1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

82 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 565,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng NaiTội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng NaiTội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng NaiTội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng NaiTội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng NaiTội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng NaiTội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TRÍ TÂN

TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA,

Trang 2

HÀ NỘI, NĂM 2020 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Cáckết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nàokhác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,tin cậy và trung thực

NGƯỜI CAM ĐOAN

NGUYỄN TRÍ TÂN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 6

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 6

1.1 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 6

1.2 Khái quát lịch sử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trước khi ban hành BLHS năm 2015

7

1.2.1 Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của PLHS Việt Nam trước khi ban hành BLHS năm 2015 7

1.2.2 Quy định của BLHS năm 2015 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 10

1.3 Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 11

1.3.1 Khái niệm 11

1.3.2 Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 12

1.3.3 Đặc điểm và ý nghĩa của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 16

1.4 Quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 17

1.4.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyết định hình phạt 17

1.4.2 Căn cứ và nguyên tắc của quyết định hình phạt 18

1.4.3 Hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 20

1.5 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác 24

1.5.1 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 25

1.5.2 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lừa dối khách hàng 27

1.5.3 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng chức vụ quyền

hạn chiếm đoạt tài sản 27

1.5.4 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 28

Trang 4

1.5.5 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội cướp tài sản, tội trộm cắptài

sản 29Tiểu kết Chương 1 31

CHƯƠNG 2 32 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TỪ THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI 32

2.1 Thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thành phố Biên Hòa

40

2.2.1 Quyết định hình phạt theo cấu thành tội phạm cơ bản (khoản 1) 412.2.2 Quyết định hình phạt cấu thành tội phạm tăng nặng 432.2.3 Quyết định hình phạt cấu thành tội phạm tăng nặng, phạm nhiều tội, có đồng phạm 44 2.3 Những vi phạm, sai sót; những hạn chế, vướng mắc trong định tội danh và

quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thành

phố

Biên Hòa 46

2.3.1 Những vi phạm, sai sót về định tội danh và quyết định hình phạt đối vớitội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thành phố Biên Hòa 462.3.2 Những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nó trong định tội danh và quyết định hình phạt từ thành phố Biên Hòa 48 Tiểu kết Chương 2 53

CHƯƠNG 3 54

Trang 5

YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG QUY

ĐỊNH VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 54

3.1 Yêu cầu nâng cao chất lượng và đảm bảo đúng quy định về định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 54

3.1.1 Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền sở hữu về tài sản hợp pháp; bảo đảm công lý, công bằng xã hội 54

3.1.2 Bảo đảm pháp chế XHCN trong thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt 55

3.1.3 Yêu cầu phòng, chống tội phạm đối với loại tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt 55

3.2 Các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 56

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật Hình sự 56

3.2.2 Tăng cường và nâng cao chất lượng hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 58

3.2.3 Nâng cao năng lực chủ thể tiến hành tố tụng, đặc biệt là thẩm phán 64

3.2.4 Các giải pháp khác 65

Tiểu kết Chương 3 67

KẾT LUẬN 68

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Bảng thống kê tình hình tội phạm và số liệu số vụ án, bị cáo phạm tội LĐCĐTS được giải quyết trên địa bàn thành phố Biên Hòa từ năm 2015-2019.Bảng 2: Phân loại tội phạm tội LĐCĐTS theo mức hình phạt (CTTP cơ bản và tăng nặng) tại thành phố Biên Hòa, từ năm 2015-2019

Bảng 3: Hình phạt áp dụng đối với tội phạm LĐCĐTS tại thành phố Biên Hòa,

từ năm 2015-2019

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Biên Hòa,tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua diễn biến phức tạp và chưa có xu hướng giảm,các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội với nhiều thủ đoạn khác nhau, rất tinh vixảo quyệt, đã gây ra hậu quả to lớn, có những vụ thiệt hại lên đến hàng trăm tỷđồng, có nhiều nạn nhân, … gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình an ninh trật tự tạiđịa phương Trong lĩnh vực thương mại, mặc dù tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tộiphạm truyền thống, phổ biến, nhưng hiện nay với xu thế hội nhập quốc tế, xuất hiệnngày càng nhiều những vụ việc phức tạp, các vấn đề liên quan đến xâm phạm sởhữu về tài sản hợp pháp của người sở hữu, đã kéo theo nhũng hệ lụy cho sự ổn địnhphát triển kinh tế Tính chất phạm tội ngày càng có quy mô, tinh vi và đa dạng, có

tổ chức-câu kết chặt chẽ dưới nhiều hình thức nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản: hoạtđộng tổ chức tín dụng đen, cho vay vốn với lãi suất cao không có sự đảm bảo củapháp luật, ngụy tạo các thông tin thanh toán qua hệ thống thanh toán trực tuyếnngân hàng (internet Banking, thanh toán online, …)

Trước tình hình trên, các lực lượng chức năng trên địa bàn thành phố BiênHòa đã tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện

xử lý kịp thời Tuy nhiên, thực tiễn thì việc định tội danh và quyết định hình phạtđối với tội này còn có những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được các yêu cầu đặt

ra Do đó, tác giả chọn đề tài “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” làm luận văn cao học với mong muốn góp phần

làm rõ cơ sở lý luận của Bộ luật Hình sự hiện hành về tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản, thực tiễn trong hoạt động định tội danh và áp dụng pháp luật trong hoạt độngxét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Biên Hòa; từ đó đề xuấtnhững ý kiến cụ thể góp phần đảm bảo áp dụng đúng quy định pháp luật thời giantới

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về Tội lừa đảo chiến đoạt tài sản đã được rất nhiều các nhànghiên cứu đề cập và công bố như: Võ Khánh Vinh (2013), Lý luận chung về định

tội danh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội - Hà Nội; Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học BLHS (Phần các tội phạm, Tập II), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Mai Văn Bộ (2010), Bình luận khoa học BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm

2009 (phần các tội phạm), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Lê Văn Đệ (2004), Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội; Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập 2, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội…

Các luận án tiến sỹ, luận văn Thạc sĩ luật học của nhiều tác giả liên quan đếnvấn đề định tội danh nói chung và định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theoquy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn của nhiều tỉnh, thành phố của

cả nước như: Lê Đăng Doanh, Đại học luật Hà Nội, luận án tiến sỹ “Tội LĐCĐTStheo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Hải Dương”; Lê Quang Ninh(2019), Luận văn thạc sĩ “Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định

của pháp luật Hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước”, Học viện khoa học

xã hội; Đào Thị Tường (2019), Luận văn thạc sĩ “Tội LĐCĐTS theo pháp luật hình

sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh”, Học viện Khoa học xã hội;

Các bài viết, tạp chí, đề tài khoa học khác như: “ Phân biệt tợi LĐCĐTS với một số tội phạm xâm phạm sở hữu khác” của tác giả Triệu Thị Tuyết, TAND tỉnh Bắc Kạn, tạp chí Tòa án; “ Tội LĐCĐTS theo pháp luật hình sự Việt Nam, lý luận và thực tiễn” của tác giả Đoàn Ngọc Hải, đăng trên tạp chí Tòa án; “ Bình luận tội LĐCĐTS trong Bộ luật hình sự năm 2015” của tác giả Phạm Ngọc Minh, http://hinhsu.luatviet.co ; …những công trình nghiêncứu, các bài viết, đề tài khoa học nêu trên đều có giá trị về mặt lý luận khoa học vàthực tiễn, các tác giả đã đề cập một cách khá toàn diện các dấu hiệu pháp lý tội lừađảo chiếm đoạt tài sản, phân biệt tội này với một số tội phạm khác trong nhóm tội

Trang 10

xâm phạm sở hữu Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập chuyên sâu pháp luậthình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnhĐồng Nai; các tài liệu trên cũng chính là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích choviệc nghiên cứu luận văn của tác giả.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, những quy định pháp lý vềtội lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua việc nghiên cứu các bản án đã được định tộidanh và quyết định hình phạt của Toà án nhân thành phố Biên Hòa, tỉnh ĐồngNai đối với tội phạm này, từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất hoàn thiệnnhững quy định về tội danh này trong Bộ luật Hình sự

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản

Làm rõ những vấn đề lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luậthình sự Việt Nam như khái niệm, các dấu hiệu pháp lý, phân biệt các tội phạm vềxâm phạm sở hữu

Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật trong quá trình định tội danh vàquyết định hình phạt về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố BiênHòa, tỉnh Đồng Nai trong khoảng 5 năm (2015 - 2019)

Luận văn đưa ra những vấn đề còn hạn chế, bất cập, qua đó đưa ra một sốgiải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác xét xử đối với tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, quy định củapháp luật hình sự cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 11

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thựctiễn xét xử tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trong thời gian từ năm 2015đến năm 2019 Cụ thể:

- Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận, những quy định pháp lý về tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản qua việc nghiên cứu các bản án đã được định tội danh

và quyết định hình phạt của Toà án nhân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đối vớitội phạm này Từ xem xét các bản án hai cấp của Toà án là cấp sơ thẩm và phúcthẩm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, để đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm hoànthiện những quy định về tội danh này trong Bộ luật Hình sự

Việc áp dụng pháp luật không chỉ có định tội danh và quyết định hìnhphạt, nhưng trong phạm vi của đề tài này, tác giả chỉ xem xét định tội danh vàquyết định hình phạt trong xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bànthành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, để từ đó phát hiện những vấn đề còn tồntại, đưa ra các kiến nghị, giải pháp cụ thể cho việc áp dụng quy định của phápluật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

- Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định củapháp luật hình sự trong hoạt động định tội danh và áp dụng pháp luật đối với tộiLĐCĐTS trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai từ năm 2015-2019

Cụ thể từ khi Luật Hình sự 1999, (sửa đổi 2009) có hiệu lực đến khi Luật Hình

sự 2015 (sửa đổi 2017) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của phép duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về chính sách hình

sự, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp như phântích, tổng hợp, thống kê, so sánh, vụ việc điển hình trong giải quyết các vấn đềcủa đề tài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn đã phân tích được những khái niệm, đặc điểm cũng như kháiquát lịch sử quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự

Trang 12

Việt Nam, phân biệt được tội lừa đảo với một số tội danh trong Bộ luật hình sựViệt Nam.

- Tác giả đã nghiên cứu và phân tích thực tiễn áp dụng quy định của phápluật hình sự hiện hành về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phốBiên Hòa, tỉnh Đồng Nai

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Luậnvăn được kết cấu thành 3 Chương, cụ thể :

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản

Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội lừađảo chiếm đoạt tài sản từ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Chương 3: Yêu cầu và các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI LỪA

ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

1.1 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Theo từ điển Lạc Việt, từ “lừa” được định nghĩa là “làm cho người khác mắc sai lầm bằng mưu mẹo hoặc nói dối”, còn “lừa đảo” là “dùng thủ đoạn để chiếm tài sản, của cải”.

Trong khoa học pháp lý hình sự, lừa đảo là thuật ngữ đã được xuất hiện từnhiều thế kỷ qua và được mọi người sử dụng rộng rãi ở trong nhiều lĩnh vực của đờisống xã hội, về khái niệm tội phạm LĐCĐTS cũng đã được đề cập rất nhiều trongcác công trình nghiên cứu của nhiều tác giả với nhiều khái niệm khác nhau Chẳng

hạn có quan điểm cho rằng: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác”.[37,tr185]

Bộ luật hình sự năm 2015, tuy không nêu cụ thể khái niệm về tội phạmLĐCĐTS, nhưng có định nghĩa chung về tội phạm: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm

cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” [K.1, Đ.8 BLHS

2015]

Đồng thời BLHS năm 2015 cũng quy định: “Người nào bằng thủ đoạn gian

dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới

50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm …” [K.1, Đ.174 BLHS 2015].

Trang 14

Như vậy, về khái niệm tội LĐCĐTS không được định nghĩa cụ thể trongBLHS năm 2015, nhưng căn cứ vào những quy định trên có thể đưa ra khái niệm vềtội LĐCĐTS như sau:

“Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là loại tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý bằng các thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin nhầm nên trao tài sản để người phạm tội chiếm đoạt”.

1.2 Khái quát lịch sử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam

1.2.1 Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của PLHS Việt Nam trước khi ban hành BLHS năm 2015

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Nhà nước ta chưa ban hành Bộ luậthình sự, nhưng đã ban hành và áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau

để quy định và xử lý về tội LĐCĐTS: Sắc lệnh số 26, Sắc lệnh số 223 năm 1946 vềcác tội phá hoại công sản, biển thủ công quỹ; Sắc lệnh số 267 năm 1956 về các âmmưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dânlàm ảnh hưởng, cản trở các chính sách, kế hoạch Nhà nước

Trong Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa do Ủyban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành năm 1970, quy

định về tội LĐCĐTS XHCN như sau: “ Kẻ nào dùng giấy tờ giả mạo, gian lận trong việc cân, đo, đong, đếm, tính hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác chiếm đoạt tài sản XHCN thì phạt tù từ sáu tháng đến năm năm …” (Điều 10); đồng thời Điều

9 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản công dân (cũng do Ủy ban Thường

vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành năm 1970), quy định về tội

LĐCĐTS riêng của công dân như sau: “ Kẻ nào dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản riêng của công dân thì phạt tù từ ba tháng đến ba năm …”.

Từ sau ngày giải phóng miền Nam, để phù hợp với điều kiện hoàn cảnh đấtnước, Nhà nước ta đã ban hành thêm nhiều văn bản pháp luật hình sự trong đó cóquy định về tội LĐCĐTS Như vậy từ năm 1976 nước ta áp dụng đồng thời đến 03

Trang 15

văn bản quy phạm pháp luật khác nhau cùng xử lý về tội LĐCĐTS: Miền Bắc ápdụng hai pháp lệnh do Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộnghòa ban hành năm 1970, miền Nam áp dụng Sắc lệnh số 03-SL/76 ngày 15/03/1976của Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời.

Bộ luật hình sự đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày09/07/1985, có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 áp dụng thống nhất trên cả nước, thaythế các văn bản quy phạp pháp luật hình sự trước đó BLHS năm 1985 quy định vềtội LĐCĐTS như sau:

Điều 134 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa.

1- Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa thì

bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm …”

Điềi 157 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân.

1- Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác, thì

bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm …”

BLHS năm 1985 đã phát huy tối đa tính pháp chế và bảo vệ được quyền tàisản của công dân, có sự bình đẳng hơn quyền sở hữu đối với tài sản xã hội chủnghĩa và tài sản của công dân, thể hiện ở chỗ bỏ mức hình phạt tử hình, chỉ áp dụngmức hình phạt cao nhất là tù chung thân đối với tội LĐCĐTS xã hội chủ nghĩa; cònđối với tội LĐCĐTS công dân thì nâng mức hình phạt cao nhất là phạt tù đến 15năm Tuy nhiên thực tiễn áp dụng BLHS năm 1985 nói chung và đối với tộiLĐCĐTS nói riêng cũng bộc lộ những hạn chế nhất định cần phải được sửa đổi, dovậy riêng tội LĐCĐTS quy định tại các điều 134 và điều 157 cũng đã được sửa đổi,

bổ sung qua bốn lần vào các năm 1990, 1991, 1993 và 1997

Mặc dù được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhưng nhìn chung BLHS năm 1985vẫn chia ra hai nhóm tội về xâm phạm quyền sở hữu tài sản: tội xâm phạm quyền sởhữu tài sản xã hội chủ nghĩa và tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân

Do vậy BLHS năm 1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2000 đã thay thếBLHS năm 1985, được xây dựng dựa trên cơ sở sửa đổi, bổ sung một cách tương

Trang 16

đối toàn diện, có kế thừa và phát huy tích cực những quy định tiến bộ của BLHSnăm 1985.

BLHS năm 1999 đã gộp các nhóm tội về xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa

và xâm phạm sở hữu của công dân thành một chương duy nhất, Chương “các tộixâm phạm sở hữu”, áp dụng cho tất cả các hình thức sở hữu; trong đó tội LĐCĐTSđược quy định tại điều 139, tức nhập các điều 134 và 134a, điều 157 trong BLHSnăm 1985 và các lần sửa đổi bổ sung Điểm mới của điều 139 trong BLHS năm

1999 là trong cấu thành tội phạm cơ bản, giá trị tài sản bị chiếm đoạt được áp dụnglàm ranh giới xác định hành vi lừa đảo phải truy cứu TNHS với hành vi lừa đảo chỉ

bị xử lý hành chính; hình phạt bổ sung và các tình tiết định khung hình phạt cũngđược quy định ngay trong điều luật và chi tiết, cụ thể hơn về tội lừa đảo chiếm đoạttài sản: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có

giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” (K.1, Đ.139 BLHS 1999).

Phải thừa nhận rằng BLHS năm 1999 là một bước tiến quan trọng trong quátrình xây dựng và áp dụng chính sách pháp luật hình sự hướng đến đề cao quyềncon người, tôn trọng quyền sở hữu của công dân Tuy nhiên kinh tế-xã hội khôngngừng phát triển kéo theo sự gia tăng và phát sinh nhiều loại tội phạm mới kể cả vềthủ đoạn và quy mô như các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia, các tội phạm liênquan đến công nghệ thông tin, lĩnh vực tài chính, …; bên cạnh đó xu thế hội nhậpquốc tế ngày càng sâu rộng cần thiết đặt ra vấn đề phải sửa đổi, bổ sung các quyđịnh về pháp luật hình sự cho phù hợp với quan điểm, chủ trương mới của Đảng vềcải cách tư pháp như đã được nêu tại Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó chú trọng

đề cao quyền con người theo hướng hạn chế áp dụng hình phạt tử hình, tước đimạng sống của con người

Trang 17

1.2.2 Quy định của BLHS năm 2015 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 ngày 27/11/2015 đã thông qua BLHSnăm 2015, tuy nhiên sau đó Quốc hội đã quyết định hoãn thời hiệu áp dụng do pháthiện một số lỗi, để tiến hành nghiên cứu sửa đổi, bổ sung; tại kỳ họp thứ 3 Quốc hộikhóa XIV chính thức thông qua những sửa đổi, bổ sung và ban hành Luật số12/2017/QH14 ngày 20/06/2017 về sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm

2015 và chính thức có hiệu lực ngày 01/01/2018 (sau đây gọi là BLHS năm 2015được sửa đổi bổ sung năm 2017, gọt tắt là BLHS năm 2015), đã quy định về tội lừađảo chiếm đoạt tài sản như sau:“Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài

sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới

2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: …” (K.1, Đ.174

BLHS 2015)

Căn cứ quy định tại điều 174 BLHS 2015, tội LĐCĐTS được xây dựng theobốn CTTP tương ứng với bốn khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội, vàsắp xếp theo trình tự tăng dần về mức độ nghiêm khắc: CTTP cơ bản (khoản 1),CTTP tăng nặng thứ nhất (khoản 2), CTTP tăng nặng thứ hai (khoản 3), CTTP tăngnặng thứ ba (khoản 4)

Trong CTTP cơ bản (khoản 1 điều 174) của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cócác tình tiết là yếu tố định tội, làm ranh giới phân biệt giữa hành vi lừa đảo bị xử lýTNHS và hành vi lừa đảo nhưng chỉ bị xử lý hành chính; đồng thời sửa đổi và bổsung thêm các dấu hiệu phạm tội mới thuộc trường hợp chiếm đoạt tài sản dưới2.000.000 đồng nhằm cụ thể hóa hành vi phạm tội phải truy cứu TNHS

CTTP tăng nặng thứ nhất (khoản 2 điều 174) ngoài các dấu hiệu định tộicòn có các dấu hiệu định khung tăng nặng Đối với các tình tiết định khung tăng

nặng theo quy định tại khoản 2, điều 174 BLHS 2015 đã bỏ tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” (điểm g khoản 2 Điều 139 BLHS 1999), việc loại bỏ tình tiết này là phù hợp, bởi căn cứ xác định “gây hậu quả nghiêm trọng” trong thực tế áp dụng rất

Trang 18

khó khăn.

Trang 19

Tương tự CTTP tăng nặng thứ nhất, CTTP tăng nặng thứ hai (khoản 3 điều174), thì ngoài các dấu hiệu định tội còn có các dấu hiệu định khung tăng nặng được

quy định cụ thể; khoản 3 cũng đã bỏ tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng” (điểm b khoản 3 Điều 139 BLHS 1999); và cũng quy định mới thêm một tình tiết định khung khác là “Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh”, đây là quy định hợp lý,

nhằm tránh các trường hợp phạm tội phát sinh trong những điều kiện khách quanđặc biệt mà chưa có quy định dẫn đến bỏ lọt tội phạm

Đối với CTTP tăng nặng thứ ba, khoản 4 điều 174 BLHS 2015 đã bỏ tình

tiết “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” (điểm b khoản 4 Điều 139 BLHS 1999) Đồng thời, BLHS năm 2015 quy định mới thêm một tình tiết định khung khác là c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp…”, đây là sự bổ sung hợp lý,

nhằm tránh bỏ lọt tội phạm trong một số trường hợp cụ thể, nhất là trong điều kiệnchiến tranh, tình trạng khẩn cấp thì sự manh nha hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạttài sản gia tăng rất nhiều [45]

Ngoài ra, tội LĐCĐTS là một trong những tội phạm phổ biến của nhóm tộixâm phạm quyền sở hữu, gây thiệt hại về tài sản cho chủ sở hữu một cách trực tiếp,nên ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổsung như: bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việcnhất định hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản như được quy định tại khoản

Bộ luật hình sự” [39,tr10]

Còn theo GS.TSKH Lê Cảm thì định nghĩa về định tội danh như sau: “Định tội danh được hiểu là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự;

Trang 20

đồng thời dựa trên các tài liệu chứng cứ thu thập được phản ánh các tình tiết thực

tế của vụ án đã xảy ra để so sánh, đối chiếu và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp của chúng với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình

sự quy định” [12]

Trong khoa học hình sự, một hành vi bị coi là tội phạm khi có đủ bốn dấuhiệu, bao gồm: tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật và tính phải

bị xử lý hình sự Tính phải bị xử lý hình sự đối với một hành vi được hiểu là hành vi

đó phải được qui định trong BLHS bằng một tội phạm cụ thể và kèm theo đó mộthình phạt cũng như các biện pháp xử lý hình sự khác tương ứng

Hoạt động định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chính là quá trình các

cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá và áp dụng các quy định của PLHS vàTTHS để xác định hành vi của người phạm tội xem có thỏa mãn các yếu tố cấuthành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 174 BLHS 2015 haykhông, và quyết định mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho

xã hội của hành vi phạm tội

Từ những khái niệm và phân tích trên có thể hiểu định tội danh tội lừa đảochiếm đoạt tài sản như sau:

Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hoạt động thực tiễn của các

cơ quan tiến hành tố tụng trong việc áp dụng pháp luật hình sự theo trình tự, thủ tục pháp luật tố tục hình sự quy định; trên cơ sở thu thập các tài liệu, chứng cứ nhằm xác định có hay không sự phù hợp giữa hành vi chiếm đoạt đã xảy ra với các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 174 BLHS 2015; làm căn cứ để giải quyết các vấn đề liên quan đến hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác.

1.3.2 Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Định tội danh là hoạt động thực tiễn, có tính logic nhằm xác định có haykhông sự tương đồng giữa hành vi chiếm đoạt tài sản đã được thực hiện và các dấuhiệu của nó được quy định tại điều 174 BLHS 2015: “1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới

Trang 21

50.0.0 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:…”, để từ đó xác định hành vi đó có phải là tội lừa đảo chiếm đoạt tài

sản hay không Trên cơ sở đó có thể nhận thức các dấu hiệu pháp lý của tộiLĐCĐTS như sau:

(i) Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Mặt khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản Đốitượng tác động của tội phạm này là tài sản Việc xâm phạm quyền sở hữu cũng thểhiện ở hành vi chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của người khác sau khi lừa lấy đượctài sản

Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệnhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, cụ thể là quyền sở hữu tài sảnđược pháp luật bảo vệ Trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản luật khôngquy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt, đây làđiểm khác so với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướpgiật tài sản

(ii) Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

- Về hành vi khách quan của tội phạm LĐCĐTS: là sử dụng thủ đoạn giandối để chiếm đoạt tài sản, thể hiện ở chỗ:

+ Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác mà ngay lúc

đó người bị hại không biết được có hành vi gian dối;

+ Dùng thủ đoạn gian dối bằng hành vi đưa ra thông tin giả, không đúng với

sự thật (như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động, bằng hìnhảnh…hoặc kết hợp bằng nhiều cách thức khác nhau), làm cho người bị lừa dối tin

đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội

Đặc điểm riêng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chiếm đoạt bằng thủđoạn gian dối, hai hành vi này có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó hành vi giandối có trước, là thủ đoạn để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; do vậy thủ đoạn

Trang 22

gian dối phải được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữuhoặc người quản lý tài sản để đạt mục đích chiếm đoạt.

Cũng chính vì thế mà khi phân tích các dấu hiệu khách quan cấu thành tộiLĐCĐTS, một số quan điểm cho rằng tội LĐCĐTS có hai hành vi khách quan làhành vi “gian dối” và hành vi “chiếm đoạt”; tuy nhiên, BLHS năm 2015, điều 174

quy định: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác…” nên không thể coi thủ đoạn phạm tội là một hành vi khách quan được vì

thủ đoạn chính là phương thức để đạt mục đích, mà biểu hiện của thủ đoạn gian dốilại bao gồm nhiều hành vi khác nhau, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể khác màngười phạm tội thực hiện hành vi đó nhằm đánh lừa người khác

Ví dụ: A nói dối với B là mẹ của A ốm phải đưa vào bệnh viện cấp cứu; Btin và đưa xe máy cho A để A đưa mẹ đi cấp cứu A đem xe máy của B ra tiệm cầm

đồ cầm cố lấy 10.000.000 đồng, sử dụng vào mục đích đánh bạc và đã thua hết.Hoặc ví dụ khác: vì muốn có tiền đánh bạc C đã nói dối với D là mượn xe 01 tiếngđồng hồ để chở bạn gái về rồi sẽ trả lại xe, nhưng C lại đem cầm cố lấy tiền đánhbạc…

Chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luậttài sản của người khác thành của mình, đây là đặc điểm nổi bật của tội lừa đảochiếm đoạt tài sản, là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủđoạn gian dối Như vậy thủ đoạn gian dối của người phạm tội phải có trước hành vichiếm đoạt và là nguyên nhân trực tiếp khiến người bị hại tin là thật mà giao tài sảncho người phạm tội Trường hợp nếu thủ đoạn gian dối có sau khi người phạm tộinhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà tùy trường hợp

cụ thể thủ đoạn gian dối đó sẽ cấu thành một tội khác, hoặc có thể là hành vi chegiấu tội phạm hoặc là hành vi phạm tội khác

- Về hậu quả của tội LĐCĐTS: là thiệt hại về tài sản mà căn cứ xác định làgiá trị tài sản bị chiếm đoạt BLHS 2015 quy định cụ thể giá trị tài sản bị chiếm đoạt

từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm (K.1, Đ.174), trường hợp tài sản

Trang 23

bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện khác được nêu cụthể trong điều luật.

Tuy vậy trong một số trường hợp, mặc dù chưa có thiệt hại về tài sản (ngườiphạm tội chưa thực sự chiếm đoạt được tài sản), nhưng vẫn cấu thành tội phạmLĐCĐTS, đó là phạm tội trong trường hợp phạm tội chưa đạt hoặc chuẩn bị phạmtội tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể

Về mối quan hệ nhân quả: tội LĐCĐTS cũng như những tội có cấu thành vậtchất khác, hậu quả và hành vi khách quan của tội phạm có mối quan hệ nhân quảvới nhau, hậu quả thiệt hại về tài sản phải được xuất phát từ hành vi lừa dối Nếuviệc thiệt hại về tài sản từ nguyên nhân khác thì sẽ dựa vào những dấu hiệu kháchquan để xác định xem có dấu hiệu của tội phạm không và được pháp luật điều chỉnhnhư thế nào

Ở đây cũng nên lưu ý là cần phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vớinhững tội phạm có dùng thủ đoạn gian dối khác, làm cho chủ sở hữu tài sản “tựnguyện” giao tài sản của mình, còn đối với những thủ đoạn gian dối nhưng khôngphải do người bị hại tự động giao tài sản của mình thì phải căn cứ vào dấu hiệukhách quan để xác định tội phạm tương ứng, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong,

đo, đếm, gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng, hoặc để bán hàng giả nhằmthu lợi bất chính thì sẽ cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả

(iii) Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Theo quy định tại điều 12 BLHS năm 2015 quy định về tuổi chịu TNHS, thìđối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chủ thể của tội phạm không phải là người từ

đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, tức là nếu từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phảichịu TNHS về tội LĐCĐTS, mà chỉ có người trên 16 tuổi mới phải chịu tráchnhiệm hình sự về tội này

(iv) Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với lỗi cố ý trực tiếp, nghĩa làngười phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trướchậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra

Trang 24

Thật vậy, tội LĐCĐTS là tội có tính chất chiếm đoạt, do lỗi cố ý của chủ thể,mục đích là mong muốn chiếm đoạt được tài sản thuộc sở hữu của người bị hại,nghĩa là mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội luôn có trước khi thực hiệnthủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản Nếu sau khi đã có tài sản một cáchhợp pháp, ngay thẳng rồi mới có ý định chiếm đoạt tài sản thì không phải là hành viLĐCĐTS, mà tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội có thể bị truy cứu TNHS về tội

phạm khác như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Ngoài ra, việc chứng minh ý thức chiếm đoạt của người phạm tội thường căn

cứ vào tình trạng tài chính, ngữ cảnh của người phạm tội như: tài sản thực có, tìnhtrạng tài chính, nhu cầu tài sản của người phạm tội kết hợp với lời khai nhận củangười phạm tội như thế nào; vì thường trước khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếmđoạt tài sản, người phạm tội bị rơi vào hoàn cảnh nợ nần do thua cờ, bạc, lô đề, kinhdoanh…, không có khả năng trả nợ cho chủ nợ nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tàisản

1.3.3 Đặc điểm và ý nghĩa của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

(i) Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có những đặc điểm như sau:

- Là hoạt động có tính logic nhằm xác định có hay không sự tương đồng giữahành vi chiếm đoạt tài sản đã được thực hiện và các dấu hiệu của nó được quy địnhtại điều 174 BLHS 2015, để xác định hành vi đó có phải là tội lừa đảo chiếm đoạttài sản hay không

- Hoạt động định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải tuân thủ quyđịnh về trình tự, thủ tục của pháp luật tố tục hình sự; trên cơ sở thu thập các tài liệu,chứng cứ để làm căn cứ áp dụng quyết định hình phạt hợp lí nhất đối với ngườiphạm tội

- Với tư cách là một dạng của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, định tộidanh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải đảm bảo tính chính xác, khách quan tuyệtđối; mọi hành vi định tội danh sai sót dù là nhỏ nhất cũng có thể dẫn tới hậu quả lớncho cá nhân, gia đình và xã hội

Trang 25

- Là hoạt động mang tính áp đặt một chiều đối với đối tượng bị áp dụng; hoạtđộng định tội danh chỉ có thể được tiến hành bởi các cơ quan tiến hành tố tụng là cơquan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án mà không thể được tiến hành bởi bất kì chủthể nào khác, đối tượng bị áp dụng không được lựa chọn tội danh cho mình mà chỉ

có thể chấp nhận tội danh mà các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp đặt trên cơ sở ápdụng theo quy định của pháp luật

(ii) Ý nghĩa của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

- Ý nghĩa về phương diện chính trị - xã hội: Định tội danh tội lừa đảo chiếm

đoạt tài sản góp phần thể chế hóa đường lối lãnh đạo của Đảng, các quy định củaHiến pháp, các quy định của pháp luật, nhất là quy định của BLHS, BLTTHS Mặtkhác, việc quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong BLHS (Điều 174 BLHS2015) có mục đích bảo vệ quyền lợi về mặt kinh tế, cụ thể là quyền sở hữu tài sảncủa công dân, đây là quyền con người được pháp luật quốc gia và quốc tế ghi nhận

Ý nghĩa về phương diện pháp lí: Hoạt động nhằm xác định hành vi của một

người là hành vi lừa đảo nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, thỏa mãn các dấu hiệuquy định của BLHS thể hiện sự khách quan, công bằng của pháp luật; là tiền đềquan trọng để định tội danh một cách chính xác, đồng thời là cơ sở để áp dụng đúngcác thủ tục tố tụng về thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử, áp dụng biện pháp tạmgiam,…; không làm oan, sai người vô tội, không bỏ lọt tội phạm; tránh trình trạngtội phạm bỏ trốn hay tẩu tán tang vật; đồng thời là căn cứ để Toà án quyết định hìnhphạt đúng, ban hành một bản án đúng, chính xác phù hợp với mức độ nguy hiểmcho xã hội của hành vi phạm tội, thể hiện tính nghiêm minh, công bằng, khách quancủa pháp luật

1.4 Quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.4.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyết định hình phạt

Hiện nay trong khoa học pháp lý hình sự có khá nhiều quan điểm đã được

nêu ra về khái niệm quyết định hình phạt Tuy nhiên với quan điểm “Quyết định hình phạt là một giai đoạn, nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản,

Trang 26

điều luật) theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án buộc tội” [37,tr386] đã cho rằng: quyết định hình phạt là hoạt động

nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự do Toà án có thẩm quyền thực hiện sau khi

đã định tội danh, và tuỳ thuộc vào từng trường hợp để quyết định mức hình phạttrong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật quy định áp dụng đối với người

có hành vi phạm tội

Quyết định hình phạt là kết quả cuối cùng của hoạt động xét xử do HĐXXtiến hành căn cứ vào các quy định của BLHS để QĐHP, nên quyết định hình phạt cónhững đặc trưng sau:

Một là: QĐHP là hoạt động thực tiễn của Toà án có thẩm quyền do hoạt động

xét xử thực hiện dựa trên cơ sở áp dụng quy định của pháp luật hình sự và kết quảđịnh tội danh

Hai là: Toà án căn cứ quy định trong BLHS, TTHS để quyết định miễn

TNHS, miễn hình phạt hoặc xác định khung hình phạt, loại hình phạt và mức hìnhphạt hay biện pháp tư pháp đối với người phạm tội thể hiện trong bản án kết tội đốivới họ

Mục đích của hình phạt là kết quả thực tế cuối cùng mà Nhà nước mongmuốn đạt được khi quy trách nhiệm hình sự đối với tội phạm và áp dụng hình phạtđối với người phạm tội; tuy nhiên mục đích của hình phạt có đạt được hay không lạiphụ thuộc vào sự đúng đắn và hợp lý của Tòa án khi quyết định hình phạt, vì chỉ khihình phạt trong bản án được tuyên đảm bảo tính công minh, hợp lý, đúng pháp luật

sẽ là điều kiện đảm bảo tính khả thi của hệ thống hình phạt; qua đó đạt được mụcđích trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội, góp phần hữu hiệu trong công tácđấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm pháp chế Nhà nước XHCN

1.4.2 Căn cứ và nguyên tắc của quyết định hình phạt

Căn cứ quyết định hình phạt có ý nghĩa quyết định đến tính đúng đắn, hợppháp của toản bộ hoạt động áp dụng pháp luật, nên phải dựa trên các căn cứ sau:

- Một là, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi

phạm tội, nhân thân người phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS

Trang 27

được quy định cụ thể trong BLHS Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để Toà ánđịnh tội danh và quyết định hình phạt, do đó hình phạt cụ thể mà Toà án áp dụngđối với người phạm tội phải thuộc phạm vi khung hình phạt áp dụng cho tội phạm

cụ thể (hoặc dưới mức tối thiểu của khung) và không được trái với những quy địnhnói trên Quyết định hình phạt liên quan rất chặt chẽ với việc định tội danh, việcđịnh tội danh đúng tạo tiền đề cho việc quyết định hình phạt đúng, cũng có nghĩa làchỉ ra đúng chế tài cần áp dụng đối với người phạm tội

- Hai là, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi

phạm tội để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội, tức là cần xác định tính chất vàmức độ hậu quả đã gây ra hoặc đe doạ gây ra, yếu tố lỗi, động cơ phạm tội, phươngpháp, thủ đoạn phạm tội, công cụ, phương tiện phạm tội, hoàn cảnh phạm tội, …

- Ba là, căn cứ vào nhân thân người phạm tội là các đặc điểm thuộc về nhân

thân người phạm tội gồm các yếu tố như: Trình độ văn hóa, tôn giáo, tuổi, tiền án,tiền sự, hoàn cảnh gia đình, thái độ chính trị, ý thức pháp luật, nghề nghiệp, thái độlàm việc, thái độ trong quan hệ với người khác , các đặc điểm này phản ánh ánhmức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và khả năng cải tạo, giáo dục của ngườiphạm tội cũng như hoàn cảnh đặc biệt của họ

- Bốn là, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS được quy định

tại Điều 51 và Điều 52 BLHS 2015, và là một trong các tình tiết để đánh giá mức độnguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội PLHS Việt Nam luôn xem các tình tiếtgiảm nhẹ, tăng nặng TNHS là căn cứ quyết định hình phạt độc lập bên cạnh các căn

cứ khác, để Toà án cân nhắc các tình tiết này (nếu có) trong mối liên hệ với toàn bộnội dung vụ án để quyết định hình phạt cho người phạm tội được chính xác, hạn chế

sự tuỳ tiện trong áp dụng pháp luật của Tòa án

Mặt khác khi quyết định hình phạt Tòa án còn phải dựa trên những nguyêntắc nhất định:

- Nguyên tắc pháp chế XHCN: Đây là nguyên tắc chung của hệ thống phápluật Việt Nam và phải được tuân thủ trong tất cả các ngành luật cụ thể Riêng đốivới ngành luật hình sự, nguyên tắc này đòi hỏi tất cả các vấn đề về tội phạm và hình

Trang 28

phạt đều phải được quy định chặt chẽ, mạch lạc, rõ ràng trong Bộ luật và các vănbản hướng dẫn; việc xác định tội phạm và quyết định hình phạt trong áp dụng luậtđều phải dựa trên các điều luật cụ thể.

- Nguyên tắc nhân đạo XHCN: Đây là nguyên tắc chung và là nguyên tắc thểhiện sự khoan hồng, nhân đạo, coi trọng quyền con người của Nhà nước ta, vì hậuquả mà người phạm tội phải chịu trong ngành luật này là hình phạt (chế tài nặngnhất trong các loại chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm pháp luật)

- Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt: Tòa án cần áp xem xét toàn diện vụ án,đánh giá khách quan tất cả các vấn đề liên quan đến hành vi phạm tội (tính chất,mức độ nguy hiểm của tội phạm) và nhân thân người phạm tội để đưa ra được mứchình phạt công bằng, đúng pháp luật nhằm đạt được mục đích trừng trị và giáo dục,cải tạo người phạm tội

- Nguyên tắc công bằng: Quyết định hình phạt phải đảm bảo sự tương xứnggiữa tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và TNHS củangười thực hiện hành vi phạm tội phải chịu, và phản ánh một cách đầy đủ đạo đức

xã hội, ý thức pháp luật, dư luận xã hội

1.4.3 Hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyđịnh trong Bộ luật hình sự, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc phápnhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người,pháp nhân thương mại đó [48]

Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị tội phạm mà còn giáo dục họ ý thức tuântheo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới, giáo dục

họ tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm Trong BLHS năm

2015, tội LĐCĐTS chưa quy định hình phạt đối với pháp nhân thương mại [48]

Tội LĐCĐTS tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định cả hình phạtchính và hình phạt bổ sung, cụ thể như sau:

Hình phạt chính bao gồm: Cải tạo không giam giữ và phạt tù

Trang 29

Hình phạt bổ sung bao gồm: bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hànhnghề hoặc làm công việc nhất định, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

1.4.3.1 Hình phạt chính

Hình phạt chính là hình phạt được áp dụng cho mỗi tội phạm mà không phụthuộc vào hình phạt khác (hình phạt bổ sung) trong hệ thống hình phạt Đối với tộiLĐCĐTS áp dụng hình phạt chính bao gồm hình phạt cải tạo không giam giữ vàhình phạt tù có thời hạn

i) Hình phạt cải tạo không giam giữ:

- Hình phạt cải tạo không giam giữ: là hình phạt chính được áp dụng đối với

người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng Trong các hình phạt, thì hìnhthức hình phạt này nhẹ hơn hình phạt tù, nhưng nặng hơn hình phạt tiền và hìnhphạt cảnh cáo Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về hình phạt cải tạo không giam

giữ như sau: “Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định

mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội” (Điều 36).

Mục đích của hình phạt là giám sát, giáo dục người phạm tội là chủ yếu Căn

cứ khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015, thì hình phạt cải tạo không giam giữ vớimức cao nhất là đến 03 năm, hình phạt này làm hạn chế người phạm tội ở một sốmặt về kinh tế, hoặc hạn chế một phần tự do của người phạm tội như khi muốn đikhỏi nơi cứ trú thì phải thông báo xin phép và được sự đồng ý của cơ quan quản lý

có thẩm quyền thì mới có quyền này

i) Hình phạt tù có thời hạn:

Hình phạt tù có thời hạn là hình phạt nghiêm khắc, vì người bị kết án bị tướcquyền tự do, bị cách ly với xã hội, người phạm tội phải lao động cải tạo trong trạigiam dưới sự quản lý và giám sát của lực lượng chức năng Điều 38 Bộ luật hình sự

năm 2015 quy định:“Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định”.

Trang 30

Đối với tội LĐCĐTS thì hình phạt cao nhất là hình phạt tù có thời hạn, tạikhoản 1 khung hình phạt của cấu thành tội phạm cơ bản cho thấy hình phạt tù từ 06tháng đến 03 năm là không cao, vì vậy ở khung hình phạt tù cơ bản này cũng nhằmmục đích giáo dục người phạm tội.

iii) Phạt tù có thời hạn theo cấu thành tội phạm tăng nặng:

Bên cạnh hình phạt được quy định tại cấu thành tội phạm cơ bản thì cónhững dấu hiệu phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn được quy địnhtrong cấu thành tội phạm tăng nặng được quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4Điều 174 BLHS năm 2015 như sau:

Khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp dưới đây, thì bị phạt tù

từ 2 năm đến 7 năm (Khoản 2 Điều 174):

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản một cách có tổ chức: Có tổ chức tức là có từ 02

người trở lên, bàn bạc, cấu kết để cùng thực hiện hành vi (đồng phạm)

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tính chất chuyên nghiệp: tình tiết “phạm tội có

tính chất chuyên nghiệp” được hiểu khi có đầy đủ cả hai điều kiện là: tội phạm đã

cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm, không phân biệt đã bị truycứu trách nhiệm hình sự hay chưa; và các lần phạm tội là nghề sinh sống của họ.(hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006)

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu VNĐ đến dưới 200 triệu VNĐ: Đây là số tiền lớn, cho nên đòi hỏi khung hình phạt phải cao hơn so với

cơ quan cụ thể nào, cho nên có thể hiểu quy định này áp dụng cho tất cả các chức

vụ, quyền hạn trong tất cả các cơ quan, tổ chức trong hay ngoài nhà nước

Trang 31

Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm để lừa đảo : Hiện nay chưa có văn bản

hướng dẫn cụ thể tình tiết này nhưng qua thực tiễn có thể hiểu dùng thủ đoạn xảoquyệt, nguy hiểm là trường hợp người phạm tội có những mánh khoé, cách thứcgian dối, thâm hiểm làm cho người bị hại khó lường thấy trước được để đề phòng,

ví dụ bỏ thuốc độc vào nước uống rồi đưa cho nạn nhân…

Trong khoản 2 này, BLHS năm 2015 đã bỏ tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” (điểm g khoản 2 Điều 139 BLHS 1999), việc loại bỏ tình tiết này là phù hợp, bởi căn cứ xác định “gây hậu quả nghiêm trọng” trong thực tế áp dụng rất khó

khăn, mặc dù có quy định tại tiểu mục a mục 3.4 phần I Thông tư 02/2001 củaBLHS 1999 [45]

Tại Khoản 3 Điều 174 (khung hình phạt tù từ 7 năm đến 15 năm) đã bỏ tình

tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng” (điểm b khoản 3 Điều 139 BLHS 1999) Đồng thời, BLHS năm 2015 quy định mới thêm một tình tiết định khung khác là “Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh”, đây là quy định hợp lý, nhằm tránh các trường hợp

phạm tội phát sinh trong những điều kiện khách quan đặc biệt mà chưa có quy địnhdẫn đến bỏ lọt tội phạm [45]

Tương tự, Khoản 4 Điều 174 BLHS năm 2015 (khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm) cũng đã bỏ tình tiết “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” (điểm b

khoản 4 Điều 139 BLHS 1999) Đồng thời, quy định mới thêm một tình tiết định

khung khác là c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp…”, đây là sự

bổ sung hợp lý, nhằm tránh bỏ lọt tội phạm trong một số trường hợp cụ thể, nhất làtrong điều kiện chiến tranh, tình trạng khẩn cấp thì sự manh nha hành vi lừa đảonhằm chiếm đoạt tài sản gia tăng rất nhiều [45]

1.4.3.2 Hình phạt bổ sung

Hình phạt bổ sung là hình phạt được áp dụng kèm theo hình phạt chính đốivới những tội phạm nhất định nhằm tăng cường, củng cố tác dụng của hình phạtchính BLHS 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000

đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm

Trang 32

công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” (Khoản 5 Điều 174)

Đối với hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm

công việc nhất định chỉ được áp dụng khi xét thấy nếu để người bị kết án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc đó thì có thể gây nguy hại cho xã hội (Điều 41 BLHS 2015) Hình phạt bổ sung này chỉ được áp dụng nếu xét thấy cần

thiết tức là không bắt buộc phải áp dụng, hình phạt bổ sung này thường được ápdụng đối với các chủ thể đặc biệt như đang làm một nghề nghiệp nhất định như bác

sĩ, cảnh sát phòng cháy chữa cháy, thủy thủ… tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểmcủa hành vi phạm tội mà thời hạn cấm sẽ được áp dụng một cách hợp lý Đối vớihình phạt bổ sung này, luật hình sự quy định nhằm mục đích giáo dục, răn đe ngườiphạm tội phải chấp hành tốt quy tắc hành nghề hay làm một công việc nhất định và

có ý nghĩa ngăn ngừa, phòng, chống tội phạm [48]

Qua phân tích các hình phạt nêu trên, việc áp dụng các hình phạt đối với tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích giáo dục, răn đe người phạm tội là chủyếu; đồng thời Điều 174 BLHS năm 2015 đã điều chỉnh khung hình phạt tráchnhiệm hình sự xuống mức cao nhất là chung thân, giảm hơn trước đây so với BLHSnăm 1999 quy định tối đa khung hình phạt ở mức cao nhất là tử hình Qua đó, chothấy trong quá trình xử lý loại tội phạm này nhằm mục đích làm cho người phạm tộithấy rõ sự sai trái của hành vi của mình, đồng thời giáo dục mọi công dân phải đềcao ý thức pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác

1.5 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác

Như đã phân tích về các yếu tố cấu thành tội LĐCĐTS nêu trên, thì hành vichiếm đoạt tài sản đối với tội LĐCĐTS luôn gắn liền và có mối quan hệ nhân quảvới hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu tài sảnhoặc của người quản lý tài sản Tuy nhiên việc xác định thủ đoạn gian dối trong một

số vụ án để chiếm đoạt tài sản có cấu thành tội LĐCĐTS hay không thì lại trở nênkhó khăn, vì hành vi gian dối không phải lúc nào cũng thể hiện một cách rõ ràng và

Trang 33

thống nhất, hoặc không phải là hành vi có trước, không là nguyên nhân trực tiếp củahành vi chiếm đoạt tài sản.

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, các

cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn có sự nhầm lẫn trong việc định tội danh giữa tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội lừa dối khách hàng (Điều 198), tội lạm dụngtín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175)…, do vậy cần phải làm rõ những điểmgiống và khác nhau giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sởhữu khác nhằm đảm bảo cho việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản được chính xác

1.5.1 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Tội LĐCĐTS và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hai tội đượcquy định ở hai điều luật liền kề nhau trong cùng chương về các tội xâm phạm quyền

sở hữu, cùng thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

Đối với tội LĐCĐTS thì hành vi chiếm đoạt tài sản là sử dụng thủ đoạn giandối để chiếm đoạt tài sản; trong khi đó, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thìhành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội được quy định cụ thể trong BLHSnăm 2015, bằng các hành vi như sau:

“… a) Vay mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”

(Khoản 1 điều 175)

Về cơ bản cả hai tội LĐCĐTS và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

có các yếu tố cấu thành tội phạm giống nhau về mặt khách thể, mặt khách quan ,

Trang 34

mặt chủ quan và mặt chủ thể của tội phạm Tuy nhiên giữa hai tội có sự khác nhau

về thời điểm và mục đích thực hiện hành vi lừa dối, cụ thể:

Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi lừa dối được người phạm tộithực hiện trước thời điểm thực hiện sự giao kết, thỏa thuận; và suy cho cùng thì việcthực hiện sự giao kết, thỏa thuận trong trường hợp này là sau khi người phạm tội đãchiếm được lòng tin của người bị hại Như vậy hành vi lừa dối xảy ra trước hành vichiếm đoạt, là điều kiện để hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra, không có hành vi lừadối thì không thể chiếm đoạt được tài sản

Ví dụ: A nói với B là do mẹ bị bệnh nặng và vay B số tiền 10 triệu đồng để đưa mẹ đi cấp cứu, do B tin tưởng nên cho A vay số tiền trên Sau khi nhận được tiền A đã sử dụng số tiền đó để đánh bạc và bị thua, không có khả năng trả nợ cho

B Qua vụ án trên ta có thể thấy rằng A có hành vi lừa dối B làm cho B tin tưởng, sau đó B mới giao tài sản cho A Như vậy, hành vi lừa dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra trước hành vi giao nhận tài sản giữa chủ tài sản và người phạm tội Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra [42]

Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, ngay tại thời điểm thựchiện thì việc giao nhận tài sản là ngay thẳng thông qua các giao dịch hợp pháp nhưhợp đồng vay mượn, cho thuê, nhờ giữ hộ… Sau khi hết thời hạn vay mượn, chothuê … đáng lẽ ra các tài sản phải được hoàn trả cho chủ tài sản theo các hợp đồng,thỏa thuận đã ký kết; nhưng người phạm tội cố tình không trả hoặc sử dụng tài sảnvào mục đích khác dẫn đến mất khả năng chi trả hoặc bỏ trốn nhằm trốn tránh tráchnhiệm phải chi trả tài sản Do đó hành vi lừa dối trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếmđoạt tài sản được thực hiện nhằm che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản và được thựchiện sau khi có sự giao nhận tài sản giữa chủ sở hữu tài sản và người phạm tội

Ví dụ: M là bạn của H, ngày 15/3/2017 M hỏi mượn chiếc xe mô tô của H để

đi lại và hẹn 5 ngày sau sẽ trả, H đồng ý và giao xe cho M Sau khi nhận được xe,

M đã sử dụng xe để tham gia đánh bạc và bị thua, do không có tiền trả nợ nên M đã mang xe của H đi cầm cố lấy tiền trả nợ và tiêu xài, sau đó không có khả năng chuộc xe về trả cho H, sau 02 tuần M nói với H là xe bị mất trộm Như vậy hành vi

Trang 35

lừa dối của M có sau hành vi M nhận tài sản từ H, mục đích nói dối của M là nhằm che dấu hành vi chiếm đoạt tài sản của mình (do M đã mang xe đi cầm cố và không

có khả năng chuộc xe về trả cho H).[42]

Như vậy giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếmđoạt tài sản có sự khác nhau về thời điểm và mục đích của hành vi lừa dối nhằmchiếm đoạt tài sản Ranh giới để xác định CTTP tội LĐCĐTS hay tội LDTNCĐTSlà: nếu người phạm tội có hành vi gian dối ngay từ đầu nhằm mục đích chiếm đoạttài sản thì đó là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngược lại nếu tại thời điểm giaonhận tài sản người phạm tội chưa có hành vi gian dối, mà việc giao nhận được thựchiện một cách ngay thẳng nhưng sau khi có được tài sản thì người phạm tội mới cóhành vi gian dối nhằm che giấu việc chiếm đoạt tài sản thì đó là hành vi lạm dụngtín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1.5.2 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lừa dối khách hàng

Hành vi khách quan là dấu hiệu cấu thành tội lừa dối khách hàng, là trườnghợp người phạm tội có hành vi gian dối được quy định tại Điều 198 của BLHS năm

2015, như: cân đo, đong đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hoặc dùng thủ đoạngian dối khác… trong việc mua bán với khách hàng gây thiệt hại nghiêm trọng chokhách hàng

Điểm giống nhau của cả hai tội này đều được thực hiện bằng thủ đoạn giandối, song đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hành vi gian dối được thực hiệndưới mọi hình thức còn đối với tội lừa dối khách hàng thì hành vi gian dối chỉ diễn

ra trong quan hệ mua bán bằng những hành vi được pháp luật quy định cụ thể nhưcân, đo, đong đếm thiếu, mua bán hàng giả …

1.5.3 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Điều 355 BLHS năm 2015 quy định về tội lạm dụng chức vụ quyền hạnchiếm đoạt tài sản, theo đó hành vi khách quan của tội này là trường hợp ngườiphạm tội đã thực hiện hành vi vượt ra khỏi phạm vi quyền hạn của mình khi thihành công vụ nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác bằng các thủ đoạn: Lạm

Trang 36

dụng chức vụ, quyền hạn uy hiếp tinh thần của người khác để chiếm đoạt tài sản;lạm dụng chức vụ, quyền hạn lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của họ;lạm dụng chức vụ quyền hạn để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Cả hai trường hợp phạm tội: tội lợi dụng chức vụ quyền hạn lừa đảo chiếmđoạt tài sản (điểm đ, K.2, Đ.174 BLHS 2015) và tội lạm dụng chức vụ quyền hạnlừa dối chiếm đoạt tài sản của người khác (Điều 355 BLHS 2015) đều được thựchiện bằng hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản, chỉ khác nhau ở cách thức thực hiệnhành vi phạm tội, cụ thể như sau:

+ Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì hành vi giandối chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng việc dựa trên chức vụ quyền hạn màngười phạm tội có để lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của họ Việc lợidụng chức vụ quyền hạn không đòi hỏi người phạm tội phải sử dụng chức vụ quyềnhạn của mình trong khi thi hành công vụ để lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tàisản mà chỉ cần người phạm tội có chức vụ quyền hạn và dựa trên chức vụ quyềnhạn để thực hiện hành vi phạm tội

+ Còn đối với tội lạm dụng chức vụ quyền hạn lừa dối chiếm đoạt tài sản cầnxác định hành vi khách quan cấu thành tội phạm, đó là hành vi vượt ra khỏi phạm viquyền hạn của mình nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác Hành vi vượt quyềnhạn này chỉ thực hiện trên cơ sở chức vụ, quyền hạn đã có của người phạm tội, và

sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình như là phương tiện để thực hiện tội phạm Đểchiếm đoạt tài sản của người khác, người phạm tội có thể thực hiện tội phạm bằngnhiều thủ đoạn khác nhau như: Lạm dụng chức vụ, quyền hạn uy hiếp tinh thầnngười khác để chiếm đoạt tài sản của họ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn lừa dốingười khác chiếm đoạt tài sản của họ

Như vậy đối với tội lạm dụng chức vụ quyền hạn lừa dối chiếm đoạt tài sản,ngoài hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng việc dựa trên chức vụquyền hạn mà người phạm tội có, thì hành vi đó phải được thực hiện trong khi thihành công vụ để lừa dối chiếm đoạt tài sản của người khác

1.5.4 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội sử dụng mạng máy

Trang 37

tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Đối với tội sử dụng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thựchiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 BLHS 2015) thì thủ đoạn gian dối đểthực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được người phạm tội sử dụng là thông quamạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếmđoạt tài sản, dưới nhiều thủ đoạn khác nhau như huy động vốn, đánh cắp tiền trongtài khoản… bằng cách sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện

tử nhằm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Hành vi khách quan được xem là yếu tố cấu thành tội sử dụng mạng máytính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sảngồm các dấu hiệu sau: sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng, hoặc làm giảthẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt nhằm chiếm đoạt tài sảncủa chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ; truy cập bất hợp pháp vào tài khoản

cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản; lừa đảo trong thương mại điện

tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu quamạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân; hành vi khác nhằmchiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Như vậy, nếu người phạm tội sử dụng công nghệ thông tin, viễn thông làmphương tiện phạm tội, tạo thủ đoạn gian dối, che giấu hành vi phạm tội để người bịhại tin, giao tiền thì hành vi đó cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; còn nếungười phạm tội thực hiện hành vi làm giả thẻ ngân hàng; truy cập bất hợp pháp vàotài khoản; lừa đảo trong thương mại điện tử; gửi tin nhắn lừa trúng thưởng để chiếmđoạt phí dịch vụ tin nhắn thì sẽ bị xử lý về tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễnthông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

1.5.5 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội cướp tài sản, tội trộm cắp tài sản

Đối với tội cướp tài sản, điều 168 BLHS năm 2015, sự khác biệt về mặtkhách quan thì tội cướp tài sản được thể hiện bởi một trong các hành vi: dùng vũ

Trang 38

lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấncông lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản; trongkhi tội LĐCĐTS là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người bị hại tin nhầmgiao tài sản mình đang sở hữu hoặc quản lý cho người phạm tội chiếm đoạt tài sảnđó.

Còn với tội trộm cắp tài sản, điều 173 BLHS năm 2015, hành vi dùng thủđoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi chuyển dịch một cáchtrái pháp luật tài sản của người khác thành của mình, hay hiểu cách khác hành vinày làm cho chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản không thể thực hiện đượccác quyền năng (gồm quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt hay quản lý) đối với tàisản của họ hoặc được giao quản lý, đồng thời những quyền này lại thuộc về ngườiphạm tội và người này có thể thực hiện được các quyền này một cách trái pháp luật.Đặc trưng của hành vi chiếm đoạt, đối với tội trộm cắp, được thực hiện (hành động)một cách lén lút, bí mật nhằm để che giấu hành vi phạm tội để chủ sở hữu hoặcngười quản lý tài sản không biết việc chiếm đoạt đó

Trang 39

Tiểu kết Chương 1

Chương 1 của luận văn chủ yếu tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản vềkhái niệm, dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và phân biệt giữa tộiphạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội chiếm hữu tài sản khác, như: lạmdụng tín nhiệm tài sản, tội lừa dối khách hàng, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạnchiếm đoạt tài sản, để làm rõ hành vi, các dấu hiệu cấu thành tội lạm dụng tín nhiệmchiếm đoạt tài sản Khái quát lịch sử quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trongpháp luật hình sự Việt Nam qua các giai đoạn phát triển và ngày càng hoàn thiệnhơn, cho đến nay các quy định trong điều luật khá rõ ràng, hợp lý, làm cơ sở choviệc xác định tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự thống nhất và khách quan

Những vấn đề trên là những lý luận để tác giả vận dụng làm rõ thực tiễn ápdụng pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Biên Hòa,tỉnh Đồng Nai

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TỪ

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

2.1 Thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thành phố Biên Hòa

Trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2019, số liệu khảo sát thực tế về diễnbiến tình hình tội phạm, riêng đối với tội LĐCĐTS và hoạt động xác định tội danhqua truy tố, xét xử tại TAND thành phố Biên Hòa như sau:

Năm 2015: Viện kiểm sát truy tố 53 vụ với 66 bị cáo (bao gồm cả số vụ tồnđọng năm trước chuyển sang), Tòa án xét xử 46 vụ với 59 bị cáo, trả hồ sơ điều tra

bổ sung 2 vụ với 2 bị cáo, số vụ chưa xét xử 5 vụ với 5 bị cáo

Năm 2016: Viện kiểm sát truy tố 55 vụ với 60 bị cáo (bao gồm cả số vụ tồnđọng năm trước chuyển sang), Tòa án xét xử 52 vụ với 55 bị cáo, trả hồ sơ điều tra

bổ sung 0 vụ với 0 bị cáo, số vụ đình chỉ 0, số vụ chưa xét xử 3 vụ với 5 bị cáo

Năm 2017: Viện kiểm sát truy tố 39 vụ với 45 bị cáo (bao gồm cả số vụ tồnđọng năm trước chuyển sang), Tòa án xét xử 35 vụ với 38 bị cáo, trả hồ sơ điều tra

bổ sung 3 vụ với 5 bị cáo, số vụ đình chỉ 0, số vụ chưa xét xử 1 vụ với 2 bị cáo

Năm 2018: Viện kiểm sát truy tố 13 vụ với 14 bị cáo (bao gồm cả số vụ tồnđọng năm trước chuyển sang), Tòa án xét xử 12 vụ với 13 bị cáo, số vụ chưa xét xử

Ngày đăng: 08/03/2021, 20:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 49 ngày 02/06/2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”. Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm2020”
Tác giả: Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
3. Bộ Tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (1999), Bình luận khoa học BLHS Việt Nam (tái bản lần thứ ba có sửa theo Luật Sửa đổi, bổ Sung một số điều của BLHS 2015), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (tái bản lần thứ ba có sửa theo Luật Sửa đổi, bổ Sung một sốđiều của BLHS 2015)
Tác giả: Bộ Tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
4. Bộ Tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (2001), Bình luận khoa học BLHS Việt Nam năm 1999, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa họcBLHS Việt Nam năm 1999
Tác giả: Bộ Tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
5. Đảng cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số: 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số: 08-NQ/TW ngày 02/01/2002của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháptrong thời gian tới
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
7. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số: 49-NQ/TW ngày 2/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số: 49-NQ/TW ngày 2/2005 củaBộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
8. Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học BLHS (Phần các tội phạm, Tập II), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLHS (Phần các tội phạm, Tập II)
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
10. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam(phần chung)
Tác giả: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
11. Mai Văn Bộ (2010), Bình luận khoa học BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, (phần các tội phạm), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sungnăm 2009, (phần các tội phạm)
Tác giả: Mai Văn Bộ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
12. Lê Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (phần chung), Nxb, Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trongkhoa học Luật hình sự (phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2005
13. Lê Văn Đệ (2004), Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật hình sựViệt Nam
Tác giả: Lê Văn Đệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2004
14. Nguyễn Ngọc Chí, Khoa Luật Đại học Quốc gia (2003), Trong Giáo trình Luật hình sự (phần các tội phạm) do Lê Văn Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhLuật hình sự (phần các tội phạm)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí, Khoa Luật Đại học Quốc gia
Nhà XB: Nxb Đại họcQuốc gia
Năm: 2003
15. Nguyễn Tiến Dũng (2014), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam trên cơ sở số liệu nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Nam Định, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sựViệt Nam trên cơ sở số liệu nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Nam Định
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2014
16. Nguyễn Ngọc Hòa (1999), Tội phạm học trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm học trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: NxbCông an nhân dân
Năm: 1999
17. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1998), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóathông tin
Năm: 1998
27. Tòa án nhân dân tối cao (2001), Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2001
28. Trịnh Tiến Việt (2013), Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm và trách nhiệm hình sự
Tác giả: Trịnh Tiến Việt
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốcgia - Sự thật
Năm: 2013
30. Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2017) Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phẩn chung, NXB Hồng Đức, Thành phô Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sựViệt Nam phẩn chung
Nhà XB: NXB Hồng Đức
42. Triệu Thị Tuyết, TAND tỉnh Bắc Kạn,https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap- luat/phan-biet-toi-lua-dao-chiem-doat-tai-san-voi-mot-so-toi-pham-xam-pham-so-huu-khac, (03/10/2019) Link
43. Phạm Ngọc Minh , http://hinhsu.luatviet.co/binh-luan-toi-lua-dao-chiem-doat- tai-san-trong-bo-luat-hinh-su-nam-2015/n20161028120823021.htm(05/06/2018 Link
44. Đoàn Ngọc Hải, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/toi-lua-dao-chiem- doat-tai-san-theo-phap-luat-hinh-su-viet-nam-ly-luan-va-thuc-tien,(01/03/2019) Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w