- Nghiên cứu sự ảnh hưởng của hàm lượng amoni lên quá trình khử mangan tại nhà máy nước Tân Hiệp khi sử dụng vật liệu lọc Ferrolite và Toyolex.. Khi nguồn nước sông Sài Gòn bị ô nhiễm
Trang 1TRẦN KIM THẠCH
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VẬT LIỆU LỌC FERROLITE VÀ TOYOLEX ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ NƯỚC MẶT TẠI NHÀ MÁY NƯỚC TÂN HIỆP
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
MS: 60.85.06 LUẬN VĂN CAO HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 12 NĂM 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Đặng Viết Hùng
Cán bộ chấm nhận xét 1:
Cán bộ chấm nhận xét 2:
Luận văn thạc sỹ được bảo vệ tại: HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN
THẠC SĨ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, ngày 30 tháng 12 năm 2008
Trang 3Tp.HCM, ngày tháng 12 năm 2008
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên: Trần Kim Thạch Phái: Nam
Ngày, tháng năm sinh: 28/10/1980 Nơi sinh: Lâm Đồng
I Tên đề tài:
Nghiên cứu ứng dụng vật liệu lọc Ferrolite và Toyolex để nâng cao hiệu quả
xử lý nước mặt tại nhà máy nước Tân Hiệp
II Nhiệm vụ của luận án:
- Nghiên cứu ứng dụng vật liệu lọc Ferrolite và Toyolex để nâng cao
hiệu quả xử lý mangan trong nước mặt tại nhà máy nước Tân Hiệp
- Nghiên cứu sự ảnh hưởng của hàm lượng amoni lên quá trình khử
mangan tại nhà máy nước Tân Hiệp khi sử dụng vật liệu lọc Ferrolite
và Toyolex
- Nghiên cứu khả năng xử lý mangan của vật liệu lọc Ferrolite và
Toyolex đối với nguồn nước mặt tại nhà máy nước Tân Hiệp
III Ngày giao nhiệm vụ: 15/06/2008
IV Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 15/12/2008
V Họ và tên cán bọ hướng dẫn: TS Đặng Viết Hùng
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn đến thầy tiến sỹ Đặng Viết Hùng, người đã
trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành quyển luận án này
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Môi Trường đã hướng dẫn
và cho tôi các kiến thức bổ ích trong quá trình làm luận án cũng như quá trình học cao học tại trường Đại Học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh
Tôi xin chân thành ban lãnh đạo Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn, Ban lãnh đạo Nhà máy nước Tân Hiệp và các phòng ban chức năng của Nhà máy nước Tân Hiệp đã hỗ trợ tôi trong suất quá trình làm luận án này tại Nhà máy nước Tân Hiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Công ty trách nhiệm hữu hạn Dương Nhật đầu
tư đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận án này
Tôi xin chân thành cám ơn gia đình và các đồng nghiệp tại Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn,và các bạn bè đã hỗ trợ và động viên tôi trong quá trình làm luận án này
Xin chân thành cảm ơn!
Trần Kim Thạch
Trang 5Bảng 2.1.2: Giá trị trung bình hàng tháng chỉ tiêu COD trang 15 Bảng 2.1.3: Giá trị trung bình hàng tháng chỉ tiêu amoni trang 15 Bảng 2.1.4: Giá trị trung bình hàng tháng chỉ tiêu độ đục trang 16 Bảng 2.1.5: Giá trị trung bình hàng tháng chỉ tiêu SS trang 16 Bảng 2.1.6: Giá trị trung bình hàng tháng chỉ tiêu mangan trang 16 Bảng 2.1.7: Giá trị trung bình hàng tháng chỉ tiêu DO trang 16 Bảng 2.1.8: Giá trị trung bình hàng tháng chỉ tiêu sắt trang 16 Bảng 2.1.9: Chất lượng nước sau xử lý của nhà máy nước Tân Hiệp trang 17 Bảng 3.1.1: Kích thước của các công trình trong mô hình thí nghiệm trang 30
Trang 6Hình 2.1.2: Sơ đồ công nghệ xử lý nhà máy nước Tân Hiệp Trang 11
Hình 3.1.1: Mô hình pilot tại nhà máy nước Tân Hiệp Trang 28 Hình 3.1.2: Bản vẽ mặt cắt mô hình nhà máy nước Tân Hiệp Trang 29 Hình 3.1.3: Bản vẽ mặt bằng đặt mô hình tịa nhà máy nước Tân Hiệp Trang 29
Trang 7DO : Lượng oxi hòa tan
SS: : Hàm lượng cặn lơ lửng WHO : Tổ chức y tế Thế giới
Fe2O3 : Oxit sắt (III)
TOC : Tổng lượng cacbon hữu cơ JWWA : Hiệp hội cấp nước Nhật Bản
Trang 8Mục lục
Tóm tắt 3
Summary 4
Chương 1 Mở đầu 5
1.1 Đặt vấn đề, tính cấp thiết của đề tài 5
1.1.1 Đặt vấn đề 5
1.1.2 Tính cấp thiết của đề tài 6
1.2 Mục tiêu, nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 6
1.2.1 Mục tiêu của đề tài 6
1.2.2 Nội dung nghiên cứu 7
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu 7
1.2.4 Phạm vi nghiên cứu 7
1.3 Tính khoa học, tính thực tế, tính mới của đề tài 8
1.3.1 Tính khoa học của đề tài 8
1.3.2 Tính thực tế của đề tài 8
1.3.3 Tính mới của đề tài 8
Chương 2 Tổng Quan 9
2.1 Tổng quan về xử lý nước mặt tại nhà máy nước Tân Hiệp 9
2.1.1 Tổng quan về nhà máy nước Tân Hiệp 9
2.1.2 Dây chuyền công nghệ xử lý tại nhà máy nước Tân Hiệp 11
2.1.3 Chất lượng nguồn nước của nhà máy nước Tân Hiệp 14
2.1.4 Tiêu chuẩn chất lượng nước áp dụng tại nhà máy nước Tân Hiệp 17
2.1.5 Chất lượng nước sau xử lý tại nhà máy nước Tân Hiệp 17
2.1.6 Những vấn đề còn tồn đọng tại nhà máy nước Tân Hiệp 18
2.2 Các phương pháp khử amonia và mangan 19
2.2.1 Phương pháp khử amonia 19
2.2.2 Phương pháp khử mangan 19
2.3 Các loại vật liệu lọc 20
2.3.1 Vật liệu lọc Ferrolite 22
2.3.2 Vật liệu lọc Toyolex 24
2.4 Các nghiên cứu đã thực hiện trong và ngoài nước 26
2.4.1 Các nghiên cứu đã thực hiện trong nước 26
2.4.2 Các nghiên cứu đã thực hiện ngoài nước 26
Chương 3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp phân tích 28
3.1 Đối tượng nghiên cứu 28
3.2 Mô hình thí nghiệm 28
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.3.1 Xử lý với nguồn nước thô hiện hữu 30
3.3.1.1 Theo quy trình vận hành hiện tại của nhà máy nước Tân Hiệp 30
3.3.1.2 Sục khí oxi vào vể trộn thay cho sử dụng vôi 30
3.3.2 Xử lý với nguồn nước ô nhiễm cao 31
3.3.2.1 Xử lý với nguồn nước bị ô nhiễm amonia 31
3.3.2.2 Xử lý với nguồn nước bị ô nhiễm mangan 31
3.3.2.3 Xử lý với nguồn nước bị ô nhiễm đồng thời mangan và amonia 32
3.4 Phương pháp phân tích 32
Chương 4 Kết quả thí nghiệm và bàn luận 34
4.1 Xử lý với nguồn nước thô hiện tại 34
4.1.1 Theo quy trình vận hành hiện tại của nhà máy nước Tân Hiệp 34
Trang 94.1.2 Sục không khí vào bể trộn thay cho sử dụng vôi 37
4.2 Xử lý vơi nguồn nước ô nhiễm cao 41
4.2.1 Xử lý với nguồn nước bị ô nhiễm amonia 41
4.2.1.1 Nguồn nước có nồng độ amonia khoảng 0,65mg/L 42
4.2.1.2 Nguồn nước có nồng độ amonia khoảng 0.8 mg/L 43
4.2.1.3 Nguồn nước có nồng độ amonia khoảng 1.0 mg/L 44
4.2.1.4 Nguồn nước có nồng độ amonia khoảng 1.2 mg/L 45
4.2.2 Xử lý với nguồn nước bị ô nhiễm mangan 48
4.2.2.1 Nguồn nước có nồng độ mangan khoảng 0.4 mg/L 49
4.2.2.2 Nguồn nước có nồng độ mangan khoảng 0.6 mg/L 50
4.2.2.3 Nguồn nước có nồng độ mangan khoảng 0.8 mg/L 51
4.2.2.4 Nguồn nước có nồng độ mangan khoảng 1.0 mg/L 52
4.2.3 Xử lý với nguồn nước bị ô nhiễm đồng thời mangan và amonia 54
4.2.3.1 Nguồn nước có nồng độ mangan khoảng 0.4 mg/L và amonia 0.7 mg/L 55
4.2.3.2 Nguồn nước có nồng độ mangan khoảng 0.6 mg/L và amonia 0.7 mg/L 56
Chương 5 Kết luận và kiến nghị 59
5.1 Kết luận 59
5.1.1 Khả năng xử lý mangan 59
5.1.2 Khả năng xử lý amonia 59
5.1.3 Ảnh hưởng của amonia đến quá trình xử lý mangan 59
5.1.4 Về các chỉ tiêu khác 60
5.2 Kiến nghị 61
Tài liệu tham khảo 62
Phụ lục 1: Tiêu chuẩn 1329/2002/QĐ- BYT về nước cấp dành cho ăn uống và sinh hoạt 63
Phụ lục 3: thực hiện việc nghiên cứu theo quy trình vận hành hiện tại của nhà máy nước Tân Hiệp 66
Phụ lục 4: Thực hiện nghiên cứu sục khí thay cho việc châm vôi tại bể phản ứng 68
Phụ lục 5: Thực hiện nghiên cứu trên nguồn nước châm bổ sung hàm lượng amonia vào nguồn nước 70
Phụ lục 6: Thực hiện nghiên cứu trên cơ sở châm bổ sung hàm lượng mangan vào nguồn nước 78
Phụ lục 7: Thực hiện nghiên cứu châm bổ sung đồng thời amonia và mangan vào nguồn nước 86
Trang 10Tóm tắt
Chất lượng nước sông Sài Gòn đang ngày càng ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm các
chất hữu cơ như: amonia và nồng độ mangan đang có xu hướng tăng cao Khi nguồn
nước sông Sài Gòn bị ô nhiễm chất hữu cơ đặc biệt là khi nồng độ amoni (N_NH4+) tăng
cao khoảng 0.5 – 0.7 mg/L thì hiệu quả xử lý mangan của dây chuyền công nghệ hiện tại
của nhà máy nước Tân Hiệp rất thấp, nồng độ mangan sau xử lý có những thời điểm ở
mức > 0.1 mg/L
Với nghiên cứu ứng dụng sử dụng cát lọc Ferrolite và Toyolex tại nhà máy nước
Tân Hiệp và vận hành với vận tốc lọc 10 – 12m3/m2..h:
- Hiệu quả xử lý mangan rất tốt, hiệu quả xử lý > 90%, kể cả khi nồng độ mangan
trong nước lên khoảng 1.0 mg/L Nồng độ mangan sau xử lý luôn đạt ở mức <
0.02 mg/L
- Hiệu quả xử lý mangan không bị ảnh hưởng khi trong nguồn nước có hàm lượng
amoni cao (khi bổ sung nồng độ amonia lên đến 1.2mg/L) hiệu quả xử lý mangan
vẫn đạt > 90%, lượng mangan sau xử lý vẫn đạt mức < 0.02 mg/L Khi nồng độ
mangan trong nước lên đến 0.6 mg/L và nồng độ amoni là 0.7 mg/L thì hiệu quả
xử lý mangan vẫn ở mức cao khoảng 90% và nồng độ mangan sau xử lý vẫn ở
mức < 0.05 mg/L
- Tuy nhiên, hiệu quả xử lý amonia của các loại vật liệu này thì không đạt được
hiệu quả cao, hiệu quả xử lý chỉ đạt khoảng 50%
Trang 11Summary
The quatility of the Sai Gon river, source water of Tân Hiệp water treatment plan,
is more pollution, special amonia and mangan is high When the amonia in the source
water about 0.5 – 0.7 mg/L, mangan can’t not be removed more, content of mangan
after filter about 0.1 mg/L
Removal mangan use Ferrolite and Toyolex filter in the Tân Hiệp water treatment
plan, with velocity of the filter: 10 – 12m3/m2..h,
- Over 90% mangan was removed by the filter, when concentration mangan of
source water up to 1mg/L, content mangan in the output of the filter always
below 0.02 mg/L
- When content amonia in the source water up to 1.2mg/L, mangan remove is over
90%, and content mangan in the output of the filter always below 0.02 mg/L
- When content amonia in the source water up to 0.7mg/L and mangan up tu 0.6
mg/L, mangan remove is over 90%, and content mangan in the output of the filter
always below 0.05 mg/L
- But, Only about 50% amoni was removed by the filter
Trang 12Chương 1 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề, tính cấp thiết của đề tài
1.1.1 Đặt vấn đề
Trong thời gian từ tháng 09 năm 2005 đến tháng 03 năm 2006, mạng lưới cấp
nước Thành phố Hồ Chí Minh xảy ra hiện tượng nước đục vàng hoặc nâu trên diện rộng
Hiện nay thỉnh thoảng còn xảy ra hiện tượng nước đục tại một số khu vực nhỏ, đặc biệt
là các phường thuộc quận 11, Tân Phú, Tân Bình
Đã có một số nghiên cứu kết luận vê tình trạng nước đục này như:
- Theo kết luận của Liên hiệp các hộ khoa học Thành phố Hồ Chí Minh Vi khuẩn
sắt và vi khuẩn Mangan có trong nguồn nước sẽ oxi hóa sinh học các ion Sắt và
Mangan trong nước, “Khảo sát ảnh hưởng của vi khuẩn sắt, mangan trên chất
lượng nước sinh hoạt tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua phân tích cặn, chất
nhày bám trên vách bể lắng nước tại Nhà máy nước Tân Hiệp” 2007
- Theo nhận định của Trung tâm Ứng dụng Hạt Nhân trong Công nghiệp thuộc
Viện Nghiên cứu Hạt Nhân Đà Lạt: Quá trình oxi hóa hóa học trên đường ống mà
nguyên nhân của quá trình oxi hóa này là do chỉ số bão hòa của nguồn nước sau
khi xử lý có chỉ số âm, và một phần do độ mặn có trong nguồn nước vào mùa khô
“Khảo sát nguyên nhân gây đục hệ thống cấp nước sinh hoạt của Thành phố Hồ
Chí Minh bằng phương pháp phân tích kết hợp đánh dấu”, 2007
- Theo chuyên gia của Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn: Chất lượng sau xử lý của
nhà máy nước Tân Hiệp có nhiều biến động cũng làm một nguyên nhân gây ra
tình trạng nước đục trên mạng lưới cấp nước (Nồng độ Mangan, độ đục ra khỏi
nhà máy còn khá cao, 2008, mặc dù các chỉ tiêu sau khi xử lý luôn đạt theo quyết
định số 1329/2002/BYT/QĐ về nước dùng cho ăn uống sinh hoạt của Bộ Y Tế
Việt Nam
Như các kết luận ở trên, nồng độ Mangan, và độ đục cao trong nước cấp sau quá
trình xử lý của nhà máy nước Tân Hiệp là một trong những nguyên nhân quan trọng gây
ra hiện tượng nước đục của mạng lưới cấp nước Thành phố Hồ Chí Minh Vì vậy, việc
Trang 13giảm nồng độ mangan là một phần không thể thiếu trong công tác phòng chống nước
đục xảy ra trên diện rộng (hiện nay nồng độ Mangan ra khỏi nhà máy nằm trong khoảng
0.01 – 0.1mg/L, độ đục ra khỏi nhà máy nước nằm trong khoảng: 0.18 – 1.9 NTU)
Trước những tình hình như thế, việc nghiên cứu các công nghệ mới và nâng
cao hiệu quả xử lý nước tại nhà máy nước Tân Hiệp là một trong những yêu cầu cấp
bách Việc nghiên cứu ứng dụng các vật liệu lọc mới, chuyên dụng là một trong
những giải pháp về công nghệ mới của nhà máy
Trước những nhược điểm của Công nghệ xử lý áp dụng bể lọc một lớp vật liệu
lọc như vậy, ở một số nước trong khu vực và trên thế giới đã áp dụng bể lọc nhiều lớp
vật liệu lọc: sử dụng cả 02 lớp vật liệu lọc chuyên dụng là Ferrolite và Toyolex để tăng
hiệu quả xử lý của bể lọc, và hạn chế ảnh hưởng của hàm lượng amonia có trong nước
đến khả năng xử lý mangan, và hiệu quả xử lý amonia của 02 lớp vật liệu Ferrolite và
Toyolex
1.1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Việc nghiên cứu ứng dụng một công nghệ mới để đảm bảo cho sự hoạt động ổn
định của nhà máy nước Tân Hiệp trong giai đoạn hiện tại và tương lai là một yêu cầu
cần thiết và cấp bách, vì hiện tại nhà máy nước Tân Hiệp cung cấp nước cho khoảng 1/4
dân số của Thành phố Hồ Chí Minh
Bên cạnh đó việc ổn định nâng cao chất lượng nước để phục vụ cho nhu cầu sinh
hoạt của người dân thành phố cũng là một trong những chương trình trọng điểm của
Tổng Công ty cấp nước Sài Gòn
1.2 Mục tiêu, nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên
cứu, phạm vi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu của đề tài
Ổn định và nâng cao chất lượng nước sau xử lý tại nhà máy nước Tân Hiệp trong
giai đoạn hiện tại và tương lai đảm bảo chất lượng nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn nước
cấp dùng cho mục đích ăn uống và sinh hoạt (theo tiêu chuẩn 1329/2002/QĐ -BYT) và
Trang 14tiêu chuẩn nước sau xử lý của Tổng Công ty cấp nước Sài Gòn (theo quyết định số
938/QĐ-TCT-KTCN), nhằm đáp ứng chương trình “Kế hoạch cấp nước an toàn” theo
đề nghị của tổ chức Y tế thế giới (WHO), hạn chế những rủi ro về chất lượng nước cho
hệ thống cấp nước của Thành phố Hồ Chí Minh
1.2.2 Nội dung nghiên cứu
- Hiệu quả xử lý mangan của cột lọc sử dụng 2 lớp vật liệu lọc xút tác (Ferrolite và
Toyolex) so với cột lọc sử dụng vật liệu lọc thông thường cát thạch anh Hiệu quả
xử lý mangan của cột lọc sử dụng vật liệu lọc xút tác bị ảnh hưởng bởi hàm
lượng amonia có trong nước như thế nào
- Hiệu quả xử lý amoni của cột lọc sử dụng 2 lớp vật liệu lọc xút tác (Ferrolite và
Toyolex) so với cột lọc sử dụng vật liệu lọc thông thường cát thạch anh
- Nghiên cứu khả năng xử lý nguồn nước có sự hiện diện của các chất ô nhiễm cao,
cụ thể là sự hiện diện của mangan và amonia
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra, thu thập số liệu
- Tổng hợp tài liệu
- Lấy mẫu phân tích các chỉ tiêu (pH, mangan, sắt, COD,…)
- Nghiên cứu trên mô hình thực nghiệm (mô hình pilot)
- Phương pháp thống kê và xử lý số liệu (sử dụng phận mềm excel)
1.2.4 Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn nước sông Sài Gòn cung cấp cho quy trình xử lý
của nhà máy nước Tân Hiệp
- Nghiên cứu khả năng xử lý 02 chỉ tiêu: mangan và amoni (N_NH4+)
Trang 151.3 Tính khoa học, tính thực tế, tính mới của đề tài
1.3.1 Tính khoa học của đề tài
- Dựa trên cơ sở hóa học xút tác để nâng cao hiệu quả xử lý nguồn nước cấp
- Sử dụng các cát lọc xút tác có tính oxi hóa cao, chọn lọc để tăng khả năng xử lý
mangan, amoni và hạn chế ảnh hưởng của quá trình khử mangan khi trong nguồn
nước có lượng amonia tăng cao
- Kết quả nghiên cứu được lấy trên mô hình pilot của nhà máy nước Tân Hiệp và
được xử lý trên phần mềm excel
1.3.2 Tính thực tế của đề tài
- Dây chuyền công nghệ hiện tại của nhà máy nước Tân Hiệp không thể xử lý hiệu
quả khi nguồn nước có hàm lượng mangan hoặc amonia cao, hiệu quả xử lý
mangan bị ảnh hưởng khá lớn khi trong nguồn nước có sự hiện diện của amonia
Với đề tài này, có thể xử lý mangan với nồng độ cao, đồng thời hiệu quả xử lý
mangan không bị ảnh hưởng lớn từ hàm lượng amonia có trong nguồn nước,
đồng thời có thể loại bỏ được một lượng amonia có trong nguồn nước, giúp cho
nâng cao chất lượng nước sau xử lý, và đảm bảo hệ thống xử lý nước vận hành
ổn định trong giai đoạn hiện tại và trong tương lại
- Đề tài này đóng góp vào một trong những chương trình hành động của Tổng
Công ty cấp nước Sài Gòn nhằm ổn định và nâng cao chất lượng nước (chương
trình nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mới trong xử lý nước)
1.3.3 Tính mới của đề tài
- Hiện tại, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào ứng dụng các vật liệu lọc chuyên
dụng để loại bỏ xử lý mangan, và hạnn chế ảnh hưởng của amonia lên quá trình
xử lý mangan cho các quy trình công nghệ xử lý nước dùng nước sông Sài Gòn
để xử lý thành nước cấp cho mục đích ăn uống và sinh hoạt
Trang 16Chương 2 Tổng Quan
2.1 Tổng quan về xử lý nước mặt tại nhà máy nước Tân
Hiệp
2.1.1 Tổng quan về nhà máy nước Tân Hiệp
Nhà máy nước Tân Hiệp là một đơn vị sản xuất trực thuộc Tổng Công ty Cấp
nước Sài Gòn Nhà máy được thành lập tháng 01 năm 2004, theo Quyết định số
8037/QĐ-CN-TCHC do Giám đốc Công ty Cấp nước Thành phố Hồ Chí Minh ký ngày
20/12/2003 Nhà máy tiếp quản dự án “Hệ thống cấp nước sông Sài Gòn giai đoạn I” do
Ban Quản lý Dự án bàn giao lại
Dự án bắt đầu vào năm 1992 do chính phủ Ý tài trợ phần thiết kế, xây dựng và
đào tạo công nhân vận hành Phần thiết bị của dự án do chính phủ Việt Nam đầu tư
Năm 1994, sau khi xây dựng và lắp đặt xong trạm bơm nước thô Hòa Phú - Tân Hiệp, vì
nhiều lý do chính phủ Ý ngưng tài trợ dự án Đến năm 2003, Công ty Cấp nước tiếp tục
thực hiện dự án bằng vốn vay của Quỹ Đầu tư và Phát triển Đô thị (HIFU)
Từ tháng 06/2004, hệ thống cấp nước sông Sài Gòn giai đoạn I công suất 300.000
m3/ngày đêm đã được vận hành sản xuất thử kết hợp với việc sản xuất phục vụ nhân dân
vùng thiếu nước với chất lượng nước đảm bảo các tiêu chuẩn nước sạch Hiện nay nhà
máy đang vận hành với công suất trung bình 285.000 m3/ngày
Trang 17Hồ Dầu
Tiếng
Nhà máy nước Tân Hiệp
Trạm Hòa Phú
Nước Thải KCN Bình Dương
Hình 2.1.1 Vị trí nhánh sông Sài Gòn cung cấp nước cho nhà máy nước Tân Hiệp
Trang 182.1.2 Dây chuyền công nghệ xử lý tại nhà máy nước Tân Hiệp
Hình 2.1.2 Sơ đồ công nghệ xử lý nước hiện tại của nhà máy nước Tân Hiệp
Clo hóa sơ bộ
- Châm clo vào nước thô là cần thiết để bảo vệ phần xử lý nước không bị rong
tảo, và đồng thời sử dụng các đặc tính oxy hóa của clo trong việc khử màu,
amoniac và các chất hữu cơ
- Liều lượng clo phụ thuộc vào nhu cầu clo ước tính, nhu cầu này có thể thay
đổi nhiều theo mùa và theo điều kiện thời tiết sao cho lượng clor về tới Nhà
máy nước Tân Hiệp nằm trong khoảng 0.05 – 0.1 mg/L
- Nước clo sẽ được châm ngay trước trạm bơm nước thô, các vết amoniắc nếu
có sẽ được chuyển thành khí nitơ Cùng với việc châm clo vào, các vi khuẩn
sẽ bị diệt và sẽ ngăn chặn được sự phát triển rong xanh dọc các tường bể
BỂ LỌC
VẬT LIỆU CÁT
Phèn Vôi
BỂ CHỨA NƯỚC
SẠCH
TP 300.000m3/ngày TRẠM BƠM
CẤP II
Trang 19- Liều lượng Clo phụ thuộc vào nhu cầu Clo và được tự động điều chỉnh trên cơ
sở các thông tin từ các thiết bị kiểm soát lưu lượng nước thô
Trộn
- Ở công đoạn này nước và hóa chất được trộn lẫn trong một khoảng thời gian
tiếp xúc thích hợp để đạt hiệu quả kết bông cao nhất
- Nước thô sẽ đi vào phần dưới của bể trộn ở đây dung dịch phèn và vôi sẽ
được định lượng tỷ lệ trong khoảng 20 – 30 mg/L tùy thuộc vào:
Cặn lơ lửng trong nước thô;
Kết quả thí nghiệm jar-test tại phong thí nghiệm
Tạo bông - lắng
- Nước sau khi được trộn hóa chất sẽ được dẫn theo các mương đến các bể
lắng, trong quá trình di chuyển tại mương lắng, dưới tác dụng của dòng chảy
các hạt phèn sẽ kết thành các bông cặn lớn
- Tại bể lắng, các bông cặn tiếp tục quá trình tạo bông của mình và được thưc
hiện trong một bể này được thay thế các bước khác nhau của các quá trình
trộn, keo tụ và lắng bằng bể lắng đứng có tầng cặn lơ lửng
- Mực cặn lơ lửng được tự động điều chỉnh và bùn được tháo qua những hố thu
bùn sử dụng phương pháp thuỷ lực Bùn từ lớp cặn lơ lửng tràn qua mép hố
thu bùn và lắng trong các hố này trong điều kiện tĩnh lặng Bùn từ hố thu bùn
được xả định kỳ qua các ống xả bùn và các van xả bùn Những van này vận
hành bằng hơi và được điều khiển bởi các công tắc hẹn giờ có thể chỉnh giờ
được và một loạt van điều khiển bằng tay được cung cấp để sử dụng trong
trường hợp khẩn cấp cần vận hành bằng tay
Lọc nhanh
- Nước từ bể lắng trong được dẫn sang bể lọc bởi bốn máng, đảm bảo cung cấp
nước Bể lọc thuộc loại hở trọng lực, và bằng bê tông cốt thép Bể lọc được
cấu tạo bởi 12 ngăn lọc độc lập và làm việc song song, được tiếp nước tự
Trang 20chảy từ bể lắng trong sang Nước sẽ chảy qua lớp lọc, nơi đây sẽ giữ lại các
cặn lơ lửng còn sót lại trong nước từ bể lắng trong qua Sau đó, nước lọc sẽ
chảy qua một loạt chụp lọc, các chụp lọc này có tác dụng phân phối nước đều
hơn trong quá trình rửa lọc Những chụp lọc này được đặt ở đáy bể lọc và nối
liền với kênh thu nước lọc Do lớp cát lọc dần dần bị bít bởi cặn lơ lửng bị giữ
lại cho nên mực nước bên trên lớp lọc cát sẽ dâng đến một giới hạn định trước
(Một phao nổi được dùng để kiểm soát mực nước này)
- Nước lọc được tập trung vào kênh thu nước sẽ chảy qua một van điều tiết theo
tổn thất cột nước, và sau đó qua một hố bên cạnh để từ đó tràn vào một máng
thu nước bể chứa Mực nước bên trong bể lọc có liên quan đến lưu lượng, khi
lưu lượng tăng hoặc giảm mực nước tương ứng sẽ dâng hoặc hạ và sẽ làm cho
van điều khiển nước ra mở ra hoặc đóng bớt lại
- Vận tốc lọc được thiết kế trong khoảng 8 – 11m3/m2.h
Giai đoạn khử trùng
- Quá trình khử trùng được thực hiện bằng cách cho Clor vào nước sau lọc
nhằm bảo vệ nguồn nước trên mạng lưới, tránh hiện tượng tái nhiễm các loại
vi sinh gây bệnh
- Clo sẽ được hệ thống châm Clor chuyển từ dạng khí sang dạng lọc, sau đó
được các máy bơm châm vào cuối máng thu nước lọc ngay trước khi vào bể
chứa nước sạch để đạt được sự hòa trộn tốt Việc khử trùng được hoàn thành
bên trong bể chứa, ở đây tổng thời gian nước lưu lại về mặt thủy lực là vào
khoảng 2,5 giờ
- Hệ thống định lượng Clo được điều chỉnh theo lưu lượng nước cần xử lý và
nồng độ Clo dư tại nước đầu ra khỏi nhà máy
Bể chứa nước sạch
- Bể chứa nước sạch được chia thành nhiều ô để tạo điều kiện dễ dàng cho việc
lưu thông và hòa trộn nước chứa
Trang 21- Phía sau bể chứa nước sạch, sau hệ thống bơm, có đặt một đồng hồ đo lưu
lượng kiểu từ, nhằm kiểm tra lượng nước sạch thực tế được cung cấp cho hệ
thống phân phối
2.1.3 Chất lượng nguồn nước của nhà máy nước Tân Hiệp
Chất lượng nước đầu vào của Nhà máy nước Tân Hiệp trung bình của năm 2006
và năm 2007 (theo bảng chất lượng nước hàng ngày của Nhà máy nước Tân Hiệp)
Hàm lượng mangan ở dạng Mn(II) chiếm khoảng 60% của lượng mangan tồng,
hàm lượng DO của sông khá thấp, ở mức 1 – 4 mg/L
Bảng 2.1.1 Chất lượng nước sông Sài Gòn năm 2006 và 2007(số liệu quan trắc tại
trạm bơm Hòa Phú thuộc nhà máy nước Tân Hiệp)
Stt Chỉ tiêu chất lượng nước 2006 2007
Chất lượng nước nguồn sông Sài Gòn (theo số liệu quan trắc của Nhà máy nước
Tân Hiệp tại trạm bơm Hoà Phú) đang ngày càng ô nhiễm, có những thời điểm trong
năm 2007, Nhà máy nước Tân Hiệp đứng trước nguy cơ phải đóng cứa nhà máy, do
công nghệ hiện tại vận hành quá tải và có nguy cơ không thể xử lý chất lượng nước đạt
được theo quy định Một số các nguyên nhân gây ra chất lượng nước nguồn sông Sài
Gòn kém chất lượng:
- Nồng độ mangan trong nguồn nước tại sông Sài Gòn có xu hướng ngày càng
tăng (nguyên nhân của việc tăng này đang được nghiên cứu)
- Theo quan trắc về chất lượng nước đầu vào của Nhà máy nước Tân Hiệp, thì
chất lượng nước trong năm 2007 xấu hơn những năm trước và có xu hướng
ngày càng xấu hơn Nguồn ô nhiễm chính là do nước thải từ các khu công
nghiệp Tân Quy và Tân Phú Trung (Củ Chi) Trong các khu công nghiệp này,
có nhiều nhà máy thải ra một nồng độ lớn chất amoni (N_NH4), các chất hữu
Trang 22cơ và vi sinh, trong số đó có chất nồng độ vượt đến 40-50 lần tiêu chuẩn quy
định Dù rằng các khu công nghiệp này nằm ở hạ nguồn của trạm cấp nước
thô Hòa Phú (huyện Củ Chi), nơi bơm nước về Nhà máy nước Tân Hiệp,
nhưng vẫn gây ảnh hưởng đến chất lượng nước tại trạm bơm, đặc biệt là vào
những lúc thủy triều lên
- Ngoài ra nước thải từ các khu công nghiệp của tỉnh Bình Dương và nước thải
sinh hoạt của thị xã Thủ Dầu Một cũng thải ra nhánh sông Thị Tính ở thượng
nguồn của trạm bơm Hòa Phú
- Với sự xả thải của các khu công nghiệp nói trên, mức độ ô nhiễm của nguồn
nước sông Sài Gòn đang có chiều hướng gia tăng đặc biệt là các chỉ tiêu độ
đục, ô nhiễm hữu cơ, nồng độ amonia, nồng độ Mn, các kim loại nặng…
Chính vì lẽ đó, đã gây tác động không nhỏ đến quá trình xử lý nước cấp tại
Nhà máy nước Tân Hiệp nhằm đảm bảo chất lượng nước cấp sinh hoạt đạt
tiêu chuẩn quy định cho các cụm dân cư tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Một số bảng biểu thống kê về chất lượng nước sông Sài Gòn trong thời gian
vừa qua theo trung bình tháng của các năm (theo bảng chất lượng nước hàng
Bảng 2.1.2 Bảng giá trị trung bình hàng tháng chỉ tiêu COD (mg/L) tại trạm bơm Hòa Phú
Trang 24- Bên cạnh tiêu chuẩn đó, chất lượng nước ra khỏi nhà máy cũng phải đảm bảo tiêu
chuẩn về nước dùng cho ăn uống và sinh hoạt theo quy định của Bộ Y tế được
ban hành theo quyết định số 1329/2002/QĐ-BYT ngày 18/04/2002 (bản chi tiết
đính kèm theo phụ lục số 1)
- Chất lượng nước ra khỏi Nhà máy nước Tân Hiệp phải tuân thủ theo tiêu chuẩn
của Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn tiêu chuẩn được ban hành theo quyết định
số: 938/QĐ-TCT-KTCN ban hành ngày 28/08/2007 (bản chi tiết đính kèm theo
phụ lục số 2)
2.1.5 Chất lượng nước sau xử lý tại nhà máy nước Tân Hiệp
Chất lượng nước ra khỏi nhà máy nước Tân Hiệp được thống kê trong năm 2006,
2007 (theo bảng chất lượng nước hàng ngày của Nhà máy nước Tân Hiệp)
Bảng 2.1.9: Chất lượng nước sau xử lý của nhà máy nước Tân Hiệp trong năm 2006
Trang 252.1.6 Những vấn đề còn tồn đọng tại nhà máy nước Tân Hiệp
Hiện nay, nhà máy nước ngầm Tân Hiệp đang áp dụng quy trình xử lý nước dựa
trên biện pháp hóa lý thông thường (keo tụ tạo bông và lắng, lọc) với bể lọc áp dụng bể
lọc một lớp vật liệu lọc Với công nghệ hiện tại này có một số nhược điểm như sau:
- Để xử lý được nồng độ Mangan với bể lọc dùng một lớp vật liệu cát thạch anh
lọc thông thường thì, trong quá trình tạo bông phải nâng pH lên rất cao (do
Mn(OH)4 chỉ có thể keo tụ được ở giá trị pH từ 8 đến 9.5), Công nghệ này đã
được nghiên cứu tại Nhà máy nước Tân Hiệp và kết quả là: cùng với việc nồng
độ Mangan giảm thì độ đục của nước sau xử lý tăng đáng kể (thường thì độ đục
dao động trong khoảng từ 1 NUT đến 1.5 NUT), điều này làm tăng lượng hóa
chất nâng pH (vôi), và tăng khả năng tạo thành các hợp chất dẫn xuất halogen của
Clo (do pH cao là môi trường thuận lợi cho phản ứng giữa clo và các chất hữu cơ
trong nước), đây là những chất có nguy cơ gây ra các bệnh về gan và ung thư
- Khi nguồn nước có biến động như: nồng độ các chất hữu cơ tăng, nồng độ
mangan đầu vào tăng, tải lượng các chất hữu cơ cao, nồng độ Amonia cao, dẫn
đến hiệu quả xử lý của nhà máy nước Tân Hiệp bị giảm đáng kể
- Theo một số nghiên cứu thì việc loại bỏ sắt và mangan ra khỏi nước bằng công
nghệ lọc sử dụng cát thạch anh bị ảnh hưởng rất lớn khi nguồn nước có chứa
ammonia hay nitrat (theo Vandenabeele và các cộng sự, 1995)
- Theo nghiên cứu của Sharma và các cộng sự năm 2005, thì với việc dùng một lớp
vật liệu lọc bằng cát thì việc loại bỏ sắt trong nước bị ảnh hưởng bởi nồng độ
ammonia trong nước
Khi trong nguồn nước có nồng độ amonia tăng cao, hiệu quả xử lý sắt và
mangan tại Nhà máy nước Tân Hiệp giảm đáng kể, và nồng độ clor ra khỏi nhà máy khá
thấp, mặc dù chất lượng nước ra khỏi nhà máy đạt tiêu chuẩn theo quy định số
1329/2002/BYT/QĐ nhưng vẫn tiềm ẩn những nguy cơ gây đục trên mạng lưới cấp
nước, và an toàn cho hệ thống cấp nước
Trang 262.2 Các phương pháp khử amonia và mangan
2.2.1 Phương pháp khử amonia
- Phương pháp hóa lý: Sử dụng các chất có khả năng hấp phụ trên bề mặt như than
hoạt tính để loại bỏ amonia
- Phương pháp hóa học: Sử dụng các chất oxi hóa mạnh để chuyển hóa amonia
thành các dạng khác của Nito như: Nitratm nitrit, Nitơ tự do
- Dùng phương pháp trao đổi ion: Sử dụng các hạt nhựa cation mạnh để loại bỏ
lượng amonia ở trong nước
- Phương pháp sinh học: Sử dụng các loại vi sinh hiếu khí, kỵ khí và hiếm khi để
chuyển hóa amonia thành nitrit, nitrat và cuối cùng là nito nguyên tử
2.2.2 Phương pháp khử mangan
Mangan trong nước mặt thường tồn tại cùng với sắt, thành phần chủ yếu của
Mangan là các dạng keo hữu cơ, một phần ở dạng Mangan hóa trị 2 (tùy thuộc vào từng
nguồn nước) Do vậy quá trình khử mangan thường được tiến hành đồng thời với quá
trình khử sắt
- Phương pháp hóa lý: Sử dụng các chất oxi hóa mạnh như Clor, Ozôn,
Kali-permanganat để oxi hóa Mn2+ thành Mn4+, sau đó loại bỏ Mn(OH)4 bằng phương
pháp lọc hoặc phương pháp lắng
+ Clo oxi hóa Mn2+ ở pH =7 trong 60 - 90 phút
+ Clođioxit (ClO2) và Ozon oxi hóa Mn2+ ở độ pH = 6,5 - 7 trong khoảng 10
+ Hạn chế của phương pháp sử dụng các chất oxi hóa là khi trong nguồn
nước có sự hiện diện của các chất hữu cơ như amonia, các chất oxi hóa sẽ
Trang 27ưu tiên quá trình oxi hóa amonia trước, dẫn đến hiệu quả của quá trình khử mangan bị giảm đánh kể
- Phương pháp sinh học: Sử dụng các loại vi sinh có khả năng hấp thụ mangan
trong quá trình sinh trưởng lên bề mặt lớp vật liệu lọc Xác vi sinh vật sẽ tạo
thành lớp màng oxi mangan trên bề mặt hạt vật liệu lọc Lớp màng này có tác
dụng làm xút tác cho quá trình khử mangan Ưu điểm của phương pháp này là rẻ,
tuy nhiên phương pháp tốn thời gian, và tốn diện tích
- Phương pháp cơ học: Sử dụng các phương pháp lọc micro và lọc thẩm thấu
ngược để loại bỏ mangan trong nguồn nước Ưu điểm phương pháp này là hiệu
quả xử lý rất cao, nhưng nhược điểm đó là giá thành khá cao, vận hành khó.
2.3 Các loại vật liệu lọc
Hiện nay, để xử lý nước sạch phục vụ cho mục đích ăn uống và sinh hoạt bằng
phương pháp lọc nhanh, người ta sử dụng một số vật liệu lọc sau:
Cát thạch anh
- Được sử dụng khá rộng rãi trong ngành xử lý nước sạch, thường dùng các loại cát
ở các bãi sông hoặc mỏ cát lộ thiên, đá thạch anh nghiền nát, đa hoa nghiền
- Đường kính của các hạt cát được dùng trong các bể lọc thường nằm trong khoảng
0.8 – 1.8 mm Tùy thuộc vào nồng độ các chất có trong nước
- Tốc độ lọc tùy thuộc vào bể lọc thiết kế, và phương pháp làm sàn đỡ, chất ô
nhiễm cần phải loại bỏ trong quá trình xử lý
- Nguyên lý loại bỏ các chất bẩn của cát thạch anh:
+ Cặn bẩn chứa trong nước lắng đọng thành mảng mỏng trên bề mặt của lớp
cát
+ Cặn bẩn chứa trong nước sẽ lắng đọng tại các lỗ rỗng của lớp vật liệu lọc
+ Một phần cặn lắng đọng trên bề mặt sẽ tạo thành màng lọc
Than hoạt tính, than antraxit
- Than hoạt tính có 2 dạng: Dạng bột và dạng hạt Chúng được tạo ra bằng cách sử
dụng các than thông thường và mang đi xử lý đặt biệt ở nhiệt độ và áp suất cao
Trang 28- Than hoạt tính dùng để xử lý các chất ô nhiễm hữu cơ, màu, mùi
- Kích thước của than hoạt tính có đường kính từ 1 – 2mm
- Tốc độ nước lọc qua lớp than là 5-10 m3/m2.h
- Khi sử dụng than hoạt tính phải trải qua quá trình hoàn nguyên ở nhiệt độ cao
Hạt ODM – F2
- Là vật liệu oxy hóa dùng để khử sắt ở nồng độ cao
- Đường kính của các hạt cát được dùng trong các bể lọc thường nằm trong khoảng
0.8 – 1.8 mm Tùy thuộc vào nồng độ các chất có trong nước
- Tốc độ lọc tùy thuộc vào bể lọc thiết kế, và phương pháp làm sàn đỡ, chất ô
nhiễm cần phải loại bỏ trong quá trình xử lý , tốc độ lọc trong khoảng 4 – 12m3/m2.h
- Bên ngoài có bọc các lớp oxit sắt, chúng là tác nhân cho quá trình chuyển hóa
Fe2+ thành Fe3+ nhanh hơn
- Vật liệu này có nguồn gốc xuất xứ tại Nga
Hạt ODM-F3
- Là vật liệu oxy hóa dùng để khử mangan ở nồng độ cao
- Đường kính của các hạt cát được dùng trong các bể lọc thường nằm trong khoảng 0.8 –
1.8 mm Tùy thuộc vào nồng độ các chất có trong nước
- Tốc độ lọc tùy thuộc vào bể lọc thiết kế, và phương pháp làm sàn đỡ, chất ô nhiễm cần
phải loại bỏ trong quá trình xử lý, tốc độ lọc trong khoảng 4 – 12m3/m2.h
- Bên ngoài có bọc lớp KMnO4 chúng là tác nhân cho quá trình chuyển hóa Mn2+ thành
Mn4+ nhanh hơn
- Vật liệu này có nguồn gốc xuất xứ tại Nga
Cát mangan
- Là vật liệu oxy hóa dùng để khử mangan ở nồng độ cao
- Đường kính của các hạt cát được dùng trong các bể lọc thường nằm trong khoảng 0.8 –
1.8 mm Tùy thuộc vào nồng độ các chất có trong nước
- Tốc độ lọc tùy thuộc vào bể lọc thiết kế, và phương pháp làm sàn đỡ, chất ô nhiễm cần
phải loại bỏ trong quá trình xử lý, tốc độ lọc trong khoảng 4 – 12m3/m2.h
- Bên ngoài có bọc lớp oxit mangan, chúng là tác nhân cho quá trình chuyển hóa Mn2+
thành Mn4+ nhanh hơn
Trang 29- Vật liệu này có nguồn gốc xuất xứ tại Mỹ
Ngoài ra, để xử lý các nguồn nước có nồng độ ô nhiễm cao (như hàm lượng sắt,
mangnan trong nguồn nước cao) Công ty DƯƠNG NHẬT ĐẦU TƯ đã phối hợp với
các chuyên gian Nhật Bản sản xuất ra loại cát Ferrolite và Toyolex dùng cho việc xử lý
các nguồn nước có hàm lượng mangan, sắt, amonia cao
2.3.1 Vật liệu lọc Ferrolite
Hình 2.2.1 Hình ảnh về hạt vật liệu Ferrolite
- Là vật liệu lọc oxy hóa khử sắt và mangan, cấu tạo của hạt bao gồm các chất
SiO2, Al2O3, Fe2O3, CaO, MgO, K2O, Na2O) được nung ở nhiệt độ cao khoảng
3500C để tạo thành các hạt xốp, có diện tích bề mặt lớn Vật liệu sẽ được kích
hoạt bởi ion Cl-, ngoài nguyên lý hấp phụ, trong hạt còn tồn tại một số ion Cl
-trong các lỗ rỗng có nhiệm vụ là chất oxi hóa cho quá trình chuyển hoá từ Fe2+
thành Fe3+, và từ Mn2+ thành Mn4+ nhanh hơn
- Thành phần hóa học của hạt Ferrolite (thành phần của hạt gian bào)
Thành phần SiO2 Al2O3 Fe2O3 CaO MgO K2O Na2O Mất khi nung
Trang 30(theo tài liệu cung cấp của công ty DƯƠNG NHẬT ĐẦU TƯ)
- Đặc tính kỹ thuật của hạt Ferrolite
+ Đường kính trung bình của các hạt này: 0.6 – 0.8 mm
+ Hệ số đồng đều:1.2
+ Tốc độ lọc 10 - 30 m3/m2.h
- Nguyên lý làm việc của hạt Ferrolite
+ Do tại các lỗ rỗng còn tồn tại một số lượng lớn ion Cl-, khi trong nguồn
nước có các ion Fe2+ đi qua lớp vật liệu này, chúng sẽ chuyển hóa từ ion
Fe2+ thành ion Fe3+ và từ ion Mn2+ thành ion Mn4+, quá trình chuyển hóa này này sẽ diễn ra nhanh hơn việc dùng các hóa chất thống thường Vì vậy việc loại bỏ Fe, Mn trong nước sẽ có hiệu quả hơn và ít bị ảnh hưởng của các chất như amonia và TOC trong nước
Các ion O. trong các lỗ rỗng có nhiệm vụ là các chất oxi hóa các
hạt Ferrolite dựa trên nguyên lý hoạt động của quá trình hấp phụ chất lỏng trên bề mặt chất rắn (Giống nguyên lý làm việc của than hoạt tính)
- Nguồn gốc xuất xứ của vât liệu: Công ty DƯƠNG NHẬT ĐẦU TƯ và hãng
Tohkemy-Nhật Bản nghiên cứu và sản xuất, tiêu chuẩn sử dụng để sản xuất vật
liệu lọc Toyolex là JWWA – Japan Water Works Association
(theo nguồn tài liệu của Công ty DƯƠNG NHẬT ĐẦU TƯ)
Trang 312.3.2 Vật liệu lọc Toyolex
Hình 2.2.2: Hình ảnh về hạt vật liệu Toyolex
- Là các hạt gốm (Bao gồm các chất SiO2, Al2O3, Fe2O3, CaO, MgO, K2O, Na2O)
được nung ở nhiệt độ cao khoảng 3500C để tạo thành các hạt xốp, có diện tích bề
mặt lớn Vật liệu sẽ được kích hoạt bởi ion O., ngoài nguyên lý hấp phụ, trong
hạt còn tồn tại một O., ion O. có nhiệm vụ là chất oxi hóa cho quá trình chuyển
hoá từ Fe2+ thành Fe3+, và từ Mn2+ thành Mn4+ nhanh hơn
- Thành phần hóa học của hạt Toyolex (thành phần của hạt gian bào)
Thành phần SiO2 Al2O3 Fe2O3 CaO MgO K2O Na2O Mất khi nung
(theo tài liệu của công ty DƯƠNG NHẬT ĐẦU TƯ)
- Đặc tính kỹ thuật của hạt Toyolex:
+ Đường kính trung bình của các hạt này: 0.6 – 0.8 mm
+ Hệ số đồng đều:1.2
+ Tốc độ lọc 10 - 30 m3/m2.h
- Nguyên lý làm việc của vật liệu:
Trang 32+ Do tại các lỗ rỗng còn tồn tại một số lượng lớn ion O. có tính hoạt hóa rất
cao, nên khi trong nguồn nước có các ion Fe2+ đi qua lớp vật liệu này, chúng sẽ chuyển hóa từ ion Fe2+ thành ion Fe3+ và từ ion Mn2+ thành ion
Mn4+, quá trình chuyển hóa này này sẽ diễn ra nhanh hơn việc dùng các hóa chất thống thường Vì vậy việc loại bỏ Fe, Mn trong nước sẽ có hiệu quả hơn và ít bị ảnh hưởng của các chất như amonia và TOC trong nước
Các ion O. trong các lỗ rỗng có nhiệm vụ là các chất oxi hóa các
hạt Ferrolite dựa trên nguyên lý hoạt động của quá trình hấp phụ chất lỏng trên bề mặt chất rắn (Giống nguyên lý làm việc của than hoạt tính)
- Nguồn gốc xuất xứ của vât liệu: Công ty DƯƠNG NHẬT ĐẦU TƯ và hãng
Tohkemy-Nhật Bản nghiên cứu và sản xuất, tiêu chuẩn sử dụng để sản xuất vật
liệu lọc Toyolex là JWWA – Japan Water Works Association
(theo nguồn tài liệu của Công ty DƯƠNG NHẬT ĐẦU TƯ)
Trang 332.4 Các nghiên cứu đã thực hiện trong và ngoài nước
2.4.1 Các nghiên cứu đã thực hiện trong nước
- Nhà máy nước Tân Hiệp đã tiến hành nâng pH rất cao (Do Mn(OH)4 chỉ có thể
keo tụ được ở giá trị pH từ 8 đến 9.5) để khử Mangan (Trong năm 2006, do chỉ
sử dụng một lớp vật liệu lọc là cát thạch anh), kết quả là: cùng với việc nồng độ
Mangan giảm thì độ đục của nước sau xử lý tăng đáng kể (thường thì độ đục dao
động trong khoảng từ 1NUT đến 1.5 NUT), điều này làm tăng lượng hóa chất
nâng pH (vôi), và tăng khả năng tạo thành các hợp chất dẫn xuất halogen của Clo
(Do pH cao là môi trường thuận lợi cho phản ứng giữa clo và các chất hữu cơ
trong nước), đây là những chất có nguy cơ gây ra các bệnh về gan và ung thư
- Nghiên cứu ứng dụng vật liệu Ferrolite và Toyolex dùng để xử lý sắt và mangan
trong nước ngầm tại Nhà máy nước Ngầm Tân Phú, kết quả với vận tốc lọc
12m3/m2.h và nồng độ sắt trong khaỏng 10 – 25 mg/L, nồng độ mangan 2 – 6
mg/L, hiệu quẩ xử lý đạt từ 95 – 85 %, theo Nhà máy nước ngầm Tân Phú, thuộc
Tổng Công ty cấp nước Sài Gòn, 2008
- Nghiên cứu về việc ứng dụng các hạt lọc cát mangan để xử lý cho nhà máy nước
Tân Hiệp (đề tài cao học đang thực hiện)
- Chưa có báo cáo nghiên cứu về ứng dụng vật liệu lọc Ferrolite và Toyolex trong
việc xử lý nước mặt thành nước sạch phục vụ cho nhu cầu ăn uống và sinh hoạt
2.4.2 Các nghiên cứu đã thực hiện ngoài nước
- Theo DE VET Werenfried và các cộng sự, tại Hà Lan đã có nghiên cứu về việc
sử dụng bể lọc với 02 lớp vật liệu lọc là cát thạch anh và cát chuyên dụng
(Antharacite có trọng lượng riêng là 700 kg/m3), nghiên cứu này được tiến hành
với nguồn nước có các thông số (Ammonia NH4+-N: 1.7 – 4.4mg/L; Nitritr <
0.002mg/L, Nitrate <0.01 mg/L; Fe: 3.7 – 5.6 mg/L; Manganese 0.61 – 0.91
mg/L; Methan 516 - 1075g/L; TOC: 2.2 – 2.6 mg/L)
- Theo Zheng Teng, và các đồng sự, sử dụng các sợi rỗng để loại bỏ Mangan: khi
sử dụng nguồn nước ngầm, việc loại bỏ Mangan là một trong những yêu cầu
Trang 34quan trọng, mangan không thể được loại bỏ bở các phương pháp lọc màng khi
không có sự oxi hóa mangan để chuyển thành mangan dioxide Vì vậy việc
nghiên cứu các loại cát mangan được hình thành Với các loại cát mangan, pH
nằm trong khoảng 9 và có 170 mg/L H2O2 thì khoảng 70% mangan được loại bỏ
với thời gian lọc là 100h, tại pH = 9.3 thì lượng mangan loại bỏ là 95%, chu kỳ
lọc trên 50h
- Theo Ahmad bin Jusoh và các đồng sự, dùng biện pháp hấp thụ bằng than
cacbon: Một vấn đề nghiêm trọng đối với nước ngầm đó là việc có nhiều ion sắt
và mangan trong nước sẽ gây ra màu đỏ, với việc sử dụng các hạt than hoạt tính
(GAC) có thể loại bỏ được các ion sắt và mangan với tải lượng hấp thụ: Fe(II) là
3.6010 mg.g và Mn(II) là 2.5451 mg/g
- Theo Virginia Alejandra Pacini và các đồng sự, loại bỏ sắt và mangan sử dụng
phương pháp lọc sinh học: Việc loại bỏ sắt và mangan trong nước có thể sử dụng
phương pháp sinh học và đã được biết đến tại một số khu vực thuộc Mỹ Latin
Công nghệ được đề xuất đó là các biofiltration, kết quả cho thấy là việc loại bỏ
sắt và mangan trong nước lến đến 85% đến 95%
- Theo Ioannis A.Katsoyiannis và các đồng sự, sử dụng phương pháp sinh học: Các
ion Mn(II) và Fe(II) trong nước ngầm được oxi hóa sinh học Quá trình oxi hoá
được tiến hành bằng loại vi khuẩn đặc biệt có tên Leptonthrix ochracea và
gallionella ferrugiea và một số vi khuẩn sắt và mangan thông thường, kết quả là
các ion Mn(II) và Fe(II) được loại bỏ khỏi nguồn nước ngầm
- Theo Hamidi A.Aziz và các đồng sự, Loại bỏ manganese trong nước sử dụng
công nghệ lọc nghiền các khoáng chất: Nghiên cứu chỉ ra rằng với nồng độ
1mg/L manganese trong nước tịa pH = 7 có thể được loại bỏ hoàn toàn bởi vật
liệu là đá vôi
Trang 35Chương 3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp
phân tích
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguồn nước vào của nhà máy nước Tân Hiệp, sau khi đã được châm vôi và clor tại
Trang 36Mang thu nuoc be lang
Be lang co tang can
Hình 3.1.2 Bản vẽ mặt cắt mô hình nhà máy nước Tân Hiệp
Hình 3.1.3 Bản vẽ mặt bằng đặt mô hình tại nhà máy nước Tân Hiệp
Bảng 3.1.1 Kích thước của các công trình đơn nguyên trong mô hình pilot
Trang 37Stt Hạng mục công trình đơn vị Kích thước
(dài x rộng x cao)mm
03 Bể lọc nhanh trọng lực (2 đơn nguyên) 1200 x 700 x 4700
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Xử lý với nguồn nước thô hiện hữu
3.3.1.1 Theo quy trình vận hành hiện tại của nhà máy nước Tân Hiệp
Theo quy trình vận hành hiện tại của nhà máy nước Tân Hiệp:châm phèn vào đầu
bể trộn và sử dụng vôi để nâng pH lên đạt giá trị tối ưu cho quá trình keo tụ tạo bông,
sau mỗi chu kỳ lọc tiến hành châm clor trong vòng 2 giờ để kích hoạt lại lớp vật liệu lọc,
hàm lượng clor bổ sung vào khoảng 0.3 – 0.4 mg/L
Vận tốc lọc 10 - 12m3/m2.h
- Chỉ tiêu kiểm tra:
+ Nồng độ Sắt, Mangan, độ đục, pH, COD trước và sau quá trình lọc
+ Tổn thất cột áp tại bể lọc qua thời gian
+ Vận tốc lọc
3.3.1.2 Sục khí oxi vào vể trộn thay cho sử dụng vôi
Thay vì sử dụng vôi để nâng pH sau khi châm phèn tại bể trộn, thì tiến hành sục
khí với liều lượng 1g/m3 nước để tăng hiệu quả xử lý mangan tại pH thấp, đồng thời
không tiến hành châm clor đầu mỗi chu kỳ lọc để kiểm tra hiệu quá của cột lọc có bị
thay đổi hay không
Vận tốc lọc 10 -12m3/m2.h
- Chỉ tiêu kiểm tra:
+ Nồng độ Sắt, Mangan, độ đục, pH, COD trước và sau quá trình lọc
+ Tổn thất cột áp tại bể lọc qua thời gian
+ Vận tốc lọc
Trang 383.3.2 Xử lý với nguồn nước ô nhiễm cao
3.3.2.1 Xử lý với nguồn nước bị ô nhiễm amonia
Dãy bổ sung thêm nồng độ amonia vào nguồn nước (0.65, 0.8, 1.0, 1.2 mg/L)
Nước từ trạm bơm Hóa An được đưa về mô hình và châm bổ sung thêm hàm
lượng amonia (dưới dạng dung dich NH4OH nồng độ 20%) bằng máy châm định lượng,
và liều lượng châm theo dãy trên Tiến hành châm vôi để nâng pH lên giá trị pH tối ưu
cho quá trình keo tụ tạo bông, và tiến hành châm bổ sung Clor trong khoảng thời gian 2
giờ đầu chu kỳ lọc để hoàn nguyên lại lớp vật liệu lọc, hàm lượng clor bổ sung vào
khoảng 0.3 – 0.4 mg/L
Vận tốc lọc 10 - 12m3/m2.h
- Chỉ tiêu kiểm tra:
+ Nồng độ Sắt, Mangan, độ đục, pH, COD trước và sau quá trình lọc
+ Tổn thất cột áp tại bể lọc qua thời gian
+ Vận tốc lọc
3.3.2.2 Xử lý với nguồn nước bị ô nhiễm mangan
Dãy bổ sung thêm nồng độ mangan vào nguồn nước (0.4, 0.6, 0.8, 1.0 mg/L)
Nước từ trạm bơm Hóa An được đưa về mô hình và châm bổ sung thêm hàm
lượng mangan (dưới dạng dung dịch MnCl2 nồng độ 20%) bằng máy châm định lượng,
và liều lượng châm theo dãy trên Tiến hành châm vôi để nâng pH lên giá trị pH tối ưu
cho quá trình keo tụ tạo bông, và tiến hành châm bổ sung Clor trong khoảng thời gian 2
giờ đầu chu kỳ lọc để hoàn nguyên lại lớp vật liệu lọc, hàm lượng clor bổ sung vào
khoảng 0.3 – 0.4 mg/L
Vận tốc lọc 10 -12 m3/m2.h
- Chỉ tiêu kiểm tra:
+ Nồng độ Sắt, Mangan, độ đục, pH, COD trước và sau quá trình lọc
+ Tổn thất cột áp tại bể lọc qua thời gian
+ Vận tốc lọc
Trang 393.3.2.3 Xử lý với nguồn nước bị ô nhiễm đồng thời mangan và amonia
Nước từ trạm bơm Hóa An được đưa về mô hình và châm bổ sung amonia (dưới
dạng dung dich NH4OH) và mangan (dưới dạng dung dịch MnCl2) bằng máy châm định
lượng, và liều lượng châm theo dãy trên Tiến hành châm vôi để nâng pH lên giá trị pH
tối ưu cho quá trình keo tụ tạo bông, và tiến hành châm bổ sung Clor trong khoảng thời
gian 2 giờ đầu chu kỳ lọc để hoàn nguyên lại lớp vật liệu lọc, hàm lượng clor bổ sung
vào khoảng 0.3 – 0.4 mg/L
Hàm lượng amonia giữ ở mức 0.7 -0.9 mg/L (đây là nồng độ thường gặp khi hàm
lượng amonia ở nước sông Sài Gòn lên cao) và hàm lượng mangan ở mức 0.4 và 0.6
mg/L (đây là nồng độ thỉnh thoảng xuất hiện tại sông Sài Gòn)
Dung dịch bổ sung cho nguồn nước để tăng nồng độ amonia là dung dịch
NH4OH và để tăng nồng độ mangan là dung dịch muối MnCl2
Vận tốc lọc 10 -12 m3/m2.h
- Chỉ tiêu kiểm tra:
+ Nồng độ Sắt, Mangan, độ đục, pH, COD trước và sau quá trình lọc
+ Tổn thất cột áp tại bể lọc qua thời gian
+ Vận tốc lọc
3.4 Phương pháp phân tích
Các mẫu nước được lấy về và phân tích trong phòng thí nghiệm, riêng chỉ tiêu pH
sẽ được đo ngay tại hiện trường bằng thiết bị cầm tay và kiểm tra đối chứng tại phòng
Trang 4004 Amoni ISO 5664 -1984 DR/2500 – Hach hoặc