TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN NGHIÊN CỨU NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO NÁI LANDRACE VÀ SO SÁNH KHẢ VỚI TINH YORKSHIRE VÀ DUROC... TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIA
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
NGHIÊN CỨU NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO NÁI LANDRACE VÀ SO SÁNH KHẢ
VỚI TINH YORKSHIRE VÀ DUROC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
NGHIÊN CỨU NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO NÁI LANDRACE VÀ SO SÁNH KHẢ
VỚI TINH YORKSHIRE VÀ DUROC
NGU N TR N PHƯỚC CHI N
DCN152839
CÁN BỘ HƯỚNG D N ThS NGU N BÌNH TRƯỜNG
AN GIANG, THÁNG 05-2018
Trang 3CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
t i nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu năng suất sinh sản của heo nái Landrace v so sánh khả năng sinh trưởng của con lai F1 với tinh Yorkshire v Duroc” do sinh viên Ngu n r n Phước Chi n th c hiện dưới s hướng dẫn của ThS Ngu n Bình rường ác giả đã báo cáo k t quả nghiên cứu v được Hội đồng khoa học v o tạo Khoa thông qua ng 10 tháng 05 năm 2018
Ts NGUYỄN TUYẾT GIANG ThS TRẦN TRUNG TUẤN
Cán bộ hướng dẫn
Trang 4
LỜI CẢM TẠ
Lời đ u tiên tôi xin chân thành cảm tạ Ban Giám Hiệu, Phòng Quản khoa học và Phòng K hoạch Tài vụ đã khu n khích giáo viên hướng dẫn đã quan tâm sát sao
và tạo nhi u cơ hội giúp tôi th c hiện đ tài này
Chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Nông nghiệp -Tài nguyên thiên nhiên, Ban chủ nhiệm Bộ môn Chăn nuôi đã ủng hộ đôn đốc và tạo đi u kiện thuận lợi nhất để đ t i n đạt ti n độ đúng k hoạch
Xin cảm ơn giáo viên hướng dẫn của đ tài này: Th y Nguy n Bình rường và giáo viên phản biện giúp tôi hoàn thành bài nghiên cứu
Trân trọng cảm tạ!
An Giang, ngày … tháng … năm 2018
Người thực hiện
Ngu n r n Phước Chi n
Trang 5LỜI CAM KẾT
ôi xin cam đoan đâ l công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong
b nghiên cứu n có xuất xứ rõ r ng Những k t luận mới v khoa học của công trình nghiên cứu n chưa được công bố trong bất kỳ công trình n o khác
An Giang, ngày … tháng … năm 2018
Người thực hiện
Ngu n r n Phước Chi n
Trang 6TÓM TẮT
Nghiên cứu năng suất sinh sản trên 20 heo nái lai (Landrace x Yorkshire) và 200 heo con lai Duroc x (Landrace x Yorkshire) và Yorkshire x (Landrace x Yorkshire) trong đi u kiện chăn nuôi nông hộ được th c hiện tại hu ện hoại Sơn tỉnh An Giang từ tháng 04/2017 đ n tháng 04/2018 K t quả thu được: tuổi lên giống l n đ u 223-227 ng thời gian mang thai 114 ng thời gian đẻ 2 24-2 82 giờ thời gian lên giống sau đẻ 34 5-36 7 ng khoảng cách giữa 2 lứa đẻ 176 ng ; số con sơ sinh/ổ
v số con sơ sinh sống/ổ l 10 8-11,0 và 10,2-10 5 con; khối lượng sơ sinh của Yorkshirex (Landrace x Yorkshire) l 1 61±0 22 kg/con thấp hơn có ý nghĩa thống
kê so với Duroc x (Landrace x Yorkshire) l 1 71±0 27 kg/con; nhưng đ n 21 ng
k t quả tương ứng l 6 52±0 90 kg/con trên Yorkshire x (Landrace x Yorkshire) và 7,04±0,84 kg/con trên Duroc x (Landrace x Yorkshire) Chênh lệch v khối lượng trên heo con Duroc x (Landrace x Yorkshire) so với Yorkshire x (Landrace x Yorkshire) tại sơ sinh 7 14 21 cai sữa 28 ng v 60 ng tuổi tương ứng l 0 05; 0,43; 0,47; 0,40; 0,29 và 0,40 kg Chi phí sản xuất heo con 60 ng tuổi khoảng 60.202-62.318 đồng/kg (chưa tính đ n khấu hao heo mẹ chuồng trại chi phí lao động v điện sinh hoạt) Heo nái Landrace x Yorkshire có năng suất sinh sản tốt v con lai với đ c Duroc chi m ưu th hơn trong chăn nuôi nông hộ tại An Giang
Từ khóa: Heo nái, năng suất sinh sản, chăn nuôi nông hộ
Trang 714, 21, 28 days of weaning and 60 days were 0,05; 0,43; 0,47; 0,40; 0,29 kg and 0,40
kg, respectively The cost of producing 60-day-old piglets of the experiment was 60,202 to 62,318 VND/kg (not including depreciation of the mother, herds, labor and living expenses) Duroc x (Landrace x Yorkshire) piglets have better growth performance than piglets of Yorkshire x (Landrace x Yorkshire) Duroc x (Landrace
x Yorkshire) piglets should be used as meat production in An Giang
Key words: Sows, reproduction performance, household system
Trang 8M C L C
Trang
Chấp nhận của hội đồng i
Lời cảm tạ ii
Lời cam k t iii
Tóm tắt (ti ng Việt) iv
Abstract v
Mục lục vi
Danh sách bảng viii
Danh sách hình và biểu đồ ix
Danh mục từ vi t tắt x
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thi t của đ t i 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 ối tượng nghiên cứu 1
1.3.1 ối tượng nghiên cứu 1
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 1
1.4 Nội dung nghiên cứu 1
1.5 Những đóng góp của đ t i 2
1.5.1 óng góp v m t khoa học 2
1.5.2 óng góp công tác đ o tạo 2
1.5.3 óng góp phát triển kinh t xã hội 2
Chương 2: ỔNG QUAN VẤN Ề NGHIÊN CỨU 3
2.1 Giới thiệu vấn đ nghiên cứu 3
2.1.1 rong nước 3
2.1.2 Ngo i nước 4
2.2 Lược khảo vấn đ nghiên cứu 4
2.2.1 Giống heo 4
2.2.2 Sinh lý tiêu hóa 5
2.2.3 Nhu c u dư ng chất của heo 8
2.2.4 Sinh sản trên heo nái 13
2.2.5 Sinh trưởng của heo 15
2.2.6 hức ăn 16
2.3 Câu hỏi nghiên cứu 16
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
Trang 93.1 Mẫu nghiên cứu 17
3.1.1 ịa điểm và thời gian nghiên cứu 17
3.1.2 ộng vật thí nghiệm 17
3.2 Thi t k nghiên cứu 17
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 17
3.2.2 Chỉ tiêu theo dõi v phương thức thu thập số liệu 18
3.2.3 Phương thức chăm sóc v nuôi dư ng 19
3.3 Công cụ nghiên cứu 21
3.4 Ti n trình nghiên cứu 21
3.5 Phân tích dữ liệu 21
Chương 4: K Q H O L N 22
4.1 Năng suất sinh sản heo nái 22
4.1.1 Chỉ tiêu sinh lý và sinh sản heo nái 22
4.1.2 Năng suất sinh trưởng heo con theo mẹ 23
4.2 So sánh khả năng sinh trưởng hai giống heo con 25
4.2.1 ăng trưởng của heo con qua các giai đoạn tuổi 25
4.2.2 Khối lượng heo con qua các thời điểm thí nghiệm 27
4.2.3 Chi phí sản xuất 1 kg heo con 60 ngày tuổi 28
Chương 5: K L N KH Y N NGH 30
5.1 K t luận 30
5.2 Hạn ch 30
5.3 Khu n nghị 30
I LIỆ HAM KH O 31
PH L C 34
Trang 10DANH S CH BẢNG
Bảng 1 Nhiệt năng tích luỹ hằng ngày của heo nái chửa (Kcal) 9
Bảng 2 Nhu c u chất khoáng của heo nái (cho 1 kg thức ăn) 10
Bảng 3 Thành ph n sữa đ u của heo 11
Bảng 4 Thành ph n dinh dư ng thức ăn heo nái 19
Bảng 5 Thành ph n dinh dư ng thức ăn heo con 20
Bảng 6 Chỉ tiêu sinh lý heo nái Landrace x Yorkshire 22
Bảng 7 Chỉ tiêu sinh sản heo nái Landrace x Yorkshire 23
Bảng 8 Khối lượng heo con/ổ 23
Bảng 9 Sinh trưởng tương đối của heo con qua các giai đoạn tuổi 24
Bảng 10 ăng trọng tích lũ của heo con qua các giai đoạn tuổi 25
Bảng 11 Chi phí sản xuất 1 kg heo con 60 ngày tuổi 28
Trang 11DANH S CH HÌNH VÀ BI U ĐỒ
Hình 1 ộng vật thí nghiệm heo nái giai đoạn mang thai 17 Hình 2 Thức ăn heo nái mang thai (1042) và nuôi con (1052) 19 Hình 3 Thức ăn heo con theo mẹ (1912) và cai sữa (1012) 20 Hình 4 Heo con giống Yorkshire x (Landrace x Yorkshire) v Duroc x (Landrace x Yorkshire) lúc 14 ng tuổi 24
Biểu đồ 1 Sinh trưởng heo con qua các giai đoạn tuổi 28
Trang 12DANH M C TỪ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Viết tắt từ Nghĩa
ARC Agriculture Research Council Hội đồng nghiên cứu của (Anh)
DYL Duroc x (Yorkshire x Landrace) Duroc x (Yorkshire x Landrace)
LYL Landrace x (Yorkshire x Landrace) Landrace x (Yorkshire x Landrace)
MEg Metabolisable energy for growth Năng lƣợng trao đổi dùng cho sinh
NEm Net energy for maintenance Năng lƣợng thu n d ng cho du trì
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chăn nuôi heo nông hộ, người dân thường sử dụng giống lai không xác định tỷ lệ máu, giống thường được mua trong xóm, vùng lân cận, nhưng không rõ nguồn gốc chiếm tỷ lệ cao nhất (93,58%) Sau một thời gian nuôi, thấy heo nào tốt để lại làm giống nhưng không xác định được tỷ lệ máu, từ đó dẫn đến giống lai khả năng sinh sản kém, tỷ lệ đồng nhất kém, tỷ lệ loại thải cao, số con sơ sinh trên ổ ít, mắc một số bệnh di truyền, Tất cả điều đó sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi, từ đó cần phải nâng cao năng suất giống heo (Nguyễn Minh Thông và cs, 2013)
Heo nuôi làm giống đầu tiên thì phải kể đến giống Landrace Heo Landrace có khả năng sinh sản khá cao và nuôi con khéo: số con sơ sinh sống/ổ 9,69 con, khối lượng
sơ sinh 1,46 kg/con (Phạm Thế Huệ, 2017) Vì thế, heo Landrace thường được chọn làm “dòng cái” trong các công thức lai giữa heo ngoại cao sản với nhau Sử dụng heo Landrace trong các công thức lai kinh tế hai máu, ba máu hoặc bốn máu giữa các giống heo ngoại để tăng tỷ lệ nạc từ 58-60% và khả năng tăng trưởng 650-750 g/con/ngày (Nguyễn Văn Đức và Đỗ Võ Anh Khoa, 2017) Ngoài giống heo Landrace có các đặc điểm sinh sản tốt ra thì giống heo Yorkshire cũng có ngoại hình, thể chất chắc chắn, nuôi con khỏe, thích nghi tốt, khả năng chống chịu stress cao và
số con đẻ ra nhiều Khi nuôi ở Việt Nam số con đẻ ra ổ bình quân là 9,63 con, khối lượng sơ sinh đạt 1,43 kg/con (Phạm Thế Huệ, 2017) Theo Đỗ Võ Anh Khoa (2017), ngoài giống Landrace và giống Yorkshire thì đực giống Duroc sử dụng để sản xuất heo thịt do ưu thế về màu sắc, vân mỡ, độ mềm, độ rỉ của thịt, Do đó, đề
tài “Nghiên cứu năng suất sinh sản của heo nái Landrace và so sánh khả năng
sinh trưởng của con lai F 1 của heo nái Landrace với tinh Yorkshire và Duroc”
mang tính cấp thiết trong việc nuôi và phát triển công thức giống heo trong nông hộ hiện nay
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đánh giá năng suất sinh sản của heo nái Landrace trong điều kiện chăn nuôi nông hộ
So sánh khả năng tăng trọng của con lai của heo nái ♀ Landrace với đực Duroc và Yorkshire
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Heo nái Landrace và con lai F1( Duroc x ♀Landrace) và ( Yorkshire x
♀Landrace)
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Năng suất sinh sản của nái Landrace và khả năng sinh trưởng của con lai F1 ( Duroc
x ♀Landrace) và ( Yorkshire x ♀Landrace)
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đánh giá năng suất sinh sản của 20 nái Landrace
Đánh giá khả năng sinh trưởng của con lai F1 Duroc x Landrace và Yorkshire x Landrace
Trang 141.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1 Đóng góp về mặt khoa học
Đánh giá được năng suất sinh sản nái Landrace điều kiện nông hộ
Đánh giá năng suất, khả năng sinh trưởng và phát triển heo lai F1
1.5.2 Đóng góp công tác đào tạo
Chọn lọc công thức lai góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi heo Bảng số liệu về năng suất sinh sản heo cái Landrace và tăng trọng trên con lai F1(Duroc x Landrace) và (Yorkshire x Landrace)
1.5.3 Đóng góp phát triển kinh tế xã hội
Chọn lọc công thức lai góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi heo
Trang 15CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1.1 Trong nước
Theo Võ Trọng Thành ở thời điểm 2010 cả nước có khoảng 140 cơ sở nuôi heo giống cụ kỵ (GGP) và ông bà (GP), nuôi giữ 321 ngàn con heo giống, trong đó đàn nái GGP giống ngoại có khoảng 8 ngàn con; Có 9 cơ sở nuôi giữ heo giống gốc thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT quản lý (1,6 ngàn con nái giống GGP và 1,7 ngàn con nái giống GP, tương ứng chiếm 20% và 0,6% tổng đàn GGP và GP trong cả nước)
Heo Landrace được tạo ra ở Đan Mạch năm 1895 Heo có năng suất cao, sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn 3,0 kg/ kg khối lượng, tăng khối lượng bình quân đạt 750 g/con/ ngày, tỷ lệ nạc 59% Khối lượng trưởng thành có thể lên tới 320 kg ở con đực
và 250 kg ở con cái (Nguyễn Hoàng Lâm, 2013) Heo Landrace thường được chọn làm “dòng cái” trong các công thức lai
Heo Yorkshire có khả năng thích nghi tốt hơn các giống heo ngoại khác, khả năng chống chịu stress cao Con đực có khối lượng trưởng thành khoảng 300–400 kg, con cái khoảng 230–300 kg Heo con có tốc độ sinh trưởng nhanh và không đồng đều qua các giai đoạn Nhanh nhất là ở 21 ngày tuổi đầu, sau đó tốc độ có phần giảm xuống do lượng sữa của heo mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu heo con giảm (Phạm Quang Hùng, 2013)
Heo Duroc có khả năng tăng trọng nhanh (785 g/ngày), cho nhiều nạc, ở 173 ngày tuổi heo có trọng lượng xấp xỉ 100 kg, tỷ lệ nạc 58-60,4%, heo nọc nái trưởng thành
có thể đạt 300 – 350 kg Heo nái mỗi năm đẻ 1,8 – 2 lứa, mỗi lứa trung bình khoảng 7-8 con Sử dụng heo Duroc cho lai kinh tế tăng trọng nhanh, tỷ lệ nạc cao (Nguyễn
Bá Trung, 2014)
Kết quả nghiên cứu của Lê Thị Mến (2015), cho thấy heo con giống Landrace phối với heo nái lai (Yorkshire x Landrace) (LYL) có tổng chi phí thức ăn và thú y cao hơn giống Duroc để phối với heo nái lai (Yorkshire x Landrace) (DYL); hơn nữa heo con giống DYL lại tăng trọng cao hơn nên tổng thu cho tăng trọng toàn kỳ cao hơn
so với giống heo LYL Từ đó, lợi nhuận do giống heo DYL mang lại cao hơn so với giống heo LYL là 14% Nên sử dụng giống heo đực Duroc để phối với heo nái lai (Yorkshire x Landrace) để sản xuất heo con nuôi thịt Bên cạnh, cũng nên tiến hành cho heo đực giống Landrace phối với heo nái lai (Yorkshire x Landrace) để sản xuất heo con tiếp tục làm giống
Hiện nay, chăn nuôi nông hộ, nhỏ lẻ đang chiếm tỉ lệ cao, khoảng 65-70% và cần nhanh chóng cũng cố con giống phù hợp với chăn nuôi quy mô lớn (Võ Thị Phương Nhung và Đỗ Thị Thúy Hằng, 2017) Định hướng phát triển đến năm 2030 của tỉnh
An Giang là chuyển đổi chăn nuôi theo phương thức trang trại, công nghiệp, bán công nghiệp và gia trại đạt từ 5-10% số hộ vào năm 2020 và 25-30% vào năm 2030 Heo Landrace và Yorkshire là nguồn nguyên liệu tạo các tổ hợp lai thương phẩm thích hợp với điều kiện chăn nuôi ở nước ta (Phạm Thế Huệ, 2017), vì giống là yếu
tố quan trọng trong chăn nuôi và chiến lược phát triển con giống sẽ nâng cao năng suất vật nuôi (Đỗ Võ Anh Khoa, 2017)
Trang 162.1.2 Ngoài nước
Trong chăn nuôi, năng suất giống là vấn đề cần quan tâm: giống Landrace so với Yorkshire số lượng con đẻ ra ít hơn, thời gian lên giống lại sau sinh kéo dài hơn nhưng lượng sữa nhiều, nuôi con tốt; giống Yorkshire số con đẻ ra nhiều nhưng trọng lượng sơ sinh heo con thấp, tỷ lệ chuyển thịt không cao; giống Duroc số con đẻ ra ít,
tỷ lệ chuyển thịt cao, chất lượng thịt tốt, trọng lượng sơ sinh cao Năng suất giống ảnh hưởng bởi tỷ lệ di truyền cho số con đẻ ra là (15%), số con cai sữa (12%), trọng lượng cai sữa (17%), độ dài đòn (59%), mỡ (63%), thịt (29%), độ dày mỡ lưng (49%), FCR (31%), tốc độ phát triển (29%) tương đối cao Trọng lượng sơ sinh khi
đẻ nếu dưới 1 kg thì tỷ lệ này sống khoảng 76,4%, 1-1,2 kg là 82,4%; 1,2-1,4 kg là 86,4%; 1,4-1,7 kg là 88,2%; trên 1,7 kg là trên 90% Vậy trọng lượng heo sơ sinh càng lớn tỷ lệ sống càng cao (Woo, 2014)
Các xu hướng di truyền, kiểu hình và môi trường đã được ước tính bằng hồi quy của các giá trị tương ứng trong thời gian sinh trưởng Giá trị trung bình thu được trong thí nghiệm tổng trọng lượng heo sơ sinh còn sống (NVP); trọng lượng toàn ổ (PNP);
ở giống Landrace được 28,8 heo con; 45,1 kg Kết quả nếu chọn con giống có máu thuần càng cao thì tỷ lệ di truyền lại cho đời con càng cao, tỷ lệ máu thuần đời con di truyền từ giống bố mẹ khoảng 0,03-0,05; dưới tác động môi trường lâu dài thì tỷ lệ này lại dao động 0,13 - 0,15 và 0,17 - 0,18 (Galindez & Verde, 2014)
Theo Galindez & Verde (2014), nếu chọn con giống có máu thuần càng cao thì tỷ lệ
di truyền lại cho đời con càng cao, tỷ lệ máu thuần đời con di truyền từ giống bố mẹ khoảng 0,03-0,05; dưới tác động môi trường lâu dài thì tỷ lệ này khoảng 0,13-0,15 và 0,17-0,18; ưu thế lai duy trì khoảng 5,83% đến 10,97% (David và cs, 2016) Vì vậy nếu có tỷ lệ di truyền cao và ưu thế lai duy trì ổn định thì năng suất sinh sản của con
mẹ và khả năng tăng trưởng của con lai F1 sẽ cho năng suất giống với các tỷ lệ về số con đẻ ra 15%, số con cai sữa 12%, trọng lượng cai sữa 17%, độ dài đòn 59%, mỡ 63%, thịt 29%, độ dày mỡ lưng 49%, FCR 31%, tốc độ phát triển 29% tương đối cao, trọng lượng sơ sinh sẽ tỷ lệ thuận với tỷ lệ sống sót sau sinh (Woo, 2014)
2.2 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.2.1 Giống heo
2.2.1.1 Landrace
Nguồn gốc: có xuất xứ từ Đan Mạch, sau Việt Nam nhập giồng heo này từ Cu Ba năm 1970 Sau này còn nhập từ Hoa Kỳ, Nhật, Bỉ
Phân bố: Nhiều nơi trong cả nước
Hình thái: Lông da trắng tuyền Tai to, mềm, cụp che lấp mặt Đầu dài, thanh Thân dài, mông nở, mình thon
Khối lượng heo sơ sinh: 1,2-1,3 kg/con, heo đực trưởng thành: 270–300 kg, heo cái: 200–230 kg/con
Năng suất, sản phẩm: Bắt đầu phối giống lúc 7 - 8 tháng tuổi Mỗi năm đẻ 2,0-2,2 lứa, mỗi lứa đẻ 10-12 con Tăng trọng nhanh, 6 tháng tuổi đạt 100 kg/con Tỷ lệ nạc
54 - 56% (Nguyễn Bá Trung, 2014)
2.2.1.2 Yorkshire
Nguồn gốc: là một giống của nhóm heo Yorkshire, được tạo nên tại bang Yorkshire của Anh Được nhập từ Liên Xô (cũ) năm 1964, Cu Ba năm 1970 và Mỹ 2000
Trang 17Hình thái: Lông da trắng tuyền Tai to, đứng, trán rộng, mặt gãy Bốn chân chắc, khoẻ, thân hình vững chắc, nhìn ngang có hình chữ nhật, mình dài, mông vai nở, lưng thẳng, bụng thon Heo đực nặng 250 - 320 kg/con Heo cái nặng: 200-250 kg/con
Phân bố: Các miền Bắc, Trung, Nam
Năng suất, sản phẩm: Bắt đầu phối giống lúc 8 tháng tuổi Một năm đẻ 2,0- 2,1 lứa, mỗi lứa đẻ 10 - 13 con Tỷ lệ nạc 52 - 55% (Nguyễn Bá Trung, 2014)
Heo trưởng thành, con đực nặng 300 - 350 kg, con cái nặng 200 - 250 kg/con
Năng suất, sản phẩm: Mỗi lứa đẻ được 7 - 6 con Tăng khối lượng nhanh: 0,74 kg/ngày Nuôi 175 ngày đạt được 100 kg Tỷ lệ nạc 58 - 60,4% (Nguyễn Bá Trung, 2014)
2.2.2 Sinh ti u hó
2.2.2.1 Tiêu hóa ở miệng
Tiêu hoá ở miệng chủ yếu là tiêu hoá cơ học, nhờ nhai nghiền mà thức ăn bị bẻ gãy
và trộn đều với nước bọt như chất bôi trơn và là môi trường cảm nhận về vị Heo có
cơ quan cảm nhận vị ở khoang miệng và cơ quan cảm nhận đó tập trung ở lưỡi Dịch nước bọt được tiết ra bởi ba đôi tuyến chứa 99% nước và 1% gồm muxin, muối vô
cơ, enzyme α-amylase và phức hợp lysozyme Đối với heo, enzyme này có trong nước bọt nhưng hoạt động yếu Mặc dù thức ăn tồn tại không lâu ở miệng nhưng sự tiêu hoá tinh bột do α-amylase có thể xãy ra ở vùng thượng vị của dạ dày trước khi thức ăn bị toan hoá Enzyme α-amylase thuỷ phân liên kết α-(1,4)-glucan của polysarcharit chứa trên 3 đơn vị liên kết α-(1,4)-D glucose Vì vậy, enzyme này hoạt động với tinh bột, glycogen, polysarcharit và oligosarcharit Enzyme lysozyme có khả năng thuỷ phân liên kết β-(1,4)-N-acetyl-glucosaminidic của các chuổi disaccharite trong polysaccharide của màng tế bào của nhiều loại bacteria và tiêu diệt loại vi khuẩn này (Lê Đức Ngoan, 2008)
2.2.2.2 Tiêu hoá ở dạ dày
Theo Lê Đức Ngoan (2008), dạ dày gia súc đơn ngăn vừa là cơ quan tiêu hoá vừa là nơi dự trữ thức ăn Dạ dày heo có dung tích khoảng 8 lít, chia ra 3 cùng: thượng (cardia), trung (fundus) và hạ vị (terminus) Để tăng diện tích tiếp xúc với thức ăn, mặt trong của dạ dày có nhiều nếp gấp Vùng thượng vị chiếm khoảng 3 phần đầu của dạ dày và tiết dịch kiềm, không có enzyme, dịch nhờn được hình thành từ glycoprotein để bảo vệ vách niêm mạc khỏi axit Vùng trung vị kéo dài sau thượng vị tiết dịch vị chứa lycoprotein và chất nhầy fucolypit và chứa các tế bào oxyntic sản sinh HCl là giảm pH của dịch vị Độ pH ở dạ dày khác nhau ở các lọai gia súc khá
rõ Pepsinogen cũng được tiết ra ở vùng trung vị, trong khi vùng hạ vị nối liền với tá tràng tiết chất nhầy bảo vệ
Trang 18Dịch vị được tiết ra ở cả 3 vùng của dạ dày chứa nước, pepsinogen, muối vô cơ, dịch nhầy, HCl và nội tố giúp cho việc hấp thu vitamin B12 hiệu quả hơn Sự tiết dịch vị được điều tiết bởi nhiều yếu tố thần kinh và thể dịch và chia làm 3 pha Pha 1, pha kích thích như nhìn và mùi vị của thức ăn kích thích thông qua tế bào thần kinh Pha
2, pha tiết dịch được duy trì bởi các chất nhận cảm hoá học và độ choán của dạ dày Cuối cùng là sự có mặt của dưỡng chất ở tá tràng làm tác động đến hormon và thần kinh (Lê Đức Ngoan, 2008)
Dạ dày heo ít khi không có thức ăn và việc thức ăn được trộn chậm là điều kiện thuận lợi cho lên men của vi khuẩn ở đoạn cuối thực quản và cho tiêu hoá bởi dịch vị
ở cuối hạ vị Pepsinogen là dạng vô hoạt của pepsin được hoạt hoá bởi axit của dịch
vị Bốn loại pepsin được tim ra ở dịch vị heo hoạt động ở 2 mức pH là 2,0 và 3,5 Pepsin tấn công vào các liên kết peptit gần kề axit amin thơm, như là phenylalanine, trytophan, tyrosine, nhưng cũng có hoạt động ở liên kết giữa axit glutamic và cysteine Pepsin cũng làm đông vón sữa Rennin và chymosin cũng là các enzyme tiêu hoá protein được tiết ra trong dạ dày của bê và heo con, có tác dụng như pepsin Protein bị thuỷ phân bởi các enzyme tiêu hoá của dịch vị biến thành chủ yếu là polypeptit với độ dài khác nhau và một ít axit amin (Lê Đức Ngoan, 2008)
2.2.2.3 Tiêu hoá ở ruột non
Theo Lê Đức Ngoan (2008), ruột non là nơi xảy ra chủ yếu quá trình tiêu hoá và hấp thu thưc ăn, trong đó tá tràng là nơi tiết ra chủ yếu các dịch tiêu hoá và không tràng (jejunum) là nơi xảy ra hấp thu dinh dưỡng chủ yếu Dịch ruột được tiết ra bởi các tuyến ở tá tràng, gan và tuỵ ngoại tiết Trước hết là dịch tiết ra từ tá tràng có tính kiềm để trung hòa và bảo vệ vách ruột khỏi tác động từ HCl từ dạ dày chuyển xuống Mật được tiết ra từ gan đổ vào tá tràng qua ống mật Mật chứa muối Na và K của axit mật mà chủ yếu là axit glycocholic và taurocholic, phôtpholipit, sắc tố mật như biliverdin và bilirubin là các sản phẩm cuối của dị hoá hemoglobin, cholesterol và chất nhầy Muối mật đóng vai trò quan trọng trong tiêu hoá bằng cách hoạt hoá enzyme lapase của tuỵ và làm nhủ tương mõ Nhu cầu hàng ngày của axit mật lớn hơn sự tổng hợp trong gan nên axit mật được sử dụng lại để duy trì việc cung cấp axit mật (Lê Đức Ngoan, 2008)
Tuyến tuỵ ngoại tiết tiết ra enzyme tiêu hoá từ tế bào acinar, nước và chất điện giải
từ tế bào ống, tất cả hình thành dịch tuỵ đổ vào ống dẫn tuỵ Thành phần các loại enzyme sẽ thay đổi cho phù hợp với bản chất của khẩu phần thức ăn Sự tiết dịch tuỵ được điều tiết bởi nhiều yếu tố Trước hết, khi axit dạ dày xuống tá tràng thì hormon secretin được giải phóng từ biểu mô ruột non và máu Khi secretin tham gia vào vòng tuỵ nó kích thích tế bào tuỵ tiết dịch lỏng chứa hàm lượng cao ion bicarbonat nhưng rất ít enzyme Một hormon khác là cholecystokinin (CCK) cũng được giải phóng khỏi màng nhầy khi peptit và một số sản phẩm tiêu hoá khác xuống đến tá tràng CCK kích thích tiết tiền enzyme và enzyme như trypsinogen, chymotrypsinogen, procarboxypeptidase A và B, proelastase, α-amylase, lipase, lecithinase và nuclease Không giống pepsin, các enzyme này hoạt động ở pH 7 đến 9 Emzym trypsinogen được hoạt hoá bởi enterokinase thành tripxin và chính tripxin cũng là chất xúc tác cho sự hoạt hoá tiếp theo Trong khi hoạt hoá tripxin làm giải phóng hexapeptit từ amino cuối cùng của tripxinogen Trypsin là enzyme chuyên thuỷ phân protein ở các liên kết peptit giữa nhóm carboxyl của lysine và arginine Trypsin cũng chuyển chymotripxinogen thành chymotripxin hoạt động Enzyme này tác động vào các nối peptit giữa nhóm carboxyl của tyrosine, tryptophan, phenyalanine và leucine Trypsin cũng chuyển procarboxypeptidase thành carboxypeptidase Enzyme này
Trang 19tham gia phân giải các peptit từ đầu cuối của chuổi để tách thành từng axit amin có nhóm α-carboxyl tự do (Lê Đức Ngoan, 2008)
Theo Lê Đức Ngoan (2008), Tuỵ còn tiết ra α-amylase và có tác dụng giống như enzyme này của nước bọt, tức là tham gia vào phân giải liên kết α-(1,4)-glucant của tinh bột và glycogen Lipase của tuỵ làm bẻ gảy mỡ trung tính (triaxylglyerol) thành các phần nhỏ hơn (monoaxylglyxerol) Hoạt động của enzyme này chỉ dừng lại ở monoglyxerol Mỡ trong khẩu phần rời khỏi dạ dày ở dạng viên lớn, rất khó bị thuỷ phân một cách nhanh chóng được Để có quá trình thuỷ phân mỡ thì có sự tham gia nhủ hoá cuả muối mật Lecithinase A thuỷ phân lecithin ở cầu nối các axit béo với nhóm α-hydroxyl thành lysolecithin và bị thuỷ phân bởi lecithinase B thành glyxerolphotphocholin và axit béo
Các axit nuleic DNA và RNA bị thuỷ phân bởi các enzyme tương ứng như polynucleotidase, deoxyribonuclease và ribonuclease để tạo thành các nucleotit Các enzyme này phân giải liên kết este giữa đường và axit photphoric Các nucleotit lại
bị phân giải tiếp thành purine và pirimidine Sự thuỷ phân oligosarcharit thành monosarcharit và peptit thành axit amin do các enzyme kết hợp với nhung mao đường ruột Hầu hết sự thuỷ phân này xãy ra trên bề mặt tế bào niêm mạc và một số peptit được hấp thu từ đó trước khi bị các enzyme có trong cytoplasma phân giải tiếp Các enzyme do nhung mao sản sinh ra là saccharase để chuyển hoá đường saccharose thành glucose và fructose; maltase chuyển hoá maltose thành 2 phân tử glucose; lactase thuỷ phân lactose thành glucose và galactose; oligo-1,6-glucosidase
bẻ gãy liên kết α-1,6 trong các đường dextrin Aminopeptidase hoạt động trên các cầu nối peptit gần nhóm amino tự do của peptit đơn giản, trong khi đó dipeptidase bẻ gãy liên kết giữa hai amino axit để thành amino axit riêng biệt (Lê Đức Ngoan, 2008)
Ở ruột non, ngoài sự có mặt các enzyme tiêu hoá thì tồn tại một nhóm vi sinh vật Bằng chứng là khoảng 47% xơ trung tính của củ cải đường được tiêu hoá ở các phần trước hồi tràng của heo do hoạt động của vi khuẩn trong dạ dày và ruột non, và thủy phân bởi axit (Lê Đức Ngoan, 2008)
2.2.2.4 Tiêu hoá ở ruột già
Theo Lê Đức Ngoan (2008), ruột già đóng vai trò quan trong trong tái hấp thu chất dinh dưỡng, chất điện giải và nước Ruột già không tiết ra các enzyme tiêu hoá như ở ruột non vì vậy tiêu hoá chất dinh dưỡng bằng enzyme của vật chủ không xảy ra ở đây Heo có manh tràng ngắn và trực tràng dài hơn các loại ăn tạp khác Bề mặt màng nhầy không có nhung mao như ở phần ruột non Khi thức ăn chuyển từ hồi tràng xuống ruột non thì phần được tiêu hoá và phần cắt ngắn được giữ lại lâu hơn phần chưa được tiêu hoá Cellulose và hemicellulose không được tiêu hoá ở đường tiêu hoá bởi enzyme tiêu hoá của heo Tuy nhiên, ở ruột già tồn tại các hoạt động của
vi khuẩn, đặc biệt ở manh tràng Một phức hệ vi khuẩn bao gồm yếm khí và hiếu khí như lactobacilli, streptococci, coliform, bacteroides, clostridia và nấm men Các vi khuẩn phân giải hydratcarbon và protein tạo thành một loạt các sản phẩm như indol, skatol, phenol, H2S, amin, amonia, và axit béo bay hơi là acetic, butyric và propionic Với khẩu phần bình thường, thì 8-16% chất hữu cơ khẩu phần bị tiêu hoá bởi vi khuẩn trong đường tiêu hoá của heo
Hoạt động của vi khuẩn ở ruột già còn tổng hợp được vitamin nhóm B, có thể được hấp thu bởi vật chủ Tuy nhiên, nhu cầu vitamin của vật chủ cũng không được thoả mãn Phân thải qua hậu môn chứa thức ăn không được tiêu hoá, chất tiết của đường
Trang 20tiêu hoá, tế bào niêm mạc, muối vô cơ, vi khuẩn và sản phẩm của phân huỷ vi khuẩn (Lê Đức Ngoan, 2008)
2.2.3 Nhu c u ƣ ng chất củ h o
2.2.3.1
Nhu cầu về sữa: Trong thời kỳ phôi thai heo sơ sinh sống hoàn toàn dựa vào cơ thể
mẹ Giai đoạn sơ sinh, con vật phải sống trong điều kiện hoàn toàn mới, thần kinh con vật chưa phát triển ổn định, cơ quan tiêu hoá phát triển yếu chưa hoàn thiện Sức
đề kháng kém nên lúc này thức ăn lý tưởng nhất của gia súc non là sữa mẹ Sữa mẹ
là thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, tỷ lệ tiêu hoá gần như hoàn toàn và phù hợp với chức năng sinh lý tiêu hoá, nhu cầu sinh trưởng của con vật Đặc biệt sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao, nhiều kháng thể làm tăng sức để kháng của con vật
và có tác dụng tẩy nhẹ đường tiêu hoá Với heo con thì từ 45-60 ngày tuổi mới được cai sữa (Lưu Chí Lăng, 2009)
Quan hệ giữa bổ sung thức ăn với sinh trưởng của heo con
Qua thực tiễn cho thấy bất kì loại gia súc non nào cũng cần phải bổ sung thêm thức
ăn mới đám bảo sinh trưởng nhanh vì: Sự tăng lên về sản lượng sữa của con mẹ không thoả mãn được nhu cầu cho sự sinh trưởng của gia súc non ngày càng tăng lên
Theo Lưu Chí Lăng (2009), việc bổ sung thức ăn sớm còn nhằm bổ sung thêm một
số chất khoáng và vitamin trong sữa mẹ không đủ Ở heo khi tới 3 tuần tuổi, thể trọng tăng gấp 5 lần, 8 tuần tuổi tăng gấp 8-10 lần so với sơ sinh, mỗi ngày cần 7mg
Fe trong sữa mẹ Thực tế chỉ cung cấp được 1 phần, do đó heo con cần phải cung cấp thêm Fe ngay từ tuần tuổi đầu tiên, vì heo con bú mẹ cần nguyên tố vi lượng này Chúng đòi hỏi tới 27 mg Fe/1kg tăng trọng Trong khi sữa mẹ chỉ cung cấp được 10-15% nhu cầu Do đó, heo con dễ bị thiếu máu trầm trọng Heo con ở lứa tuổi 1-3 tuần
có nhu cầu về sắt là 114 mg, nhưng chúng chỉ nhận được từ mẹ 24 mg, vì vậy còn phải bổ sung 90 mg từ bên ngoài Ngoài ra, các chất khoáng như Co, Cu, Mg, Zn cần phải được bổ sung thêm
Việc bổ sung thức ăn sớm còn tập cho gia súc non thích nghi với thức ăn mới để khi cai sữa không gây xáo trộn về nuôi dưỡng, đồng thời có tác dụng kích thích bộ máy tiêu hoá phát triển có lợi cho việc tiêu hoá và hấp thụ các thức ăn sau này
2.2.3.2 Nhu c ng c a heo sinh sản
Sinh sản là một chức năng rất quan trọng của động vật nhằm bảo tồn và phát triển nòi giống Nếu một nhân tố nào gây ảnh hưởng xấu tới sinh sản sẽ gây tôn thất rất lớn đối với ngành chăn nuôi nói riêng và với nền kinh tế quốc dân nói chung Sinh sản là một quá trình sinh học phức tạp của cơ thể, một trong những nguyên nhân ảnh hướng tới sinh sản của gia súc là vấn đề dinh dưỡng
Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa dinh dưỡng và sinh sản nhằm nâng cao khả năng sinh sản của gia súc là điều có ý nghĩa lớn trong việc phát triển chăn nuôi (Lưu Chí Lăng, 2009)
a.Quan hệ giữa dinh dưỡng với khả năng sinh sản của heo nái giống
Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất liên quan mật thiết đến sự thành thục, khả năng thụ thai, sự phát triển của bào thai cũng như khả năng tiết sữa nuôi con của heo
Trang 21Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến động dục và khả năng thụ thai
Sự thành thục về tính được thể hiện bảng hiện tượng động dục Sự động dục là do tuyến yên và vùng dưới đồi chi phối Khi khẩu phần ăn thiếu Protit hoặc một loại axit amin nào đó thì hoạt động của tuyến yên giảm, hormon folliculo stimulin (Fsll) tiết
ra ít do vậy không đủ kích thích buồng trứng phát dục, vì vậy động dục không bình thường hoặc mất đi Đối với heo nái sau khi tách con, thời gian động dục trở lại dài hay ngắn là phụ thuộc vào sức khoẻ của con mẹ và chế độ dinh dưỡng Động dục mang tính chu kỳ là do sự khống chế của hệ thần kinh trung ương qua phương thức phản xạ thần kinh - thể dịch Nếu thức ăn thiếu Protit hoặc không cân đối về axit amin không thay thế, chu kỳ động dục và rụng trứng không có quy luật nhất là khi thiếu lyzin Khi thiếu Protit, khoáng và vitamin thì chu kỳ tính sẽ kéo dài, bao noãn thành thục chậm, thậm chí bị teo lại làm tỷ lệ thụ thai thấp (Lưu Chí Lăng, 2009)
Ảnh hưởng của dinh dưỡng với heo mang thai: khi nuôi thai có sự thay đổi về trao
đổi chất và khối lượng trung bình trong thời kỳ mang thai, cường độ trao đổi chất của con mẹ tăng lên từ 20%-40% Khối lượng cơ thể tăng lên 20-25% do sự phát triển của bào thai, của tử cung và tuyến vú cũng như sự tích luỹ chất dinh dưỡng của cơ thể mẹ Tốc độ phát triển của bào thai tăng lên rất nhanh ở 1/3 thời gian chửa cuối (Lưu Chí Lăng, 2009)
Theo Lưu Chí Lăng (2009), thai heo ngoại 28 ngày nặng l,5 g; 50 ngày nặng 50 g; 70 ngày nặng 220 g; 90 ngày nặng 400-600 g; 114 ngày nặng 1000-1300 g Khi mang thai, cường độ trao đổi chất của con mẹ tăng lên rõ rệt, đồng hoá mạnh hơn dị hoá, quá trình tích luỹ Protit và khoáng tăng mạnh vào thời gian chửa cuối, nhu cầu tích luỹ của con mẹ gấp 1,5-2 lần bào thai.
b Nhu cầu dinh dưỡng của heo có thai
Nhu cầu nhiệt năng: tích luỹ hằng ngày của heo mang thai cho kết quả sau:
Bảng 1: Nhiệt năng tích luỹ hằng ngày của heo nái chửa (Kcal)
Tu n chửa 2 4 6 8 10 12 14 16
Nhiệt năng tích luỹ (Kcal) 6 21 45 76 115 160 213 273
Tỷ lệ tích luỹ so với tuần cuối 2 8 17 28 42 59 78 100
Ngu n Lưu Chí Lăng (2009)
Đối với các loài gia súc khác cũng thấy kết quả tương tự Do nhiệt năng tích luỹ trong thai tăng lên cho nên nhu cầu về nhiệt năng của gia súc có thai cũng tăng lên Nhiệt năng tăng lên còn đáp ứng nhu cầu trao đổi chất của con mẹ tăng lên, nói chung cần cung cấp cao hơn duy trì 15-20%, thời gian chửa cuối tăng hơn 40% (Lưu Chí Lăng, 2009)
Nhu cầu dinh dưỡng vật nuôi có thai được xác định theo chứa kỳ I và chửa kỳ II (chửa kỳ I ở heo là 0-84 ngày, chứa kỳ II ở heo là 30 ngày) Thời gian đầu, bào thai phát triển chậm nên dinh dưỡng chủ yếu cung cấp cho con mẹ Vì vậy thời gian này chỉ cần cung cấp lượng dinh dưỡng vừa phải Ở thời kỳ chửa cuối, bào thai tăng lên nhanh chóng (2/3 thể trọng thai tăng lên ở 1/3 thời gian chửa cuối), đồng thời tử cung, bầu vú gia súc cái cũng phát triển theo cùng với quá trình tích luỹ của cơ thể
mẹ nên cần phải cung cấp nhiều chất dinh dưỡng mới đảm bảo thai phát triển bình thường (Lưu Chí Lăng, 2009)
Trang 22Nhu cầu về Protit: Theo Lưu Chí Lăng (2009), trong giai đoạn có thai, các tổ chức
cơ thể phát triển rất mạnh, vì vậy cần phải cung cấp đầy đủ protit theo nhu cầu đặc biệt vào thời gian chửa cuối Một số nghiên cứu đã đề nghị: Với heo mang thai, nhu cầu protit cao hơn mức duy trì 32%, giai đoạn chửa cuối tăng gấp 2 lần mức duy trì Người ta có thể dựa vào thí nghiệm nuôi dưỡng để tính ra nhu cầu protit cho heo mẹ
có thai như sau: Trong giai đoạn có thai, heo mẹ tăng khoảng 20-25 kg Tỷ lệ protit trong cơ thể mẹ khoảng 15% Nếu giá trị sinh vật học của khẩu phần là 65%, tỷ lệ tiêu hoá của heo nái là 80% có khối lượng là 100 kg thì ta có thể tính được nhu cầu protit hằng ngày của heo nái như sau:
Nhu cầu tích luỹ protit duy trì: 120 x 0,5 = 60 g (hệ số 0,5 gọi là hệ số chuyển đổi phụ thuộc cơ thể mẹ)
Nhu cầu tích luỹ protit của heo mẹ: 25.000 g ×1 5%/14 = 33 g
Nhu cầu hằng ngày = 60 g + 33 g = 93 g
Nhu cầu protit thô trong thức ăn hằng ngày=93 g/(0,65 x 0,8)= 178,8 g/ngày
Nhu cầu về khoáng: Chất khoáng đối với heo có chửa không kém gì protit Trong đó
Ca, P là hai nguyên tố đa lượng rất cần thiết để tạo bộ xương của thai và duy trì sức khoẻ của con mẹ Đối với heo thường thiếu Ca, lượng Ca cần trung bình 0,4% trong chất khô của khẩu phần (kỳ đầu 0,3%, kỳ cuối 0,5%) Ngoài ra, cần cung cấp đủ vitamin D và cho vật nuôi vận động, tắm nắng hợp lý Các chất khoáng đa lượng và
vi lượng là: Na,Cl, Fe, Cu, Co, I2, Zn, Mg cũng cần được bổ sung đầy đủ theo nhu
cầu Đặc biệt, cần phải cung cấp đầy đủ Fe với số lượng gấp 2-3 lần so với duy trì (Lưu Chí Lăng, 2009)
Bảng 2: Nhu cầu chất khoáng của heo nái (cho 1 kg thức ăn)
TT Chất hoáng Nái chử Nái nuôi con
Ngu n Lưu Chí Lăng (2009)
Nhu cầu Vitamin: theo Lưu Chí Lăng (2009), những loại vitamin rất quan trọng đối
với heo sinh sản có thai là vitamin: A, D, E, C và nhóm B Heo thiếu vitamin A, E kéo dài sẽ dẫn đến teo thai, sảy thai hoặc thai chết yểu Đối với heo có chửa cần cung cấp 3600 UI vitamin A/1kg thể trọng
2.2.3.3 Nhu c ng tiết sữa
Tính chất lý học: Sữa là một nhũ tương màu trắng đục hơi ngà; tỷ trọng 1,025
-1,032; có vị ngọt; mùi thơm, hơi dính; độ pH hơi axit (Lưu Chí Lăng, 2009)
Thành phần hoá học: theo Lưu Chí Lăng (2009), Các loài động vật khác nhau thì
thành phần hoá học của sữa cũng khác nhau, đó là nguyên nhân gây ra sự khác nhau
về cường độ sinh trưởng giữa chúng
Trang 23Trong giai đoạn 7- 10 ngày sau đẻ, phẩm chất sữa đầu khác nhiều so với sữa thường Đặc điểm của sữa đầu có độ đậm đặc cao, màu vàng Trong thành phần có hàm lượng protit cao nhất là globulin, chất khoáng có chứa nhiều Ca, P, Fe, Mg và nhiều vitamin các loại
Bảng 3: Thành phần sữa đầu của heo (%)
Ngu n Lưu Chí Lăng (2009)
Chính vì thành phần dinh dưỡng cao lại có chất tẩy nhẹ đường tiêu hoá nên trong mọi trường hợp phải cho gia súc non bú đủ sữa đầu vừa có dinh dưỡng cao, vừa có sức đề kháng cho gia súc (Lưu Chí Lăng, 2009)
2.2.3.4 con
a Đặc điểm
Theo Lê Đức Ngoan (2014), heo nái nuôi con kéo dài 3 đến 6 tuần (có khi 7 tuần) Trước đây ở Việt Nam, thời gian cai sữa bình quân của heo con là 45 ngày tuổi Tuy nhiên, thời gian cai sữa rút ngắn đến 21 ngày hiện nay Năng suất sữa tối đa vào khoảng tuần tiết sữa thứ 4 và giảm dần Năng suất sữa còn phụ thuộc giống, tuổi và
số con trên ổ Năng suất tăng cùng số con trên ổ tăng, mặc dù có thể năng suất sữa tính cho một con heo con giảm Năng suất sữa của nái mẹ nặng cân cao hơn nái có khối lượng thấp Năng suất sữa (Y) của heo nái có thể ước tính theo công thức:
Y (kg/ngày) = a e-ct u
Trong đó, a là hệ số, t là ngày tiết sữa, u = e-(G - B1t)
và được xem là mức thành thục của tuyến vú tại thời điểm đẻ và e-ct là tốc độ giảm khả năng tiết sữa
b Nhu cầu năng lượng
Xác định bằng phương pháp nhân tố
Nhu cầu năng lượng cho heo nái nuôi con bằng nhu cầu duy trì cộng nhu cầu tiết sữa
và trừ đi (có thể) lượng năng lượng sản sinh do dị hóa trong cơ thể Nhu cầu duy trì (NEm) được tính theo công thức: NEm = 0,439W0.75
MJ NE Nhu cầu cho tiết sữa bằng giá trị năng lượng thô của sữa nhân với năng suất sữa Giá trị năng lượng thô trung bình của sữa heo là 5,2 MJ/kg Hiệu quả sử dụng năng lượng trao đổi để tạo
sữa là 0,65 và như vậy, nhu cầu để tạo 1 kg sữa là 8 MJ ME (= 5,2/0,65) Dị hóa: Mô
cơ thể dị hóa để tạo năng lượng cho sự hình thành sữa, giả sử là 0,85 của mỡ và vì vậy năng lượng thô hình thành là 39,4 x 0,85 = 33,5 MJ/kg Hiệu quả chuyển hóa năng lượng thô cho sữa là 0,85 (Lê Đức Ngoan, 2014)
Trang 24Phương pháp nuôi dưỡng
Nhu cầu năng lượng cho heo ở thời kỳ nuôi con (tiết sữa) được ước tính dựa vào tốc
độ phát triển của heo con đang bú và số lượng heo con trong đàn (Lê Đức Ngoan, 2014) như sau: GE1= (4,92 x G x n) - (90 x n) (kcal GE/ngày)
Trong đó, G là tăng trọng của heo (g/ngày/con); và n: số con trong lứa; 4,92 là GE của tăng trọng (kcal/g) và 90 là hằng số Ví dụ, một heo nái sinh 10 con, tăng trọng bình quân trong giai đoạn bú sữa là 100 g/ngày/con Nhu cầu năng lượng cho heo nái tiết sữa là 4.020 kcal GE/ngày (4,92 x 100 x 10 – 90 x 10)
Theo Lê Đức Ngoan (2014), nếu hiệu quả sử dụng năng lượng thô thức ăn (GE) để hình thành năng lượng sữa (ME) là ql = 0,72 Công thức xác định nhu cầu năng lượng (tính theo ME) sẽ là: MEl = (6,83 x G x n) – (125 x n)
Trong trường hợp mất mát nhiều năng lượng và dẫn đến cân bằng năng lượng âm, thì
cơ thể sẽ huy động năng lượng từ mỡ cho tạo sữa và hệ số là 0,88 (Lê Đức Ngoan, 2014)
Phương pháp nhân tố
Theo ARC (1980), nhu cầu năng lượng cho heo nái tiết sữa tính theo năng lượng tiêu hóa (DEl): DEl =DEm + D (Trong đó, DEm là nhu cầu duy trì = 0,5W0,75; D là năng lượng của sữa tiết ra hàng ngày, tính bằng năng lượng của 1 kg (8,8 MJ DE) nhân với lượng sữa tiết (kg)) Ví dụ, một heo nái 100 kg nuôi 10 con heo con, lượng sữa tiết ra hàng ngày 2,5 kg, nhu cầu năng lượng sẽ là: 37 MJ DE (31,6 x 0,5 + 2,5 x 8,8)
Nhu cầu năng lượng cho heo nái tiết sữa còn được tính theo năng lượng trao đổi (ME) thì có thể như sau: MEl = MEm + M + Meg Trong đó, Mem là năng lượng cho tiết sữa: 0,44 MJ/kgW0,75; M là năng lượng trao đổi trong sữa tiết ra hàng ngày, bằng
8 MJ ME x sản lượng sữa (8 MJ = 5,2/0,65); và MEg là năng lượng cho tăng trọng,
cứ 1 kg tăng trọng cần 43,8 MJ ME x khối lượng tăng (Lê Đức Ngoan, 2014)
c Nhu cầu protein
Heo nái cũng rất cần protein trong giai đoạn nuôi con Heo nái có khả năng chuyển hóa rất hiệu quả protein vào sữa Nhu cầu protein cho heo nái có thể được ước tính hay xác định bằng nhiều phương pháp khác nhau
Phương pháp nhân tố
Nhu cầu protein cho heo tiết sữa là tổng nhu cầu duy trì và nhu cầu cho sản xuất sữa
và có thể có thêm nhu cầu cho heo mẹ tăng trọng
Nhu cầu protein cho heo nái nuôi duy trì thường được tính theo công thức (Lê Đức Ngoan, 2014): 0,45 x W (g); Trong đó, W là khối lượng cơ thể Hoặc, nhu cầu protein duy trì có thể tính theo công thức= 0,15 x 0,06 x %Pr chu chuyển xW
Nhu cầu cho sản xuất sữa tính bằng tích số giữa sản lượng sữa (kg) với hàm lượng protein trong 1 kg sữa; Đây là lượng protein tích lũy có trong sữa Vì vậy, dựa vào hiệu quả sử dụng protein thức ăn cho tạo sữa để tính ra lượng protein thô có từ thức
ăn Với khẩu phần truyền thống, hiệu quả này là 33% Một heo nái có khối lượng
200 kg, sản xuất 8 kg sữa/ ngày, sữa có tỷ lệ protein là 5,7%; Biết giá trị sinh học của protein là 70% và tỷ lệ tiêu hóa protein thức ăn là 80%; Nhu cầu protein (CP) là 975
g CP/ngày (200x 0,45 + 8 x 57)/(0,7 x 0,8) Nếu heo nái ăn 6 kg thức ăn/ngày thì lượng protein có trong 1 kg thức ăn là 975/6 = 162,5 g, hay tỷ lệ CP trong thức ăn là 16,3% (Lê Đức Ngoan, 2014)
Trang 25d Nhu cầu chất khoáng
Những thí nghiệm cân bằng khoáng của Lê Đức Ngoan (2014) cho thấy, hiệu quả sử dụng Ca, P lần lượt khoảng 0,47 và 0,5 Thành phần Ca, P trong sữa của heo nái bình quân là 2,5 g Ca/kg sữa và 1,7g P/kg sữa Nếu bình quân hàng ngày heo nái sản xuất
ra 8 kg sữa thì sẽ cung cấp 20g Ca và 13,6 g P Nếu tính lượng mất mát hàng ngày với Ca là 3,2 g/100 kg thể trọng và P là 2 g/100 kg thể trọng Thì nhu cầu Ca và P tổng số cần cung cấp cho nái có khối lượng cơ thể 200 kg là: 56,2 g Ca (3,2 x 2 + 8 x 2,5)/0,47) và 35 g P/ngày (2 x 2 + 8 x 1,7)/0,5 Nếu heo nái ăn 6 kg hỗn hợp/ngày thì cần cung cấp 9,4 g Ca (56,2/6) hay 0,94% và tương tự, lượng P sẽ là 6 g P (35/6) hay 0,6%
2.2.4 Sinh sản trên heo nái
2.2.4.1 Tinh heo
Ngày nay, việc gieo tinh nhân tạo đã trở thành một phần không thể thiếu trong chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi heo công nghiệp Những lợi ích to lớn cho ngành chăn nuôi nhờ gieo tinh nhân tạo trên heo đã được chứng minh trong nhiều thập kỷ qua tại Việt Nam Có thể tóm tắt những lợi ích của việc gieo tinh nhân tạo là giúp tăng hiệu quả sử dụng heo giống, tăng đàn nhanh, áp dụng nhanh những tiến bộ di truyền, cải tạo nhanh chất lượng giống, phục vụ đắc lực cho công tác giống trong chăn nuôi heo qui mô lớn (Hồ Thị Nga & Nguyễn Vạn Tín, 2017)
Theo Hồ Thị Nga và Nguyễn Vạn Tín (2017), từ việc ứng dụng gieo tinh nhân tạo cho heo để phục vụ sản xuất, chất lượng liều tinh pha, môi trường và những biện pháp bảo quản tinh dịch luôn là mối quan tâm rất lớn của những người làm công tác giống tại các trang trại nuôi heo qui mô lớn hay những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ Chất lượng liều tinh, ngoài các tiêu chí về nồng độ, hoạt lực thì tình trạng của tinh trùng là một yếu tố rất quan trọng để đánh giá chất lượng của liều tinh pha Hoạt lực cũng như khả năng sống và gây đậu thai của tinh trùng trong liều tinh được quyết định bởi môi trường, cách bảo quản cũng như thời gian bảo quản Một số cơ sở chăn nuôi heo đực giống, sau khi thu thập, pha chế tinh sẽ tiến hành gieo tinh cho heo nái ngay và (hoặc) bảo quản cho lần gieo tiếp theo hay để cung cấp liều tinh ra thị trường
Kết quả khảo sát của Hồ Thị Nga và Nguyễn Vạn Tín (2017), cho thấy: nồng độ tinh trùng trong liều tinh thời điểm giờ thứ 1 sau pha chế thấp nhất là 3,3 tỷ và cao nhất là 7,08 tỷ; hoạt lực thấp nhất là 75% và cao nhất là 92%; tỷ lệ chết thấp nhất là 2,84%
và cao nhất là 20,35%; tỷ lệ kỳ hình thấp nhất là 2,58% và cao nhất là 12,47%; tỷ lệ
hư hại acrosome thấp nhất là 3,3% và cao nhất là 13,4% Đến giờ thứ 8 bảo quản, hoạt lực tinh trùng thấp nhất là 47,42% và cao nhất là 75,58%; tỷ lệ chết thấp nhất là 5,86% và cao nhất là 46,56%; tỷ lệ hư hại acrosome thấp nhất là 10,25% và cao nhất
là 20,60% Tỷ lệ tinh trùng còn sống, không bị kỳ hình và còn nguyên vẹn acrosome (tinh trùng có thể tiến thẳng, gặp và phá vỡ màng tế bào trứng) đến giờ thứ 8 thấp nhất là 28,84% và cao nhất là 78,14%; giờ thứ 24 tỷ lệ này thấp nhất là 17,15% và cao nhất là 55,54%
Một nghiên cứu của Mai Công Hạc và Lê Công Cảnh (2009), được tiến hành tại Trung tâm Chăn nuôi Vĩnh Phúc để đánh giá chất lượng tinh trùng của heo Landrace
và Yorkshire Có vẻ như chất lượng tinh dịch của heo tốt hơn vào mùa đông-mùa xuân.Thể tích tinh dịch, hoạt tính, tỷ lệ phần trăm và nồng độ tinh trùng của
Landrace là 254,6 ml, 77%, 319,3 triệu vào mùa đông-mùa xuân và 228,3 ml, 73%,
256,8 triệu trong mùa Hè Thu Tương tự thể tích tinh dịch, hoạt tính, tỷ lệ phần trăm
và nồng độ tinh trùng của Yorkshire là 239,3 ml, 76%, 317,2 triệu vào mùa đông -
Trang 26mùa xuân và lần lượt là 213,3 ml, 72%, 280,6 triệu vụ hè thu Sử dụng môi trường Modena để pha loãng và trữ lượng tinh dịch cho thời gian lưu trữ lâu hơn (= 52,66 giờ) và tỷ lệ thụ thai cao hơn (84,3%) so với môi trường BTS (= 30,36 giờ và
76,6%) Kết luận rằng chất lượng tinh dịch của heo đực tốt hơn nhờ môi trường
Modena có thể là một giải pháp thay thế để pha loãng và bảo quản tinh dịch
Theo Nguyễn Thế Thao (2014), sự thụ tinh xảy ra khi trứng gặp tinh trùng tạo hợp
tử Có 4 giai đoạn: Tế bào trứng ở giai đoạn chuẩn bị; Tinh trùng kết hợp với tế bào trứng; Sự đồng hóa giữa trứng và tinh trùng; Sự kết hợp giữa nhân giao tử đực và cái
Quá trình di chuyển của trứng trong cơ quan sinh dục cái : Noãn bao thành thục ->
chín -> tế bào trứng thoát khỏi buồng trứng -> loa kèn -> ống dẫn trứng Thời gian tế bào trứng ra khỏi buồng trứng và di chuyển trong ống dẫn trứng để tìm tinh trùng của heo: 8-12 giờ, thời gian rụng trứng của heo: thường vào ngày thứ hai (Nguyễn Thế Thao, 2014)
Sự di chuyển của tinh trùng: Tinh trùng phải có mặt tại 1/3 phía trên của ống dẫn trứng để thụ tinh Quá trình di chuyển phụ thuộc vào: Phương thức phóng tinh; Khả
năng vận động của tinh trùng; Phản xạ hưng phấn của con cái Thời gian di chuyển trung bình của tinh trùng heo: 1,5-3 giờ (Nguyễn Thế Thao, 2014)
2.2.4.3 S mang thai
Theo Nguyễn Thế Thao (2014), quá trình phát triển của thai gồm có:
Sự làm tổ của hợp tử: Hợp tử sống ở ống dẫn trứng nhờ dinh duỡng từ noãn hoàng
và dịch tiết ống dẫn trứng 3-4 ngày sau hợp tử di chuyển về làm tổ tại tử cung Quá
trình di chuyển của hợp tử nhờ vào sự co giãn của vòi trứng dưới tác động của
progesteron Thời gian làm tổ của hợp tử heo 12-24 ngày
Các thời kỳ phát triển của phôi:
Thời kỳ trứng: tế bào trứng thụ tinh đến khi hình thành nang phôi, túi phôi 8-10 ngày sau thụ tinh
Thời kỳ phôi thai: hình thành các tế bào và các cơ quan hệ thống cơ thể: ở gia súc lớn
từ ngày 11 đến ngày 40
Thời kỳ bào thai; thời kỳ cuối cho đến khi sinh đẻ Phân hóa kết cấu cực tiểu của tế bào và cơ quan, là thời kỳ bào thai phát triển nhanh chóng
Sự phát triển của bào thai qua các tháng:
Tháng 1: thai 3 tuần dài 0,6 cm, 30 ngày thai dài 1,6-1,8 cm Các cơ quan bắt đầu hình thành
Tháng 2: tất cả các cơ quan bên trong đã phát triển, bào thai thành hình, có thể phân biệt giới tính, 5 tuần thai dài 3 cm, 8 tuần dài 8 cm
Tháng 3: lông hình thành, sắp đến ngày sinh, lông mọc đầy đủ, hộp sọ cứng, có răng cửa Thai dài 20-25 cm
ữ ế ổi khi có thai
Biến đổi toàn thân: Nhờ kích tố hoàng thể và nhau thai nên ăn uống, trao đổi chất
nâng cao cơ thể béo; Kỳ cuối, do nhu cầu của bào thai, cơ thể mẹ gầy; Nhu cầu canxi
& photpho cao; Nhu cầu oxy cao; Đi lại hoạt động nặng nề, chậm chạp, chóng mệt mỏi (Nguyễn Thế Thao, 2014)
Trang 27Theo Nguyễn Thế Thao (2014), sự thay đổi cơ quan sinh dục gồm:
Buồng trứng: Khi gia súc có thai, trên bề mặt buồng trứng xuất hiện thể vàng, số
lượng thể vàng nhiều hơn số bào thai
Tử cung: Khối lượng tăng 5-20 lần, kích thước, thể tích tăng hàng trăm lần
Thay đổi hocmon: bào thai phát triển nhờ vào hocmon buồng trứng, nhau thai và
tuyến yên: Nửa đầu thời kỳ mang thai, nhau thai tiết ra Prolan B -> thể vàng phát
triển tăng tiết Progesteron, tiết Folliculin Kiềm chế sự tiết Gonado Stimulin A->
không phát triển noãn bao và hiện tượng rụng trứng Nửa thời kỳ sau: hàm lượng Progesteron giảm dần trong máu Folliculin tăng lên mức tối đa Folliculin kích thích
co thắt tử cung, thuận lợi cho quá trình sinh đẻ (Nguyễn Thế Thao, 2014)
2.2.4.5 ả
Nghiên cứu Nguyễn Phương Thúy và cs (2015), được thực hiện nhằm đánh giá năng suất sinh sản, ước tính hệ số di truyền, hệ số lặp lại và định hướng chọn lọc 2 tính trạng số con sơ sinh sống và số con cai sữa/ổ đối với đàn nái cụ kỵ của Công ty TNHH lợn giống hạt nhân Dabaco Các dữ liệu về hệ phổ, năng suất sinh sản của 3 giống thuần Duroc, Landrace và Yorkshire tương ứng với 85, 267 và 321 heo nái;
208, 649 và 919 ổ đẻ trong thời gian từ 2012 tới 2015 đã được thu thập và xử lý tính toán thống kê, ước tính hệ số di truyền, hệ số lặp lại và dự đoán giá trị giống Năng suất sinh sản của 3 giống thuần đạt được ở mức khá cao (nái Duroc, Landrace và Yorkshire có số con sơ sinh sống/ổ tương ứng là 9,33; 10,48 và 10,85; số con cai sữa/ổ tương ứng là 9,71; 10,35 và 10,31) Hai tính trạng này đều có hệ số di truyền
và hệ số lặp lại thấp (h2 = 0,04-0,08; R = 0,05-0,11) và có mức biến động lớn Áp dụng phương pháp BLUP dự đoán giá trị giống đối với 2 tính trạng này đã đạt được mối tương đồng giữa giá trị giống của heo mẹ và giá trị giống của đời con Biến động
về khuynh hướng di truyền qua các năm cho thấy sự cần thiết của định hướng chọn lọc theo phương pháp BLUP nhằm cải tiến di truyền đối với 2 tính trạng này trên đàn nái cụ kỵ nuôi tại công ty
2.2.5 Sinh trưởng củ h o
2.2.5.1 Tiêu hoá ở heo con
Từ sơ sinh đến khoảng 5 tuần tuổi, hàm lượng và hoạt tính của enzyme tiêu hoá ở lợn con khác nhiều với heo trưởng thành Vài ngày đầu mới sinh protein tự nhiên có khả năng thấm qua ruột Đối vưới heo con cũng như nhiều gia súc non khác, đây là điều cần thiết cho vận chuyển γ-globulin từ sữa mẹ đến gia súc mới sinh Khả năng hấp thu loại protein này giảm nhanh ở heo con và rất thấp ở 24 giờ sau khi sinh (Lê Đức Ngoan, 2008)
Lúc đầu thì dạ dày heo con tiết hạn chế HCl và pepsinogen nhưng tiết nhiều chymosin Enzyme này hoạt động ở pH 3,5 để bẻ gãy liên kết peptit giữa phenylalanin và methionin trong cazein Nó làm đông vón sữa vì vậy tránh tràn chất dinh dưỡng qua ruột non Khi heo lớn dần thì HCl và pepsinogen tăng tiết Hoạt động của các enzyme thuỷ phân đường cũng thay đổi Hoạt tính của lactase cao nhất
ở tuần tuổi đầu và giảm dần sau tuần thứ 3 và 4 Hoạt tính maltase tăng từ tuần thứ tư trong khi sucrase đạt mức ổn định lúc 4-8 tuần Hoạt tính của α-amylase có ngay lúc mới sinh và duy trì mức thấp đến tuần thứ 4 Vì vậy cần chú ý khi nuôi heo con bởi các loại thức ăn bổ sung nhằm cai sữa sớm (Lê Đức Ngoan, 2008)