1. Trang chủ
  2. » Hóa học

Ebook Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam (đến năm 2010): Tập 2

20 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho mãi đến năm 1988, xuất phát từ nhu cầu thực tế phải triển khai nhiều hợp đồng dầu khí ký kết với các tổ chức nước ngoài, Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam mới ch[r]

Trang 4

Hội đồng Biên soạn1

Chủ tịch Trần ngọc Cảnh

Phó Chủ tịch Lê Minh Hồng (thường trực), Phan Thị Hòa

Ủy viên nguyễn đăng Liệu (thường trực), nguyễn Hiệp,

đinh Văn sơn, đỗ Chí Thanh

Cố vấn nội dung nguyễn Hòa, Phan Tử Quang,

Lê Văn Cự, Phan Minh Bích

Trưởng ban Lê Minh Hồng

Phó Trưởng ban nguyễn đăng Liệu (thường trực), nguyễn Hiệp

Ủy viên-thư ký đinh Văn sơn

Các ủy viên đặng đình Cần, Vũ đình Chiến, đào Duy Chữ,

đặng Của, Hà Duy Dĩnh, Phạm Quang Dự, nguyễn Văn đắc, nguyễn giao, Trần Văn giao,

đỗ Văn Hà, nguyễn đông Hải, Lương đức Hảo, nguyễn Quang Hạp , Hồ đắc Hoài, Hoàng Văn Hoan,

Lê Văn Hùng, Vũ Văn Kính, nguyễn đức Lạc, nguyễn Hùng Lân, nguyễn Trí Liễn,

Trương Minh, Phan Văn ngân, nguyễn Xuân nhậm, ngô Thường san, nguyễn sâm, Hồ Tế, đỗ Chí Thanh,

Hồ sĩ Thoảng, đỗ Quang Toàn, Trần ngọc Toản,

Lê Văn Trương, nguyễn đức Tuấn, Bỳ Văn Tứ,

Lê Xuân Vệ, Trần Quốc Việt

Thư ký đào Mạnh Chung, Vũ Thành Huyên

Cơ Quan Tư Vấn

Hội Khoa học Lịch sử Việt nam

Cố vấn biên soạn giáo sư đặng Phong

Cố vấn biên tập Tiến sĩ Khổng đức Thiêm

1 Theo Quyết định số 419/QĐ-DKVN ngày 19-2-2009 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam về thành lập Hội đồng Biên soạn và Ban Biên tập và Quyết định số 2968/QĐ-DKVN ngày 27-4-2009 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam về bổ sung nhân sự.

Trang 5

am

Trang 6

Chủ biên Hồ sĩ Thoảng

Phó Chủ biên nguyễn đăng Liệu

Cố vấn nguyễn Trí Liễn, nguyễn Xuân nhậm và

ngô Thường san

Tác giả Trần ngọc Cảnh, Vũ đình Chiến, Vũ Hồng Chương,

Hà Duy Dĩnh, nguyễn Tiến Dũng, đặng Trần giao, nguyễn Hiệp, Hoàng Xuân Hùng, Lê Văn Hùng, ngô Dương Hùng, đặng Thế Hưởng,

nguyễn đức Huỳnh, nguyễn Hùng Lân, Phạm Thanh Liêm, nguyễn đăng Liệu, Vũ Văn Mạo, nguyễn Văn Minh, nguyễn Xuân nhậm,

đỗ Khang ninh, ngô Thường san, Hồ sĩ Thoảng,

đỗ Quang Toàn, Trần ngọc Toản, Bỳ Văn Tứ,

Lê Xuân Vệ, Tạ đình Vinh

Cộng tác viên Vũ Văn Ái, Trần Hải Bình, Hoàng ngọc đang,

Trương anh đào, Phạm Văn đoan, Trần Lê đông, Phạm ngọc giản, Phạm Trường giang, đỗ Văn Hà, Hoàng Thị Hà, Bùi đức Hạnh, Thái Quốc Hiệp, Trương đình Hợi, nguyễn Duy Hùng, Vũ Hường, Vương Tiến Khoa, Phan Thanh Liêm, đặng Lừng, Dương Thị nga, nguyễn Thị Hồng nga,

Vũ Thị Bích ngọc, đoàn Văn nhuộm, nguyễn Mậu Phương, nguyễn Chí Thành, Trịnh Việt Thắng, Vũ Thị Thúy,

nguyễn đức Tuấn, Hoàng Thị Yến

Trang 7

Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam

Mở đầu

Ngày 6-7-1990 được coi là ngày khai sinh của Tổng cơng ty Dầu mỏ và

Khí đốt Việt Nam, tiền thân là Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam

mà danh xưng đĩ tồn tại cho đến khi chuyển thành Tập đồn Dầu khí Quốc gia Việt Nam vào mùa thu năm 2006 Sự ra đời của Tổng cơng ty Dầu mỏ

và Khí đốt Việt Nam1 trên cơ sở Quyết định của Hội đồng Nhà nước nhằm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 28-8-1987 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khĩa VI) “Về chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế cơ

sở quốc doanh sang hạch tốn kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế”2 Cĩ thể nĩi, đây là một sự kiện cĩ tính bước ngoặt của ngành

Dầu khí Việt Nam Tổng cơng ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam khơng phải đảm đương vai trị quản lý nhà nước mà các cơng việc tìm kiếm, thăm dị, khai thác, dịch vụ dầu khí được tiến hành như những hoạt động sản xuất - kinh doanh trong khuơn khổ của một tổ chức kinh tế, hạch tốn kinh doanh đầy đủ Từ thời điểm này cơ chế hoạt động của Tổng cơng ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam cĩ những biến chuyển mạnh theo hướng tiến tới mơ hình doanh nghiệp nhà nước, phi hành chính hĩa Đĩ là xu thế chung của sự chuyển đổi mơ hình hoạt động sản xuất - kinh doanh trong cả nước sau khi đường lối đổi mới của Đại hội lần thứ VI của Đảng bắt đầu được triển khai và lan tỏa trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội

Ngành cơng nghiệp dầu khí của Nhà nước Việt Nam đã tồn tại hơn 16 năm 2006) dưới tên gọi ban đầu Tổng cơng ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam

(1990-1995), Tổng cơng ty Dầu khí Việt Nam (1995-2006) Đĩ là một giai đoạn lịch sử tương đối dài Trong giai đoạn đĩ, đất nước đã đi qua một đoạn đường đầy chơng gai và thử thách, nhưng cũng rất đáng tự hào, tạo nên một hình ảnh hết sức ấn tượng đối với thế giới về tốc độ phát triển kinh tế và sự ổn định chính trị - xã hội

1 Tên giao dịch quốc tế là Petrovietnam.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Tồn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.48, tr.336

Trang 8

Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam

4

Phần thứ ba: TỔNG CƠNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM

Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX là thời kỳ đất nước cịn rất nhiều khĩ khăn Sau Đại hội VI, tuy đất nước đang ở trong khí thế vươn lên, nhưng trong mọi mặt đời sống xã hội vẫn cịn phải đối mặt với nhiều khĩ khăn và thách thức vơ cùng to lớn; thế cơ lập về kinh tế vẫn chưa được phá vỡ, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Đơng Âu bị khủng hoảng và cuối cùng là sự sụp đổ của Liên bang Xơviết - cột trụ của cả hệ thống và là chỗ dựa của Việt Nam trên nhiều phương diện Với vơ vàn khĩ khăn do chiến tranh để lại và sự lạc hậu của nền kinh tế, Việt Nam đã vượt qua thách thức một cách thần kỳ, bảo đảm vững chắc an ninh chính trị và trật tự, an tồn xã hội, chủ động chuyển đổi dần nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nửa đầu thập kỷ 1990, sự ổn định về chính trị, sự vươn lên về kinh tế và sự củng cố vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã đạt được những thành tựu to lớn Tháng 6-1991, Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng

đã thơng qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội”, “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000” Hai văn kiện này đã cụ thể hĩa một bước đường lối đổi mới đã được đề ra từ Đại hội VI, đồng thời khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục đổi mới của Việt Nam

“Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000” do Đại hội VII thơng qua đã đề ra chủ trương “Xúc tiến mạnh việc hợp tác và liên doanh với

nước ngồi thăm dị, khai thác và chế biến dầu khí Xây dựng cơng nghiệp lọc,

hĩa dầu theo cơng nghệ hiện đại kéo theo sự phát triển một số ngành khác đi

từ nguyên liệu dầu và khí”1 Thăm dị, khai thác, chế biến dầu khí và một số loại khống sản được coi là một trong bốn lĩnh vực kinh tế cĩ điều kiện và cần phải tăng trưởng mạnh trong thập kỷ 1990 để thúc đẩy và hỗ trợ các ngành khác Tiếp theo đĩ, năm 1992, Quốc hội đã thơng qua Hiến pháp (sửa đổi) của nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Những văn kiện đĩ đã đĩng vai trị hết sức quan trọng trong việc xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong đĩ những chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần yêu cầu phải cĩ một hệ thống pháp luật đầy đủ để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình vận hành nền kinh tế Đặc biệt là Luật Đầu

tư nước ngồi tại Việt Nam cĩ tác động to lớn đến hoạt động của Tổng cơng ty Dầu khí Việt Nam trong việc thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 7-7-1988 của Bộ Chính trị (khĩa VI) về phương hướng phát triển ngành Dầu khí đến năm

2000 cũng như Nghị quyết Đại hội VII của Đảng

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Tồn tập, Sđd, t.51, tr.164

Trang 9

Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam

Mở đầu

Đối với đất nước nĩi chung và đối với ngành Dầu khí nĩi riêng, chủ trương, đường lối của Đảng cĩ tầm quan trọng hết sức lớn lao Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo Tổng cục Dầu khí (về sau là Bộ Cơng nghiệp nặng và Tổng cơng ty Dầu khí Việt Nam) phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiến hành đàm phán với phía Liên Xơ để cĩ được Hiệp định Liên Chính phủ về việc tiếp tục hợp tác trong lĩnh vực thăm dị địa chất và khai thác dầu khí trong khuơn khổ Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro đến năm 2010, bảo đảm tính cơng bằng cho nước chủ nhà trong hợp tác liên doanh và phù hợp với thơng lệ quốc tế Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro

đã trả lại phần lớn diện tích được giao theo Hiệp định năm 1981 và Nghị định thư năm 1985 nhưng chưa tiến hành thăm dị, khai thác để Petrovietnam hợp tác với các cơng ty dầu khí quốc tế tiến hành tìm kiếm, thăm dị, tiến tới khai thác dầu khí Năm 1992, Petrovietnam đã ký được hàng chục hợp đồng thăm dị, khai thác dầu khí với các đối tác quốc tế tại các vùng do Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro trả lại, trong số đĩ một số hợp đồng đã phát hiện ra các mỏ dầu khí

cĩ tính thương mại Việc triển khai các hoạt động hợp tác thăm dị khai thác dầu khí của Petrovietnam trong giai đoạn này thể hiện rõ đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng và Nhà nước ta đi đến hội nhập kinh tế sâu rộng với tất cả các quốc gia trên thế giới trên nguyên tắc bình đẳng, tơn trọng độc lập, chủ quyền và tồn vẹn lãnh thổ của nhau trên tinh thần hợp tác hai bên cùng cĩ lợi

Thời kỳ 1990-1995 cĩ thể coi là thời kỳ mà đất nước bứt phá khỏi vịng vây cơ lập và cấm vận để thốt ra khơng gian kinh tế rộng mở mà mỗi quốc gia trong thế giới ngày nay đều cần cĩ để phát triển một cách bình thường Năm 1992, tại Hội nghị các nước ASEAN lần thứ 25 (Manila, Philippin), Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp ước Thân thiện và hợp tác Đơng Nam Á (Hiệp ước Bali) chuẩn bị cho việc chính thức trở thành thành viên của khối ASEAN vào năm

1995 Nhằm hồn thiện hệ thống pháp luật để thu hút đầu tư nước ngồi, cuối năm 1992 Quốc hội khĩa IX đã thơng qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngồi tại Việt Nam được ban hành ngày 9-1-1988 (hết hiệu lực năm 1996 - BT) Tình hình kinh tế - xã hội đất nước tiếp tục ổn định, từng bước thốt khỏi khủng hoảng

Năm 1993, Việt Nam nối lại quan hệ với các định chế tài chính thế giới là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) Một khoản viện trợ ODA trị giá 3.800 triệu USD từ cộng đồng tài chính quốc tế đã được cung cấp cho Việt Nam thơng qua các dự án nhằm khơi phục, cải tạo và xây dựng mới các cơng trình thuộc cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và phát triển giáo dục, đào tạo Sản lượng lương thực năm 1993 đạt trên 25 triệu tấn,

Trang 10

Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam

6

Phần thứ ba: TỔNG CƠNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM

sản lượng dầu thơ gần 6 triệu tấn và mỏ Bạch Hổ khai thác tấn dầu thứ 20 triệu Nghị quyết “Về nhiệm vụ năm 1994” được thơng qua tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội khố IX, ngày 30-12-1993, đã nhận định: “Năm 1993, nền kinh tế nước ta tiếp tục chuyển biến tốt; các chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế đều đạt và vượt kế hoạch; đã khắc phục được một bước rất quan trọng tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội; tiếp tục giữ vững và củng cố ổn định chính trị; quan hệ đối ngoại được mở rộng, uy tín của nước ta trên thế giới nâng lên”1

Luật Dầu khí được Quốc hội thơng qua năm 1993 đã thể hiện rõ việc Nhà nước luơn kịp thời thể chế hĩa chủ trương, đường lối của Đảng bằng luật pháp Ngay từ cuối thập kỷ 1980, Tổng cục Dầu khí đã được giao nhiệm vụ cùng các bộ, ngành liên quan học hỏi các nước cĩ kinh nghiệm trong hoạt động dầu khí chuẩn

bị cho việc soạn thảo, ban hành Luật Dầu khí Do tính phức tạp của lĩnh vực hoạt động dầu khí, lại là một lĩnh vực hồn tồn mới, do đĩ việc chuẩn bị Dự thảo Luật Dầu khí phải kéo dài nhiều năm; đến năm 1993 mới trình được Quốc hội khĩa

IX thơng qua Luật Dầu khí được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho

cả Petrovietnam cũng như các đối tác trong việc tiến hành các hoạt động dầu khí trong đất liền cũng như trên biển, trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, được các cơng ty nước ngồi hoan nghênh Tuy vậy, sau một thời gian thực hiện Luật, qua xem xét, nghiên cứu thực tiễn hoạt động tìm kiếm, thăm

dị dầu khí của Petrovietnam và các cơng ty dầu khí nước ngồi, Chính phủ đã

đề nghị Quốc hội sửa đổi Luật Dầu khí để thích hợp với các hoạt động tìm kiếm thăm dị tại các vùng nước sâu, xa bờ, cĩ nhiều khĩ khăn Để kịp thời đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế, trong khi chờ Quốc hội sửa đổi Luật, ngày 7-11-1998 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 216/QĐ-TTg về khuyến khích đầu tư đối với các hoạt động dầu khí tại các vùng nước sâu, xa bờ và khu vực cĩ điều kiện địa

lý, địa chất, kinh tế, kỹ thuật đặc biệt khĩ khăn Nội dung Quyết định quy định: Nhà nước cĩ những chính sách khuyến khích ưu đãi đối với các hoạt động trên nếu bên đầu tư thực hiện hợp đồng với 1 trong 3 điều kiện: hoạt động dầu khí tại vùng biển cĩ độ sâu lớn hơn 200 m nước; hoạt động dầu khí tại vùng biển xa bờ; hoạt động dầu khí tại khu vực cĩ điều kiện địa lý, địa chất, kinh tế, kỹ thuật đặc biệt khĩ khăn Năm 2000, Quốc hội đã thơng qua Luật Dầu khí sửa đổi và đã được các nhà thầu nước ngồi hết sức hoan nghênh Đây là một sự việc minh chứng cho

sự cầu thị và phản ứng kịp thời của Nhà nước Việt Nam trong hoạt động kinh tế đối ngoại trên cơ sở tơn trọng lẫn nhau và cùng cĩ lợi

1 Cổng thơng tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn)

Trang 11

Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam

Mở đầu

Mặc dù với Luật Đầu tư nước ngồi tại Việt Nam, ngành Dầu khí đã thu hút được một số cơng ty tư bản nước ngồi vào cùng tham gia các hoạt động tìm kiếm, thăm dị và khai thác dầu khí, song việc Việt Nam bị Mỹ cấm vận kinh tế

là một trở ngại rất lớn trong việc thu hút cơng nghệ và kỹ thuật cao cho các hoạt động dầu khí Vì vậy, việc Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam vào năm 1994 đánh dấu một thời điểm rất cĩ ý nghĩa đối với các hoạt động dầu khí ở Việt Nam, các cơng ty thăm dị khai thác dầu khí ở Việt Nam khơng cịn gặp trở ngại trong việc cung cấp những thiết bị kỹ thuật cao mà Liên Xơ (về sau là Liên bang Nga) và các cơng ty dịch vụ kỹ thuật khác khơng sản xuất Đồng thời cũng

mở ra khả năng các cơng ty dầu khí Mỹ cĩ thể tham gia đầu tư vào hoạt động dầu khí tại Việt Nam bình đẳng như các cơng ty nước ngồi khác Sự kiện Cơng ty Mobil của Mỹ trúng thầu và ký kết hợp đồng PSC với Petrovietnam đối với lơ

05-1A Thanh Long tháng 4-1994 là sự kiện cĩ ý nghĩa quan trọng, mở đầu thời kỳ sau cấm vận và các cơng ty dầu khí Mỹ được tham gia trực tiếp vào hoạt động dầu khí

ở Việt Nam Một năm sau sự kiện bãi bỏ cấm vận (năm 1995), Mỹ và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao Việc các cơng ty của Mỹ tham gia đầu tư vào các hoạt động dầu khí, trong hoạt động thăm dị, khai thác cũng như trong cung cấp dịch

vụ kỹ thuật, đã khơng cịn những trở ngại đáng kể tuy vẫn cịn bị tác động của Tu chính án Jackson-Vanik

Ngồi sự kiện quan trọng Việt Nam và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao, năm

1995 cịn đánh dấu bởi một sự kiện quan trọng khác là Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đơng Nam Á (ASEAN), bắt đầu thời

kỳ đất nước chúng ta liên kết và hợp tác hữu nghị ngày càng cĩ hiệu quả với các nước láng giềng trong khu vực và vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao Cũng trong năm 1995, Việt Nam ký kết Hiệp định hợp tác giữa Việt Nam và Cộng đồng châu Âu (EU) Năm 1995, lần đầu tiên khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ được đưa vào bờ bằng đường ống dài hơn 120 km cung cấp cho Nhà máy điện Bà Rịa, khai sinh ngành Cơng nghiệp khí của Việt Nam

Báo cáo Chính trị tại Đại hội VIII của Đảng năm 1996, khẳng định: “Nước ta

đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt cịn chưa vững chắc

Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho cơng nghiệp hố đã cơ bản hồn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước”1 Nghị quyết Đại hội VIII của

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 1996, tr 67

Ngày đăng: 08/03/2021, 17:18

w