NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG: - Xác định và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố rủi ro chính trong dự án giao thông theo hình thức đối tác công tư PPP; - Xác định các tiêu chí phân bổ rủ
Trang 1
-]^ -1*8<ӈ13+$1 XUÂN BÁCH
ĈÈ1+*,È9¬3+Æ1%Ә5Ӫ,527521*&È&'Ӵ È1*,$27+Ð1*7+(2+Î1+7+Ӭ&ĈӔ,7È&
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐHQG - HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS Đỗ Tiến Sỹ
Cán bộ chấm nhân xét 1 : TS Trần Đức Học
Cán bộ chấm nhận xét 2 : TS Đinh Công Tịnh
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại trường Đại Học Bách Khoa - Đại Học Quốc Gia TP
Hồ Chí Minh vào ngày 08 tháng 01 năm 2019
Thành phần hội đồng đánh giá Luận văn thạc sĩ gồm :
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA
Trang 3- -
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên: Nguyễn Phan Xuân Bách MSHV: 1670070
Ngày, tháng, năm sinh: 22/09/1992 Nơi sinh: Bình Định
Chuyên ngành: Quản Lý Xây Dựng Mã ngành: 60.58.03.02
1 TÊN ĐỀ TÀI :
ĐÁNH GIÁ VÀ PHÂN BỔ RỦI RO TRONG CÁC DỰ ÁN GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP) Ở VIỆT NAM
2 NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
- Xác định và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố rủi ro chính trong dự án
giao thông theo hình thức đối tác công tư (PPP);
- Xác định các tiêu chí phân bổ rủi ro, xây dựng mô hình phân bổ rủi ro cho hai khu
vực nhà nước và tư nhân dựa trên lý thuyết mờ;
- Đề xuất chiến lược phân bổ rủi ro
3 NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 15/01/2018
TRƯỞNG KHOA KỸ THUẬT XÂY DỰNG:
TS Lê Anh Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn thầy TS Đỗ Tiến Sỹ đã quan tâm, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều để hoàn thành luận văn này Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả Thầy Cô trường Đại học Bách Khoa, đặc biệt là những Thầy Cô giảng dạy trong chuyên ngành Quản lý xây dựng đã truyền đạt nhiều kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập Xin chân thành cảm ơn các anh, chị trong Tổng công ty xây dựng số 1, Tổng công ty công trình giao thông 4, Ban Quản lý Đầu tư Xây dựng Khu đô thị Tây Bắc thành phố
Hồ Chí Minh, Ban quản lý dự án 7, đã cung cấp nguồn dữ liệu quan trọng, giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Xin chân thành cảm ơn những bạn học cùng ngành đã cùng tôi trải qua những ngày tháng học tập, rèn luyện, trao đổi kiến thức cũng như những kinh nghiệm quý giá trong công việc
Và cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, những người bạn đã luôn bên cạnh quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi về tinh thần, giúp tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2018
Trang 5TÓM TẮT
Với tốc độ phát triển kinh tế ngày càng cao, nhu cầu về hạ tầng giao thông cũng là một mắt xích quan trọng tương ứng Dự án hạ tầng giao thông có vốn đầu tư cao, kéo dài, ngân sách nhà nước và các nguồn viện trợ là không đáp ứng đủ Được kì vọng như một trong những mô hình hiệu quả để thu hút đầu tư của khu vực tư nhân ở cả trong và ngoài nước, nhưng mô hình đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) vẫn chưa được triển khai hiệu quả Các nhà đầu tư lo ngại có quá nhiều rủi ro khi đầu tư vào lĩnh vực giao thông theo hình thức PPP ở Việt Nam Do đó, việc xác định một cách đầy đủ các yếu tố rủi ro, mức độ ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án PPP và phân bổ chúng cho từng khu vực là cần thiết để các bên liên quan có thể có những giải pháp để hạn chế, loại bỏ bớt các yếu tố rủi ro góp phần thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực giao thông và đảm bảo thành công cho dự án
Nghiên cứu này thông qua việc sàng lọc các nghiên cứu trước, phỏng vấn các chuyên gia có kinh nghiệm và khảo sát thông tin 49 dự án đã thực hiện để xác định
35 nhân tố rủi ro và chín tiêu chí phân bổ rủi ro Sau đó, các nhân tố này được định lượng mức độ ảnh hưởng thông qua xác suất và mức độ tác động trong 2 vòng khảo sát delphi để xếp hạng, qua đó xác định được 16 nhân tố có mức ảnh hưởng cao đến
dự án Cũng từ dữ liệu này, tiến hành đánh giá tồng hợp mờ để xác định chỉ số mức
độ rủi ro của ba nhóm nhân tố chính: NT1- Kinh tế, tài chính, thanh toán (chỉ số rủi
ro =3.74), NT2- Pháp lý và xã hội (chỉ số rủi ro = 3.86), NT3- Phát triển và vận hành
dự án (chỉ số rủi ro = 3.64) và rủi ro tổng thể của dự án (chỉ số rủi ro = 3.74) qua đó giúp nhà đầu tư tham khảo để lựa chọn hình thức và dự án đầu tư phù hợp
Thông qua 2 vòng khảo sát Delphi kết hợp phỏng vấn các chuyên gia trong ngành,
4 tiêu chí phân bổ chính được lựa chọn để xây dựng mô hình phân bổ rủi ro Khả năng quản lý 15 nhân tố rủi ro có mức ảnh hưởng cao của hai khu vực công và tư được các chuyên gia đánh giá dựa trên 4 tiêu chí trên Từ dữ liệu này, thông qua đánh giá tổng hợp mờ xác định được chỉ số quản lý từng nhân tố rủi ro và tỷ lệ phân bổ các nhân tố rủi ro của khu vực công và tư Qua đó, đưa ra các chiến lược phân bổ phù hợp
Trang 6ABSTRACT
Together with higher and higher accelerated economic growth, the demand of transport infrastructure is also an important links Transport projects often have a long term progress and high investment capital, the state budget and other aid resources are not enough Although being expected as one of effective investment models to attract foreign and local private sector, but Public-Private Partnership (PPP) model has not yet been effectively implemented Investors concerned that there are too many risks when investing in PPP transportation projects in Vietnam Therefore, it is necessary
to identify all of risk factors, their impacts on PPP transportation projects and allocation of such risk factors to sectors so that all parties can propose their suitable solutions to restrict and terminate the risk factors, contribute to attracting the private investors and ensuring successful implementation of projects
This study was conducted through literature review, in-depth interviews with experienced experts and information of 49 transport infrastructure PPP projects in Viet Nam to identify 35 risk factors and 9 risk allocation criteria for Delphi questionnaire survey These factors were quantified of probability and impact through two rounds of the Delphi questionnaire survey to rank and, as the result, 16 risk factors were discovered to have high impact on the PPP transportation projects in Vietnam Moreover, a fuzzy synthetic evaluation was conducted to determine the risk level of the three main groups of factors: NT1- economics, finance, payment (risk index = 3.74), NT2- Legal and social (risk index = 3.86), NT3- Development and operation of the project (risk index = 3.64) and the overall risk level of the PPP transport infrastructure project in Viet Nam (risk index = 3.74) Thus helping investors to select suitable investment area and projects
Through two rounds of the Delphi questionnaire survey, in-depth interviews with experienced experts, 4 risk allocation criteria were selected to build up risk allocation model Public and Private sector‘s risk management capacity of 15 highest impact risk factor were assessed by experienced experts A fuzzy synthetic evaluation was conducted to determine risk management capacity index and risk allocation
Trang 7proportions between the government and private partner Thereby, provide appropriate allocation strategies
Từ khóa: Đối tác công tư (PPP), dự án giao thông, khu vực công, khu vực tư nhân,
nhân tố rủi ro, đánh giá rủi ro, đánh giá tồng hợp mờ, tiêu chí phân bổ rủi ro, phân bổ rủi ro
Key words: Public-private partnership (PPP), transportation project, public sector,
private sector, risk factors, risk assessment, fuzzy synthetic evaluation, risk allocation criteria risk allocation
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn là do cá nhân tôi tự nghiên cứu và thực hiện Tôi xin cam đoan tất cả thông tin, trích dẫn trong nghiên cứu này là hoàn toàn chính xác và có nguồn gốc rõ ràng Tất cả các số liệu và kết quả nghiên cứu là hoàn toàn trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nghiên cứu nào khác
TP.HCM, tháng 12 năm 2018
Nguyễn Phan Xuân Bách
Trang 9CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 12
1.1 Giới thiệu 12
1.2 Định nghĩa 13
1.2.1 Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ 13
2.3.3 Khảo sát Delphi 13
1.2.2 Hình thức đối tác công tư – Public Private Partnership ( PPP ) 14
1.2.3 Rủi ro 16
1.2.4 Quản lý rủi ro 16
1.2.5 Phân bổ rủi ro 17
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu 17
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ Ở VIỆT NAM 18
2.1 Các văn bản pháp luật cho hình thức đối tác công tư 18
2.2 Tình hình đầu tư dự án hạ tầng giao thông theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam và các yếu tố rủi ro trong các dự án PPP giao thông ở Việt Nam 19
2.2.1 Tình hình đầu tư dự án hạ tầng giao thông theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam 19
2.2.2 Các yếu tố rủi ro trong dự án PPP giao thông ở Việt Nam 20
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Quy trình nghiên cứu 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 35
3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 35
3.3.1 Thống kê từ các nghiên cứu trước đây 35
3.3.2 Phỏng vấn chuyên gia 35
3.3.3 Thiết kế các câu hỏi 35
3.4 Phương pháp thống kê phân tích 36
3.4.1 Trị trung bình 36
3.4.2 Mức độ ảnh hưởng của nhân tố rủi ro 36
3.4.3 Hệ số tương quan Kendall (W) 36
3.4.4 Phân tích độ tin cậy Alpha của Cronbach 37
3.5 Mô hình đánh giá tổng hợp mờ 37
3.5.1 Lý thuyết mờ 37
3.5.2 Đánh giá tổng hợp mờ (FSE) 38
Trang 10CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
4.1 Các tiêu chí phân bổ rủi ro, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố rủi ro 45
4.1.1 Các tiêu chí phân bổ rủi ro 48
4.2 Mô hình phân bổ rủi ro theo lý thuyết mờ 75
4.3 Chiến lược phân bổ rủi ro 84
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
5.1 Đánh giá các mục tiêu và kết luận 88
5.2 Những hạn chế của nghiên cứu 89
5.3 Kiến nghị hướng phát triển đề tài 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 96
PHỤ LỤC 1: BẢNG THỐNG KÊ CÁC NHÂN TỐ RỦI RO CỦA CÁC DỰ ÁN PPP Ở VIỆT NAM 96
PHỤ LỤC 2: BẢNG THỐNG KÊ CÁC NHÂN TỐ RỦI RO TỪ CÁC DỮ LIỆU TRƯỚC 107
PHỤ LỤC 3: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT VÒNG 1,2 111
PHỤ LỤC 4: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT VÒNG 3 114
PHỤ LỤC 5: DANH SÁCH CÁC CHUYÊN GIA KHU VỰC CÔNG VÀ TƯ THAM GIA KHẢO SÁT VÒNG 3 117
PHỤ LỤC 6: HÀM THÀNH VIÊN KHẢ NĂNG QUẢN LÝ 119
PHỤ LỤC 7: CÂU TRẢ LỜI CHO CÁC VÒNG KHẢO SÁT 1, 2, 3 127
Trang 11Bảng 2 1 Các nhân tố rủi ro 31
Bảng 4 1 Số năm kinh nghiệm của đối tượng tham gia khảo sát 45
Bảng 4 2 Vai trò của đối tượng tham gia khảo sát trong dự án 46
Bảng 4 3 Số năm kinh nghiệm của đối tượng tham gia khảo sát trong dự án PPP 47
Bảng 4 4 Số dự án PPP mà đối tượng tham gia khảo sát đã tham gia 47
Bảng 4 5 Hệ số Cronbach’s anpha của các tiêu chí phân bổ rủi ro 48
Bảng 4 6 Hệ số Kendall’s W cho đánh giá các tiêu chí phân bổ rủi ro 49
Bảng 4 7 Kết quả xếp hạng chín tiêu chí phân bổ rủi ro 49
Bảng 4 8 Bốn tiêu chí cho mô hình phân bổ rủi ro 50
Bảng 4 9 Hệ số Kendall’s W cho đánh giá các xác suất và mức độ nghiêm trọng các nhân tố rủi ro 51
Bảng 4 10 Xác suất xảy ra và mức độ nghiêm trọng các nhân tố rủi ro sau 2 vòng khảo sát delphi 51
Bảng 4 11 Phân loại các nhân tố rủi ro sau 2 vòng khảo sát Delphi 53
Bảng 4 12 Ba nhóm nhân tố chính và xếp hạng 64
Bảng 4 13 Trọng số của các nhân tố rủi ro 68
Bảng 4 14 Hàm thành viên xác suất xảy ra của các nhân tố và nhóm các nhân tố rủi ro 70
Bảng 4 15 Hàm thành viên mức độ nghiêm trọng của các nhân tố và nhóm các nhân tố rủi ro 71
Bảng 4 16 Ma trận đánh giá mờ của các nhóm nhân tố và tổng thể dự án 72
Bảng 4 17 Mức độ rủi ro tồng thể của dự án (ORL) 72
Bảng 4 18 Trọng số của 4 tiêu chí phân bổ rủi ro chính 75
Bảng 4 19 Hàm thành viên khả năng quản lý rủi ro “chậm trễ trong giải phóng mặt bằng của khu vực nhà nước 76
Bảng 4 20 Hàm thành viên khả năng quản lý rủi ro “chậm trễ trong giải phóng mặt bằng” của khu vực tư 76
Bảng 4 21 Ma trận đánh giá mờ khả năng quản lý các nhân tố rủi ro theo từng khu vực 77
Bảng 4 22 Chỉ số khả năng quản lý rủi ro của từng khu vực 78
Bảng 4 23 Tỷ lệ phân bổ rủi ro cho từng khu vực 79
Trang 12MỤC LỤC HÌNH ẢNH
Hình 2 1 Các văn bản pháp lý cho hình thức đối tác công tư 18Hình 4 1 Biểu đồ thể hiện số năm kinh nghiệm của đối tượng tham gia khảo sát 45 Hình 4 2 Biểu đồ thể hiện vai trò của đối tượng tham gia khảo sát trong dự án 46Hình 4 3 Biểu đồ thể hiện số năm kinh nghiệm của đối tượng tham gia khảo sát trong
dự án PPP 47Hình 4 4 Biểu đồ thể hiện số dự án PPP đã tham gia của đối tượng tham gia khảo sát 48Hình 4 5 Lạm phát trong 2 tháng đầu năm 2018 của một số nước 60Hình 4 6 Lạm phát Việt Nam qua các năm (Nguồn: SSI Retail Research) 61Hình 4 7 Mô hình đánh giá tổng hợp mờ các nhóm nhân tố rủi ro chính và tổng thể dự
án 66
Trang 13HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 12
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Giới thiệu
Trong tình hình nhu cầu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam nói chung
và mỗi địa phương nói riêng là rất lớn, trong khi đó ngân sách nhà nước thì có hạn, vốn của các nhà tài trợ ngày càng thu hẹp, mô hình đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) có khả năng như một đòn bẩy để huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân cả trong
và ngoài nước cho đầu tư cơ sở hạ tầng trong tình hình hiện nay
PPP (Public-Private Partnership) là việc nhà nước và nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở hợp đồng
- 2020 với tổng mức đầu tư lên tới 375.000 tỷ đồng đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ Trong đó, có 26 dự án đặc biệt ưu tiên cấp quốc gia với tổng mức đầu tư 255.000 tỷ đồng, nhu cầu vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện khoảng 97.000 tỷ đồng Đây là những dự án về cơ bản có khả năng thu hồi vốn, được nhiều nhà đầu tư quan tâm Việc lựa chọn được danh mục dự án có ý nghĩa quan trọng, tạo tiền đề cho việc triển khai chương trình PPP thời gian tới
Tuy nhiên, việc thực hiện mô hình PPP hiện nay vẫn còn nhiều vướng mắt và chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài:
+ Xung đột pháp lý: Chưa có luật đầu tư theo cơ chế PPP Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về hình thức đầu tư PPP hiện chỉ dừng lại ở mức nghị định của chính phủ nên hành lang pháp lý về hoạt động này vẫn còn phụ thuộc vào các luật như: Luật Doanh
Trang 14HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 13
nghiệp, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư công, dẫn đến sự chồng chéo, không rõ ràng và thiếu sót để có thể thực hiện được
+ Phân bổ rủi ro giữa khu vực nhà nước và tư nhân vẫn chưa rõ ràng: do dự án PPP có thời gian kéo dài, rủi ro rất lớn, nên trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng, cần đánh giá rõ những tác động rủi ro tới cả phía Nhà nước và nhà đầu tư, để từ đó phân bổ, quản
lý rủi ro một cách hiệu quả
Do đó, tác giả chọn đề tài để nghiên cứu cho luận văn này là “ĐÁNH GIÁ VÀ PHÂN
BỔ RỦI RO TRONG CÁC DỰ ÁN GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP) Ở VIỆT NAM” Đây là một trong những vấn đề quan trọng mà cả khu vực nhà nước và nhà đầu tư đều rất quan tâm
1.2 Định nghĩa
1.2.1 Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ bao gồm toàn bộ điều kiện vật chất kỹ thuật
như: hệ thống cầu, đường bộ, các công trình, thiết bị phụ trợ, các trạm nghỉ đường bộ
và thể chếc hính sách quản lý cũng như môi trường hoạt động gắn với giao thông đường
bộ để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
2.3.3 Khảo sát Delphi
Khảo sát Delphi là một trong những phương pháp thu thập dữ liệu thực nghiệm được
sử dụng phổ biến nhất trong nghiên cứu quản lý xây dựng và khảo sát đánh giá (Hon et al., 2011) Nó được áp dụng rộng rãi ở nhiều khu vực phức tạp, nơi đòi hỏi xây dựng sự đồng thuận hoặc hội tụ ý kiến về một chủ đề thực tế (Chan et al., 2001) bằng cách sử dụng một loạt các bảng câu hỏi được thực hiện qua nhiều lần lặp lại để thu thập dữ liệu
từ các chuyên gia (Young và Jamieson, 2001, Hsu và Sandford, 2007, Chan và cộng sự,
2001, Ye ung và cộng sự, 2007)
Do đó, phương pháp Delphi được sử dụng làm công cụ thu thập dữ liệu chính để có được quan điểm không thiên vị của các chuyên gia trong lĩnh vực hạ tầng theo hình thức đối tác tác công tư
Các vòng khảo sát
Số vòng trong một nghiên cứu Delphi nhằm mục đích tạo sự đồng thuận giữa các chuyên gia bằng cách giảm thiểu sự khác biệt trong các câu trả lời của họ và nâng cao
Trang 15HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 14
tính chính xác thông qua quá trình lặp lại Số vòng trong phương pháp Delphi được xác định bởi mức độ mong muốn của nhà nghiên cứu, phổ biến là hai đến ba vòng để giảm
sự mệt mỏi và tối ưu hóa tỷ lệ phản hồi giữa những người tham gia
Vòng 1 của cuộc khảo sát Delphi để thiết lập một bộ các nhân tố rủi ro chính, các tiêu chí quản lý rủi ro chính liên quan đến dự án PPP giao thông Các chuyên gia được yêu cầu đánh giá tầm quan trọng tương đối của từng nhân tố rủi ro, tiêu chí quản lý rủi
ro theo một thang điểm 5 cấp (1 = không quan trọng, 5 = cực kì quan trọng)
Vòng 2: 31 chuyên gia có kinh nghiệm nhất trong số các chuyên gia đã được khảo sát ở vòng 1 trong cả hai khu vực công và tư được mời xem kết quả đã được thống kê ở vòng 1 ( trị trung bình, xếp hạng ), và được đề nghị xem xét lại câu trả lời
Vòng 3 tập trung vào kiến thức và kinh nghiệm của các chuyên gia PPP về phân bổ các yếu tố rủi ro quan trọng được thiết lập thông qua 2 vòng đầu tiên Các chuyên gia được mời đánh giá cho từng khu vực nhà nước và tư nhân về khả năng quản lý từng yếu
tố rủi ro dựa trên dự án PPP mà họ tham gia trực tiếp tham gia
1.2.2 Hình thức đối tác công tư – Public Private Partnership ( PPP )
Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (sau đây gọi tắt là PPP) là hình thức đầu tư
được thực hiện trên cơ sở hợp đồng dự án giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng, cải tạo, vận hành, kinh doanh, quản lý công trình hạ tầng, cung cấp dịch vụ công
Theo quy định tại Nghị định 63/2018/NĐ-CP có các loại hợp đồng PPP như là: BOT, BTO, BOO, BT,… Cụ thể:
Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BOT)
là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp
dự án để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước
có thẩm quyền
Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BTO)
là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp
dự án để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh
Trang 16HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 15
nghiệp dự án chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định
Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BT) là hợp đồng
được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án (nếu có) để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được thanh toán bằng quỹ đất, trụ sở làm việc, tài sản kết cấu hạ tầng hoặc quyền kinh doanh, khai thác công trình, dịch vụ để thực hiện Dự án khác
Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BOO) là
hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp
dự án để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án sở hữu và được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư
Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ (sau đây gọi tắt là hợp đồng BTL)
là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp
dự án để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định;
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án
Hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BLT)
là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp
dự án để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án; hết thời hạn cung cấp dịch vụ, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 17HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 16
Hợp đồng Kinh doanh - Quản lý (sau đây gọi tắt là hợp đồng O&M) là hợp đồng
được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để kinh doanh một phần hoặc toàn bộ công trình trong một thời hạn nhất định
Hợp đồng hỗn hợp là hợp đồng dự án kết hợp các loại hợp đồng trên
1.2.3 Rủi ro
Rủi ro là khả năng để đạt được hoặc mất cái gì đó có giá trị Các giá trị (như sức
khoẻ thể chất, tình trạng xã hội, hạnh phúc tinh thần, hoặc tài sản ) có thể đạt được hoặc mất bởi kết quả rủi ro từ việc hành động hoặc không hành động, dự kiến hoặc không lường trước (đã lên kế hoạch hoặc không dự kiến) Rủi ro cũng có thể được định nghĩa
là sự tương tác cố ý với sự không chắc chắn (Cline, 2015) Sự không chắc chắn là một kết quả tiềm ẩn, không thể đoán trước, và không kiểm soát; rủi ro là kết quả của hành động thực hiện bất chấp sự không chắc chắn (Antunes, 2015)
Nhận thức về rủi ro là đánh giá chủ quan về mức độ nghiêm trọng và xác suất của một rủi ro, và có thể biến đổi người này sang người khác Bất kỳ nỗ lực nào của con người cũng mang một số rủi ro, nhưng một số có nhiều rủi ro hơn những người khác
1.2.4 Quản lý rủi ro
Quản lý rủi ro là những quá trình liên quan đến việc nhận dạng, phân tích và phản
ứng và kiểm soát rủi ro trong suốt chu kỳ sống của dự án
Quản lý rủi ro dự án bao gồm các quy trình kế hoạch quản lý rủi ro, xác định, phân tích, lập kế hoạch ứng phó và kiểm soát rủi ro đối với một dự án Mục tiêu của quản lý rủi ro dự án là tăng khả năng và tác động của các sự kiện tích cực và làm giảm khả năng
và tác động của các rủi ro, để tối đa hóa khả năng thành công của dự án (PMBOK Guide
– Sixth Edition)
Quy trình quản lý rủi ro của dự án :
+ Kế hoạch quản lý rủi ro
+ Nhận diện rủi ro
+ Phân tích định tính rủi ro
+ Phân tích định lượng rủi ro
+ Kế hoạch phản ứng với các rủi ro
+ Thực hiện phản ứng với các rủi ro
Trang 18HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 17
+ Quan sát các rủi ro
1.2.5 Phân bổ rủi ro
Phân bổ rủi ro trong dự án PPP được hiểu là rủi ro cần được phân bổ cho bên có khả năng quản lý tốt nhất (nhà nước hay tư nhân) Nói cách khác, bên có khả năng hiểu được rủi ro tốt nhất, kiểm soát khả năng xảy ra và giảm thiểu tác động rủi ro nên chịu trách nhiệm quản lý nó
Phân bổ rủi ro cũng đồng thời xác định bên nào chịu hậu quả tiêu cực nếu rủi ro xảy
ra trong tương lai Rủi ro được phân bổ hoàn toàn cho một bên hoặc được chia sẻ giữa chúng Sự phân bổ rủi ro thích hợp là một thành công quan trọng của PPP, và được điều khiển bởi khả năng quản lý rủi ro của một bên và nguồn lực để xử lý rủi ro được giao
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Các mục tiêu nghiên cứu được đề ra như sau:
- Xác định các nhân tố rủi ro thường hay xảy ra trong dự án PPP giao thông;
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố rủi ro lên dự án PPP theo quan điểm của các chuyên gia trong khu vực nhà nước và tư nhân;
- Xác định các tiêu chí để phân bổ rủi ro Xây dựng mô hình phân bổ rủi ro cho hai khu vực nhà nước và tư nhân dựa trên lý thuyết mờ;
- Đề xuất chiến lược phân bổ các nhân tố rủi ro
Trang 19HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 18
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC
ĐỐI TÁC CÔNG TƯ Ở VIỆT NAM
2.1 Các văn bản pháp luật cho hình thức đối tác công tư
Hiện nay, chính phủ và các bộ đã ban hành các văn bản quy định về thực hiện dự án theo hình thức PPP gồm: 2 nghị định (Nghị định 63/2018/NĐ-CP thay thế nghị định 15/2015/NĐ-CP và nghị định 30/2015/NĐ-CP); 5 thông tư (thông tư số 02/2016/TT-BKHĐT, số 06/2016/TT-BKHĐT, số 55/2016/TT-BTC, số 15/2016/TT-BKHĐT và 183/2015/TT-BTC), 1 quyết định (số 23/2015/QĐ-TTg)
Hình 2 1 Các văn bản pháp lý cho hình thức đối tác công tư
Trang 20HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 19
2.2 Tình hình đầu tư dự án hạ tầng giao thông theo hình thức đối tác công tư
ở Việt Nam và các yếu tố rủi ro trong các dự án PPP giao thông ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình đầu tư dự án hạ tầng giao thông theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam
Theo số liệu công bố trên website của vụ đối tác công tư, bộ giao thông vận tải, hiện
cả nước có 18 dự án đang chuẩn bị đầu tư, 6 dự án đang đấu thầu lựa chọn nhà thầu, 10
dự án đang triền khai xây dựng, 48 dự án đang vận hành khai thác Các dự án chủ yếu
là dự án BOT, một số dự án BT và BTO
Ngoài những dự án hạ tầng giao thông do Bộ Giao thông Vận tải quản lý, có nhiều
dự án hạ tầng giao thông thực hiện theo mô hình PPP do các địa phương quản lý Tổng mức đầu tư của các dự án này là rất lớn so với tỷ lệ vốn huy động của các dự án đầu tư công nói chung, cũng như những dự án hạ tầng giao thông nói riêng Chỉ tính riêng thành phố Hồ Chí Minh, sau khi nghị định 15/2015/NĐ-CP có hiệu lực ngày 10/04/2015 đến nay, thành phố đã kêu gọi, hoàn tất ký kết hợp đồng và triển khai thực hiện 5 dự án theo hình thức PPP với tổng mức đầu tư 11.902 tỷ đồng trong đó có 2 dự án hạ tầng giao thông, 130 dự án đang thực hiện với tổng mức đầu tư 380.947 tỷ đồng ( theo báo cáo của sở kế hoạch đầu tư thành phố Hồ Chí Minh tại hội nghị tổng kết tình hình triển khai thu hút vốn đầu tư phát triển hạ tầng theo hình thức đối tác công tư (PPP) và định hướng giai đoạn 2017-2020)
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, việc thu hút nhà đầu tư tham gia thực hiện các dự án hạ tầng giao thông theo mô hình PPP còn nhiều trở ngại do các nguyên nhân về pháp lý, các dự án không hấp dẫn về mặt tài chính, vốn đầu tư lớn, cơ chế phân
bổ rủi ro chưa rõ ràng, cụ thể, …
Bên cạnh những thành công trong việc đưa nhà đầu tư tư nhân tham gia vào các dự
án hạ tầng giao thông theo mô hình đối tác công tư thì cũng có nhiều vướng mắc khiến cho việc đầu tư các dự án hạ tầng giao thông kém thu hút nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài Khi nhiều dự án hạ tầng giao thông kêu gọi đầu tư theo mô hình PPP không có nhà đầu tư tham gia hoặc chỉ có 1 nhà đầu tư tham gia nên có tình trạng chỉ định thầu, thiếu minh bạch trong đầu tư Nhà đầu tư tự thiết kế, thi công, thẩm định tính khả thi của dự án nên kê đội vốn đầu tư, yêu cầu tăng ưu đãi, tăng thời gian thu phí (dự
Trang 21HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 20
án BOT), tăng quỹ đất hoặc kết cấu hạ tầng nếu xác định không đúng giá trị (dự án BT), nguồn vốn chủ yếu đi vay ngân hàng, nếu doanh thu không theo tính toán, sẽ dễ mất khả năng chi trả nợ vay, đặc biệt khi nhà đầu tư có tiềm lực tài chính yếu Khi đầu tư vào các dự án hạ tầng giao thông, suất đầu tư lớn, trong khi nếu thực hiện theo dự án BOT thì thời gian hồi vốn chậm, nếu chính sách nhà nước không ổn định, phân bổ rủi ro không hợp lý, không bảo đảm nguồn thu lâu dài của dự án như dự báo thì nhà đầu tư sẽ tìm mọi cách tăng phí, tăng nguồn thu nhằm thu hồi nhanh vốn…
2.2.2 Các yếu tố rủi ro trong dự án PPP giao thông ở Việt Nam
Một danh sách 35 nhân tố rủi ro được xác định từ các nghiên cứu liên quan (phụ lục 2), các chuyên gia có kinh nghiệm và các dự án thực tế ở Việt Nam (phụ lục 1) Các nhân tố được phân theo 9 nhóm chính dựa vào các đặc điểm liên quan (Bảng 3.1)
Cam kết từ nhà nước
BOT cầu Hạc Trì (Phú Thọ): chiều dài 3,11km, được triển khai xây dựng từ cuối tháng 11/2013 với tổng mức đầu tư phê duyệt ban đầu hơn 1.900 tỷ đồng Dự án do liên danh Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 (CIENCO1) , công ty CP Phát triển đầu
tư Thái Sơn, công ty TNHH Sản xuất thương mại dịch vụ Yên Khánh làm nhà đầu tư
Dự án đưa vào khai thác từ đầu tháng 5/2015, vượt tiến độ hơn 6 tháng so với kế hoạch
Để hoàn vốn, nhà đầu tư tiến hành thu phí từ ngày 7/12/2015, với thời gian dự kiến ban đầu là 18 năm 6 ngày Tuy nhiên, do không lường trước rủi ro do lưu lượng phương tiện thấp nên doanh thu thu phí chỉ đạt hơn nửa so với phương án tài chính ban đầu Cụ thể, theo phương án tài chính trong hợp đồng BOT, doanh thu năm 2016 của dự án phải đạt
ít nhất 138 tỷ đồng, nhưng thực tế chỉ đạt 89,93 tỷ đồng, khoảng 65% Tính riêng năm
2016, nhà đầu tư đã bị lỗ gần 50 tỷ đồng, chưa kể các chi phí phục vụ hoạt động sản xuất của trạm thu phí và chi phí duy tu, bảo dưỡng thường xuyên công trình Với mức doanh thu như hiện nay và giá trị quyết toán công trình nhà đầu tư đang trình Bộ GTVT chấp thuận khoảng 1.277,8 tỷ đồng, thời gian thu phí của dự án dự kiến khoảng gần 40 năm, tăng 21 năm 3 tháng với phương án tài chính Điều này sẽ khiến nhà đầu tư thua
lỗ và thiệt hại nặng nề Nguyên nhân được chủ đầu tư lý giải là, theo phương án tài chính đầu tư BOT cầu Hạc Trì đã được Bộ Giao thông Vận tải phê duyệt, nhà nước sẽ cấm phương tiện cơ giới lưu thông trên cầu Việt Trì cũ vì xuống cấp, phương tiện sẽ dồn vào
Trang 22HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 21
cầu Hạc Trì và phương án tài chính cho dự án được đảm bảo Tuy nhiên, do sự phản đối quyết liệt của người dân, các cơ quan chức năng đã buộc phải cho phép các phương tiện
ô tô từ 7 chỗ trở xuống khoảng hơn 4.000 lượt xe/ngày đêm lưu thông qua cầu Việt Trì
cũ từ 21/8/2016 Đồng thời, hai nút giao IC7 và IC9 trên cao tốc Nội Bài - Lào Cai được đưa vào sử dụng sớm hơn dự kiến ban đầu đã khiến lưu lượng xe qua cầu Hạc Trì giảm mạnh Vì vậy, chủ đầu tư muốn bán lại dự án BOT Hạc Trì cho Nhà nước
Tham nhũng
Tham nhũng được giả định ở các hình thức khác nhau, bao gồm tạo những thuận lợi để trúng thầu, hợp đồng thuận lợi cho nhà thầu, thông đồng, gian lận, tống tiền, hối lộ, để làm lợi cho cá nhân, tổ chức gây ảnh hưởng đến lợi ích chung của dự án
Khả năng chuyển đổi tiền tệ
Là khả năng một nhà đầu tư tư nhân không thể chuyển đổi doanh thu bằng nội tệ sang ngoại tệ để trả nợ vay hoặc thanh toán Khó khăn chuyển đổi có thể phát sinh do sự kiểm soát ngoại hối của chính phủ, hạn chế chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, hoặc sự thiếu hụt ngoại hối của ngân hàng nhà nước,
Can thiệp của cơ quan quản lý nhà nước
Là rủi ro cơ quan quản lý nhà nước can thiệp vào các hoạt động quản lý và vi phạm các điều khoản hợp đồng Ở các dự án giao thông theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam, phí , thời gian thu phí thường chịu sự can thiệp, điều chỉnh của nhà nước
Không bố trí vốn theo cam kết
Đầu tư nâng cấp, mở rộng đường Hồ Chí Minh (Quốc lộ 14) đoạn Km1738+148 - Km1763+610, tỉnh Đắk Lắk theo hình thức hợp đồng BOT Liên danh: Công ty kinh doanh hàng xuất khẩu Quang Đức 68,97 (Tỷ đồng), Công ty CP Đông Hưng Gia Lai 31,35 (Tỷ đồng), Công ty CP Thủy điện Sê San 4A 25,08 (Tỷ đồng) Việc các nhà đầu
tư không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ góp vốn thực hiện dự án sau khi được Bộ GTVT chấp thuận là Nhà đầu tư dự án tại Quyết định số 1681/QĐ-BGTVT ngày 18/6/2013 và
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư ngày 22/9/2013, là chưa đảm bảo quy định theo Điều 14 của Hợp đồng BOT Thanh tra Bộ GTVT còn phát hiện Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Gia Lai và Công ty CP BOT Quang Đức có thời hạn cho vay 15 năm, gia hạn 3 năm; trả lãi vay
Trang 23HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 22
hàng tháng, trong khi, thời gian thu phí hoàn vốn của Dự án là trên 20 năm “Việc hụt tới 1/4 thời gian cho vay, không chỉ vi phạm cam kết huy động đủ vốn cho công trình
mà còn khiến dòng tiền của dự án bị ảnh hưởng tiêu cực”
Rủi ro tỷ lệ lạm phát
Tỷ lệ làm phát làm tăng chi phí sản suất, giảm sức tiêu thụ do đó tác động đến doanh
thu Đồng thời ảnh hưởng đến việc trả nợ vay quốc tế
Rủi ro lãi suất, tỷ giá hối đoái
Phần lớn các dự án đều vay hoặc được tài trợ bằng ngoại tệ theo lãi suất thị trường do
đó chịu rủi ro lớn về lãi suất và tỷ giá hối đoái
Rủi ro về thanh toán, chi phí hoạt động cao
Cao tốc Hà Nội – Hải Phòng: chiều dài 105km, quy mô 6 làn xe Dự án được đầu tư theo hình thức BOT với tổng mức đầu tư khoảng 45.487 tỷ đồng do Tổng công ty đầu
tư phát triển hạ tầng và Đầu tư tài chính (VIDIFI) làm nhà đầu tư Theo phương án tài chính, dự kiến dự án sẽ thu phí hoàn vốn trong khoảng 28 năm 8 tháng Dự án thông xe
và đưa vào khai thác toàn tuyến đầu tháng 12/2015 Ở thời điểm trình kế hoạch đầu tư của Bộ kế hoạch- đầu tư đã quy định, Nhà nước phải tham gia từ 30-50% tổng vốn đầu
tư, phần còn lại do nhà đầu tư tham gia vốn và hoàn vốn đầu tư bằng thu phí Như vậy, với tổng mức đầu tư như trên, Nhà nước cần phải tham gia ngay từ đầu với 13.000 -22.000 tỷ đồng Tuy nhiên, thời điểm đó, do ngân sách khó khăn, không đủ vốn đầu tư toàn bộ tuyến đường và tham gia ngay từ đầu phần thực hiện của nhà nước theo hình thức PPP nên đã đầu tư theo cơ chế thí điểm Phần tham gia vốn Nhà nước vào dự án được trả dần bằng ngân sách và bằng tiền sử dụng đất, tiền thuê đất ở các khu đô thị, khu công nghiệp được hình thành sau khi xây dựng tuyến đường Tuy nhiên, VIDIFI gặp rất nhiều khó khăn do các chính sách hỗ trợ của nhà nước chưa được thực hiện gồm: Chi phí hỗ trợ của Nhà nước cho công tác bồi thường GPMB 3.699 tỷ đồng và việc tái
cơ cấu các khoản vay nước ngoài 300 triệu USD IDIFI vẫn đang vay và trả lãi vay ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB) với lãi suất 10%/năm cho khoản tiền giải phóng mặt bằng, 10,5-11,4% trong 30 năm cho các khoản vay khác Bình quân doanh thu của đơn
vị này đạt khoảng 5,7 tỷ đồng/ngày trong khi nhà đầu tư đang phải trả khoảng 8 tỷ đồng tiền lãi vay mỗi ngày
Trang 24HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 23
Thiếu chính sách, khung pháp lý, không đầy đủ , rõ ràng về luật đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Dự án đầu tư xây dựng cầu Đồng Nai và đường hai đầu cầu từ nút giao Tân Vạn tới điểm cuối tuyến tránh Thành phố Biên Hòa theo hình thức BOT Tổng Công ty Xây dựng số 1 TNHH MTV làm chủ đầu tư Giá trị quyết toán: 2.469 tỷ đồng Các bất cập trong hợp đồng BOT là chưa xây dựng khung định mức chi phí quản lý thu phí để làm
cơ sở ký kết hợp đồng BOT gây khó khăn trong quá trình quản lý, kiểm tra cơ sở tính toán để xác định chi phí này Một số chi phí như tỷ lệ tính chi phí duy tu, bảo dưỡng tại phương án tài chính, lợi nhuận bảo toàn vốn của nhà đầu tư chưa có văn bản quy định
cụ thể dẫn đến thiếu cơ sở trong tính toán và ký kết hợp đồng BOT Các văn bản pháp
lý về các dự án đầu tư theo hình thức PPP chưa quy định rõ khung lợi nhuận và thời điểm chia lợi nhuận bảo toàn vốn của nhà đầu tư
Thiết kế hợp đồng kém
Viêc đạt được các mục tiêu dự án có liên quan mật thiết đến việc hợp đồng được thiết
kế như thế nào Vì vậy, hợp đồng, với đầy đủ các nguyên tắc, nghĩa vụ và chỉ dẫn, là rất quan trọng trong việc đảm bảo sự thành công của dự án Các xung đột trong tương lai
và thất bại trong việc thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng là kết quả của các sai sót trong thiết kế hợp đồng, về các ưu đãi, phân bổ rủi ro và quy định
Quản lý hợp đồng yếu, tranh chấp hợp đồng
Công tác quản lý hợp đồng của hầu hết các dự án đều ít được quan tâm Đặc biệt là các đơn vị thi công Điều này thường dẫn đến những phát sinh ngoài hợp đồng lớn và dẫn đến những tranh chấp
Khả năng chi trả của các đối tượng tham gia giao thông
Hiện vẫn chưa có quy định về việc các dự án BOT phải đánh giá sức chi trả, khả năng chi trả của các đối tượng tham gia giao thông khi xác định mức thu phí để tính toán thời gian hoàn vốn của dự án trong phương án tài chính ban đầu và phương án tài chính điều chỉnh theo báo cáo quyết toán giá trị hợp đồng của Dự án Do đó, việc chỉ căn cứ vào khung mức tăng giá thu phí theo quy định tại Thông tư số 159/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính có thể dẫn đến tình trạng mức thu phí đảm bảo theo hướng dẫn nhưng lại vượt quá khả năng chi trả của đối tượng tham gia giao thông
Trang 25HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 24
Rủi ro về mức phí
BOT QL6 Hòa Lạc - Hòa Bình: Dự án đầu tư xây dựng cao tốc Hòa Lạc - Hòa Bình và cải tạo, nâng cấp QL6 đoạn Xuân Mai - Hòa Bình với tổng mức đầu tư hơn 2.900 tỷ đồng, do liên danh Tổng công ty 36, công ty CP Xây lắp và Thương mại Trường Lộc làm nhà đầu tư theo hình thức BOT Trạm thu phí Km 42+730, QL6 (thị trấn Lương Sơn, Hòa Bình) chính thức thu phí từ ngày 20/10/2015 Tuy nhiên, ngay từ thời điểm bắt đầu thu phí đã xảy ra tình trạng người dân phản đối, nhà đầu tư đã buộc phải tạm thời miễn thu phí đối với các chủ phương tiện có hộ khẩu thường trú xung quanh trạm, giảm phí cho các phương tiện Theo phương án tài chính của hợp đồng BOT, trong năm
2016, doanh thu thu phí của dự án phải đạt ít nhất hơn 130 tỷ đồng, tuy nhiên, số thu thực tế chỉ đạt hơn 70 tỷ đồng (đạt khoảng 55%) Số lượng phương tiện miễn giảm lớn,
dự án không được tăng phí theo lộ trình thông tư 122 của Bộ Tài chính kể từ 1/1/2016 theo yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền và phải lùi lại một năm đến 1/1/2017 khiến doanh thu sụt giảm mạnh, gây thiệt hại rất lớn cho nhà đầu tư
Rủi ro khảo sát lưu lượng phương tiện
BOT Cầu Mỹ Lợi, Km34 + 826,00 – QL50, trên địa bàn tỉnh Long An và Tiền Giang dài 2,69 Km Tổng mức đầu tư được phê duyệt ban đầu hơn 1.438 tỷ đồng Dự án do liên danh công ty CP Phát triển bất động sản Phát Đạt, công ty CP Bê tông 620 Long
An làm nhà đầu tư Dự án chính thức thu phí hoàn vốn từ ngày 1/11/2015 Theo kế hoạch, trong năm 2016 bình quân mỗi ngày dự án phải thu được ít nhất 120 triệu đồng/ngày, nhưng doanh thu thực tế chỉ đạt 80 triệu đồng/ngày, đạt khoảng 60% so với phương án tài chính ban đầu Theo đại diện chủ đầu tư, năm 2016, bình quân mỗi tháng chủ đầu tư phải bỏ ra 3 tỷ đồng để bù vào tiền trả lãi vay của ngân hàng Nếu lượng xe tiếp tục không có sự tăng trưởng như tính toán ban đầu, chủ đầu tư sẽ phải bù lỗ cho phần lãi vay ngân hàng trong vòng 17 năm tới và thời gian thu phí không như dự kiến ban đầu là 28 năm 4 tháng, sẽ tăng lên 44 năm 6 tháng
Rủi ro vị trí đặt trạm thu phí
BOT Cầu Bến Thủy: Theo chủ trương xã hội hóa đầu tư hạ tầng giao thông theo hình thức xây dựng, kinh doanh, chuyển giao (BOT), Tổng Công ty công trình giao thông 4 (Cienco 4) đã thực hiện 5 dự án lớn trên địa bàn 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh với tổng mức
Trang 26HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 25
đầu tư khoảng hơn 4.200 tỷ đồng Và để hoàn vốn cho các dự án này, Cienco 4 được phép thu phí qua cầu Bến Thủy I và II Trong 5 dự án trên thì có 3 dự án nằm trên đất Nghệ An với tổng mức đầu tư hơn 1.700 tỷ đồng (tuyến tránh TP Vinh; cầu vượt đường sắt QL 46 - Nghệ An và cầu Yên Xuân) thì việc thu phí là hoàn toàn không hợp lý với các phương tiện đi lại của nhân dân ở các địa phương chỉ qua cầu Bến Thủy I và II (được đầu tư bằng vốn nhà nước) không tham gia giao thông trên QL1 tuyến tránh TP Vinh
và QL1 đoạn Nam Bến Thủy đến tuyến tránh TP Hà Tĩnh nhưng đã phải trả phí qua cầu nhiều năm nay Điều này dẫn đến sự phản đối của người dân
Dự án Sửa chữa QL20 và nâng cấp mở rộng một số đoạn qua thị trấn trên Quốc lộ 20 (Km76-Km206) đầu tư theo hình thức BOT trong nước Hoàn toàn đầu tư trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, nhưng ngoài trạm thu phí Bảo Lộc đặt tại TP Bảo Lộc (Lâm Đồng), dự
án này lại đặt thêm một trạm thu phí trên quốc lộ 20 đoạn qua huyện Định Quán (tỉnh Đồng Nai) để thu phí hoàn vốn…
Sự không đồng thuận của chính quyền và dân địa phương
Dự án đầu tư xây dựng công trình tuyến QL1 đoạn tránh thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo hình thức hợp đồng BOT Chiều dài: 22,27 Km Trạm BOT tuyến tránh Biên Hòa được đặt trên quốc lộ 1 (xã Trung Hòa, huyện Trảng Bom, Đồng Nai) và đi vào hoạt động từ năm 2014 Tuy nhiên, nhiều tài xế cho rằng vị trí đặt trạm không phù hợp, mức phí cao nên dùng tiền lẻ mua vé để phản đối
Dự án đầu tư xây dựng công trình tuyến tránh QL1 và tăng cường mặt đường Quốc lộ
1 qua thị trấn Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo hình thức hợp đồng BOT Tổng mức đầu
tư của dự án là xấp xỉ 1.400 tỷ đồng Tuy nhiên, việc thu phí vấp phải sự phản đối của người dân do vị trí đặt trạm trên tuyến chính hoàn vốn cho dự án đầu tư nâng cấp tuyến chính và xây dựng tuyến tránh, người dân quanh trạm đi một quãng đường ngắn mà phải trả phí
Phương pháp quản lý thu phí:
Dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng đường Hồ Chí Minh (QL14) đoạn Km1793+600 đến Km1824+00, tỉnh Đắk Nông theo hình thức hợp đồng BOT: chưa có quy định về biện pháp quản lý, kiểm soát, giám sát chống thất thoát doanh thu tại các trạm thu phí
Rủi ro kỹ thuật công nghệ, chi phí bảo trì cao hơn dự kiến
Trang 27HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 26
Các yếu tố kỹ thuật áp dụng không hiệu quả hoặc lỗi thời dẫn đến chi phí vận hành, bảo trì cao, mức dịch vụ thấp
Trình độ quản lý vận hành dự án
Việc đảm bảo mức doanh thu và chi phí hoạt động phụ thuộc lớn vào trình độ quản lý công ty dự án Việc quản lý yếu kém có thể dẫn đến thất thoát nguồn doanh thu, nhanh chóng giảm chất lượng dự án, bảo trì, bảo hành tổn kém
Phê duyệt và cấp giấy phép dự án:
Dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng đường Hồ Chí Minh (QL14) đoạn Km1793+600 đến Km1824+00, tỉnh Đắk Nông theo hình thức hợp đồng BOT: Bộ GTVT phê duyệt dự án đầu tư khi chưa có báo cáo đánh giá tác động môi trường
Dự án QL1 đoạn Hòa Cầm - Hòa Phước, Tứ Câu Vĩnh Điện và Dự án mở rộng Quốc lộ
1 Đoạn Km947 - Km987, tỉnh Quảng Nam theo hình thức hợp đồng BOT thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình mở rộng QL1: khởi công dự án khi chưa có giấy chứng nhận đầu tư; chậm thực hiện quan trắc môi trường và quản lý an toàn giao thông khi thực hiện
dự án
Rủi ro thiết kế và lập dự toán
Dự án đầu tư xây dựng công trình cải tạo, nâng cấp QL1 đoạn Hà Nội - Bắc Giang theo hình thức hợp đồng BOT: Thiết kế bản vẽ thi công một số hạng mục chưa phù hợp; công tác lập, thẩm định và phê duyệt dự toán các gói thầu còn thiếu sót về đơn giá, định mức, khối lượng, làm tăng giá trị dự toán 45,8 tỷ đồng Cùng với đó, công tác lựa chọn nhà đầu tư, đàm phán, thương thảo và ký kết hợp đồng BOT còn hạn chế: việc điều chỉnh,
bổ sung cầu vượt Hùng Vương, đến thời điểm kiểm toán chưa ký Phụ lục hợp đồng dự
án theo quy định
Chậm trễ trong giải phóng mặt bằng:
Dự án mở rộng QL1 đoạn Đồng Hà - Quảng Trị và Dự án đầu tư xây dựng công trình
mở rộng Quốc lộ 1 đoạn Km741+170-Km756+705, tỉnh Quảng Trị Chiều dài: 15,54
Km Quá trình thi công dự án này được coi là khổ nạn đối với người dân Quảng Trị khi
bị chậm tiến độ so với hợp đồng BOT tới 44 tháng (gần 4 năm) nguyên nhân khách quan như công tác đền bù giải phóng mặt bằng thuộc trách nhiệm của UBND tỉnh Quảng Trị quá chậm, điều kiện thời tiết không thuận lợi, tiến độ dự án bị vỡ rất sâu còn do nhà
Trang 28HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 27
đầu tư chưa thực sự quyết liệt trong việc đôn đốc và có những giải pháp tích cực để đẩy nhanh tiến độ các gói thầu Tiến độ bị trễ tới gần 4 năm là nguyên nhân chính làm tăng tổng mức đầu tư lên khoảng 178,1 tỷ đồng, chủ yếu do trượt giá, lãi vay…, trong khi tổng nguồn vốn được kiểm toán xác nhận là đã đưa vào công trình chỉ 837 tỷ đồng
Kéo dài thời gian thi công và vượt chi phí:
Dự án nâng cấp, cải tạo QL1K theo hình thức hợp đồng BOT Liên danh: Công ty cổ phần đầu tư xây dựng 194, Công ty cổ phần Rạng Đông, Công ty TNHH XDĐT CSHT Phú Thọ, Công ty cổ phần tập đoàn Tân Thành Đô, Công ty TNHH BVM Thái Thành Nam Phạm vi dự án: Điểm đầu: Km2+487 (mố A cầu Hóa An, tiếp giáp với dự án mở rộng QL1K do tỉnh Đồng Nai đầu tư), thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai - Điểm cuối: Km12+971 (tiếp giáp dự án nút giao Ngã tư Linh Xuân) thuộc địa phận TP Hồ Chí Minh Chiều dài: 10.5 km
Cuối tháng 8/2010, Công ty TNHH B.O.T Quốc lộ 1K đã phát Văn bản số 240/KHKT- BOTQL1K gửi Bộ GTVT đề nghị bổ sung hạng mục mặt đường bê tông xi măng tại các
vị trí ra vào mỏ đá và dải phân cách bê tông cốt thép do hai bên tuyến Quôc lộ 1K tốc
độ đô thị hóa rất nhanh, có nhiều đường ngang, xí nghiệp cùng với mỏ đá kết nối ra Quốc lộ 1K Ngoài ra, các phương tiện chở đá quay vòng nhiều, trong đó có cả phương tiện quá tải dẫn đến rơi vãi đá xuống đường gây bong tróc mặt đường bê tông nhựa tại các vị trí đấu nối ra Quốc lộ 1K và vị trí kiểm soát đầu ra của Trạm thu phí Trước nguy
cơ mất an toàn giao thông cao như “miêu tả” của nhà đầu tư, Bộ GTVT đã có các văn bản chấp thuận bổ sung 3 hạng mục theo đề nghị của Công ty TNHH B.O.T Quốc lộ 1K với số tiền khoảng 60 tỷ đồng.Tuy nhiên, theo Tổng công ty Cửu Long, đến nay, sau gần 6 năm kể từ khi được Bộ GTVT chấp nhận bổ sung khối lượng, vẫn còn những hạng mục chưa thi công “Điều này cho thấy nhà đầu tư đã báo cáo không đúng về tính cấp bách của các hạng mục bố sung và cố ý kéo dài thời gian thi công, gây ảnh hưởng xấu trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến công tác xác định lãi vay và kéo dài thời gian thực hiện Dự án
Bên cạnh đó, mặc dù dự án hoàn thành năm 2007, nhưng nhà đầu tư liên tục phớt lờ yêu cầu hoàn thành công tác quyết toán dự án chính cũng như chậm trễ trong quyết toán các hạng mục bổ sung Tính đến cuối tháng 10/2017, Công ty B.O.T Quốc lộ 1K mới quyết
Trang 29HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 28
toán được giá trị 216,8 tỷ đồng và vẫn còn hai hạng mục bổ sung đã thi công, nhưng chưa quyết toán với giá trị khoảng 52 tỷ đồng Điều đáng nói là, dự án đã triển khai thu phí được 10 năm, với giá trị thỏa thuận quyết toán mới đạt 216,8 tỷ đồng Theo ước tính
sơ bộ, thời gian thu phí đã đủ so với giá trị đã quyết toán Vì vậy, việc quyết toán các hạng mục còn lại chậm có khả năng sẽ tạo nên thời gian thu phí thực tế lớn hơn thời gian thu phí điều chỉnh”
Lập, thẩm định và phê duyệt phương án tài chính:
Dự án thành phần 1: Dự án đầu tư xây dựng công trình cầu Cổ Chiên theo hình thức hợp đồng BOT Liên danh: Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Tuấn Lộc, Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 Chiều dài: 1,599Km Tổng mức đầu tư: 2.308,74 (Tỷ đồng) Sai sót lớn nhất tại Dự án được Kiểm toán Nhà nước chỉ ra tại Dự án thành phần
1 nằm ở khâu lập, thẩm định về phê duyệt phương án tài chính (PATC) Ghi nhận của Kiểm toán cho thấy, do tính toán không chuẩn tổng vốn đầu tư thực tế dự kiến đến thời điểm quyết toán tại cấu phần thực hiện theo hình thức BOT là 768,566 tỷ đồng, giảm 439,402 tỷ đồng so với ban đầu Tổng công ty Tư vấn thiết kế Giao thông - Vận tải (TEDI) đã tiến hành xác định lưu lượng và tốc độ tăng trưởng lưu lượng xe chưa có số liệu chi tiết tính toán; áp lãi suất vay huy động trong PATC và hợp đồng tín dụng trong giai đoạn thi công là 11,5%, cao hơn thực tế lãi suất vay với điều kiện không quá 1,3 lần lãi suất trái phiếu chính phủ có kỳ hạn dài nhất tại thời điểm gần nhất với thời điểm xác định lãi vay thanh toán (khoảng 10,42%/năm); không nêu rõ cơ sở xác định mức lợi nhuận hợp lý của nhà đầu tư trong quá trình thương thảo, đàm phán Hợp đồng BOT Sự cẩu thả, hời hợt tại dự án thể hiện rõ nhất ở khâu khảo sát, thu thập số liệu để đưa ra lưu lượng xe trong tương lai Mặc dù đây là một trong những số liệu quan trọng nhất, tác động lớn tới PATC, nhưng TEDI chỉ được thực hiện trong 3 ngày (từ 6/1/2010 đến 8/1/2010) tại 6 trạm trên các tuyến đường trong khu vực nghiên cứu
Thay đổi mục tiêu, quy mô dự án
Dự án đầu tư xây dựng cầu Đồng Nai và đường hai đầu cầu từ Nút giao Tân Vận tới điểm cuối tuyến tránh Thành phố Biên Hòa theo hình thức BOT: Dự án đã qua 4 lần điều chỉnh bổ sung hạng mục ngoài hợp đồng đã ký kết ban đầu, hoặc do phát sinh các yếu tố mới làm thay đổi phương án tổ chức giao thông… Các lần điều chỉnh đã làm tăng
Trang 30HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 29
giá trị đầu tư so với phê duyệt ban đầu tới 56,65% (tăng từ 2.005 tỷ đồng lên 3.141,6 tỷ đồng, tức tăng hơn 1.100 tỷ đồng)
Giá các yếu tố đầu vào
Việc thay đổi lớn từ giá nguyên vật liệu tác động lớn đến chi phí của dự án Năm 2017, khi cơ quan quản lý nhà nước siết chặt công tác khai thác cát đã đẩy giá cát xây dựng lên cao, thậm chí không có nguồn cấp Điều này gây ảnh hưởng to lớn đến tiến độ và chi phí của những dự án đang thực hiện trong giai đoạn này
Chuyển đổi nhà đầu tư
Dự án đầu tư xây dựng mở rộng Quốc lộ 51 Liên danh: Tổng công ty đầu tư phát triển
đô thị và khu công nghiệp Việt Nam IDICO, Công ty cổ phần xây dựng và thương mại tổng hợp Thái Ninh, Tổng công ty cổ phần đầu tư phát triển xây dựng Phạm vi dự án: Điểm đầu tại Km0+900 QL51 (giáp nối với dự án xây dựng cầu Đồng Nai mới và tuyến hai đầu cầu); Điểm cuối dự án tại Km73+600 QL51 (giao với đường QL51C thành phố Vũng Tàu) Chiều dài: 72.7 Km
Công ty CP Phát triển đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu (Công ty BVEC) làm chủ đầu tư Công ty BVEC ra đời trên cơ sở tổ hợp của hai doanh nghiệp là Tổng Công ty Đầu tư phát triển đô thị và Khu công nghiệp Việt Nam (IDICO), Tổng Công ty Sông Đà
và một ngân hàng Tuy nhiên việc chuyển nhượng vốn giữa các nhà đầu tư trong liên danh này là căn nguyên khiến dự án đến nay vẫn chưa quyết toán, chưa đóng đủ vốn góp Theo đó đến tháng 7/2015, Tổng Công ty Sông Đà và ngân hàng đã rút khỏi dự án, thay vào đó là 2 cổ đông mới: Tổng Công ty CP Đầu tư phát triển xây dựng (DIC) và Công ty CP Xây dựng và Thương mại tổng hợp Thái Ninh (Công ty Thái Ninh) Ngoài ra, trong quá trình chuyển vốn, khi cả hai cổ đông là DIC và IDICO có ý định thoái vốn để đầu tư vào các trọng điểm khác thì đều được Bộ Xây dựng chỉ đạo “ưu tiên” bán cho Công ty Thái Ninh để doanh nghiệp này có thể sở hữu toàn bộ vốn của dự
án BOT quốc lộ 51
Khảo sát địa hình địa chất sai sót
Công tác khảo sát ảnh hưởng lớn đến việc tính toán thiết kế, chi phí của dự án Việc sơ suất trong công tác này có thể gây thất bại hoàn toàn đối với một dự án
Trang 31HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 30
Đấu thầu không cạnh tranh
Phần lớn các dự án giao thông theo hình thức đối tác công tư hiện nay đều theo hình thức chỉ định thầu Điều này không mang lại tính cạnh tranh, khó có được nhà đầu tư tài năng và sự thành công của dự án
Xung độ giữa các đối tác (quan hệ căng thẳng)
Xung đột phá vỡ mối quan hệ giữa các đối tác, ảnh hưởng đến hiệu suất của những người tham gia trực tiếp, lãng phí thời gian và nguồn lực và gây ảnh hưởng đến sự thành công của dự án Mâu thuẫn bắt nguồn từ thiết kế hợp đồng thiếu sót, vai trò và trách nhiệm không rõ ràng, thiếu rõ ràng trong phân bổ rủi ro, sự khác biệt trong thực tiễn làm việc; xung đột lợi ích và mục tiêu
Cơ quan quản lý nhà nước thiếu năng lực kinh nghiệm:
Dự án đầu tư xây dựng công trình cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 19 đoạn Km17+027 - Km50+00 trên địa phận tỉnh Bình Định và đoạn Km 108+00 - Km131+300 trên địa phận tỉnh Gia Lai theo hình thức hợp đồng BOT: Dự án có khối lượng dự phòng (khối lượng và trượt giá) không sử dụng lên tới 447 tỷ đồng; chi phí đầu tư thực hiện giảm
237 tỷ đồng… đã cho thấy sự non kém trong việc xây dựng, thẩm định PATC của Tổng công ty 36 và Ban quản lý dự án 5
Dự án QL1 đoạn Hòa Cầm - Hòa Phước, Tứ Câu Vĩnh Điện và Dự án mở rộng Quốc lộ
1 Đoạn Km947 - Km987, tỉnh Quảng Nam theo hình thức hợp đồng BOT thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình mở rộng QL1 Nhà đầu tư: Công ty cổ phần xây dựng công trình 545
Trong quá trình lựa chọn nhà đầu tư tại dự án thành phần 1 mở rộng Quốc lộ 1 đoạn Km947 – Km987, PMU5 đã chấp thuận cam kết tài trợ vốn của ngân hàng với nhà đầu
tư mặc dù cam kết do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) Chi nhánh Đà Nẵng phát hành với số tiền 1.068 tỷ đồng là không hợp lệ do vượt thẩm quyền theo quy chế của HĐTV Agribank Được biết, nếu không có cam kết sai thẩm quyền này, Công ty cổ phần Xây dựng công trình 545 sẽ không hội đủ các điều kiện tài chính
để được trao quyền đầu tư công trình Tại Dự án đoạn Km947 – Km987, đến ngày 31/12/2015, công tác thi công xây lắp đã cơ bản kết thúc, nhưng tiến độ huy động vốn
Trang 32HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 31
chủ sở hữu của nhà đầu tư mới đạt 11,69%, chưa đảm bảo 15% tổng mức đầu tư theo quy định hiện hành
Điều đáng nói là, trong quá trình triển khai 2 dự án, PMU5 đều thực hiện kiểm tra, xác nhận, nhưng không rõ lý do gì mà đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã không phát hiện ra sai sót trên
1 Cam kết từ nhà nước Những cam kết của cơ quan nhà nước về việc phân luồng
giao thông, hạ tầng kết nối…
quyền hoặc từ đối tác tư nhân…
3 Khả năng chuyển đổi tiền tệ
Khả năng một nhà đầu tư tư nhân không thể chuyển đổi doanh thu bằng nội tệ sang ngoại tệ để trả nợ vay hoặc thanh toán do các chính sách của nhà nước
4 Can thiệp của cơ quan có thẩm quyền Cơ quan quản lý nhà nước can thiệp vào các hoạt động
quản lý và vi phạm các điều khoản hợp đồng
II Rủi ro tài chính
5 Không bố trí vốn theo cam kết Nhà đầu tư không bố trí phần vốn theo cam kết dẫn đến
ngân hàng cũng chậm giải ngân phần vốn vay,
6 Rủi ro tỷ lệ lạm phát
Lạm phát làm tăng chi phí sản suất, giảm sức tiêu thụ do đó tác động đến doanh thu, lạm phát còn ảnh hưởng đến quá trình tiếp cận nguồn vốn vay,
7 Rủi ro tỷ giá hối đoái Các dự án PPP có nhà đầu tư quốc tế, vay vốn của các ngân
hàng nước ngoài nên chịu ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái
8 Rủi ro lãi suất Phần lớn vốn của dự án là từ nguồn vay của các ngân hàng
trong và ngoài nước do đó chịu ảnh hưởng của lãi suất
9 Rủi ro về thanh toán Các khoản thanh toán cho nhà đầu tư bị chậm trễ: các chi
phí hỗ trợ giải phóng mặt bằng, quỹ đất,…
10 Chi phí hoạt động cao Chi phí hoạt động của công ty dự án cao
Trang 33HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 32
III Rủi ro theo quy định, pháp lý và hợp
đồng
11
Thiếu chính sách & khung pháp lý ,
không đầy đủ , rõ ràng về luật đầu tư
theo hình thức đối tác công tư
Thiếu chính sách hỗ trợ cần thiết cho nhà đầu tư, các văn bản pháp luật còn nhập nhằng, chưa đầy đủ
12 Thiết kế hợp đồng kém
Hợp đồng không thể hiện được đầy đủ, chi tiết quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, không bao hàm hết mục tiêu của dự án
13 Quản lý hợp đồng yếu, tranh chấp hợp
đồng
Các bên liên quan không nắm kỹ hợp đồng, thiếu sát sao trong việc giám sát công việc thực tế với hợp đồng dẫn đến những tranh chấp
IV Rủi ro thị trường / doanh thu
14 Khả năng chi trả của các đối tượng
tham gia giao thông
Không đánh giá khả năng chi trả của các đối tượng tham gia giao thông dẫn đến mức phí vượt quá khả năng của họ
16 Rủi ro khảo sát lưu lượng phương tiện Khảo sát và dự đoán lưu lượng để tính hoàn vốn khác với
thực tế
17 Rủi ro vị trí đặt trạm thu phí Vị trí đặt trạm thu phí không phù hợp
V Rủi ro xã hội
18 Sự không đồng thuận của chính quyền
và dân địa phương
Không có sự khảo sát và lấy ý kiến từ chính quyền và người dân địa phương dẫn đến sự phản đối
VI Rủi ro kỹ thuật và hoạt động
19 Phương pháp quản lý thu phí Phương pháp quản lý thu phí không phù hợp dẫn đến ùn tắc
giao thông, không kiểm soát được, thất thoát
20 Chi phí bảo trì cao hơn dự kiến Chi phí bảo trì cao và phát sinh nhiều hơn so với dự kiến
21 Rủi ro kỹ thuật, công nghệ Yếu tố kỹ thuật và công nghệ áp dụng không đạt được hiệu
quả như mong muốn
22 Trình độ quản lý vận hành dự án Khả năng quản lý và vận hành của công ty dự án
VII Rủi ro phát triển dự án
23 Chậm trễ phê duyệt và cấp giấy phép
dự án
Quá trình phê duyệt và cấp phép dự án bị chậm trễ do lỗi của nhà đầu tư hoặc nhà nước
24 Rủi ro thiết kế và lập dự toán
Thiết kế yếu, không phù hợp với thực tế dẫn đến phải sửa đổi nhiều trong quá trình thi công, dự toán không đảm bảo hoặc quá cao so với thực tế thi công
Trang 34HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 33
25 Chậm trễ trong giải phóng mặt bằng Công tác giải phóng mặt bằng bị chậm do người dân không
đồng ý hoặc do cơ quan nhà nươc, nhà đầu tư
26 Kéo dài thời gian thi công và vượt chi
VIII Rủi ro mối quan hệ
33 Xung đột giữa các đối tác (quan hệ
căng thẳng)
Xung đột do lợi ích của các bên bị vi phạm
34 Cơ quan quản lý nhà nước thiếu năng
lực kinh nghiệm
Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thiếu năng lực kinh nghiệm và khả năng quản lý trong suốt quá trình thực hiện dự án, ra những quyết định không chuẩn xác dẫn đến không đạt được thành công cho dự án
IX Rủi ro khách quan
Trang 35HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 34
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Trong đó:
RCM: Chỉ số khả năng quản lý rủi ro,
Pu, Pr: Lần lược là tỷ lệ phân bổ rủi ro cho khu vực nhà nước và tư nhân
Trang 36HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 35
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu bao gồm 2 phần: Phương pháp thu thập dữ liệu (thống kê
từ các nghiên cứu trước, khảo sát qua bảng câu hỏi, phỏng vấn) và phương pháp xử lý, tính toán (xếp hạng trung bình, độ tin cậy của thang đo, lý thuyết mờ )
3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu
3.3.1 Thống kê từ các nghiên cứu trước đây
Thu thập các kiến thức cơ bản liên quan đến dự án PPP về giao thông và các nhân tố rủi
ro của nó từ các tạp chí chuyên ngành, các báo cáo nghiên cứu đã công bố, luận văn và các thông tin trên mạng internet Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật có liên quan đến hình thức đối tác công tư cũng được xem xét
3.3.2 Phỏng vấn chuyên gia
Sau khi thống kê từ các tài liệu, nghiên cứu đã có, một danh sách các nhân tố rủi ro
đã được xác định Danh sách này được xem xét lại và góp ý thông qua khảo sát với một
số chuyên gia có kinh nghiệm trong hình thức đối tác công tư
3.3.3 Thiết kế các câu hỏi
Bảng câu hỏi thể hiện các mục tiêu sau:
1 Mức độ quan trọng của các tiêu chí phân bổ rủi ro
2 Xác suất xảy ra rủi ro và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố rủi ro
3 Phân bổ rủi ro theo các tiêu chí cho từng khu vực
Một bảng câu hỏi gồm 3 phần như sau:
Phần 1: Giới thiệu đề tài để người được khảo sát hiểu và nắm bắt được thông tin về cuộc khảo sát
Phần 2: Nhằm mục đích thu thập dữ liệu
Vòng 1,2: Câu hỏi nhằm mục đích đánh giá (phụ lục 3) :
+ Mức độ quan trọng của các tiêu chí phân bổ rủi ro
+ Xác suất xảy ra, mức độ nghiêm trọng của các nhân tố rủi ro dựa trên thang năm điểm theo kinh nghiệm của các chuyên gia
Vòng 3: Khả năng quản lý rủi ro theo các tiêu chí của từng khu vực nhà nước và tư nhân (phụ lục 4)
Trang 37HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 36
Phần 3: Thông tin chung Phần này nhằm thu thập thông tin cơ bản của người tham gia khảo sát
3.4 Phương pháp thống kê phân tích
Các phân tích thống kê được thực hiện trên các dữ liệu từ cuộc khảo sát Delphi bao gồm trị trung bình, mức độ ảnh hưởng của nhân tố rủi ro, hệ số tương quan của Kendall (W) bằng phần mềm thống kê (SPSS)
3.4.1 Trị trung bình
Phương pháp trị trung bình trước tiên được sử dụng để phân tích dữ liệu nhằm so sánh tầm quan trọng của các nhân tố rủi ro Dựa trên giá trị trung bình này ta xếp hạng mức độ quan trọng của các nhân tố Thông qua giá trị và xếp hạng này với thực tế triển khai tại các dự án theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam, các nghiên cứu trước đây
3.4.2 Mức độ ảnh hưởng của nhân tố rủi ro
Mức độ ảnh hưởng của nhân tố rủi ro là xác suất xảy ra một nhân tố rủi ro cùng với mức độ nghiêm trọng của nó để tác động đến dự án Rủi ro của dự án được định lượng như là một hàm của xác suất xảy ra và mức độ nghiêm trọng của nhân tố đó:
Rủi ro = f(Xác suất, Mức độ nghiêm trọng) (3.2)
Mức độ ảnh hưởng = (Xác suất x mức độ nghiêm trọng) . (3.3)
3.4.3 Hệ số tương quan Kendall (W)
Mức độ đồng thuận giữa các câu trả lời được đo bằng hệ số tương quan W của Kendall (Kendall and Gibbon, 1990) Hệ số tương quan Kendall có giá trị từ 0 đến 1, trong đó giá trị gần 1 cho thấy sự đồng thuận cao và ngược lại Công thức như sau:
2 1
Trang 38HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 37
trong đó hệ số tương quan Kendall W; n = số nhân tố rủi ro được xếp hạng; Ri = thứ hạng của nhân tố rủi ro i; R = giá trị trung bình của các giá trị Ri; p = số người trả lời;
và T = hệ số hiệu chỉnh cho liên kết các xếp hạng
3.4.4 Phân tích độ tin cậy Alpha của Cronbach
Mô hình alpha của Cronbach là một trong những phép đánh giá độ tin cậy phổ biến Phân tích độ tin cậy alpha của Cronbach được tiến hành để thống kê xem liệu các nhân
tố rủi ro trong bảng câu hỏi khảo sát Delphi có phản ánh các cấu trúc mà ta dự định đo lường hay không Độ tin cậy alpha của Cronbach dựa trên sự tương quan trung bình của các biến trong một phép thử và nằm trong khoảng từ 0 đến 1 (Li, 2003) α từ 0.8 trở lên đến gần 1 biểu thị rằng thang đo lường tốt, từ 0.7 đến gần 0.8 là sử dụng được Cũng có nhà nghiên cứu đề nghị rằng Cronbach alpha từ 0.6 trở lên là có thể sử dụng được trong trường hợp khái niệm đang đo lường là mới hoặc mới với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu (Nunnally, 1988; Peterson, 1994; Slater, 1995) Hệ số α được tính như sau:
1 + ( − 1) / (3.5) trong đó k biểu thị số mục trong thang đo; cov đề cập đến hiệp phương sai trung bình giữa các mục; và var là độ lệch trung bình của các mục Mặt khác, khi các biến được chuẩn hóa để có phương sai chung, công thức trên được đơn giản hóa như sau:
1 + ( − 1) ̅ (3.6) trong đó r biểu thị tương quan trung bình giữa các biến
3.5 Mô hình đánh giá tổng hợp mờ
3.5.1 Lý thuyết mờ
Cơ sở lý thuyết của nó là lý thuyết mờ được giới thiệu lần đầu bởi Zadeh (1965)
Lý thuyết mờ là một lý thuyết toán học hiện đại được sử dụng để mô tả thông tin
ngôn ngữ biến đổi, mơ hồ, không chắc chắn hoặc mờ (Zadeh 1965, Sadiq and Rodriguez 2004) Toán học mờ ngày càng phổ biến vì khả năng xử lý dữ liệu không đầy đủ và mơ
hồ đặc trưng cho các vấn đề thực của thế giới (Singh and Tiong 2005)
Cho S là một tập hợp và x là một phần tử của tập hợp đó Một tập mờ F của S được định nghĩa bởi một hàm thành viên µ ( ) đo mức độ mà theo đó x thuộc về tập F Trong đó
0 ≤ µ ( ) ≤ 1
Trang 39HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 38
Khi µ ( ) = 0 => ∉ hoàn toàn
Khi µ ( ) = 0 => ∈ hoàn toàn
Nếu ∀µ ( ) = 0 hoặc 1 thì F được xem là “rõ“
Hàm thành viên µ ( )thường được biểu diễn dưới dạng đồ thị
FSE là một phương pháp để đánh giá việc đưa ra nhiều quyết định (Xu et al., 2010), thường không chắc chắn và mâu thuẫn nhau (Sadiq et al., 2004) thông qua đánh giá các biến dưới dạng ngôn ngữ học như là rất thấp, thấp, trung bình, cao, rất cao (Boussabaine, 2014, Sadiq và cộng sự, 2004) FSE có khả năng xử lý hiệu quả các biến
Trang 40HVTH: NGUYỄN PHAN XUÂN BÁCH – 1670070 39
số không chắc chắn, mơ hồ về ngôn ngữ Với FSE có thể giúp các nhà quản lý dự án đưa ra các quyết định đáng tin cậy và thực tế từ các sự kiện không chắc chắn và mơ hồ bằng cách thể hiện chúng qua ngôn ngữ (Boussabaine, 2014) Ngoài ra, khái niệm FSE
có thể kết hợp kiến thức của các chuyên gia và cũng phù hợp với kích cỡ mẫu nhỏ (Sachs
et al, 2007)
Trong bài viết này, phương pháp FSE được sử dụng cho các mô hình đánh giá rủi ro
và mô hình ra quyết định phân bổ rủi ro Cụ thể:
+ Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố rủi ro chính
+ Mô hình phân bổ rủi ro ra quyết định giữa khu vực công và khu vực tư nhân
Quy trình đánh giá tổng hợp mờ (FSE)
Kỹ thuật đánh giá tổng hợp mờ (FSE) đã được áp dụng rộng rãi để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật và khoa học ứng dụng, bao gồm đánh giá mức độ nước (Sadiq và Rodriguez 2004), chẩn đoán y tế (Lascio và cộng sự 2002) công nghệ (Lee 1996) và truyền thông (Kuo và Chen 2006), đánh giá chất lượng không khí (Onkal-Engin và cộng sự 2001), và thiết kế sản phẩm (Hsiao 1998) Sau khi ứng dụng thành công trong các lĩnh vực nói trên, đã có nhiều nỗ lực trong việc sử dụng FSE trong quản lý rủi ro xây dựng, bao gồm đánh giá rủi ro an toàn cháy (Lo 1999), đánh giá rủi
ro dự án xây dựng (Liu et al 2013), phân tích và xếp hạng rủi ro trong các dự án PPP (Yeung và cộng sự 2010, Ameyaw và Chan 2016)
Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu đã áp dụng kỹ thuật FSE tới việc ra quyết định phân bổ rủi
ro Gao và Jiang (2008) đã chứng minh mô hình quyết định phân bổ rủi ro của dự án xây dựng giữa khách hàng và nhà thầu, trong đó các kiến thức về kinh nghiệm của các chuyên gia xây dựng và các nguyên tắc ngôn ngữ được kết hợp vào phân tích bằng cách
sử dụng FSE
Cách tiếp cận đưa ra quyết định dựa trên FSE bao gồm các bước sau (Yeung và cộng
sự, 2010, Liu và cộng sự, 2013):
1 Thiết lập một bộ các tiêu chí cơ bản (hoặc các yếu tố) U = { , ,…; } trong
đó = (i = 1, 2,…, m) đại diện cho sự đánh giá của yếu tố thứ i;