Trong đó giai đoạn triển khai thi công là giai đoạn dài nhất, chịu nhiều tác động và rủi ro nhất so với tất cả các giai đoạn khác của một dự án đầu tư xây dựng.. 1.2 XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ CẦN
Trang 1HUỲNH ĐÀO VŨ HUY
ĐÁNH GIÁ RỦI RO CHO GIAI ĐOẠN THI CÔNG CÁC
DỰ ÁN NHÀ CAO TẦNG – CÁC CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ – TRƯỜNG HỢP DỰ ÁN CỦA MỘT CHỦ ĐẦU TƯ TẠI
TPHCM
RISK ASSESSMENT FOR CONSTRUCTION STAGE OF HIGH RISE BUILDING PROJECTS – RESPONSIVE STRATEGIES – CASE STUDY IN PROJECTS OF A
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA - ĐẠI HỌC QUỐC GIA TPHCM
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận Văn Thạc Sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội Đồng chấm bảo vệ Luận Văn Thạc Sĩ)
1 PGS-TS Phạm Hồng Luân – Chủ Tịch Hội Đồng
2 TS Lê Hoài Long – Cán Bộ phản biện 1
3 TS Đặng Thị Trang – Cán bộ phản biện 2
4 TS Trần Đức Học – Ủy viên thư ký
5 TS Nguyễn Anh Thư – Ủy viên
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận Văn và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch hội đồng Trưởng khoa Xây Dựng
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM KHOA KỸ THUẬT XÂY DỰNG Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
TP HCM, ngày 13 tháng 08 năm 2018
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên: HUỲNH ĐÀO VŨ HUY
Ngày, tháng, năm sinh: 22/08/1979
Chuyên ngành: Quản lý Xây dựng
MSHV: 1670139Nơi sinh: Vĩnh Long
Mã ngành: 60580302 1- TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ RỦI RO CHO GIAI ĐOẠN THI CÔNG CÁC DỰ ÁN CAO TẦNG – CÁC CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ – TRƯỜNG HỢP DỰ ÁN CỦA MỘT CHỦ ĐẦU TƯ TẠI TPHCM
2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:
- Tổng quan về các nghiên cứu trước về đánh giá rủi ro trong xây dựng,phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA)
- Thu thập số liệu và xử lý (lọc và phân loại) các bộ số liệu
- Phân tích số liệu, phân tích kết quả mô hình và phân tích kết quả ứng dụng
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA) để phân nhóm các yếu tố rủi ro và kiểmđịnh sự khác nhau giữa các nhóm nhân tố
- Kết quả đạt được và đề xuất chiến lược ứng phó với các nhóm rủi ro này
3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 13/08/2018
4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 13/12/2018
5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS ĐỖ TIẾN SỸ
Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN QUẢN
LÝ CHUYÊN NGÀNH
KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp là kết quả quan trọng để đánh giá khả năng vận dụng kiến thức trong suốt quá trình học tập Luận văn đã được hoàn thành với sự nổ lực lớn của bản thân và sự tận tình của Thầy Đỗ Tiến Sỹ cùng với sự động viên của gia đình, sự quan tâm của bạn bè đồng nghiệp
Trước hết cho tôi cảm ơn Quý thầy cô trong bộ môn Thi công và Quản lý xây dựng đã truyền đạt cho tôi những kiến thức về nghiên cứu khoa học, tài chính, quản
lý dự án, thống kê, định lượng, năng suất lao động, những kiến thức về công nghệ thi công và cả những thuật toán, mô hình… Nhờ những kiến thức này mà tôi có thể hoàn thành đúng tiến độ, đúng nhiệm vụ được giao
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh em đồng nghiệp đã tích cực giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu cho luận văn Cảm ơn ban lãnh đạo công ty nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện tốt để tôi có thời gian hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn sát cánh cùng tôi, động viên tôi vượt qua những áp lực để hoàn thành đúng hạn
Trân trọng cảm ơn!
TpHCM, ngày 13 tháng 12 năm 2018
Huỳnh Đào Vũ Huy
Trang 5TÓM TẮT
Những năm qua, đầu tư xây dựng ở nước ta không ngừng phát triển với sự tham gia rộng rãi của các chủ đầu tư trong nước và nước ngoài Trong đó giai đoạn triển khai thi công là giai đoạn dài nhất, chịu nhiều tác động và rủi ro nhất so với tất cả các giai đoạn khác của một dự án đầu tư xây dựng Trình độ nhân công và quản lý trong ngành xây dựng hiện nay còn hạn chế, dẫn đến việc quản lý và kiểm soát còn nhiều bất cập và bị động Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại của các rủi ro xảy ra trong quá trình thi công xây dựng Ngoài ra, để khắc phục các tổn thất do các rủi ro trên gây ra cho dự án, cần một khoản chi phí không hề nhỏ để khắc phục và chất lượng công trình cũng bị ảnh hưởng Các tổ chức phải thực hiện các biện pháp nhận dạng, ngăn ngừa để giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thi công xây dựng
Hiện nay, ở nước ta, việc nhận dạng và ứng phó các rủi ro xảy ra trong quá trình thi công xây dựng chưa được chú trọng thực hiện và còn bị động khi các rủi ro xuất hiện Đề tài này nghiên cứu các chiến lược ứng phó rủi ro trong quá trình thi công xây dựng nhằm nâng cao chất lượng các dự án xây dựng, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp nhận thầu và lợi ích cho chủ đầu tư
Trong giai đoạn thi công xây dựng, các rủi ro có thể đến từ môi trường vật lý, lý
do cá nhân, vấn đề kỹ thuật, an toàn lao động, thiết kế, chính trị, các quy chuẩn, tiêu chuẩn, tài chính, hợp đồng và môi trường khu vực xây dựng công trình Đề tài xác định được phần lớn các yếu tố rủi ro ở giai đoạn này tại các công trình cao tầng của chủ đầu tư X trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Từ các yếu tố trên, phân tích định tính, định lượng qua lý thuyết xếp hạng của Dale (2005) và phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA để phân nhóm và rút gọn các yếu tố Tác giả đã rút trích được ba nhóm rủi ro cơ bản trong giai đoạn thi công nhà cao tầng của chủ đầu tư nước ngoài X: rủi ro về quản lý, rủi ro về chiến lược và rủi ro bất khả kháng Dựa vào nghiên cứu trước đây, các kiến thức đã được học và kinh nghiệm bản thân trong quá trình làm việc ngoài công trường, từ đó đưa ra các chiến lược phù hợp nhằm ngăn ngừa và ứng phó các rủi ro có thể xảy ra
Trang 6ABTRACT
Over the years, construction investment in our country has increased rapidly with
the wide participation of domestic and foreign investors The construction phase is
the longest period, with many impacts and risks compared to all other stages of a
construction investment project The labor force and management in the
construction industry are still inadequate and limited, leading to the management
and control of many inadequacies and passive This is the cause of the existence of
the risks occurring during the construction process In addition, in order to remedy
the damage caused by the above risks to the project, a large amount of cost is
required to overcome and the quality of the work is also affected Investors must
take measures to identify and prevent risks in the construction process
At present, the identification and response of risks to limit the negative impact on
the construction project has not paid much attention and passive This topic is
researching risk management solutions in the construction process to improve the
quality of construction projects, both to benefit the contractors and the client
In the construction phase, the risks may be come from the physical environment,
personal reasons, technical issues, safety, design, politics, standards, finance,
contract and the environment of the construction site The topic identified the most
risk factors at this stage in the high-rise buildings of investor X in Ho Chi Minh
City From the above factors, qualitative and quantitative analysis through the rank
theory of Dale (2005) and the EFA (Exploratory Factor Analysis) to classify and
group the factors The author has explored three basic risk categories in the
construction stage of a foreign investor X: Management Risks, Strategic Risks, and
Majeure Risks (MSM) Based on past research, in-depth interviews with
experienced respondents and personal experience in the off-site workings, suitable
strategies for preventing and responding to possible risks have been suggested
Trang 7MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 12
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG 12
1.2 XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 12
1.3 CÁC MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 13
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 14
1.5 ĐÓNG GÓP DỰ KIẾN CỦA NGHIÊN CỨU 15
1.5.1 ĐÓNG GÓP VỀ HỌC THUẬT 15
1.5.2 ĐÓNG GÓP VỀ THỰC TIỄN 15
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 16
2.1 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 16
2.2 CÁC KHÁI NIỆM, MÔ HÌNH TRONG NGHIÊN CỨU 23
2.2.1 RỦI RO 23
2.2.2 QUẢN LÝ VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 CÁC CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU 25
3.1.1 XẾP HẠNG CÁC NHÂN TỐ RỦI RO 25
3.1.2 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ (EFA) 26
3.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 30
CHƯƠNG 4: THIẾT KẾ BẢNG CÂU HỎI 32
4.1 VAI TRÒ CỦA BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT 32
Trang 84.2 THANG ĐO SỬ DỤNG TRONG NỘI DUNG KHẢO SÁT 33
4.3 KHẢO SÁT SƠ BỘ 33
4.4 KHẢO SÁT ĐẠI TRÀ 38
4.4.1 THỜI GIAN CÔNG TÁC 39
4.4.2 CHỨC VỤ 41
4.4.3 VAI TRÒ 41
4.4.4 KHẢ NĂNG XUẤT HIỆN VÀ MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC RỦI RO 42
CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH, XỬ LÝ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ RỦI RO 45
5.1 PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 45
5.1.1 XẾP HẠNG CÁC YẾU TỐ RỦI RO 45
5.1.2 KIỂM ĐỊNH THANG ĐO “MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG” 46
5.1.3 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ (EFA) 49
5.1.4 MÔ HÌNH ĐIỀU CHỈNH 54
5.2 CÁC CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ 55
5.2.1 NHÓM RỦI RO VỀ QUẢN LÝ (MANAGEMENT RISKS) 55
5.2.2 NHÓM RỦI RO CHIẾN LƯỢC (STRATEGY RISKS) 60
5.2.3 NHÓM RỦI RO BẤT KHẢ KHÁNG (MAJEURE RISKS) 63
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
6.1 KẾT LUẬN 69
6.2 KIẾN NGHỊ 71
Trang 96.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 73
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 79
PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT 79
PHỤ LỤC 2: THÔNG TIN CÁ NHÂN, KHẢ NĂNG XUẤT HIỆN VÀ MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG 85
PHỤ LỤC 3: PHÂN TÍCH EFA CHO MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO 92
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG 113
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Các rủi ro của Vũ Hồng Anh và công sự (2017) 16
Bảng 2: Các rủi ro của Đỗ Tiến Sỹ và cộng sự (2017) 17
Bảng 3: Các rủi ro của Lưu Trường Văn và cộng sự (2009) 18
Bảng 4: Các rủi ro của Nguyễn Duy Long và cộng sự (2004) 19
Bảng 5: Các rủi ro của Nguyễn Duy Long và cộng sự (2004) 21
Bảng 6: Các nhóm rủi ro của Stephen O Ogunlana và cộng sự (2003) 22
Bảng 7: Các nhóm rủi ro của Mohammad A Mustafa và cộng sự (1991) 22
Bảng 8: Bảng thang đo giá trị các biến rủi ro theo Likert (1932) 25
Bảng 9: Xếp hạng rủi ro theo Dale, 2005 26
Bảng 12: Giá trị hệ số factor loading theo kích thước mẫu (Hair, 2009) 29
Bảng 13: Thông tin khảo sát sơ bộ 33
Bảng 14: Mã hóa rủi ro và khả năng xuát hiện của nó 34
Bảng 15: Các biến rủi ro còn lại sau khi loại bỏ các biến có mean < 2.5 36
Bảng 16: Thống kê “thời gian công tác” của các mẫu 39
Bảng 17: Thời gian công tác sau khi loại bỏ mẫu có kinh nghiệm < 3 năm 40
Bảng 18: Thống kê “chức vụ” của các mẫu 41
Bảng 19: Thống kê “vai trò” của các mẫu 41
Bảng 20: Bảng xếp hạng “khả năng xuất hiện” của các biến 42
Bảng 21: Bảng xếp hạng “mức độ tác động” của các biến 43
Bảng 25: Xếp hạng các biến rủi ro theo Dale, 2005 45
Bảng 26: Giá trị Cronbach’s Alpha lần 1 của “mức độ tác động” 46
Bảng 27: Kết quả Cronbach’s Alpha lần 1 46
Bảng 28: Giá trị Cronbach’s Alpha lần 2 48
Bảng 29: Kết quả Cronbach’s Alpha lần 2 48
Bảng 30: Giá trị Cronbach’s Alpha lần 3 48
Bảng 31: Kết quả Cronbach’s Alpha lần 3 49
Bảng 32: Mã hóa các biến sau khi chạy Cronbach’s Alpha 49
Bảng 33: Ma trận xoay lần 1 51
Bảng 34: Ma trận xoay lần 2 52
Trang 11Bảng 35: Ma trận xoay lần 3 53
Bảng 36: Nhóm yếu tố rủi ro về quản lý 53
Bảng 37: Nhóm yếu tố rủi ro về chiến lƣợc 54
Bảng 38: Nhóm yếu tố rủi ro về bất khả kháng 54
Bảng 39: Tổng hợp các giải pháp ứng với các nhóm nhân tố rủi ro 66
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1: Mối quan hệ giữa chủ đầu tư và các bên trong công trường 23
Hình 2: Ma trận đánh giá rủi ro theo Dale, 2005 25
Hình 3: Sơ đồ phân tích nhân tố khám phá EFA 26
Hình 4: Quy trình nghiên cứu 30
Hình 5: Biểu đồ thời gian công tác của các mẫu 39
Hình 6: Biểu đồ TGCT sau khi loại bỏ mẫu có kinh nghiệm < 3 năm 40
Hình 7: Biểu đồ chức vụ của các mẫu 41
Hình 8: Biểu đồ vai trò của các mẫu 42
Hình 9: Mô hình 3 nhóm yếu tố rủi ro điều chỉnh tác động đến thi công 54
Trang 13CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG
Thi công là căn cứ vào những nhiệm vụ đặt ra sau khi dự án được khả thi, những bản vẽ và quy định tại hồ sơ thiết kế được đưa vào sử dụng, những điều khoản trong hợp đồng thi công đã ký được thực thi và nhiều điều kiện liên quan khác Chủ đầu
tư và nhà thầu bắt đầu tiến hành tổ chức nhân lực, vật lực kiến tạo nên công trình xây dựng Nói cách khác, thi công chính là quá trình biến các nội dung trong báo cáo khả thi và hồ sơ thiết kế trở thành công trình hiện thực đưa vào sử dụng phù hợp với các điều kiện và mục tiêu đã định
Theo Lê Văn Long (2006), Trong quá trình đầu tư xây dựng, giai đoạn thi công
luôn chiếm một vị trí quan trọng và có mức độ ảnh hưởng rất lớn Giai đoạn này thường chiếm một khoảng thời gian dài và chi phí lớn so với các giai đoạn khác Phải quản lý một số lượng công nhân, vật tư, máy móc, trang thiết bị lớn nên đòi hỏi các nhà thầu phải có năng lực quản lý cũng như chiến lược tổ chức xây dựng trên công trường tốt Đi đôi với những khó khăn đó là hàng loạt các rủi ro tiềm ẩn trong suốt quá trình Mặt khác, do thời gian thi công thường kéo dài nên trong giai đoạn này phải chịu sự tác động lớn của các yếu tố tự nhiên, xã hội Với những đặc điểm như vậy ta có thể kết luận rằng giai đoạn thi công là giai đoạn phải chịu nhiều rủi ro nhất trong quá trình thực hiện dự án
Quản lý rủi ro là một công tác quan trọng trong quản lý thi công xây dựng nhằm giúp nhà thầu có thể chủ động nhận dạng, đánh giá, kiểm soát đồng thời giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực của rủi ro tới dự án thi công xây dựng công trình, từ đó đảm bảo hiệu quả của dự án Đề tài nhằm xác định các yếu tố rủi ro phổ biến trong công tác thi công nhà cao tầng ở Tp HCM, sau đó phân tích, xử lý các nhóm rủi ro
đó và đưa ra các giải pháp thích hợp để ngăn ngừa và ứng phó
1.2 XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
Qua giai đoạn thi công dự án của chủ đầu tư X, sau khi tập hợp tất cả các rủi ro qua ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng nhà cao tầng ở Tp HCM Qua việc phân nhóm các rủi ro, tác giả đã xác định 9 nhóm chính sau: Rủi ro vật lý, rủi
Trang 14ro cá nhân, rủi ro kỹ thuật, rủi ro an toàn, rủi ro thiết kế, rủi ro chính trị và quy định, rủi ro tài chính, rủi ro hợp đồng, rủi ro về môi trường
Qua các ý kiến chuyên gia, kiến thức đã được học và kinh nghiệm trong quá trình công tác, tác giả đưa ra được những giải pháp hữu ích nhằm giúp chủ đầu tư X ngăn ngừa được những những rủi ro tiềm ẩn trong suốt quá trình thi công dự án
Thực tế, các nhà thầu thi công nhà cao tầng vẫn chưa chú trọng nhiều đến các yếu
tố rủi ro trong công việc và chưa có được những kế hoạch cụ thể để ứng phó với rủi
ro có thể xảy ra trong quá trình thi công Đó là vấn đề tác giả muốn làm rõ ở đề tài này
1.3 CÁC MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở các nghiên cứu trước có liên quan, các ý kiến từ những chuyên gia trong ngành xây dựng, một bảng câu hỏi thô được hình thành và gửi đến các cá nhân đang và đã từng thi công dự án của chủ đầu tư X Tác giả tiến hành phân tích, đánh giá, loại bỏ yếu tố thừa, bổ sung các yếu tố thiếu đối với bảng câu hỏi thô, sau
đó hình thành một bảng câu hỏi hoàn chỉnh Bảng câu hỏi này yêu cầu các cá nhân tham gia vào cuộc khảo sát cho biết ý kiến của mình về sự ảnh hưởng của các yếu
tố đến quá trình thi công một dự án xây dựng nhà cao tầng
Theo Djoen San Santoso, Stephen O Ogunlana and Takayuki Minato (2003), các
rủi ro được phân làm 9 nhóm cơ bản: Rủi ro vật lý, Rủi ro cá nhân, Rủi ro kỹ thuật, Rủi ro an toàn, Rủi ro thiết kế, Rủi ro chính trị và quy định, Rủi ro tài chính, Rủi ro hợp đồng, Rủi ro về môi trường Từ giá trị trung bình của các rủi ro dựa trên khả năng xuất hiện và mức độ tác động, phân nhóm lại các rủi ro bằng công cụ phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis), xác định các yếu tố quan trọng nhất của mỗi nhóm
Xác định các rủi ro ảnh hưởng và tác động đến giai đoạn thi công dự án xây dựng nhà cao tầng;
Phân nhóm các rủi ro và xác định yếu tố quan trong nhất trong mỗi nhóm;
Phân tích, đánh giá rủi ro trong giai đoạn thi công dự án;
Trang 15 Đưa ra các giải pháp khắc phục ứng với mỗi nhóm nhân tố
Hầu hết các nhà nghiên cứu, các tác giả đều đồng ý rằng các yếu tố rủi ro là không thể tránh khỏi trong kinh doanh và trong các dự án đầu tư Do đó, cần phải chấp nhận và đưa ra các biện pháp ứng phó khi đầu tư xây dựng các dự án
Vì vậy, việc phân tích và nhận dạng các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến tính hiệu quả của các dự án đầu tư và tìm ra biện pháp kiểm soát, hạn chế rủi ro là yêu cầu cấp bách và rất cần thiết
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng được khảo sát là các chuyên gia, các nhà quản lý dự án có kinh nghiệm đã và đang làm việc trong các dự án của chủ đầu tư X - doanh nghiệp đầu tư xây dựng các công trình dân dụng
Thành phố Hồ Chí Minh không những là đô thị lớn nhất Việt Nam mà còn đóng vai trò trung tâm kinh tế của cả nước, có tốc độ phát triển công nghiệp xây dựng cao nhất cả nước, đồng thời có nhiều doanh nghiệp xây dựng hoạt động với các quy mô và cách thức quản lý phong phú và đa dạng Vì thế, nó thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ việc đầu tư xây dựng, đặc biệt là trên địa bàn Tp HCM và các tỉnh phía Nam Do đó, đề tài chủ yếu khảo sát các dự án, công trình xây dựng dân dụng
đã và đang thực hiện chủ yếu trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh và một số công trình ở các tỉnh lân cận do chủ đầu tư X quản lý
Các dự án đầu tư xây dựng của doanh nghiệp đều có mục đích kinh doanh nên các chủ đầu tư không chấp nhận một công trình kém hiệu quả và kém chất lượng Hơn ai hết, chủ đầu tư là người rất quan tâm đến hiệu quả của dự án, vì vậy,
đề tài phân tích dựa trên quan điểm của những người đã và đang thực hiện dự án kể
cả chủ đầu tư X
Tính chất, đặc trưng của nghiên cứu: Qua đề tài này nhận biết và đánh giá được các rủi ro trong giai đoạn thi công các dự án xây dựng nhà cao tầng ở TP HCM nói chung và của chủ đầu tư X nói riêng Từ đó đưa ra được những chiến lược khắc phục phù hợp cho giai đoạn thi công của dự án
Trang 161.5 ĐÓNG GÓP DỰ KIẾN CỦA NGHIÊN CỨU
Đưa ra được các chiến lược ứng phó đối với những rủi ro tương ứng trong giai đoạn thi công dự án
1.5.2 ĐÓNG GÓP VỀ THỰC TIỄN
Quy mô dự án càng lớn, rủi ro có thể xảy ra càng nhiều
Việc dự báo rủi ro phụ thuộc vào kinh nghiệm của người quản lý dự án
Kiểm soát rủi ro không nhằm loại bỏ rủi ro, nhưng hạn chế tối thiểu thiệt hại
do các rủi ro gây ra
Không thể loại trừ triệt để được tất cả các rủi ro
Trong một số trường hợp không phải cứ tập trung hết sức để ngăn chặn và đề phòng rủi ro đã là tốt, vì có thể phải trả giá đắt nếu rủi ro không xảy ra Do đó, cần
dự báo các rủi ro chính xác
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu này giúp cho chủ đầu tư và nhà thầu có thể có cái nhìn trực quan về thi công các dự án hiện tại và các dự án tương lai Lên kế hoạch tài chính, kiểm soát được chi phí, các vấn đề trong thi công, tiến độ, an toàn và hoàn công trong suốt thời gian thi công dự án
Ngoài ra đề tài còn giúp các nhà đầu tư dự báo được các rủi ro sẽ gặp phải trong suốt quá trình thi công dự án và có những giải pháp phù hợp để khắc phục khi cần thiết
Trang 17CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN
2.1 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
“Phân tích rủi ro về việc chậm tiến độ trong các dự án đường cao tốc quốc tế
ở Việt Nam sử dụng mô hình phương trình cấu trúc SEM” do tác giả Vũ Hồng Anh
và cộng sự viết năm 2017 Qua bài báo này tác giả tìm hiểu được:
- Phương pháp nhân tố khám phá (EFA): Sẽ được tác giả trình bày ở phần công cụ nghiên cứu
- Các rủi ro gây chậm tiến độ trong công tác thi công đường cao tốc quốc tế ở Việt Nam
Bảng 1: Các rủi ro của Vũ Hồng Anh và công sự (2017)
1 Owner’s financial difficulties Khó khăn về tài chính của chủ đầu tư
2
Unreasonable allocation and use of
3 Delayed payment to contractors Trì hoãn thanh toán cho nhà thầu
7 Excessive change orders Yêu cầu thay đổi quá mức
8 Improper intervention Can thiệp không đúng cách
9
Accidents in construction stage is
not handled in time
Tai nạn trong giai đoạn thi công không được xử lý kịp thời
10 Breach of contracts and disputes Vi phạm hợp đồng và tranh chấp
11 Financial difficulties of contractor Khó khăn tài chính của nhà thầu
12
Unreasonable allocation and use of
13 Inaccurate tender offer Ưu đãi không chính xác
Trang 1814 Improper work plan of machinery
Kế hoạch làm việc của máy móc không đúng
15 Improper supply plan of materials
Kế hoạch vật liệu cung cấp không đúng cách
Poor site management and
supervision Quản lý công trường và giám sát kém
- Các giải pháp khắc phục
“Đánh giá rủi ro cho các liên doanh xây dựng quốc tế tại Việt Nam” do tác
giả Đỗ Tiến Sỹ và cộng sự viết năm 2017 Qua bài báo này tác giả tìm hiểu được:
- Phương pháp phân tích xu hướng (Trend Analysis)
- Các rủi ro ảnh hưởng đến các dự án liên doanh tại Việt Nam
Bảng 2: Các rủi ro của Đỗ Tiến Sỹ và cộng sự (2017)
2 Improper project feasibility study
Nghiên cứu tính khả thi dự án không đúng
3
Loss due to bureaucracy for late
approvals Làm việc quan liêu để phê duyệt trễ
4 Economy fluctuation Biến động kinh tế
10 Loss due to fluctuation of interest Lỗ do biến động lãi suất
Trang 19Loss due to insufficient law for
joint ventures Lỗ do thiếu luật liên doanh
Inadequate ICJV organization
Loss incurred due to corruption and
17
Policy changes in your partner’s
parent company toward ICJV
Thay đổi chính sách trong công ty mẹ của đối tác đối với ICJV
Inadequate project organization
20
Disagreement on allocation of
- Các giải pháp khắc phục
“Định lượng rủi ro tiến độ trong các dự án xây dựng bằng cách sử dụng
mạng lưới Bayes” do tác giả Lưu Trường Văn và cộng sự viết năm 2009 Qua bài
báo này tác giả tìm hiểu được:
- Ứng dụng BBNs để phân tích chất lượng và khối lượng ảnh hưởng đến tiến
độ của dự án xây dựng;
- Các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ của dự án xây dựng
Bảng 3: Các rủi ro của Lưu Trường Văn và cộng sự (2009)
Trang 201 Owners’ financial difficulties Khó khăn tài chính của chủ đầu tư
2 Inadequate contractors’ experience
Kinh nghiệm của nhà thầu không đầy
đủ
3 Shortage of materials Thiếu vật liệu
4 Contractors’ financial difficulties Khó khăn về tài chính của nhà thầu
5 Slow site handover Bàn giao công trường chậm
7 Low awarded bid prices Giá thầu thấp
8 Inappropriate construction methods Biện pháp thi công không phù hợp
9 Defective works and reworks Công việc bị lỗi và làm lại
10 Material price fluctuations Biến động giá vật liệu
12 Inclement weather Thời tiết khắc nghiệt
13 Owners’ site clearance difficulties
Khó khăn giải phóng mặt bằng của chủ sở hữu
16 Shortage of equipment Thiếu thiết bị
“Nghiên cứu về các yếu tố thành công của dự án trong các dự án xây dựng
lớn ở Việt Nam” do tác giả Nguyễn Duy Long và cộng sự viết năm 2004 Qua bài
báo này tác giả tìm hiểu được:
- Phương pháp phân tích nhân tố Factor Analysis (FA);
- Các yếu tố ảnh hưởng đến thành công của dự án
Bảng 4: Các rủi ro của Nguyễn Duy Long và cộng sự (2004)
1 Clear objectives and scope Mục tiêu và phạm vi rõ ràng
Trang 212 Commitment to project Chính quyền với dự án
3 Top management support Hỗ trợ quản lý hàng đầu
stakeholders in the project
Tiếp tục tham gia của các bên liên quan trong dự án
8 Frequent progress meeting Cuộc họp tiến độ thường xuyên
9
Adequate funding throughout the
project Tài trợ đầy đủ trong suốt dự án
10 Availability of resources Tính sẵn có của tài nguyên
11 Absence of bureaucracy Không quan liêu
12 Community involvement Sự tham gia của cộng đồng
14 Accurate initial cost estimates Ước tính chi phí ban đầu chính xác
15 Systematic control mechanisms Cơ chế kiểm soát có hệ thống
16 Competent project manager Quản lý dự án có quyền hạn
documentation Tài liệu hợp đồng toàn diện
19 Up to date technology utilization Cập nhật công nghệ sử dụng
20 Proper emphasis on past experience
Nhấn mạnh đúng về kinh nghiệm quá khứ
“Các dự án xây dựng lớn ở các nước đang phát triển: một nghiên cứu điển
hình từ Việt Nam” do tác giả Nguyễn Duy Long và cộng sự viết năm 2004 Qua bài
Trang 22- Phương pháp phân tích nhân tố Factor Analysis (FA);
- Các yếu tố rủi ro trong các dự án xây dựng lớn ở các nước đang phát triển, điển hình là Việt Nam
Bảng 5: Các rủi ro của Nguyễn Duy Long và cộng sự (2004)
1 Inaccurate time estimating Ước tính thời gian không chính xác
2 Slow site clearance Giải phóng mặt bằng chậm
3 Excessive change orders Yêu cầu thay đổi quá mức
4 Slow government permits Giấy phép của chính phủ chậm
6 Inadequate modern equipment Thiết bị hiện đại không đầy đủ
7 Lack of capable representatives Thiếu người đại diện có năng lực
9 Obsolete technology Công nghệ lạc hậu
10 Unsatisfactory site compensation
Bồi thường công trường không đạt yêu cầu
11 Fraudulent practices and kickbacks Thực tế bồi thường gian lận
12 Inaccurate cost estimating Ước tính chi phí không chính xác
13 Improper planning and scheduling
Lập kế hoạch và lên kế hoạch không đúng cách
14 Contractor’s financial difficulties Khó khăn tài chính của nhà thầu
15
Inadequate project management
19 Impractical design Thiết kế không thực tế
20 Incompetence project team Đội dự án không tuân thủ
Trang 23 “Đánh giá rủi ro trong xây dựng nhà cao tầng ở Jakata” do tác giả Stephen O Ogunlana và cộng sự viết năm 2003 Qua bài báo này tác giả tìm hiểu được:
- Phương pháp phân tích nhân tố Factor Analysis (FA);
- Các nhóm rủi ro trong xây dựng nhà cao tầng ở Jakata
Bảng 6: Các nhóm rủi ro của Stephen O Ogunlana và cộng sự (2003)
4 Safety-accident risk Rủi ro an toàn
5 Construction design causes risk Rủi ro thiết kế
6 Political and regulation risk Rủi ro chính trị và quy định
9
Environmental regulations cause
“Đánh giá rủi ro dự án sử dụng AHP” do tác giả Mohammad A Mustafa và
cộng sự viết năm 1991 Qua bài báo này tác giả tìm hiểu được:
- Sử dụng AHP để thiết lập các ma trận so sánh cặp hổ trợ ra quyết định đánh giá rủi ro;
- Các nhóm rủi ro trong xây dựng
Bảng 7: Các nhóm rủi ro của Mohammad A Mustafa và cộng sự (1991)
3 Financial & Economic Tài chính & Kinh tế
4 Political & environmental Chính trị & môi trường
Trang 246 Job site - related Công trường – các bên liên quan
2.2 CÁC KHÁI NIỆM, MÔ HÌNH TRONG NGHIÊN CỨU
2.2.1 RỦI RO
H nh 1: Mối quan hệ giữa chủ đầu tư và các bên trong công trường
Rủi ro là một khái niệm phổ biến, được sử dụng trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực
Do đó, không có một quan điểm, khái niệm thống nhất nào về rủi ro Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, có thể kế đến như:
- Rủi ro là sự không chắc chắn hoặc là các mối nguy hiểm bất lợi cho dự án Rủi ro thường làm cho kết quả dự báo/dự đoán chệch hướng so với thực tế Rủi ro
có 2 loại: Rủi ro có lợi và rủi ro bất lợi Thường người ta chỉ chú ý những rủi ro bất lợi vì chúng gây mất mát, bất lợi, thiệt hại cho dự án
- Allan Willett (2012)cho rằng: "Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc
xuất hiện một biến cố không mong đợi", quan điểm này nhận được sự ủng hộ của
một số học giả như Hardy, Blanchard, Crobough và Redding, Klup, Anghell,
- Trong một nghiên cứu của John Haynes (2005), và được nhắc lại một lần nữa trong cuốn Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh tế của Irving Pfeffer (1956) thì rủi ro
là: “ khả năng xảy ra tổn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”
Trang 25- Tuy nhiên, quan điểm được xem là hiện đại và nhận được sự đồng tình cao là
của Frank H Knight (2012) khi ông cho rằng : “ Rủi ro là sự không chắc chắn có
thể đo lường được” Cuốn Kinh tế học hiện đại của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia cũng có đề cập đến quan điểm này
Các định nghĩa trên dù ít nhiều khác nhau song có thể thấy rằng nó cùng đề cập đến hai đặc điểm cơ bản của rủi ro, đó là: “Rủi ro là sự không chắc chắn và là khả năng xảy ra kết quả không mong muốn Trong các khả năng xảy ra, có ít nhất một khả năng đưa đến kết quả không mong muốn Và kết quả này có thể đem lại tổn thất hay thiệt hại cho đối tượng gặp rủi ro.”
2.2.2 QUẢN LÝ VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO
Có 4 bước quản lý và đánh giá rủi ro:
Xác định rủi ro: Tìm hiểu các rủi ro có khả năng xảy ra;
Phân tích rủi ro: Xác định khả năng xảy ra và hậu quả của chúng có thể gây
ra cho dự án;
Xếp hạng rủi ro: Sắp xếp các rủi ro theo xác suất và hậu quả;
Xây dựng kế hoạch ứng phó: Lập kế hoạch ứng phó với những rủi ro có xác suất xảy ra cao và ảnh hưởng lớn đến dự án
Trang 26CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 CÁC CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU
Bảng 8: Bảng thang đo giá trị các biến rủi ro theo Likert (1932)
Khả năng xuất hiện (probability) Tác động (Impact) Điểm Không xuất hiện
Xuất hiện ít
Xuất hiện trung bình
Xuất hiện nhiều
Xuất hiện rất nhiều
Không ảnh hưởng Ảnh hưởng ít Ảnh hưởng trung bình Ảnh hưởng mạnh Ảnh hưởng rất mạnh
Ma trận đánh giá rủi ro là tích giữa xếp hạng KHẢ NĂNG XUẤT HIỆN và
MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG theo (Dale, 2005)
H nh 2: Ma trận đánh giá rủi ro theo Dale, 2005
Trang 27Bảng 9: Xếp hạng rủi ro theo Dale, 2005
3.1.2 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ (EFA)
H nh 3: Sơ đồ phân tích nhân tố khám phá EFA
Phân tích nhân tố khám phá (EFA) là một phương pháp phân tích định lượng dùng
để rút gọn một tập gồm nhiều biến đo lường phụ thuộc lẫn nhau thành một tập biến
ít hơn (gọi là các nhân tố) để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng hầu hết
nội dung thông tin của tập biến ban đầu (Hair và cộng sự, 2009)
Hai mục tiêu chính của EFA là phải xác định:
- Số lượng các nhân tố ảnh hướng đến một tập các biến đo lường
- Cường độ về mối quan hệ giữa mỗi nhân tố với từng biến đo lường
EFA thường được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực quản trị, kinh tế, tâm lý, xã hội học,… khi đã có được mô hình khái niệm (Conceptual Framework) từ các lý thuyết hay các nghiên cứu trước Trong các nghiên cứu về kinh tế, người ta thường
sử dụng thang đo (scale) chỉ mục bao gồm rất nhiều câu hỏi (biến đo lường) nhằm
Trang 28đo lường các khái niệm trong mô hình khái niệm, và EFA sẽ góp phần rút gọn một tập gồm rất nhiều biến đo lường thành một số nhân tố Khi có được một số ít các nhân tố, nếu chúng ta sử dụng các nhân tố này với tư cách là các biến độc lập trong hàm hồi quy bội thì khi đó, mô hình sẽ giảm khả năng vi phạm hiện tượng đa cộng tuyến Ngoài ra, các nhân tố được rút ra sau khi thực hiện EFA sẽ có thể được thực hiện trong phân tích hồi quy đa biến (Multivariate Regression Analysis), mô hình Logit, sau đó có thể tiếp tục thực hiện phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để đánh giá độ tin cậy của mô hình hay thực hiện mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modeling, SEM) để kiểm định về mối quan hệ phức tạp giữa các khái niệm
(Joseph F Hair et al (2009), “Multivariate data analysis”, Prentice Hall)
Có 2 phương pháp phổ biến để kiểm định giá trị của thang đo bằng EFA là: (i) sử dụng phép trích nhân tố là Principal Component Analysis (PCA) với phép quay vuông góc Varimax; (ii) sử dụng phép trích nhân tố là Principal Axis Factoring (PAF) với phép quay không vuông góc Promax Trong bài nghiên cứu này, tác giả
sử dụng phép trích nhân tố PCA với phép quay vuông góc
Trong EFA, mỗi biến đo lường được biễu diễn như là một tổ hợp tuyến tính của các nhân tố cơ bản, còn lượng biến thiên của mỗi biến đo lường được giải thích bởi những nhân tố chung (common factor) Biến thiên chung của các biến đo lường được mô tả bằng một số ít các nhân tố chung cộng với một số nhân tố đặc trưng (unique factor) cho mỗi biến Nếu các biến đo lường được chuẩn hóa thì mô hình nhân tố được thể hiện bằng phương trình:
Xi = Ai1 * F1 + Ai2 * F2 + Ai3 * F3 + +Aim * Fm + Vi*Ui
Trong đó:
Xi : biến đo lường thứ i đã được chuẩn hóa
Aij: hệ số hồi qui bội đã được chuẩn hóa của nhân tố j đối với biến i
F1, F2, , Fm: các nhân tố chung
Trang 29Vi: hệ số hồi qui chuẩn hóa của nhân tố đặc trưng i đối với biến i
Ui: nhân tố đặc trưng của biến i
Các nhân tố đặc trưng có tương quan với nhau và tương quan với các nhân tố chung; mà bản thân các nhân tố chung cũng có thể được diễn tả như những tổ hợp tuyến tính của các biến đo lường, điều này được thể hiện thông qua mô hình sau đây:
Hệ số KMO ≥ 0.5 và mức ý nghĩa của kiểm định Bartlett < 5% là chấp nhận
Phân tích nhân tố để kiểm định giá trị hội tụ, giá trị phân biệt của các biến thành phần: dùng phép trích nhân tố là Principal Component Analysis (PCA) với phép
quay vuông góc Varimax (Nguyễn Đình Thọ, 2011), phương pháp này được sử
dụng khi chúng ta muốn trích được nhiều phương sai từ các biến đo lường với số
lượng thành phần nhỏ nhất để phục vụ cho mục tiêu dự báo tiếp theo Nguyễn Đình Thọ (2011) và Hair (2009) Ở đề tài này mục đích của tác giả là rút gọn số lượng
nhân tố và phân nhóm chúng lại để đề ra chiến lược ứng phó nên sẽ dừng lại sau khi phân tích EFA Điều kiện thực hiện phân tích nhân tố: trị số KMO lớn (giữa 0.5 và 1) là điều kiện đủ để phân tích nhân tố là thích hợp, còn nếu như trị số này nhỏ hơn
0.5 thì phân tích nhân tố có khả năng không thích hợp với các dữ liệu (Hoàng Trọng
và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) Để đánh giá thang đo, chúng ta cần xem xét ba
thuộc tính quan trọng trong kết quả EFA:
Trang 30(1) Tiêu chí chọn số lượng nhân tố: số lượng nhân tố được xác định ở nhân tố
(dừng ở nhân tố) có eigenvalue tối thiểu bằng 1 (≥1) (Nguyễn Đình Thọ, 2011)
nghĩa là chỉ có những nhân tố nào có eigenvalue lớn hơn hoặc bằng 1 mới được giữ lại trong mô hình phân tích Đại lượng eigenvalue đại diện cho lượng biến thiên được giải thích bởi nhân tố
(2) Trọng số nhân tố hay còn gọi là hệ số tải nhân tố (factor loadings): là những
hệ số tương quan đơn giữa các biến và các nhân tố, nếu trọng số nhân tố nhỏ hơn 0.5 có thể loại biến đó vì nó thực sự không đo lường khái niệm chúng ta cần đo lường Khác biệt hệ số tải nhân tố của một biến quan sát giữa các nhân tố lớn hơn
0,3 để đảm bảo giá trị phân biệt giữa các nhân tố (Nguyễn Đình Thọ, 2011)
Bảng 10: Giá trị hệ số factor loading theo kích thước mẫu (Hair, 2009)
Kiểm định sự phù hợp mô hình EFA: xem xét tổng phương sai trích TVE Cummulative (%), tổng này thể hiện các nhân tố trích được bao nhiêu phần trăm
của các biến đo lường và tổng này phải đạt từ 50% trở lên (Nguyễn Đình Thọ, 2011)
Trang 313.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
H nh 4: Quy trình nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu được thực hiện như sau:
Xác định vấn đề cần nghiên cứu
Tìm hiểu tài liệu và lý thuyết nói về rủi ro trong xây dựng
Xác định các rủi ro sơ bộ dựa trên kinh nghiệm bản thân và các nghiên cứu
đã thực hiện bởi các tác giả trong nước và ngoài nước
Khảo sát sơ bộ dựa trên 20 chuyên gia đã và đang làm việc tại các dự án của chủ đầu tư X nhằm bổ sung những rủi ro cần thiết và loại bỏ những rủi ro không cần thiết
Thu thập số liệu chính thức
Trang 32 Phân tích và xử lý số liệu
Đƣa ra các chiến lƣợc ứng phó ứng với từng nhóm rủi ro
Trang 33CHƯƠNG 4: THIẾT KẾ BẢNG CÂU HỎI
4.1 VAI TRÕ CỦA BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT
Bảng câu hỏi khảo sát là một công cụ rất quan trọng trong việc khảo sát thu thập
dữ liệu trong quá trình nghiên cứu Việc thiết kế bảng câu hỏi có tác động đáng kể đến quá trình nghiên cứu về sau, một bảng câu hỏi khảo sát tốt sẽ mang lại kết quả nghiên cứu chính xác và ngược lại
Khảo sát bằng bảng câu hỏi là một phương pháp hữu hiệu và nhanh chóng để thu thập ý kiến của một số lượng lớn người về một số vấn đề cần quan tâm trong khoảng thời gian nhất định Tuy nhiên đối tượng trả lời bảng câu hỏi phải được chọn lọc để đảm bảo độ tin cậy của nội dung phản hồi, tránh trường hợp bị hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau dẫn đến kết quả bị lệch lạc, bóp méo
Người nghiên cứu không nên áp đặt bất kỳ một ý kiến nào của riêng mình cho người khác trả lời, mà phải cố gắng khích lệ người trả lời nói lên những suy nghĩ của họ, bảng câu hỏi phải được thiết kế sao cho những người trả lời có quan tâm đến và sẵn sàng chia sẻ thông tin, kết quả nghiên cứu với họ để khuyến khích họ trả lời một cách tận tình và đầy đủ hơn
Phương pháp thu thập dữ liệu lựa chọn trong việc thực hiện đề tài là phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp Các dữ liệu này được thu thập trực tiếp từ các dự án của chủ đầu tư X thông qua việc khảo sát các đối tượng đã và đang làm việc bằng bảng câu hỏi đóng
Vì dữ liệu sơ cấp là dữ liệu được thu thập ngay ở thời điểm hiện tại nên có khả năng khái quát được thực tế và dễ dàng xác định mẩu hợp lệ Dữ liệu được cung cấp mang tính chính xác cao hơn dữ liệu thứ cấp do được tiếp xúc trực tiếp với đối tượng khảo sát nên có thể thuyết phục đối tượng trả lời, có thể giải thích rõ cho đối tượng về các câu hỏi, có thể dùng ngôn ngữ cơ thể kết hợp với lời nói để giải thích,
có thể kiểm tra dữ liệu tại chỗ trước tập hợp tổng kết dữ liệu Hơn nữa, vấn đề đang nghiên cứu cho thấy có rất nhiều yếu tố rủi ro tác động đến sự thành công trong giai đoạn thi công dự án, nên cần phải điều tra phỏng vấn trực tiếp để thu thập
Trang 344.2 THANG ĐO SỬ DỤNG TRONG NỘI DUNG KHẢO SÁT
Một trong những hình thức đo lường các khái niệm trừu tượng được sử dụng phổ
biến nhất trong nghiên cứu kinh tế xã hội là dạng thang đo Rennis Likert (1932) giới thiệu Likert đã đưa ra loại thang đo năm mức độ phổ biến:
Mức độ được mã hóa tăng dần từ 1 đến 5, tác giả có 2 loại giá trị cần khảo sát là
“khả năng xuất hiện” và “mức độ tác động”
4.3 KHẢO SÁT SƠ BỘ
Quá trình khảo sát sơ bộ dựa trên ý kiến của 20 chuyên gia đã và đang làm việc trong các dự án của chủ đầu tư X bao gồm: 2 PM (Project Manager), 3 Tư vấn trưởng, 5 chỉ huy trưởng của 5 nhà thầu phần thô và phần hoàn thiện, 10 kỹ sư kinh nghiệm trên 10 năm trong lĩnh vực xây dựng nhà cao tầng
Bảng 11: Thông tin khảo sát sơ bộ
vấn/Nhà thầu Trên 10 năm
Tác giả xác định được sơ bộ 35 rủi ro tương ứng với 9 nhóm cơ bản và tiến hành khảo sát khả năng xuất hiện của 35 rủi ro này qua 20 chuyên gia đã xác định
Trang 35Bảng 12: Mã hóa rủi ro và khả năng xuát hiện của nó
Std Deviation
Thiếu lao động có tay nghề CN1 3.90 .447
4 Nhà thầu không đủ năng lực
2.35 875
7 Chậm trễ vật liệu và phê duyệt
Trang 36STT Nhóm Các rủi ro Mã hóa Mean
Std Deviation
16 Không đủ thời gian để chuẩn bị
KT7
2.00 795
18
Chất lượng dự án kém so với kỳ vọng làm phát sinh thêm chi phí sữa chữa, bảo hành, bảo trì
22 Không trang bị BHLĐ và bảo
hiểm cho người lao động AT3
24 Trì hoãn thông tin từ nhà thiết kế TK2 2.00 1.076
26 Không tương thích giữa bản vẽ
Rủi ro của các chính sách và quy
3.45 510
28 Các quan chức nhà nước tham
3.20 410
Trang 37STT Nhóm Các rủi ro Mã hóa Mean
Std Deviation
Qua bảng tổng hợp trên, tác giả lọc ra các rủi ro có trung bình khả năng xuất hiện nhỏ hơn 2.5 và loại bỏ các rủi ro này Do đó bảng khảo sát sẽ còn lại 25 rủi ro
Bảng 13: Các biến rủi ro còn lại sau khi loại bỏ các biến có mean < 2.5
Std Deviation
Thiếu lao động có tay nghề CN1 3.90 .447
Trang 38STT Nhóm Các rủi ro Mã hóa Mean
Std Deviation
5 Chậm trễ vật liệu và phê duyệt
14 Không có hệ thống phòng cháy
3.75 444
15 Không trang bị BHLĐ và bảo
hiểm cho người lao động AT3
Rủi ro của các chính sách và quy
3.45 510
Trang 39STT Nhóm Các rủi ro Mã hóa Mean
Std Deviation
Các số liệu được phân loại ra thành 9 nhóm xảy ra trong giai đoạn thi công dự án: Rủi ro vật lý, Rủi ro cá nhân, Rủi ro kỹ thuật, Rủi ro an toàn, Rủi ro thiết kế, Rủi ro chính trị và quy định, Rủi ro tài chính, Rủi ro hợp đồng, rủi ro về môi trường
Tác giả đã gửi đi 180 bảng khảo sát thông qua mối quan hệ của cá nhân và bạn bè Kết quả, thu về tổng cộng 129 bảng hợp lệ, đạt tỉ lệ 71.67% Như vậy, với yêu cầu
Trang 4025 tiêu chí, số mẫu phải là 4 đến 5 lần biến khảo sát tương ứng 100 đến 125 mẫu
(theo Bollen, 1989) Vì thế, với 129 bảng khảo sát hợp lệ là chấp nhận được
Sử dụng phần mềm IBM SPSS Statistics 20.0 để thống kê và tổng hợp dữ liệu khảo sát Cơ cấu các thông tin cơ bản như sau:
4.4.1 THỜI GIAN CÔNG TÁC
Bảng 14: Thống kê “thời gian công tác” của các mẫu
H nh 5: Biểu đồ thời gian công tác của các mẫu
Như vậy, các cá nhân tham gia khảo sát thử nghiệm có thời gian làm việc trong ngành xây dựng từ 5-10 năm kinh nghiệm chiếm 52.7%, điều này cũng phù hợp
duoi3nam 3-5nam 5-10nam tren10nam