĐỀ TÀI II.1 Trong nước:

Hiện nay có rất nhiều đề tài liên quan đến môi trường lao động đã được nghiên

cứu Đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu xây dựng chiến lược và các biện pháp cơ bản

để giám sát, dự phòng và xử lý các nguy cơ ô nhiễm môi trường lao động, ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động” do Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động

chủ trì; đề tài đã đề xuất được các cơ sở khoa học để đánh giá ô nhiễm môi trường lao động, một số giải pháp cải thiện điều kiện lao động và giảm thiểu ô nhiễm môi trường lao động; xây dựng chiến lược quốc gia về an toàn – vệ sinh lao động

Đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và hệ thống quản lý an toàn và vệ sinh lao động phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội, góp phần bảo vệ sức khỏe người lao động trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế” do Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động chủ trì, đã được

nghiệm thu năm 2003 Đề tài đã đưa ra được một số kiến nghị cho việc xây dựng chương trình hành động, bổ sung sửa đổi và xây dựng mới một số chính sách chế độ

Trang 16

nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động, đồng thời đưa ra giải pháp cải thiện điều kiện lao động, phòng chống tác hại nghề nghiệp, các mô hình giải pháp quản lý về

an toàn vệ sinh lao động hợp lý và có hiệu quả cao

Đề tài “Đánh giá độ mệt mỏi của người lao động làm việc trong dây chuyền sản xuất trong dây chuyền ngành sản xuất da giày và hàng tiêu dùng; đề xuất các giải pháp y tế dự phòng nhằm bảo vệ sức khoẻ người lao động và nâng cao năng suất lao động” được Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động đưa ra năm 2005

Với mục tiêu: Xác định mức độ ảnh hưởng của một số các yếu tố liên quan đến thời gian làm việc, nghỉ ngơi, yếu tố gây stress ; xác định mức độ tiếp xúc và ảnh hưởng của dung môi hữu cơ tới sức khoẻ NLĐ thông qua các xét nghiệm lâm sàng; Đánh giá tình trạng sức khoẻ và mức độ mệt mỏi của người lao động làm việc trong dây chuyền của ngành sản xuất da giầy và hàng tiêu dùng (lắp ráp điện tử, sản xuất

đồ chơi ) qua việc hồi cứu tài liệu và tiến hành khảo sát tại dây chuyền sản xuất ở một số nhà máy; Xây dựng quy trình làm việc, nghỉ ngơi hợp lý và một số biện pháp y tế dự phòng khác nhằm bảo vệ sức khoẻ NLĐ và nâng cao năng suất lao động

Đề tài “Ảnh hưởng của môi trường lao động tại một số cụm sản xuất cùng ngành nghề đến môi trường sống, sức khỏe người lao động và dân cư trong địa bàn Tp.HCM” được Phân viện KHKT – Bảo hộ lao động nghiên cứu và nghiệm thu năm

2007 Đề tài này đã đánh giá được hiện trạng môi trường, tình hình sức khỏe của người lao động và đề xuất một số giải pháp cải thiện môi trường lao động cho các nhóm nghề sau: làng nghề bánh tráng, cụm sản xuất nhang, cụm sản xuất ngà sừng, cụm sản xuất gỗ mỹ nghệ, cụm dệt – nhuộm và cụm chăn nuôi bò sữa

II.2 Ngoài nước:

Báo cáo “Report on Carcinogens – background document for Wood dust” –

năm 2000 được tổng hợp từ các báo cáo trong hội nghị NTP Board of Scientific Counselors – Report on Carcinogens Subcommittee Báo cáo này tổng hợp các nghiên cứu có liên quan đến bụi gỗ trong các ngành nghề chế biến gỗ từ công đoạn cưa xẻ gỗ trong rừng đến công đoạn chế biến thành phẩm Trình bày các nghiên cứu

Trang 17

cohort, nghiên cứu case – control và nghiên cứu ung thư thí nghiệm ở động vật Theo báo cào này khẳng định bụi gỗ là tác nhân gây ung thư nhóm 1 dựa vào các chứng cứ trong các nghiên cứu ở người

Trang thông tin của tổ chức HSE (Health – safe excutive) về bụi gỗ và ảnh hưởng của bụi từng loại gỗ lên sức khỏe công nhân, cũng như các thông tin cần thiết bảo vệ sức khỏe người lao động khi làm việc trong môi trường có tiếng ồn, nồng độ bụi và hơi khí hóa chất cao

Nghiên cứu “Bụi gỗ: yếu tố gây hại nghề nghiệp làm tăng nguy cơ bệnh đường hô hấp”, tạp chí sinh lý học và dược lý năm 2007, số 58 – của hai trường đại

học Zielona Góra và Pomeranian Medical, Nước Ba Lan Nghiên cứu này được thực hiện với 1100 công nhân làm trong hoặc có liên quan đến ngành chế biến gỗ, tìm mối liên hệ giữa nồng độ bụi phơi nhiễm, thời gian tiếp xúc và kết quả khám lâm sàng Kết quả nghiên cứu: bụi gỗ gây kích thích dị ứng đường hô hấp, tăng tỷ lệ viêm xoang, viêm mũi dị ứng; nhưng chưa đưa kết luận về khả năng gây ung thư ở bụi gỗ

Ngoài ra còn rất nhiều tài liệu nước ngoài nghiên cứu về bụi gỗ và ảnh hưởng của bụi gỗ đến sức khỏe người lao động: dự án Woodrisk của 25 quốc gia Châu Âu, Hướng dẫn an toàn lao động trong ngành chế biến gỗ (Cơ quan quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, 1999)

III MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu đánh giá rủi ro sức khỏe do phơi nhiễm bụi trong ngành công nghiệp chế biến gỗ tại Tp.HCM và đề xuất giải pháp giảm thiểu nguy cơ

V.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Các đơn vị sản xuất thuộc ngành công nghiệp chế biến gỗ do Trung Tâm bảo

vệ sức khỏe Lao Động & Môi Trường đo đạc môi trường lao động

- Các công nhân làm trong ngành công nghiệp sản xuất chế biến gỗ có vấn đề

về sức khỏe đã được chẩn đoán qua việc khám sức khỏe định kì hàng năm tại Trung Tâm bảo vệ sức khỏe Lao Động & Môi Trường

Trang 18

V.2 Phạm vi nghiêm cứu:

Giới hạn phạm vi nghiên cứu là các đơn vị chế biến gỗ tại thành phố Hồ Chí Minh

a/ Thiết kế nghiên cứu: mô tả - cắt ngang

b/ Đo đạc một số yếu tố vật lý, hóa học của môi trường lao động

Thiết bị đo đạc môi trường lao động :

- Nhiệt độ - độ ẩm không khí : được đo bằng máy tự động hiện số Testo (Đức) Thang đo nhiệt độ từ 0 – 50oC; thang đo độ ẩm từ 2 – 98%, sai số

±1% Máy được đặt tại nơi làm việc 3 – 5 phút

- Tốc độ chuyển động của không khí : được đo bằng máy tự động hiện số Testo (Đức), giới hạn đo từ 0,05 – 20 m/s ; tốc độ không khí thường thay đổi nên thường được đo trong khoảng 100 giây

- Độ chiếu sáng : được đo bằng máy điện tử hiện số Teste (Đức), sai số ±3% , được đo ngay tầm nhìn của người lao động

- Mức áp suất âm thanh của tiếng ồn : được đo bằng máy điện tử hiện số Rion (Đức) ; độ sai số ± 1 dBA ; giới hạn đo từ 0 – 140 dBA Để đặc trưng cho âm thanh toàn bộ vùng tần số nghe được ta dùng khái niệm mức áo suất âm thanh, đơn vị đo là deciben A (dBA) Mức áp suất âm thanh được đo tại vị trí người lao động được đo ngay tại nơi người công nhân làm việc,, máy đo hướng về phía nguồn ồn và ngang tầm tai của công nhân

- Nồng độ bụi đo bằng máy điện tử hiện số Aerocet 531 (Mỹ), thời gian lấy mẫu 2 phút ; máy được đặt ngay tầm hô hấp của người lao động ; giới hạn đo

Trang 19

d/ Phỏng vấn 300 công nhân theo bảng câu hỏi soạn sẵn tại 3 công ty: nhà máy Satimex, nhà máy SaviWoodtech và Công ty CP Nam Việt (chọn ngẫu nhiên ở tất cả các công đoạn sản xuất)

Nhà máy Satimex : 150/950 công nhân

Nhà máy SaviWoodtech : 70/589 công nhân

Công ty CP Nam Việt : 80/650 công nhân

Trong đó, khảo sát 100 công nhân ở khâu cưa xẻ (tạo dáng), 100 công nhân ở khâu chà nhám, 50 công nhân ở khâu sơn và 50 công nhân ở khâu lắp ráp – đóng gói tại 3 công ty trên

e/ Sử dụng phương pháp vòng hở Landolt khảo sát 300 công nhân của 3 nhà máy chế biến gỗ trước và sau ca làm việc nhằm đánh giá biểu hiện mệt mỏi của trí

Áp dụng mô hình Health Risk Assessment – Đánh giá rủi ro sức khỏe (HRA)

để đánh giá khả năng gây nguy hại sức khỏe con người do phơi nhiễm bụi

Ý nghĩa kinh tế-xã hội :

Nghiên cứu được thực hiện với mong muốn hữu ích cho việc đánh giá đúng mức độ của các yếu tố bất lợi trong môi trường lao động tại các cơ sở sản xuất trong

ngành công nghiệp chế biến gỗ

Luận văn đưa ra những giải pháp để tạo môi trường làm việc tốt hơn cho người lao động, từ đó nâng cao sức khỏe người lao động, đảm bảo năng suất làm việc tốt hơn, xây dựng lực lượng sản xuất khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, đồng thời tăng năng suất và chất lượng sản phẩm

VII CƠ SỞ PHÁP LÝ

- Luật lao động : có hiệu lực từ 01/01/1995 ; có bổ sung một số điều của Bộ Luật lao động ngày 02/04/2002 (từ điều 95 đến điều 108)

Trang 20

- Nghị định 06/CP ngày 20/01/1995 của Chính Phủ và Nghị Định 110/2002/NĐ-CP ngày 27/12/2002 của chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của NĐ06/CP quy định chi tiết một số điều của Bộ Luật lao động về an toàn, vệ sinh lao động

- Thông tư 13/BYT-TT ngày 21/10/1996 của Bộ Y tế : hướng dẫn quản lý môi trường lao động, sức khỏe người lao động và bệnh nghề nghiệp

- Thông tư hướng dẫn các quy định về bệnh nghề nghiệp (TTLT số 08/1998/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 20/04/1998)

- Thông tư hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác Bảo hộ lao động trong doanh nghiệp, cơ sở sản xuất (TTLT số 14/1998/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TCĐLĐVN ngày 31/10/1999)

- Thông tư hướng dẫn chăm sóc sức khỏe người lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ (số 09/2000/TT-BYT 28/4/2000 của Bộ Y tế)

- Thông tư hướng dẫn chế độ thực hiện bôi dưỡng hiện vật đối với người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, độc hại (TTLT số 10/1999 TTLT-BLĐTBXH-BYT ngày 17/3/1999 TTLT số 10/2006/TTLT-BLĐTBXH-BYT, sửa đổi, bổ sung khoản 2, mục II : về mức bồi dưỡng mới)

- Thông tư 37/2005/TT—BLĐTBXH ngày 29/12/2005 hướng dẫn công tác huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động

- Nghị định 113/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 quy định về việc xử phạt hành chánh về hành vi vi phàm pháp luật lao động

- Nghị định 45/2005/NĐ-CP ngày 6/4/2005 quy định về việc sử phạt hành chánh trong lĩnh vực y tế

- Thông tư số 12/2006 TT-BYT ngày 10/11/2006 của Bộ y tế hướng dẫn khám bệnh nghề nghiệp

- Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002 về 21 tiêu chuẩn vê sinh

lao động, 5 nguyên tắc và 7 thông số vệ sinh lao động

- Luật bảo vệ môi trường của nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam số

52/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005

Trang 21

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Phương pháp đánh giá nguy cơ sức khỏe do phơi nhiễm các yếu tố hay các chất ô nhiễm môi trường

Là phương pháp đánh giá các mối nguy hại tiềm ẩn ảnh hưởng đến sức khỏe khi tiếp xúc với các yếu tố độc hại

Quy trình đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường gồm 5 bước chính, đó là: xác định vấn đề, xác định yếu tố nguy cơ, lượng giá mối quan hệ liều đáp ứng, lượng giá phơi nhiễm và mô tả nguy cơ Lượng giá phơi nhiễm nhằm xác định mức

độ, tần suất, quy mô, đặc điểm và khoảng thời gian phơi nhiễm trong quá khứ, hiện tại và trong tương lai Bước lượng giá phơi nhiễm cũng cần xác định rõ đặc điểm của quần thể bị phơi nhiễm cũng như các đường phơi nhiễm

Lượng giá phơi nhiễm với các yếu tố ô nhiễm môi trường có thể được thực hiện một cách định lượng hoặc định tính Thông thường, bước này lượng giá tốc độ cũng như cách thức một chất được đưa vào trong cơ thể (ví dụ được hít thở vào, được ăn vào, uống vào, hoặc ngấm qua da, mắt) và ước tính lượng chất được hấp thụ vào trong máu Việc lượng giá phơi nhiễm có thể được thực hiện với 3 phương pháp khác nhau đó là: phương pháp trực tiếp, phương pháp dựa vào tình huống phơi nhiễm giả định, và phương pháp giám sát sinh học (Cục Bảo vệ Môi trường Mỹ - U.S EPA 1992)

Sử dụng mô hình HRA (Health risk assessment) để đánh giá rủi ro sức khỏe (Nguồn : Bài giảng Đánh giá rủi ro môi trường-TS Lê Thị Hồng Trân)

Trang 22

HÌNH 1.1: MÔ HÌNH HRA

Bước 1: Thu thập dữ liệu và định lượng

- Tập hợp và phân tích dữ liệu theo từng vấn đề

- Xác định sự ô nhiễm tiềm ẩn dựa trên:

+ Đặc tính độc hại + Số lượng hiện diện tại nơi xem xét + Đường dẫn và các con đường tiếp xúc

+ Các chỉ thị hóa học

Bước 2: Đánh giá tuyến tiếp xúc

- Phân tích các tuyến phát thải

- Định lượng nguy hại của sự tiếp xúc

- Nhận diện các nguồn không chắc chắn

- Định lượng sự độc hại qua các bằng chứng rõ ràng

- Xác định giá trị độc tính rõ ràng với các chỉ thị hóa học

Bước 4: Các yếu tố hợp thành rủi ro:

Đánh giá khả năng gây nguy hại sức khỏe con người dựa trên:

- Rủi ro ung thư

- Rủi ro không gây ung thư

Trang 23

Bước 1 của mô hình sẽ nhận diện được các yếu tố nguy cơ và đánh giá mức

độ ảnh hưởng của từng yếu tố đó

Bước 2: Đánh giá tuyến tiếp xúc

Có 3 tuyến tiếp xúc chính: qua da, qua đường hô hấp và qua ăn uống

Trong đề tài này tôi chỉ đề cập tuyến tiếp xúc qua đường hô hấp Có hai tuyến đường tiếp xúc qua hô hấp chính được xem xét đối với các chất ô nhiễm có khả năng gây ô nhiễm môi trường được phân loại rõ ràng thành sự hít vào các hạt không khí từ bụi lơ lửng, mà trong đó tất cả các cá thể riêng biệt nằm trong phạm vi 80km của nguồn ô nhiễm có khả năng bị tác động và sự hít vào các hợp chất bay hơi (không khí, hóa chất phu hơi…)

Liều lượng có khả năng hít vào có thể được đánh giá dựa trên thời gian tiếp xúc, tốc độ hít vào của các thành phần tiếp xúc, nồng độ chất ô nhiễm trong không khí hít vào và khối lượng được giữ lại trong phổi Tất cả được cụ thể hóa trong mối quan hệ sau:

Mức tiếp xúc qua đường hô hấp (mg/kg.ngày) =

BW

CF RR GLC 

(1.1) Trong đó: GLC: nồng độ trên đất (g /m3 )

RR: nhịp thở (m3/ngày) CF: hệ số chuyển đổi (1mg/1000g = 1,0E-03mg/g) BW: trọng lượng cơ thể (kg)

Bước 3: Đánh giá độc tính

Nhận biết kết quả sức khỏe của sự tiếp xúc của nhân tố ô nhiễm môi trường cũng là một ưu tiến rất cao trong việc nhận biết sự nguy hiểm Nhiều phương pháp khoa học được dùng để thu thập các bằng chứng cần thiết để đánh giá độc tính trong HRA 3 phương pháp hiệu quả, đó là tập hợp lại các trường hợp, thử nghiệm sinh học lên trên động vật và phương pháp dịch tễ học

Trang 24

Bảng 1.1: Các phương pháp khoa học để nhận biết rủi ro sức khỏe môi trường Phương

trước và sau khi tíêp xúc

với các mối nguy hiểm

được nêu rõ

Các mô hình thống kê được sử dụng để ngoại suy dữ liệu từ các kết quả đáp ứng trên thí nghiệm động vật đến gần với đáp ứng con người Phương pháp này rất đắc tiền và có một số vấn đề liên quan đến độ tin cậy Môt mối liên kết quan sát giữa sự tiếp xúc và đáp ứng động vật không có ý nghĩa cần thiết là các đáp ứng tương tự sẽ xảy ra ở con người Một vấn đề khác nữa

là hầu hết các thí nghiệm lên động vật đều dùng liều lượng lớn hơn những gì đựơc thấy trên cơ thể con người Các nhà nghiên cứu đã phóng đại liều lượng để đảm bảo rằng các thí nghiệm sẽ sản sinh

ra các ảnh hưởng có thể đo được

Trang 25

dựa trên kết quả nguyên

nhân và sự phân bố của

tễ học vạch ra trực tiếp từ thực tế, các nghiên cứu về dịch tễ học không có các thí nghiệm có kiểm soát một cách đầy đủ Trong thí nghiệm kiểm soát đầy đủ, liều lượng và tiếp xúc phải được giám sát một cách cẩn thận để mà chỉ có các nhân tố này là đáng tin cậy cho bất kỳ các đáp ứng quan sát được

Nguồn: Lester B.Lave – Methods of Environmental Risk Assessment (Các phương pháp đánh giá rủi ro môi trường)

Bước 4: Đánh giá khả năng gây nguy hại sức khỏe con người (Đặc tính rủi ro):

phối hợp các kết quả của bước đánh giá tiếp xúc và độc tính để có một ước lượng định lượng rủi ro Từ đó lựa chọn giải pháp phù hợp nhất với tình hình thực tế

1.2 Chỉ số tốc độ nhận thức và xử lý thông tin của công nhân trước và sau một

ca lao động: (bảng vòng hở Landolt)

Lao động trong ngành gỗ là lao động chủ yếu bằng tay và mắt do đó đòi hỏi phải có sự chú ý tập trung cao, vì thế thường xảy ra tình trạng căng thẳng của thần kinh thị giác Do đó nếu làm việc lâu trong điều kiện môi trường có ánh sáng thấp hơn mức quy định sẽ làm cho mắt phải tiêu hao nhiều năng lượng, dẫn đến tình trạng mỏi mắt do phải giương mắt quá nhiều, khả năng cảm thụ của nó bị giảm xuống và hậu quả là gây tình trạng trì trệ, giảm năng động của các cơ quan nhất là

hệ thần kinh Trong quá trình thao tác công nhân thường không sử dụng đều hết tất

cả các cơ mà chủ yếu tập trung nhiều vào một số cơ nhất định của chi trên và chi dưới Do cử động nhiều và nhanh làm cho người lao động trong ngành chế biến gỗ mệt mỏi nhiều và do các đặc điểm của cơ thể mà có thể xảy ra các rối loạn thần kinh

Trang 26

do nghề nghiệp.Từ đó dễ dẫn đến tai nạn lao động, ảnh hưởng xấu đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, chưa kể đến nhiều tác hại lâu dài sau này do công việc gây ra

Để đánh giá ảnh hưởng của môi trường lao động trong các khu làm việc, đánh giá mức độ mệt mỏi trước và sau ca lao động của công nhân trực tiếp sản xuất với các chỉ tiêu chức năng sinh lý trước và sau ca lao động bằng nghiệm pháp xác định mức độ căng thẳng về thần kinh và thị giác của công nhân theo lý thuyết thông tin (bảng vòng hở Landolt)

Tóm tắt nghiệm pháp xác định mức độ căng thẳng về thần kinh và thị giác của công nhân theo lý thuyết thông tin: ( bảng vòng hở Landolt)

Bảng vòng hở Landolt có chứa 1024 vòng, mỗi vòng có một khe hở quay về một trong 8 hướng xác định, các vòng được bố trí xen kẽ nhau không theo quy luật, nghĩa là vòng phân bố ngẫu nhiên với xác suất 1/8

Với bảng này trắc nghiệm được tiến hành trước và sau ca lao động Người được trắc nghiệm phải ngồi trong tư thế thoải mái được chiếu sáng đầy đủ Ghi tên người, ngày tháng, thời gian thực hiện và trắc nghiệm được thực hiện trong 5 phút Trắc nghiệm được tiến hành như sau: khi làm trắc nghiệm mỗi đối tượng cầm một cây bút và người nghiên cứu hô "bắt đầu điểm 9 giờ" thì đối tượng phải gạch toàn bộ số vòng mở ra hướng 9 giờ Khi người nghiên cứu hô "thôi" thì các đối tượng phải gạch chéo một gạch phía sau vòng cuối cùng bất kể là vòng gì Sau đó đếm số vòng đã được xoá bỏ Ghi rõ số vòng xoá được và thời gian hoàn thành Đếm số vòng bị gạch sai hoặc bỏ sót

Nguyên lý của phương pháp:

Theo lý thuyết thông tin, lượng thông tin trung bình mỗi vòng là:

Itb = f1log2f1 + f2log2 f2

Trong đó:

Itb: lượng thông tin trong mỗi vòng

f1: tần suất của vòng "hữu ích" cần gạch

f2: tần suất của vòng nhiễu không cần gạch

Trang 27

Các vòng được phân bố ngẫu nhiên theo 8 hướng, vì vậy: f1:1/8 ;f2: 7/8

Do đó: Itb = 1/8log21/8 + 7/8log2 7/8 = 0.5436 bit

Bit là đơn vị nhận thức thông tin( viết tắc của Binary digrit)

Lượng thông tin của mỗi vòng có ích là: Log21/8= 3 bit

Lượng thông tin của mỗi vòng nhiễu là: Log27/8= 0.193 bit

Như vậy khi ta bỏ sót nhiều vòng "có ích' đáng phải gạch mà lại không gạch thì ta đã bỏ sót một lượng thông tin do nhầm thông tin "có ích" với thông tin

"nhiễu" Mỗi lần bỏ sót một vòng không gạch là ta đã bỏ sót: 3 - 0.193= 2.087

Nếu bỏ sót n vòng ta sẽ bỏ sót:n*2.087 bit Lượng thông tin đã bỏ sót: q= n*2.087 bit Tốc độ xử lý thông tin tính theo công thức:

sec) / ( ) 087 , 2 ( ) 5436 , 0 1024 (

bit T

n

Trong đó: A: tốc độ soát tín hiệu

T: thời gian hoàn thành bài tập N: số vòng bị gạch sai hoặc bỏ sót

1024: tổng số vòng trong toàn bảng

0.5436: lượng thông tin trung bình có trong mỗi vòng

2.087: lượng thông tin mất nếu bỏ sót hay gạch sai một vòng

Có hai cách đánh giá:

1 Đánh giá tốc độ nhận thức và xử lý thông tin trước và sau ca làm việc theo ,

SD

Từ những kết quả thu được, chúng tôi xếp loại như sau;

 Những số liệu nằm trong khoảng lớn hơn  + 2 SD: có tốc độ nhận thức thông tin loại Rất tốt

 Những số liệu nằm trong khoảng [ + SD; + 2 SD]: có tốc độ nhận thức thông tin loại Tốt

 Những số liệu nằm trong khoảng [ – SD;  + SD]: có tốc độ nhận thức thông tin loại Trung bình-Đạt

Trang 28

 Những số liệu nằm trong khoảng nhỏ hơn  - SD: có tốc độ nhận thức thông tin loại Kém

2 Kết quả phân loại được so sánh với phân loại tốc độ nhận thức và xử lý thông tin trước và sau của trắc thủ Rađa theo Trần Công Huấn 1995:

Loại rất tốt: A trên 1.24 bit/sec

Loại tốt: A 1.02 đến 1.24 bit/sec

Loại đạt: A 0.84 đến 1.02 bit/sec

Loại kém: A dưới 0.84 bit/sec

1.3 Các yếu tố môi trường trong môi trường lao động:

1.5.3 Nồng độ bụi nơi sản xuất:

1.3.1.1 Định nghĩa: bụi là tập hợp nhiều phần tử rắn có kích thước rất nhỏ, lơ lửng trong không khí Theo cách gọi của hoá học keo: bụi là một hệ thống phân tán mà môi trường phân tán là không khí, chất phân tán là những hạt rắn Nói cách khác, bụi là một dạng khí dung có các hạt phân tán rắn [1]

1.3.1.2 Chỉ tiêu thường dùng để đánh giá ô nhiễm bụi trong không khí là: nồng

độ bụi (mg/m3), mật độ bụi (hạt/cm3), kích thước các hạt bụi, các tính chất lý hoá của bụi…

1.3.1.3 Phân loại bụi công nghiệp : có nhiều cách phân loại :

 Phân loại theo nguồn gốc :

- Bụi có nguồn gốc hữu cơ : bụi hữu cơ tự nhiên có nguồn gốc động vật như

lông súc vật, thực vật như bông, đay, gỗ, ngũ cốc, giấy…,các loại nấm mốc và bào

tử Bụi hữu cơ nhân tạo gồm hoá chất, các chất tổng hợp khác Bụi trong ngành may chủ yếu là bụi bông, có nguồn gốc hữu cơ

- Bụi có nguồn gốc vô cơ : các loại bụi vô cơ được chia làm 2 loại chính đó là

bụi khoáng chất như cát, đá, than… và bụi kim loại như sắt, nhôm…

Ngoài ra còn có các bụi vô cơ nhân tạo như xi măng, thuỷ tinh…

 Phân loại bụi theo kích thước : Đây là cách phân loại thông dụng, giúp ta nhận biết khả năng xâm nhập tới đoạn nào của đường hô hấp Thông thường chia làm 2 loại :

Trang 29

- Bụi hô hấp : gồm các phần tử có đường kính khí động dưới 5 m Loại bụi có kích thước này có thể vào tận phế nang, chiếm 80-90% tổng số hạt bụi bám ở đó

- Bụi không hô hấp : gồm các phần tử bụi có đường kính khí động lớn hơn 5m:

o Hạt bụi từ 10-50 m ở trong đoạn từ khí quản đến phế quản, không vào phế nang Hạt bụi từ 5-10 m, tuy vào được phế nang nhưng đa số ở lại đường hô hấp trên

o Cho dù kích thước này khó vào tận trong phế nang song có thể gây tổn thương

ở phế quản và đường hô hấp trên Mặc khác khí phế quản và đường hô hấp trên bị tổn thương, khả năng giữ bụi kém đi, vì vậy các hạt bụi không hô hấp có thể vào sâu hơn trong phổi

Dựa vào mức độ xâm nhập của các hạt bụi vào đường hô hấp Burstein phân chia bụi thành 5 loại:

- Bụi lớn hơn 50 m: được giữ lại ở mũi, khí quản và phế quản lớn

- Bụi có đường kính 20 – 50 m: được giữ lại ở phế quản thùy và phân thùy của phổi

- Bụi có đường kính 10 – 20 m: được giữ lại ở các phế quản nhỏ

- Bụi có đường kính 5 – 10 m: được giữ lại ở các phế quản tận cùng

- Bụi có đường kính 0,1 – 5 m: được giữ lại ở các phế nang

Trang 30

1.3.1.4 Khả năng đào thải bụi của hệ thống hô hấp:

Sự giữ bụi ở cơ quan hô hấp: kích thước hạt bụi là yếu tố chính quyết định sự lưu giữ bụi trên cơ quan hô hấp, bụi gỗ là bụi dạng hạt Các hạt bụi có kích thước lớn hơn 10 m và khoảng 70 – 80 % các hạt bụi kích thước trên 5 m bị giữ lại ở vùng mới tới các tiểu phế quản Các hạt bụi có kích thước từ 2 -5 m một phần vào trong phế nang và một phần bị giữ lại ở đoạn trước Hầu hết các hạt bụi có đường kính từ 0,1 – 2 m đều vào tận phế nang

Hầu hết các hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 0,1 m đều bị lắng do khuếch tán trên thành thực quản Hạt có kích thước từ 0,4 – 0,5 m bị giữ lại ít nhất và khoảng 80% loại bụi có kích thước này bị đào thải ra ngoài Sự lưu giữ các hạt bụi trong các

vị trí ở phổi cũng khác nhau như: bụi dạng hạt bị giữ nhiều nhất ở phần dưới thùy trên, thùy giữa và phần trên thùy dưới của phổi, bụi dạng sợi bị giữa lại ở thùy dưới nhiều hơn Phương thức đào thải các hạt bụi ở phổi là rất lớn Theo Policord (Anh) đánh giá một thợ mỏ làm việc 30 năm trong một mỏ than hít vào phổi trung bình 6

kg bụi than, giải phẫu tử thi sau khi chết đã tìm thấy 60 – 80 g bụi than, điều đó

Hình 1.2: Sự lắng đọng của các hạt bụi trong hệ thống hô hấp (Nguồn: Richard Wilson, Harvard Press,1996)

Trang 31

chứng tỏ khả năng làm sạch của phổi với bụi đạt hiệu suất 98 – 99% Nếu hiệu quả lọc sạch của bụi giảm 1% sẽ làm tăng gấp đôi lượng bụi giữ lại phổi

1.3.1.5 Độ phát tán của bụi:

Độ phát tán của các hạt bụi trước hết phụ thuộc vào kích thước hạt bụi, tức là bụi càng nhỏ càng khó lắng và càng có độ phân tán lớn Bụi có tỷ trọng cao lắng nhanh hơn bụi có tỷ trọng thấp

Thông thường bụi sinh ra trong sản xuất đều có đường kính khoảng dưới 10

m, nhiều nhất là loại bụi dưới 5 m Nếu không khí chuyển động (có gió) thì loại bụi này thường tồn tại trong không khí nơi làm việc và là loại bụi chủ yếu gây tác hại đối với sức khoẻ con người nói chung và cơ quan hô hấp nói riêng

1.3.1.6 Mô tả các nguồn phát sinh bụi

Nhìn chung trong ngành chế biến gỗ chủ yếu có các công đoạn cưa xẻ gỗ (tạo dáng), chà nhám, sơn và đóng gói thành phẩm Và bụi phát sinh chủ yếu từ các công đoạn và quá trình sau:

+ Cưa xẻ gỗ để tạo phôi cho các chi tiết mộc

+ Rọc, xẻ gỗ

Hình 1.3: Kích thước bụi và sự xâm nhập vào cơ quan hô hấp

(Nguồn: PGS.TS Nguyễn Thị Thu, 2007 – Khoa học môi trường và sức

khỏe môi trường)

Trang 32

+ Khoan, phay, bào

+ Chà nhám, bào nhẵn bề mặt các chi tiết

Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể về kích thước cỡ hạt bụi và tải lượng bụi sinh ra ở những công đoạn khác nhau Tại các công đoạn gia công thô như cưa cắt, bào, tiện, phay … phần lớn chất thải đều có kích thước lớn có khi tới hàng ngàn

m Hệ số phát thải bụi ở các công đoạn trong công nghệ sản xuất gỗ được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 1.2: Hệ số ô nhiễm bụi trong công nghệ sản xuất gỗ gia dụng

3 Chà nhám, đánh bóng 0.05 (Kg/m2)

Nguồn:WHO, 1993 1.3.1.7 Điều kiện lao động tiếp xúc với bụi:

Điều kiện lao động là nhân tố quan trọng nhất quyết định mức độ ảnh hưởng của bụi đối với sức khỏe và bệnh tật của những người làm việc, cụ thể là:

Nồng độ bụi trong không khí càng cao, càng có hại Đã có những nghiên cứu cho thấy rằng, bụi đã gây ra những thương tổn ở phổi, đặc biệt là những thương tổn

xơ hóa phụ thuộc nhiều vào số lượng bụi bị giữ ở lại trong phổi (các phế nang); đây cũng chính là cơ chế chính gây nên hội chứng hạn chế chức năng hô hấp của người lao động làm việc trong môi trường có nhiều bụi Giảm nồng độ bụi trong không khí và trang bị đồ bảo hộ lao động đúng quy định là phương hướng cơ bản để phòng chống các tác hại của bụi

Thời gian tiếp xúc với bụi trong ngày làm việc càng lâu càng có hại, người có tuổi nghề cao dễ bị bệnh hơn người có tuổi nghề ít Cường độ lao động càng nặng, lượng thông khí phổi càng lớn, bụi vào phổi sẽ càng nhiều

Trang 33

1.3.1.8 Ảnh hưởng của bụi đến cơ thể:

Các thương tổn sớm dễ thấy nhất:

- Ở đường hô hấp trên bụi hữu cơ thường dính ở mũi, phế quản gây sung huyết, bài tiết các chất nhờn và gây phù thũng Bụi độc càng hoà tan nhiều thì càng độc với niêm mạc, bụi vô cơ gây tổn thương niêm mạc hô hấp trên, tác dụng kéo dài làm niêm mạc hô hấp dày lên Đây chính là phản ứng của niêm mạc nếu kéo dài gây viêm mũi xơ teo, khả năng lọc bụi của mũi bị giảm nhiều, vì vậy viêm khí quản, phế quản cấp tính và mãn tính cũng là bệnh thường gặp ở người tiếp xúc với không khí

có nhiều bụi

- Ở phổi, bệnh gây các bệnh bụi phổi Theo tổ chức lao động thế giới, bệnh bụi phổi được định nghĩa “Sự tích luỹ bụi trong phổi và những phản ứng tổ chức chống lại sự có mặt của chúng” Đây là một bệnh mãn tính có tính chất nghề nghiệp và có trong nhiều ngành sản xuất Tuỳ theo loại bụi xâm nhập vào phổi mà gây những bệnh bụi phổi khác nhau như bụi silic gây bệnh silicosis, bụi asbet gây bệnh asbestosis, bụi bông gây bệnh byssinosis …

- Đối với mắt, bụi có thể gây viêm kết mạc, bụi sắc cạnh có thể gây xước giác mạc, gây sẹo, mờ giác mạc, ảnh hưởng đến thị lực

- Đối với da, bụi làm bít các lỗ tuyến nhờn, làm da bị khô, mất độ bóng bẩy mềm mại, gây kích thích, dị ứng, nặng có thể da bị viêm loét

- Đối với toàn thân, bụi có thể gây sốt dị ứng

1.3.1.9 Các tiêu chuẩn liên quan bụi gỗ:

 Quyết định 3733/2002/BYT – 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động; quy định tiêu chuẩn bụi không chứa silic như sau:

Phạm vi điều chỉnh: Tiêu chuẩn này quy định nồng độ giới hạn đối với các loại bụi không chứa silic tự do (SiO2)

Đối tượng áp dụng: Tất cả các cơ sở có sử dụng lao động

Giá trị giới hạn:

Trang 34

Bảng 1.3: Giá trị nồng độ tối đa cho phép bụi không chứa silic

Nồng độ bụi toàn phần (mg/m 3 )

Nồng độ bụi hô hấp (mg/m 3 )

1 Than hoạt tính, nhôm, bentonit,

diatomit, graphit, cao lanh, pyrit, talc 2 1

2 Bakelit, than, oxyt sắt, oxyt kẽm,

dioxyt titan, silicát, apatit, baril,

photphatit, đá vôi, đá trân châu, đá

Bảng 1.4: Tiêu chuẩn hướng dẫn tiêu chuẩn nồng độ bụi gỗ của OSHA và

ACGIH về An toàn trong chế biến gỗ năm 2000

Bụi gỗ Nồng độ phơi nhiễm cho phép Thông tin độc tính

Gỗ tổng quán sủi, gỗ

dương, gỗ hồ đào, gỗ thích TLV-TWA (8 giờ) 5 mg/m

3 Không gây dị ứng (OSHA)

Gỗ sồi TLV-TWA (8 giờ) 10 mg/m3 Gây u, bướu (ACGIH)

Gỗ linh sam, gỗ thông TLV-TWA (8 giờ) 5 mg/m

3

STEL (15 phút) 1 mg/m3

Không gây dị ứng (ACGIH)

Gỗ tuyết tùng (Western

Red Cedar) TLV-TWA (8 giờ) 2,5 mg/m

3 Gây dị ứng (OSHA)

Ghi chú:

TLV = giá trị giới hạn ngưỡng

TWA = phơi nhiễm trung bình tính theo thời gian

STEL = giới hạn phơi nhiễm ngắn hạn

Trang 35

ACGHI = Hội thảo vệ sinh công nghiệp chính phủ Mỹ

OSHA = Cơ quan quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp

Bảng 1.5: Hướng dẫn giới hạn phơi nhiễm nghề nghiệp (Occupational Exposure

Limit – OEL)

nhiễm cho phép

15 mg/m3 (toàn phần)

5 mg/m3 (hô hấp)

Kích thích cuống họng, da, mắt, đường hô hấp trên

NIOSH Giời hạn phơi

nhiễm khuyến cáo 1 mg/m

3 toàn phần Chức năng hô hấp, ung thư

Giới hạn trung

bình năm

PM10(g/m3) Cơ sở lựa chọn giới hạn Interim target-1

guideline (AQG) 20

Đây là giới hạn thấp nhất mà các bệnh ung thư phổi và hô hấp được chứng minh là tăng lên với độ tin cậy trên 95%

Trang 36

1.3.1.9 Các nghiên cứu dịch tễ có ý nghĩa liên quan đến bụi gỗ:

Cây có đặc tính của thực vật hạt trần (chủ yếu là loại cây tùng bách, thuộc loại gỗ mềm) và thực vật hạt kín (chủ yếu cây lá rộng, thuộc loại gỗ cứng) Khoảng 2/3 gỗ được sử dụng trên thế giới thuộc loại gỗ mềm

Bụi gỗ, phát sinh ra trong quá trình chế biến, là hợp chất hỗn hợp, tùy theo loại gỗ mà thành phần khác nhau Bụi gỗ là hỗn hợp chủ yếu gồm cellulose, polyoses và lignin; và nhiều hợp chất khác có khối lượng phân tử thấp hơn hình thành nên tính chất của gỗ Bao gồm chiết xuất hữu cơ không phân cực (axit béo, nhựa cây, sáp, alcohols, terpenes, sterols, steryl esters và glycerols), chiết xuất hữu phân cực (tannins, flavonoids, quinines và lignana) và chiết xuất hòa tan trong nước (cacbonhydrates, alkaloids, proteins và hợp chất vô cơ)

Mức phơi nhiễm bụi gỗ cao nhất theo các nghiên cứu là ở xưởng làm đồ trang trí nội thất, làm tủ, đặc biệt khâu đánh bóng (nồng độ bụi gỗ > 5 mg/m3) Ở khâu hoàn thành và cưa xẻ gỗ, nồng độ bụi > 1 mg/m3

Các loại gỗ sử dụng trong ngành công nghiệp gỗ rất khác nhau theo vùng và loại sản phẩm Cả gỗ cứng lẫn gỗ mềm (nguồn trong nước hay nhập khẩu) được sử dụng trong các xưởng sản xuất đồ trang trí nội thất Xí nghiệp đốn gỗ, cưa xẻ gỗ, gỗ dán và gỗ dăm thường sử dụng gỗ địa phương Hầu hết bụi gỗ (dạng khối) tìm thấy trong môi trường nhà xưởng có đường kính > 5 µm Một số nhà nghiên cứu báo cáo rằng bụi phát sinh trong các khâu đánh bóng và các nghiên cứu gỗ cứng có kích thước nhỏ hơn thì cao hơn, nhưng chưa chứng minh được

Trong công nghiệp chế biến đồ gỗ, công nhân có thể phơi nhiễm hơi dung môi

và formaldehyde trong keo và lớp phủ bề mặt Công nhân xí nghiệp gỗ dán và gỗ dăm có thể phơi nhiễm hơi formaldehyde, dung môi, phenol, chất bảo quản gỗ và

các bào tử nấm

Nhiều trường hợp ung thư xoang mũi và các khoang cạnh mũi đã được nghiên cứu ở công nhân ngành gỗ Nghiên cứu sớm nhất về ung thư đường hô hấp trên trong ngành chế biến gỗ được công bố ở Đức (Schroeder, 1989)

Trang 37

Macbeth (1965) nghiên cứu trên 20 bệnh nhân (17 nam) đến từ High Wycombe, United Kindom, mắc bệnh ác tính ở các khoang cạnh mũi (ung thư vòm hầu); trong do có 15 trường hợp (đều là nam) làm trong ngành chế biến gỗ Một số nhà máy sản xuất đồ nội thất trong nhà ở High Wycombe chuyên về ghế làm từ nhiều thị trường trong nước và nhập khẩu hardwoods Tại thời điểm nghiên cứu, số công nhân nam làm trong ngành gỗ chiếm 23,5% dân số nam địa phương

Một cuộc khảo sát được thực hiện ở khu vực Oxford, bao gồm cả High Wycombe, có 148 trường hợp (98 nam) được chẩn đoán ung thư ở mũi từ năm 1951 đến 1965 (Acheson và cộng sự, 1968; Acheson 1976) Những trường hợp này được phân loại theo giới tính và loại mô ung thư Các kết quả đưa ra mối liên kết chặt chẽ giữa ung thư vòm hầu và thời gian làm việc trong ngành gỗ nội thất Trong 33 trường hợp ung thư vòm hầu ở nam, 24 trường hợp (73%) là công nhân ngành gỗ

65 trường hợp còn lại có khối u ở mũi thì 5 trường hợp (8%) làm trong ngành gỗ Acheson và cộng sự (1972) thực hiện khảo sát ung thư vòm hầu ở Anh, trừ khu vực Oxford Nghiên cứu này gồm 107 trường hợp ung thư vòm hầu (80 nam)

và 110 trường ung thư mũi khác (85 nam) 33 nam (41%) và 1 nữ (3,7 %) bị ung thư vòm hầu có khoảng thời gian làm trong ngành chế biến gỗ, trong đó, 24 nam (73%) làm trong ngành nội thất Các dạng bụi gỗ chính được các công nhân ngành

gỗ (bao gồm ung thư vòm họng và các dạng có tiền sử khác) nhắc đến nhiều hơn 1 loại Những loại thường được đề cập trong ngành gỗ như gỗ sồi (oak) (8 bệnh nhân ung thư vòm họng) và beech (một loại gỗ sồi), birch (giống cây Bulo) và walnut (cây óc chó) (4 bệnh nhân ung thư vòm họng – với mỗi loại gỗ) 4 bệnh nhân sử dụng chủ yếu gỗ mềm; ba trong số đó bị ung thư vòm họng là thợ gỗ gia dụng và thợ mộc, và người còn lại làm trong khâu đóng gói - bị ung thư da (xuất phát từ lớp

tế bào vảy)

Nghiên cứu thuần tập (nghiên cứu Cohort)

Một nghiên cứu thuần tập ở Phần Lan với 1223 công nhân nhà máy cưa được theo dõi từ 1945 – 1980 (Jappinen và cộng sự, 1989) Tỷ lệ mắc bệnh ung thư không vượt quá tổng thể, và không có trường hợp nào ung thư mũi Chỉ có ung thư

Trang 38

da không sắc tố có tỷ lệ mắc bệnh tăng cao, với 6 trường hợp ở nam (tỷ lệ mắc bệnh chuẩn [SIR], 3.1; 95% khoảng tin cậy [CI], 1.2-6.8 và 2 trường hợp ở nữ [SIR, 1.8; 95% CI, 0.2-6.6], tuy nhiên 4/6 bệnh nhân nam bắt đầu làm việc từ năm 1945 khi chlorophenols được sử dụng

4 nghiên cứu Cohort về công nhân ngành gỗ có giá trị, United Kingdom, Đan Mạch, Đức và Mỹ Nghiên cứu của Đan Mạch, 40428 công nhân ngành mộc và gỗ được theo dõi từ năm 1971-1976 (Olsen & Sabroe, 1979) Tỷ lệ mắc bệnh chung ở các công nhân đang làm và công nhân đã về hưu thấp Chỉ có ung thư mũi và xoang

có tỷ lệ mắc bệnh tăng ( Tỷ lệ mắc bệnh chuẩn [SMR], 4.7; 95% CI, 2.5-6.8; 4 trường hợp tử vong)

Nghiên cứu về 5108 công nhân gỗ trang trí nội thất ở High Wycombe, United Kingdom, khoảng năm 1982, tỷ lệ mắc bệnh chung về tất cả các loại ung thư thấp; chỉ ung thư mũi và xoang có tỷ lệ mắc bệnh tăng ([SMR], 8.2; 95% CI, 3.7-16] 9 trường hợp tử vong) (Rang & Acheson, 1981; Achosen và cộng sự, 1984) Công nhân được chia làm 3 nhóm theo nồng độ bụi nơi làm việc, tất cả các trường hợp tử vong do ung thư xoang đều nằm trong nhóm phơi nhiễm bụi nhiều nhất [SMR, 16; 95% CI, 7.2-30]

Nghiên cứu Cohort với 759 công nhân ngành mộc và làm tủ từ năm

1973-1984 ở Đức, không có trường hợp nào bị ung thư xoang, chỉ có ung thư u hắc sắc tố

có tỷ lệ mắc bệnh tăng (SIR, 9.5; 95% CI, 2.4-28, 2 trường hợp) (Barthel & Dietrich, 1989)

Nghiên cứu Cohort về công nhân ngành gỗ ở Mỹ, gồm 34801 người (trong đó

12158 người đang làm ở các xí nghiệp làm đồ gỗ trang trí nội thất), từ năm

1946-1983 (Miller và cộng sự, 1989, 1994) Tỷ lệ mắc bệnh ung thư tổng thể thấp ở mức

kỳ vọng, chỉ có tỷ lệ mắc bệnh ung thư bạch cầu dạng tủy là tăng (SMR, 1.9; 95%

CI, 1.0-3.5; 11 trường hợp tử vong); 7 trường hợp tử vong do ung thư bạch cầu cấp tính Tỷ lệ mắc bệnh tăng đáng kể là viêm thận mãn tính (SMR, 2.5; 95% CI, 1.1-5.0; 8 trường hợp tử vong) 2 trường hợp tử vong do ung thư xoang (mức kỳ vọng 2.5)

Trang 39

Nghiên cứu Cohort với 2283 công nhân gỗ dán từ 4 nhà máy ở Washington và Oregon, United States, từ năm 1954-1977 (Robinson và cộng sự, 1990) Tỷ lệ mắc bệnh ung thư tổng thể thấp ở mức kỳ vọng, và không có tỷ lệ mắc bệnh nào tăng đáng kể Không có trường hợp nào tử vong do ung thư xoang (kỳ vọng 0.4)

Tổng số người tình nguyện ở Hội ung thư Mỹ đăng ký tham gia nghiên cứu làm trong ngành gỗ là 10322, và tỷ lệ mắc bệnh của họ được so sánh với 400000 người tình nguyện làm ở các nghề khác (Stellman & Garfinkel, 1984) Tỷ lệ mắc bệnh ung thư chung gần mức kỳ vọng, mức tỷ lệ mắc bệnh tăng đáng kể là ung thư

dạ dày (SMR, 1.5; 44 trường hợp tử vong) và ung thư bọng đái (SMR, 1.4; 29 trường hợp tử vong); mức tỷ lệ mắc bệnh tăng không đáng kể là ung thư phổi (SMR, 1.1; 135 trường hợp tử vong) và ung thư xoang (SMR, 2.0; 2 trường hợp tử vong)

Innos và cộng sự (2000) nghiên cứu 3723 nam và 3063 nữ công nhân ở 2 xí nghiệp mộc gia dụng vùng Estonia bắt đầu từ năm 1946 đến 1995 về số phát bệnh ung thư Công nhân được phân theo phơi nhiễm nồng độ bụi thấp, trung bình hoặc cao Ung thư mũi cao gấp 2 lần so với mức bình thường, so sánh với dân số quốc gia, nhưng điều này chỉ dựa trên 3 trường hợp (tất cả đều phơi nhiễm ở nồng độ cao)

Nghiên cứu bệnh chứng (nghiên cứu Case-control)

Thông tin về phơi nhiễm bụi gỗ hay công nhân trong ngành gỗ được báo cáo trong các nghiên cứu có đề cập tới các khía cạnh ung thư Nhóm công nhân được phỏng vấn trong nghiên cứu bệnh chứng về hệ thống hô hấp, tiêu hóa, và bạch huyết-máu Các nghiên cứu bện chứng được nhóm theo mức phơi nhiễm bụi gỗ hay theo dạng nghề nghiệp Thuật ngữ “Nguy cơ tương đối” được dùng bao hàm cả đánh giá tỷ lệ rủi ro, thường được dùng như tỷ số chênh (odds ratio)

Hernbeg và cộng sự (1983) đã báo cáo kết quả nghiên cứu bệnh chứng Đan Mạch – Phần Lan – Thụy Điển của 167 bệnh nhân với các u ác tính ở mũi (nasal cavity và paranasal sinuses) được chẩn đoán ở Đan Mạch, Phần Lan và Thụy Điển

từ giữa tháng 7-1977 đến tháng 10-1980 95 trường hợp ung thư dạng biểu bì, 18

Trang 40

trường hợp ung thư dạng tuyến, 17 trường hợp ung thư biệt hóa kém và 37 trường hợp ung thư dạng mô Nhóm chứng là 167 bệnh nhân với u ở ruột kết và ruột thẳng, được so sánh với bệnh nhân trong nước, chẩn đoán theo giới tính và tuổi bệnh và chứng được xác định thông qua Hội ung thư quốc gia của Phần Lan và Thụy Điển

và 4/5 trung tâm ung thư của Đan Mạch Các chủ thể được phỏng vấn một cách bao quát bằng điện thoại về nghề nghiệp và tiền sử phơi nhiễm Những nguy cơ tăng được quan sát với phơi nhiễm bụi gỗ cứng (tỷ số chênh, 2.0; 95%CI, 0.2-21), gỗ mềm (3.3; 1.1-9.4) và hỗn hợp gỗ cứng và gỗ mềm (12; 2.4-59) trên nền tảng phân tích so sánh Cả hai nhóm đều phơi nhiễm với bụi gỗ cứng, không một ai trong 13 chủ thể phơi nhiễm bụi gỗ mềm, bị ung thư dạng tuyến Những chủ thể phơi nhiễm với hỗn hợp bụi gỗ cứng và mềm bị ung thư dạng mô hỗn hợp

Olsen và cộng sự (1984) nghiên cứu mối quan hệ giữa ngành nghề và ung thư xoang mũi và mũi hầu ở Đan Mạch Tổng số 488 trường hợp u ung thư xoang mũi (bao gồm dạng sarcomas) được chẩn đoán ở Đan Mạch từ 1970 – 1982 và được nhận diện bởi hội ung thư Đan Mạch 2456 chứng là bệnh nhân ung thư ruột kết, ruột thẳng, tuyến tiền liệt hay ngực, được chẩn đoán cùng thời gian Tiền sử công nhân (chỉ duy nhất công nghiệp) từ năm 1964 được thu thập nhờ sự kết hợp dữ liệu Quỹ hưu trí quốc gia, và nghề nghiệp hiện tại được xác minh nhờ kết hợp trung tâm đăng ký dân số Nhóm vệ sinh viên công nghiệp theo dõi tiền sử công nhân và ấn định loại phơi nhiễm (không phơi nhiễm, có thể phơi nhiễm, chắc chắn phơi nhiễm, không dủ thông tin) thành một danh sách hợp chất được định trước, bao gồm bụi gỗ (rủi ro tương đối, 2.5; 95% CI, 1.7-3.7 nam)

Các dữ liệu phù hợp để đánh giá chất gây ung thư và cơ chế

Lắng đọng và làm sạch

Con người:

Chưa có nghiên cứu về sự lắng đọng bụi gỗ trong đường hô hấp con người thật sự có giá trị Những hạt có kích thước lớn (> 10 µm) lắng hoàn toàn ở mũi; độ lắng của các hạt nhỏ hơn tùy theo kích thước, vận tốc dòng khí và cách hô hấp

Ngày đăng: 08/03/2021, 21:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w