Tuy nhiên, không phải tất cả các sự kiện Lịch sử Đảng đều được phản ánh một cách trực tiếp trong các tài liệu thành văn hoặc ảnh tư liệu, mà thường được phản ánh sau khi sự kiện đã diễ[r]
Trang 1So sánh nguồn sử liệu trong nghiên cứu lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Trong nhiều công trình nghiên cứu về Lịch sử Đảng có hiện tượng trình bày khác nhau về một số sự kiện và quá trình Lịch sử Đảng, mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu sự thẩm định, so sánh nguồn sử liệu
1 Nguồn sử liệu Lịch sử Đảng rất phong phú, thể hiện qua nhiều loại tài liệu khác nhau
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, với tư cách là một chuyên ngành của khoa học lịch sử, có đối tượng nghiên cứu không chỉ là tổ chức và hoạt động của Đảng (kể
cả hoạt động lý luận, thực tiễn), mà cả những phong trào quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Hoạt động của Đảng rất phong phú, diễn ra trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, khi bí mật, lúc công khai; khi chưa có chính quyền, khi có chính quyền; khi tiến hành khởi nghĩa, khi tiến hành chiến tranh; khi tiến hành một chiến lược cách mạng, khi đồng thời tiến hành hai chiến lược cách mạng…, trong tình hình quốc tế cũng có nhiều biến đổi Nguồn sử liệu lịch sử Đảng rất phong phú, có thể khai thác qua nhiều loại tài liệu khác nhau:
- Các Văn kiện Đảng (phần lớn đã được công bố trong một bộ sách 54 tập), trong
đó nhiều văn kiên trực tiếp phản ánh hoạt động của Đảng, nhưng cũng có những văn kiện phản ánh nhận thức của Đảng về những sự kiện đã xảy ra
- Các tác phẩm của Hồ Chí Minh (phần lớn đã công bố trong bộ sách 12 tập)
- Những bài nói, bài viết của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội…
- Các sách nghiên cứu về Lịch sử Đảng, lịch sử Việt Nam, lịch sử địa phương, lịch
sử đảng bộ địa phương, hoặc nghiên cứu về những lĩnh vực khác nhau của đất nước hoặc mỗi địa phương (chính trị, kinh tế quân sự, văn hoá…) có liên quan đến
Trang 2lịch sử Đảng
- Tài liệu được khai thác qua các nhân chứng lịch sử, những người tham gia hoặc chứng kiến diễn biến lịch sử Nguồn tài liệu này có thể đã thành văn hoặc chưa thành văn Một số tài liệu được ghi chép lại dưới dạng hồi ký, đã hoặc chưa được xuất bản, đã được hoặc chưa được thẩm định
Đến nay, còn rất nhiều tài liệu chưa được công bố do nhiều lý do khác nhau, đặc biệt là các biên bản đại hội Đảng và hội nghị Trung ương Đảng Do điều kiện Đảng phải trải qua những thời kỳ hoạt động bí mật và chiến tranh, ảnh hưởng rất nhiều đến tình trạng các tài liệu lưu trữ về Lịch sử Đảng, nhiều tài liệu đánh máy,
in thạch, viết tay bằng nhiều thứ tiếng: Việt, Pháp, Trung Quốc, Nga, Anh, Đức, gây ra nhiều khó khăn, phức tạp trong việc giám định, dịch thuật
Có thể phân chia nguồn sử liệu lịch sử Đảng thành hai loai cơ bản: 1- Nguồn sử liệu trực tiếp (phản ánh lịch sử khách quan), 2- Nguồn sử liệu gián tiếp (phản ánh
sự kiện được nhận thức thông qua yếu tố chủ quan)
Nguồn sử liệu trực tiếp có độ chính xác tuyệt đối, chẳng hạn như các tài liệu lưu trữ văn bản có nội dung về những chủ trương, biện pháp của Đảng để lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, hoặc phim ảnh tư liệu phản ánh những hoạt động của Đảng trong mỗi giai đoạn, thời kỳ Những người làm công tác nghiên cứu có thể được đối diện trực tiếp với những mảnh, những mảng của hiện thực lịch sử Nội dung của nguồn
sử liệu này là không thể tranh cãi Tuy nhiên, không phải tất cả các sự kiện Lịch sử Đảng đều được phản ánh một cách trực tiếp trong các tài liệu thành văn hoặc ảnh
tư liệu, mà thường được phản ánh sau khi sự kiện đã diễn ra, qua các báo cáo, tổng kết, những công trình nghiên cứu, hồi ký… Nhiều sự kiện không được ghi chép lại một cách tức thời, mà phải sau một thời gian dài mới được nhận thức lại, và thường không được ghi chép đầy đủ Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải khai thác sử liệu qua các nhân chứng lịch sử, những người trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến
sự thật lịch sử, nhưng đồng thời phải so sánh sử liệu để phục dựng lại sự thật lịch
Trang 3sử Trên thực tế, do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, nguồn
sử liệu phản ánh gián tiếp các sự kiện vẫn có sự sai lệch
Nhiều nguồn sử liệu khác nhau có tác dụng bổ sung cho nhau, tạo điều kiện cho nhà nghiên cứu so sánh, xác minh để tiếp cận chân lý Nhưng mọi khó khăn chỉ bắt đầu khi chỉnh lý tài liệu Không ít những sự kiện bị phản ánh không đầy đủ, thậm chí không đúng thực tiễn
2 Xuất phát từ những nguồn sử liệu khác nhau, đã có nhiều nội dung lịch sử Đảng được trình bày khác nhau
Trong nghiên cứu lịch sử Đảng, đã và đang có nhiều nội dung sự kiện được trình bày khác nhau do căn cứ vào những nguồn sử liệu khác nhau Sau đây là một số ví
dụ về sự sai lệch trong việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng:
1- Về Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Căn cứ vào Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản[1] của Nguyễn Ái Quốc (18-11-1930),
thời gian bắt đầu họp Hội nghị là ngày 6-1-1930 Thời gian kết thúc Hội nghị không ghi rõ, mà chỉ biết ngày 8-2-1930 các đại biểu dự Hội nghị về nước Thành phần dự Hội nghị ngoài Nguyễn Ái Quốc, có đại biểu của hai tổ chức Đông Dương Cộng sản đảng và An Nam Cộng sản đảng Theo đó, Nguyễn Ái Quốc là người chủ động triệu tập và chủ trì Hội nghị, chứ không phải là “theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản”, hoặc “được sự ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản”
Tuy nhiên, vào thời điểm họp Đại hội lần thứ ba của Đảng (9-1960), các nhà
nghiên cứu chưa được tiếp cận với Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản của Nguyễn Ái Quốc Khi đó, phía Liên Xô cung cấp cho Việt Nam bài viết Kỷ niệm ba năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương của Hà Huy Tập với bút danh Hồng Thế
Công đăng trên báo Bolsévick Theo bài báo này, Hội nghị thành lập Đảng họp từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930 Trong khi một số đại biểu dự Hội nghị thành lập Đảng (Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Thiệu) lại không nhớ chính xác thời gian họp Hội nghị, Đại hội lần thứ III của Đảng đã ra Nghị quyết lấy ngày 3-2 dương lịch hàng
Trang 4năm “làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng” Từ đó, các sách đều viết Hội nghị thành lập Đảng họp từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930
Điều đáng chú ý là, chính Hà Huy Tập, trong tác phẩm Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương, có một mục riêng với tiêu đề “Hội nghị hợp nhất ngày
6-1-1930”, và cuối trang, ông có ghi chú thích, cải chính rằng Hội nghị hợp nhất họp ngày 6-1-1930
Theo GS, TS Đỗ Quang Hưng, trong hồ sơ ký hiệu 405-154-676 của Quốc tế Cộng sản (bản báo cáo của Ban chỉ huy ở ngoài, bằng tiếng Pháp, gồm 8 trang chữ nhỏ, đề ngày 20-12-1934) có ghi: “giai cấp công nông và nhân dân lao động Việt Nam đã có hai tuần lễ đỏ trong nước từ ngày 6-1 (thành lập Đảng) đến ngày 21-1 (ngày mất của Lênin)…”[2]
Như vậy, phải khẳng định ngày họp Hội nghị thành lập Đảng là ngày 6-1-1930 Ngày 8-2-1930 các đại biểu dự Hội nghị về nước Nhưng Hội nghị kết thúc vào ngày nào thì đến nay vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn Mặc dù một số công trình nghiên cứu viết ngày 7-2-1930, nhưng hoàn toàn không có cơ sở khoa học
Vào đúng ngày này Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo tóm tắt Hội nghị, và theo Hồi kí
của Trịnh Đình Cửu thì “chiều ngày 7 tháng 2, ông Nguyễn làm một bữa tiệc liên hoan nhỏ để tiễn các đại biểu, các đồng chí, học trò của ông về nước” Có ý kiến cho rằng, Hội nghị đã kết thúc từ ngày 3-2-1930, nhưng các đại biểu phải chờ đến ngày 8-2-1930 mới có tàu (mỗi tháng có hai chuyến từ Hồng Kông) về nước Những thông tin này cho phép nghĩ đến việc kết thúc Hội nghị sớm hơn ngày
7-2-1930
Về thành phần dự Hội nghị, theo Báo cáo tóm tắt Hội nghị, chỉ có 5 người[3]
Nhưng nhiều tác phẩm nghiên cứu, luận văn, luận án lại viết là 7 nguời
Như vậy, xung quanh một sự kiện Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã
có tới 3 chi tiết được trình bày khác nhau, do căn cứ vào những nguồn sử liệu khác nhau
Trang 52- Về Luận cương chính trị tháng 10-1930
Đã từng có nhiều sách và công trình nghiên cứu cho rằng, Hội nghị Hợp nhất đã
thông qua Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt, nhưng cách mạng ngày càng
phát triển, đòi hỏi phải có một cương lĩnh đầy đủ hơn, nên Hội nghị lần thứ nhất
Ban chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 10-1930 đã “thông qua” bản Luận cương chính trị tháng 10-1930, và đi tới kết luận rằng Luận cương chính trị tháng 10-1930 đã “phát triển” Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Thậm chí có ý
kiến cho rằng Chính cương và Sách lược của Hội nghị thành lập Đảng là một “đề cương”, còn Luận Cương tháng 10-1930 là một văn bản “hoàn chỉnh” Nhưng qua
tài liệu lưu trữ thì không phải như vậy Án nghị quyết của Trung ương toàn thể hội nghị tháng 10-1930[4] cho thấy Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng đã phê phán Hội nghị hợp nhất và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
có “sai lầm”, “chỉ lo đến việc phản đế, mà quên mất lợi ích giai cấp tranh đấu”,
“ấy là một sự rất nguy hiểm” Từ đó Hội nghị đi tới quyết định “Thủ tiêu Chánh cương Sách lược và Điều lệ cũ của Đảng”[5] Như vậy, Luận cương chính trị
tháng 10-1930 không phải là sự kế thừa và phát triển, mà là một sự thay đổi so với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Trên thực tế, Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương chưa được Hội nghị thông qua, mà chỉ được công bố như một “Dự án để thảo luận trong Đảng”[6] Tuy nhiên, ngay sau đó, cao trào
cách mạng năm 1930 bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, toàn bộ Ban chấp hành Trung ương Đảng bị bắt, không sót một người nào, và Luận cương tiếp tục được lưu hành trong Đảng như một Cương lĩnh chính thức
Nếu mới chỉ nhìn qua một số câu chữ, nhiều nhà nghiên cứu nhầm tưởng rằng sự giống nhau giữa hai cương lĩnh này là “cơ bản” Nhưng rõ ràng là trên một loạt vấn đề quan trọng nhất như chiến lược cách mạng ở thuộc địa (bước đi), nhiệm vụ cách mạng (làm gì?) và lực lượng cách mạng (ai làm?) thì giữa hai cương lĩnh này
hoàn toàn khác nhau Bản thân khái niệm cách mạng tư sản dân quyền cũng có nội dung khác nhau Nếu như Cương lĩnh chính trị đầu tiên nhấn mạnh chiến lược giải
Trang 6bản, 1965, tập 1, tr.21
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 542
[11] Trung ương Hội nghị lần thứ tám Đảng Cộng sản Đông Dương, tài liệu lưu
tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, đã xuất bản trong Văn kiện Đảng Toàn tập, tập
7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 113, 114 và 127
[12] Lịch sử khởi nghĩa Nam kỳ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 103 -
105
[13] Chương trình Việt Minh, tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, đã
xuất bản trong Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2000, tr.150
[14] Nghị quyết của Ban Trung ương đảng ngày 6, 7, 8 tháng 11 năm 1939, Đảng
Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2000, tr 538
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 314-315
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 12, sđd, tr 87 và 88 [17] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 12, sđd, tr 92
[18] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 12, sđd, tr 89
[19] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 12, Sđd, tr 91,và 92 [20] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 12, Sđd, tr 91
[21] Viện Lịch sử Đảng: Về phương pháp nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy Lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 2008, tr 51, 53 và
56
Nguồn: Bài in Kỷ yếu "Hội thảo Sử học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn
Trang 7cầu hóa,
những vấn đề lý luận và phương pháp tiếp cận", Hà Nội, ngày 4-3-2011