CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống cá Trèn Bầu Ompok bimaculatus Bloch, 1797”, do tác giả Lê Văn Lễnh, công tác tại Khoa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
NGHIÊN CỨU SINH SẢN NHÂN TẠO VÀ
ƯƠNG NUÔI GIỐNG CÁ TRÈN BẦU
(Ompok bimaculatus)
LÊ VĂN LỄNH
AN GIANG, THÁNG 12 NĂM 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
NGHIÊN CỨU SINH SẢN NHÂN TẠO VÀ ƯƠNG NUÔI GIỐNG CÁ TRÈN BẦU
(Ompok bimaculatus)
LÊ VĂN LỄNH
AN GIANG, THÁNG 12 NĂM 2014
Trang 3CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống cá
Trèn Bầu (Ompok bimaculatus Bloch, 1797)”, do tác giả Lê Văn Lễnh, công tác tại
Khoa Nông Nghiệp & TNTN – Trường Đại học An Giang thực hiện Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày …
Thư ký
Chủ tịch Hội đồng
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiêm Khoa Nông Nghiệp và TNTN, Phòng Quản Lý Khoa Học và Hợp Tác Quốc Tế Trường Đại học An Giang
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn chỉnh đề tài
An Giang, ngày 10 tháng 12 năm 2014
Người thực hiện
Lê Văn Lễnh
Trang 5TÓM TẮT
Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống cá Trèn Bầu (Ompok
bimaculatus) là cần thiết Mục tiêu là bổ sung dữ liệu để hoàn thiện qui trình sản xuất
giống để cung cấp giống cho người nuôi thương phẩm loài cá này Nội dung của nghiên cứu này là: kích thích cá Trèn Bầu sinh sản bằng các chất kích thích và liều lượng khác nhau; ương cá Trèn Bầu từ bột lên giống bằng các loại thức ăn khác nhau tại An Giang
Kết quả của đề tài: (1) Dùng chất kích thích sinh sản là LHRH-a + DOM, HCG và Não thùy đều kích thích cá sinh sản LHRH-a + DOM liều lượng từ 25 – 225 µg/kg
cá cái kết quả ở liều 100 và 225 µg kích thích cá đẻ; HCG liều lượng từ 500 – 3500 UI/kg cá cái kết quả hai liều 500 và 1000 UI/kg không kích thích cá sinh sản; Não thùy dùng liều lượng 15 – 35 mg/kg cá cái thì tất cả đều kích thích cá sinh sản Thời gian hiệu ứng dao động từ 7,5 – 9 giờ đối với các chất kích thích Sức sinh sản thực
tế dao động từ 48 – 158 trứng/g cá cái Tỷ lệ thụ tinh từ 68 – 93% Tỷ lệ nở từ 80 – 91% Tỷ lệ sống cá bột sau 2 ngày 75 – 88% Thời gian phát triển phôi và cá Trèn Bầu hết noãn hoàng từ 20 – 24 giờ Kích thước trứng cá Trèn Bầu dao động 1,0 – 1,3
mm, trứng cá Trèn Bầu thuộc loại trứng chìm (dính nhẹ) (2) Tăng trưởng về khối lượng và chiều dài cá sau 60 ngày ương với các loại thức ăn khác nhau thì NT1 (ĐVTM), NT2 (cá tạp) và NT3 (Trùn chỉ) cho tăng trưởng tốt hơn NT4 (TACN) Sự phân đàn cá Trèn Bầu thấp ở NT1 và NT3 Tỷ lệ sống thấp nhất là NT4 (37%) và cao nhất NT3 (58%) Như vậy thức ăn thích hợp nhất để ương cá Trèn Bầu từ cá bột đến
cá 60 ngày tuổi là trùn chỉ
Từ khóa: Ompok bimaculatus, cá Trèn Bầu An Giang, sinh sản cá Trèn, ương giống
cá Trèn
Trang 6Research on the artificial biology reproduction and breed of the Ompok
bimaculatus is essential The objective of the research is to support some biological
data for completing breeding production process to provide raiser the commercial
article of this fish The content of this study consists of irritating the Ompok
bimaculatus to generate by using stimulator and the various dosage; and breeding the Ompok bimaculatus from fry to fingering by the variety of food in An Giang
Basing on the results of the study, the researcher found that (1) using the generating stimulator LHRH-a + DOM, HCG and brain lobes both irritated the
Ompok bimaculatus to gererate The 25 – 225 µg/kg female fish dosage stimulated
the fish to generate at 100 và 225 µg; the HCG 500 – 3500 UI/kg female fish dosage did not stimulate the fish to generate at 500 and 1000 UI/kg; the usage of 15 – 35 mg/kg female fish of brain lobes stimulated the fish to generate in all of the dosage The effective time fluctuated from 7.5 – 9 hours to the stimulators The practical fecundity ranged
48 – 158 eggs/g female fish The inseminating rate was 68 – 93% The hatching rate was 80 – 91% The surviving after 2 days rate was 75 – 88% The embryo growth
and the Ompok bimaculatus ovule termination time was 20 – 24 hours The egg size
fluctuated 1,0 – 1,3 mm, the eggs were sinkable and rather sticky (2) The length and weight augment after 60 breeding days with the variety of food showed that NT1
(ĐVTM), NT2 (trash fish) và NT3 (Tubifex tubifex) helped Ompok bimaculatus grow
better than NT4 (TACN) The group separation was low to NT1 and NT3 The surviving rate was lowest to NT4 (37%) and highest to NT3 (58%) Therefore, the
most suitable food to breed the Ompok bimaculatus from fry to 60-day fish was
Tubifex tubifex
Keywords: Ompok bimaculatus, An Giang Ompok bimaculatus, the Ompok bimaculatus generation, the Ompok bimaculatus breeding
Trang 8MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cần thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Nội dung nghiên cứu 2
1.5 Những đóng góp của đề tài 2
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 3
2.2 Lược khảo vấn đề nghiên cứu 3
2.2.1 Phân loại 3
2.2.2 Phân bố, môi trường sống 3
2.2.3 Hình thái 4
2.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng 5
2.2.5 Đặc điểm sinh trưởng 7
2.2.6 Đặc điểm sinh học sinh sản 8
2.2.7 Chất kích thích sinh sản 12
2.2.8 Thức ăn ương cá Trèn Bầu 14
2.2.9 Sơ lược nhu cầu dinh dưỡng của họ cá Trèn Bầu 16
2.3 Câu hỏi nghiên cứu 17
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Mẫu nghiên cứu 18
3.2 Thiết kế nghiên cứu 18
3.2.1 Thí nghiệm 1: Kích thích sinh sản nhân tạo cá Trèn Bầu bằng các loại chất kích thích và liều lượng khác nhau 18
3.2.2 Thí nghiệm 2: Ương cá Trèn Bầu đến 60 ngày tuổi bằng các loại thức ăn khác nhau 19
3.2.3 Phương pháp phân tích 20
3.3 Công cụ nghiên cứu 23
3.4 Tiến trình nghiên cứu 23
3.5 Phân tích dữ liệu 23
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Thí nghiệm 1: Kích thích sinh sản cá Trèn Bầu bằng các loại chất kích thích và liều lượng khác nhau 24
4.1.1 Nghiệm thức 1: Kích thích sinh sản nhân tạo cá Trèn Bầu bằng LHRH-a + DOM 24
4.1.2 Nghiệm thức 2: Kích thích sinh sản nhân tạo cá Trèn Bầu bằng HCG 27
4.1.3 Nghiệm thức 3: Kích thích sinh sản nhân tạo cá Trèn Bầu bằng Não thùy 28
4.1.4 Kích thước trứng cá Trèn Bầu 29
4.1.5 Quá trình phân cắt và phát triển phôi của cá Trèn Bầu 29
4.2 Thí nghiệm 2: Ương cá Trèn Bầu từ cá bột đến 60 ngày tuổi bằng các loại thức ăn khác nhau 32
Trang 94.2.1 Các chỉ tiêu môi trường 32
4.2.2 Tăng trưởng về khối lượng và chiều dài của cá 34
4.2.3 Sự phân đàn của cá Trèn Bầu 40
4.2.4 Tỷ lệ sống 41
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Khuyến nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng một số loài cá họ Siluridae 7
Bảng 2: Các yếu tố môi trường trong bể cá đẻ và bình ấp trứng 24
Bảng 3: Kết quả các chỉ tiêu sinh sản cá Trèn Bầu khi dùng LHRH-a + DOM 25
Bảng 4: Kết quả các chỉ tiêu sinh sản cá Trèn Bầu khi dùng HCG 27
Bảng 5: Kết quả các chỉ tiêu sinh sản cá Trèn bầu khi dùng Não thùy 28
Bảng 6: Quá trình phân cắt và phát triển phôi của cá Trèn Bầu trong sinh sản 30
Bảng 7: Một số yếu tố môi trường trong bể ương 33
Bảng 8: Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng khối lượng cá Trèn Bầu 34
Bảng 9: Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng chiều dài cá Trèn Bầu 38
Bảng 10: Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá Trèn Bầu từ 1 – 60 ngày 39
Bảng 11: Ảnh hưởng thức ăn lên sự phân đàn của cá Trèn Bầu 40
Bảng 12: Ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ sống cá Trèn Bầu sau 60 ngày ương 41
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Bảng đồ phân bố cá Trèn Bầu (EOL, 2013) 4
Hình 2: Cá Trèn Bầu (Ompok bimaculatus) 5
Hình 3: Hình dạng miệng và răng cá Trèn Bầu (Võ Thanh Tân, 2012) 6
Hình 4: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá Trèn Bầu (n = 360) (Võ Thanh Tân, 2012) 8
Hình 5: Hình dáng bên ngoài của cá Trèn Bầu đực (trên) và cái (dưới) (Võ Thanh Tân, 2012) 9 15 Hình 6: Tương quan giữa khối lượng thân (W) với sức sinh sản tuyệt đối (F) của cá Trèn Bầu (Võ Thanh Tân, 2012) 11
Hình 7: Sò huyết làm thức ăn ương cá Trèn Bầu 14
Hình 8: Cá tạp cho cá Trèn Bầu ăn 14
Hình 9: Trùn chỉ cho cá Trèn Bầu ăn 15
Hình 10: Thức ăn công nghiệp 16
Hình 11: Cá Trèn Bầu bố mẹ 18
Hình 12: Mô tả thí nghiệm 1 19
Hình 13: Mô tả thí nghiệm 2 20
Hình 14: Cá Trèn Bầu đang đẻ 25
Hình 15: Trứng cá Trèn Bầu mới đẻ 26
Hình 16: Cá Trèn Bầu mới nở 26
Hình 17: Quá trình phân cắt và phát triển của phôi cá Trèn Bầu 31
Hình 18: Cá Trèn Bầu mới nở 32
Hình 19: Cá Trèn Bầu sau 15 ngày ương 35
Hình 20: Cá Trèn Bầu 30 ngày tuổi 36
Hình 21: Cá Trèn Bầu sau 45 ngày ương 36
Hình 22: Cá Trèn Bầu 60 ngày (kết thúc thí nghiệm) 37
Hình 23: Chiều dài cá Trèn Bầu 60 ngày (kết thúc thí nghiệm) 39
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long
HCG: Human Chorionic Gonadotropin
SSS: Sức sinh sản
TACN: Thức ăn công nghiệp
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hệ thống sông Mekong là một trong những hệ thống sông lớn nhất và màu mỡ nhất trên thế giới Nó cung cấp thực phẩm và sinh kế cho hàng triệu cư dân Sông Mekong chứa đựng một trong những khu hệ cá phong phú và đa dạng nhất trên thế giới Thống kê của MRC (2008) cho biết có ít nhất 1.200 loài cá đang sống ở đây đại diện cho nhiều họ, đa dạng về mặt hình thái và đời sống, ở hạ lưu sông Mekong sản lượng nghề cá nội địa ít nhất là hai triệu tấn/năm và chắc chắn là gần ba triệu
tấn/năm, làm cho nghề đánh cá ở đây thành nghề lớn trên thế giới (Poulsen và cs,
2005)
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở hạ lưu sông Mekong cũng được thừa hưởng trữ lượng dồi dào của tài nguyên thủy sản trên con sông này với các loài cá có
giá trị kinh tế như cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus), cá Ba Sa (Pangasius
bocourti), cá Bông Lau (Pangasius krempfi) và không thể không kể đến họ Siluridae
mà tiêu biểu là cá Leo (Wallago attu), cá Kết (Micronema bleeleri), cá Trèn Bầu (Ompok bimaculatus) (Poulsen và cs, 2005)
Cá Trèn Bầu có phạm vi phân bố rộng từ Afghanistan tới Trung Quốc, Thái Lan, Borneo (Indonesia), Ấn Độ, Myanmar, Lào, Campuchia và Việt Nam Cá sống ở các thủy vực tự nhiên như sông, suối, kênh rạch và những vùng ngập trong mùa lũ có
nước chảy nhẹ, thích sống ở nơi nước nông (Poulsen và cs, 2005)
Cá Trèn Bầu có kích thước thường gặp 25,4 – 31 cm ứng với khối lượng 90 – 180
g, kích cỡ tối đa đạt 50 cm (MRC, 2008), là loài cá có chất lượng thịt thơm ngon nên
từ lâu đã trở thành một trong những sự lựa chọn hàng đầu trong thực đơn của người nội trợ Lượng cá cung cấp cho thị trường là do đánh bắt ngoài tự nhiên Tuy nhiên, những năm gần đây do tác động của biến đổi khí hậu, sự phát triển kinh tế, ô nhiễm môi trường nước, khai thác thủy sản ngày càng gia tăng đã và đang ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước và thủy sản làm cho nguồn lợi này đang giảm rõ rệt và
cá Trèn Bầu không ngoại lệ, tuy chưa có những thống kê về sự suy giảm sản lượng của loài cá này trên sông nhưng việc hạn chế dần sự có mặt cùng với giá cả tăng cao trên thị trường (ngoài chợ) của cá Trèn Bầu đã nói lên điều đó
Để góp phần ngăn chặn sự suy giảm nguồn lợi cá Trèn Bầu tự nhiên, cũng như đa dạng sinh học các giống loài thủy sản và phát triển các loài cá bản địa, sản xuất giống
cá là biện pháp quan trọng để bảo vệ và phục hồi nguồn lợi cá Trèn Bầu Vì vậy, đề
tài “Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống cá Trèn Bầu (Ompok
bimaculatus Bloch, 1797)” được thực hiện
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Dựa trên kết quả ban đầu về sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống cá Trèn Bầu,
bổ sung thêm một số dữ liệu khoa học tiến tới hoàn thiện qui trình sản xuất giống nhận tạo loài cá này
Trang 141.3 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là cá Trèn Bầu (Ompok bimaculatus Bloch, 1797)
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài tiến hành một số nội dung sau:
(1) Kích thích sinh sản nhân tạo cá Trèn Bầu bằng các loại chất kích thích và liều lượng khác nhau
(2) Ương cá Trèn Bầu đến 60 ngày tuổi bằng các loại thức ăn khác nhau
(3) Khảo sát một số chỉ tiêu môi trường nước: nhiệt độ, pH, Oxy hòa tan (DO),
NH3/NH4+, NO2-
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho cán bộ giáo viên làm đề tài, phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu;
Đào tạo sinh viên chuyên ngành nuôi trồng thủy sản;
Cung cấp một số dẫn liệu ban đầu liên quan đến sinh sản, tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Trèn Bầu nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện quy trình sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống cá Trèn Bầu;
Đây là một trong những đối tượng nuôi mới có ưu thế phát triển trong tương lai, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi nhằm tăng thu nhập cho người dân;
Góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi, giảm áp lực khai thác ngoài tự nhiên, giúp cân bằng sinh thái
Trang 15CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương giống cá là nghiên cứu thật sự cần thiết, tạo
ra được con giống cho người nuôi thương phẩm Đặc biệt cá Trèn Bầu là một loài cá mới và bản địa của sông Mekong có giá trị kinh tế, cho nên cần phải được bảo tồn và nuôi thương phẩm loài cá này
2.2 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tên tiếng Anh: Butter catfish
Tên địa phương: Cá Trèn Bầu
Tên đồng danh: Theo Mai Đình Yên và cs (1992), Trương Thủ Khoa và cs (1993)
Ompok bimakulatus Theo MRC (2008) Ompok krattensis
2.2.2 Phân bố, môi trường sống
Họ Siluridae được ghi nhận phân bố phổ biến rộng rãi khắp châu Á, trong các con
sông của Afghanistan tới Trung Quốc, Thái Lan và Borneo, từ nước lợ đến nước ngọt, sông sâu rộng, nông cạn, nhiều bùn đáy, đến suối kênh, rạch (Froese, R and D Pauly, 2005)
Riêng cá Trèn Bầu, được ghi nhận sự hiện diện của loài cá này từ Afghanistan đến Trung Quốc, Thái Lan, Borneo, từ Ấn Độ đến Indonesia, Java, Sumatra, Murma, Bangladesh, Sri Lanka Cá được tìm thấy ở sông, kênh, rạch, ruộng trong những khu
vực này (Nguyễn Thanh Tùng và cs, 2007)
Trang 16Hình 1: Bảng đồ phân bố cá Trèn Bầu (EOL, 2013) Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), cá Trèn Bầu phân bố rất rộng từ Ấn Độ đến Thái Lan, Lào, Campuchia, Miến Điện, Indonesia, Malaysia, Việt Nam Ở Việt Nam, cá Trèn Bầu sống ở sông, kênh, rạch, ao đìa thuộc vùng ĐBSCL;
cá phân bố nhiều ở trung và thượng lưu sông Sài Gòn và sông Đồng Nai (Mai Đình
Yên và cs, 1992) và các sông suối Tây Nguyên (Nguyễn Văn Hảo, 2005)
Theo Md Abul Bashar (2011), cá Trèn là loài cá nước ngọt, chúng phân bố rộng rãi ở sông, suối, kênh, mương, ruộng bị ngập nước (mùa lũ)
Theo Võ Thanh Tân (2012), ở tỉnh An Giang họ Siluridae có 6 loài phân bố là
Micronema bleeleri (Gunther, 1864) (cá Kết), Ompok bimaculatus (Bloch, 1797) (cá
Trèn Bầu), Kryptopterus moorei (Smith, 1945) (cá Trèn Mỡ), Belodontichthys
dinema (Bleeker, 1851) (cá Trèn Răng), Kryptopterus cryptopterus (Bleeker, 1851)
(cá Trèn Lá), Wallago attu (Schneider, 1801) (cá Leo)
Trong thủy vực tự nhiên, cá Trèn Bầu sống ở độ sâu từ 0 – 2 m, sống gần đáy, thích nghi cả hai môi trường nước ngọt, lợ Nhiệt độ thích hợp dao động từ 20 – 26
0C, pH từ 6 – 8 (Fishbase, 2013)
Loài cá này đặc trưng cho khu hệ cá vùng Đông Nam Á và Nam Á, sống thành đàn ít hoạt động, thường chụm lại thành khối trong hốc đá, hốc cây ven bờ (Nguyễn Văn Hảo, 2005)
2.2.3 Hình thái
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), hình thái cấu tạo của cá Trèn Bầu như sau: thân dài, dẹp bên, đầu ngắn, rộng, dẹp bằng, nhìn từ trên xuống mõm có hình vuông Miệng rộng, không co duỗi được, hướng lên trên, hàm dưới nhô
ra phía trước Lỗ mang to, màng mang phát triển, có 9 – 13 lược mang trên cung mang thứ nhất Cá có 2 đôi râu, râu hàm trên kéo dài đến gốc vi ngực, có khi chạm đến khởi điểm vi hậu môn Râu cằm ngắn tương đương với đường kính mắt Mắt cá
Vùng phân bố
cá trèn bầu
Trang 17nhỏ, ẩn dưới da và nằm trên trục giữa thân, gần chót mõm
0,4 – 0,7 cm Phần trán giữa 2 mắt rộng, cong, lồi Vi lưng nhỏ, nằm lệch về phía đầu Cơ gốc vi ngực khá phát triển, gai vi ngực cứng, nhọn Vi hậu môn không dính liền với vi đuôi Vi bụng nhỏ, vi đuôi chẻ hai, rảnh chẻ sâu hơn 1/2 chiều dài vi đuôi Mặt lưng của thân và đầu màu đen nhạt và lợt dần xuống mặt bụng, mặt bụng màu trắng, trên thân và đầu ửng lên màu tím pha vàng Có nhiều vệt trắng ngoằn ngoèo hai bên thân Đặc biệt có một đốm tròn màu tím đen nằm sau nắp mang và phía trên
vi ngực, gốc vi đuôi có một vệt màu tím nhạt cá Trèn Bầu ở chiều dài 16,0 cm đến 21,8 cm có chỉ tiêu hình thái: Vi lưng có 1 tia vi cứng và 3 tia vi mềm (D.I,3), vi ngực có 1 tia vi cứng và 11 - 12 tia vi mềm (P.I,11 - 12), vi hậu môn có 54 - 63 tia vi mềm (A.55 - 63) và vi bụng có 1 tia vi cứng và 6 tia vi mềm (V.I,6)
Mai Đình Yên và cs (1992), ghi nhận cá Trèn Bầu là loài thân cá có màu nâu
sáng, rải rác có các đám sắc tố màu đen, có một đốm đen tròn sau nắp mang, phía trên vi ngực; ở cá thể nhỏ có một đốm đen nhỏ ở cuống đuôi
Hình 2: Cá Trèn Bầu (Ompok bimaculatus)
2.2.4 Đặc điểm dinh dƣỡng
2.2.4.1 Đặc điểm hình thái giải phẫu cơ quan tiêu hóa cá Trèn Bầu
Cá Trèn Bầu có răng hàm nhỏ, nhọn, kích thước không đều nhau, xếp thành nhiều hàng và răng nhọn hướng vào xoang miệng Răng vòm làm thành 2 đám và làm thành một đường ngang (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993)
Kết quả quan sát hệ thống ống tiêu hóa cá Trèn Bầu cho thấy:
- Miệng cá Trèn Bầu thuộc dạng miệng trên, không co duỗi được và rất rộng (rạch miệng xiên dài và vượt qua xa đường thẳng kẻ từ bờ sau của mắt, dài rạch miệng > 50% chiều dài đầu)
- Răng cá Trèn B
nhiều, rất bén nhọn và hầu hết có dạng răng chó mọc thành nhiều hàng ở cả hàm trên
Trang 18và hàm dưới, ngọn răng hướng vào xoang miệng Những răng hàm ở hàng phía trong cao hơn những răng ở hàng ngoài; răng khẩu cái cũng có dạng răng chó mọc thành hai đám ở hai bên Răng hầu cũng to bén và mọc thành đám lớn cho thấy cá Trèn Bầu thuộc nhóm cá ăn động vật và là loài cá dữ
- Lược mang t
thứ nhất có 9 - 13 lược mang Lược mang của cá Trèn Bầu mảnh, xếp thưa và biến thành những gai cứng nhọn hướng vào xoang miệng hầu Đây là dạng lược mang thường gặp ở những loài cá dữ
Hình 3: Hình dạng miệng và răng cá Trèn Bầu (Võ Thanh Tân, 2012)
- Thực quản ngắn, có vách dày, mặt trong thực quản có nhiều nếp gấp nên co giãn rất tốt
- Dạ dày có hình túi, rất to, vách dày, mặt trong có nhiều nếp gấp nên có thể giãn
nở và chứa được mồi có kích thước lớn
- Ruột cá Trèn Bầu thuộc dạng ruột thẳng, vách ruột dày và rất ngắn
2.2.4.2 Tính ăn của cá Trèn Bầu
Chiều dài ruột của cá dao động trong khoảng 6,0 – 18,0 cm với giá trị trung bình
là 0,62 ± 0,09 cm tương ứng với chiều dài thân được khảo sát là 10,5 – 25,5 cm Tỷ
số tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài thân (RLG) của cá Trèn Bầu dao động trong khoảng 0,62 ± 0,09 (< 1) Những loài cá có giá trị RLG < 1 ăn động vật, cá ăn tạp có RLG = 1 – 3 và ăn thực vật có RLG > 3 (Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)
Từ những kết quả quan sát được Võ Thanh Tân (2012) đã đưa ra kết luận cá Trèn Bầu thuộc nhóm cá dữ, ăn động vật, bắt mồi chủ động Thức ăn ưa thích của cá Trèn Bầu là cá con
Trang 192.2.5 Đặc điểm sinh trưởng
Theo Bùi Lai và cs (1985) được trích dẫn bởi Võ Thanh Tân (2012), sự sinh
trưởng của cá là sự gia tăng về kích thước và khối lượng cơ thể, là một trong những
cơ chế quan trọng đảm bảo cho cá điều chỉnh sự thay đổi độ đảm bảo thức ăn Sự sinh trưởng này kéo dài suốt đời sống của cá và chậm dần khi cá ở vào giai đoạn già,
cá càng nhiều tuổi sẽ có kích thước và khối lượng càng lớn Cá sinh trưởng chậm có kích thước nhỏ, sinh trưởng nhanh thì có kích thước lớn Tuy nhiên trong suốt vòng đời của cá, tốc độ tăng trưởng không đồng đều mà có sự nhanh hay chậm tùy vào từng giai đoạn Cá sinh trưởng nhanh nhất trước khi thành thục, khi vào giai đoạn thành thục cá sinh trưởng chậm lại và khi cá sinh sản hầu như nó không sinh trưởng Quá trình sinh trưởng này đặc trưng cho loài cá và thể hiện qua mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân cá Cũng như hầu hết cá loài cá khác, cá Trèn Bầu ở giai đoạn còn nhỏ (chiều dài từ 10,5 – 13,0 cm) chúng thường tăng nhanh về chiều dài hơn là tăng về thể trọng, càng về sau (> 13,0 cm) thì mức tăng về thể trọng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể
Tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân cá là một trong những tham số để
dự đoán mức sinh trưởng của cá Trong quá trình sinh trưởng, có sự liên hệ mật thiết giữa chiều dài (L) và khối lượng thân (W), thể hiện theo phương trình hồi quy:
W = a.LbTrong đó, a và b là hệ số tỷ lệ, thay đổi theo đặc trưng sinh trưởng của cá Giá trị
b trong khoảng 2,0 – 4,0; thường từ 2,5 – 3,5 Khi có sự sinh trưởng điều hòa (hình thái cơ thể không thay đổi - tỷ lệ giữa các bộ phận cơ thể không đổi) thì b dao dộng rất gần với 3 và người ta thường lấy giá trị b = 3 trong các phép tính tương đối về sinh trưởng (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)
Hiện nay, việc nghiên cứu mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân của các loài cá da Trơn đã được thực hiện trên nhiều đối tượng kinh tế thuộc các họ Bagridae (họ cá Chốt), Pangasiidae (họ cá Tra) và Plotosidae (họ cá Ngát) Riêng ở
họ Siluridae (họ cá Nheo), nghiên cứu đã được tiến hành trên các loài cá Kết
(Kryptopterus bleekeri), cá Leo (Wallago attu) và cá Trèn Bầu (Ompok bimaculatus)
Bảng 1: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng một số loài cá họ Siluridae
Cá Kết W = 0,0083L2,9185
R2 = 0,9782 Nguyễn Văn Triều và ctv, 2006
Cá Leo W = 0,0021L3,2022 R2 = 0,9866 Phan Phương Loan, 2006
Trang 20Hình 4: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá Trèn Bầu (n = 360)
(Nguồn: Võ Thanh Tân, 2012)
Theo Mai Đình Yên và cs (1992), Nguyễn Văn Hảo (2005), cá Trèn Bầu có kích
thước trung bình 17 cm, cỡ lớn tối đa dài 46 – 50 cm Nếu so sánh kích thước tối đa của cá Trèn Bầu với các loài cá khác thuộc họ Siluridae thì đa số là có kích thước tối
đa lớn hơn, nhưng bên cạnh đó cũng có nhỏ hơn so với một số loài còn lại, cụ thể: cá
Kết (Kryptopterus bleekeri) có kích thước tối đa 60 cm, cá Trèn Răng (Wallago
dinema) có kích thước tối đa 70 cm và cá Leo (Wallago attu) có kích thước tối đa
200 cm
Talwar, P K and A G Jhingran (1991) cũng ghi nhận chiều dài tối đa của cá Trèn Bầu là 45 cm
2.2.6 Đặc điểm sinh học sinh sản
2.2.6.1 Phân biệt giới tính
Sự thể hiện dấu hiệu sinh dục phụ của cá Trèn Bầu không thể hiện những đặc điểm sinh dục phụ nên việc xác định giới tính bằng các đặc điểm hình thái bên ngoài rất khó Tuy nhiên, trong mùa sinh sản những đặc điểm này lại thể hiện khá rõ, có thể nhận biết được Các đặc điểm hình thái bên ngoài của cá Trèn Bầu để phân biệt đực - cái được mô tả như sau:
- Cá Trèn Bầu cái: có tuyến sinh dục phát triển, có bụng to hơn cá đực
- Cá Trèn Bầu đực: thường có kích cỡ nhỏ và thon dài hơn cá cái Cá Trèn Bầu đực thành thục có gai sinh dục dài và nhọn hơn cá Trèn Bầu cái, có thể đánh giá bằng cách vuốt nhẹ gần lỗ sinh dục, nếu cá thành thục có tinh dịch màu trắng sữa chảy ra
Trang 21Hình 5: Hình dáng bên ngoài của cá Trèn Bầu đực (trên) và cái (dưới)
(Nguồn: Võ Thanh Tân, 2012)
Đặc điểm tuyến sinh dục cái
Btrứng có vách ngăn ngang (tấm trứng) Phía trong buồng trứng có nhiều mạch máu, đoạn cuối của buồng trứng kết hợp với nhau để tạo thành ống dẫn trứng đổ ra ngoài
-hồng nhạt do có mạch máu và mô liên kết phát triển
- Giai đoạn III: thể tích buồng trứng tăng lên,
Trang 22Đặc điểm tuyến sinh dục đực: Buồng tinh là hai tuyến nhỏ nằm sát hai bên xương
sống màu trắng đục, bên ngoài được bao phủ bởi lớp màng mỏng Đầu phía sau gần vào lỗ sinh dục, đầu hướng về phía trước tự do và nằm giữa xoang nội quan
- Giai đoạn I: tế bào sinh dục chưa phát triển chỉ là hai sợi chỉ nhỏ nằm sát hai bên xương sống
- Giai đoạn II: buồng tinh có hai dãy mỏng màu hồng nhạt
Giai đoạn IV: buồng tinh đạt kích thước lớn nhất, dạng dãy phân thùy rõ ràng, màu trắng sữa (Võ Thanh Tân, 2012)
2.2.6.3 Sự thành thục của tuyến sinh dục cá Trèn Bầu
Theo Võ Thanh Tân (2012), tỷ lệ bắt gặp cá Trèn Bầu cái có tuyến sinh dục ở giai đoạn thành thục IV cao vào các tháng 6, 7 và 10, 11 với các giá trị tương ứng 61,33%; 68,96%; 32,5%; 40% chứng tỏ cá Trèn Bầu có khả năng sinh sản vào các tháng này Các tháng 12, 01 tỷ lệ cá thành thục sinh dục thấp nhưng tỷ lệ cá có tuyến sinh dục ở giai đoạn I – II lại tăng lên, chứng tỏ cá bắt đầu chuyển sang giai đoạn tích lũy để chuẩn bị cho một chu kỳ kế tiếp Từ tháng 3 – 5, các giai đoạn I – II giảm dần xuống và các giai đoạn thành thục III, IV tăng dần lên để đến tháng 6 đạt giai đoạn thành thục cao trở lại, kết thúc chu kỳ
2.2.6.4 Hệ số thành thục của cá Trèn Bầu
Hệ số thành thục của cá Trèn Bầu được Võ Thanh Tân (2012) ghi nhận cao nhất vào tháng 6 – 7, kế đến là 10 – 11 (tháng 6 có hệ số thành thục ở cá cái 11,38% và
cá đực 2,36%; kế đến tháng 7 có hệ số thành thục lần lượt ở cá cái là 11,90% và ở cá đực 3,18% Tháng 10 – 11 hệ số thành thục lần lượt ở cá cái 6,12%; 6,62% và ở cá đực là 1,70%; 1,77%) Ở loài cá khác cùng họ với Trèn Bầu là cá Kết, tháng 11 có khả năng sinh sản cao; tháng 12 thì tuyến sinh dục bắt đầu giảm xuống, nhưng cá vẫn còn có thể sinh sản và có dấu hiệu bắt đầu chuyển sang giai đoạn tích lũy để chuẩn bị cho một chu kỳ sinh sản kế tiếp Điều này được thấy rõ ràng nhất trong các tháng 1,
2, 3, 4, 5 của năm sau Ở tháng 6 số cá có tuyến sinh dục phát triển cao Từ đó cho
thấy tháng 6 có thể là bắt đầu vào mùa vụ sinh sản của cá (Nguyễn Văn Triều và cs,
2006) Ngoài ra, ở cá Trèn Bầu kích thước cá thành thục tham gia sinh sản có khác nhau qua giới tính Cá cái trên 22 cm nặng 80 g đã có thể tham gia sinh sản, riêng cá đực phát dục ở kích thước nhỏ hơn dài 18 cm nặng 60 g Cá đẻ trứng dính trên các thực vật thủy sinh ven bờ ở sông, hồ và suối (Nguyễn Văn Hảo, 2005)
2.2.6.5 Sức sinh sản của cá Trèn Bầu
Sức sinh sản là số lượng trứng chín của một cá cái trước khi sinh sản (Bagenal và Braum, 1968 trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) Sức sinh sản
Trang 23của cá biến đổi từ loài này sang loài khác và phụ thuộc vào tuổi cá, kích thước cơ thể
và điều kiện môi trường
Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối: Sức sinh sản của cá Trèn Bầu là
phụ thuộc vào hệ số thành thục, cá có hệ số thành thục càng cao thì sức sinh sản càng lớn Sức sinh sản tuyệt đối của cá Trèn Bầu biến động từ 1.007 – 9.514 trứng/cá thể (trung bình 3.580 ± 2.120 trứng/cá cái), tương ứng với sức sinh sản tương đối từ 91 –
184 trứng/g cá cái (trung bình 129 ± 23 trứng/g cá cái) Và kết quả so sánh sức sinh sản của cá Trèn Bầu với cá Kết cho thấy sức sinh sản tương đối của cá Trèn Bầu cao hơn cá Kết (Võ Thanh Tân, 2012) Nguyên nhân là do sự khác nhau về giống, loài (Pravdin, I F 1973) Theo Nguyễn Văn Hảo (2005), sức sinh sản của cá Trèn Bầu khá cao; vì chúng là loài cá đẻ trứng dính trên các thực vật thủy sinh ven bờ ở sông,
hồ, suối và kênh rạch cho nên cá Trèn Bầu không có tập tính bảo vệ trứng và cá con,
cá cái cỡ dài 23 – 26 cm có sức sinh sản tuyệt đối từ 45.000 – 335.000 trứng với đường kính trứng từ 0,8 – 0,9 mm
Tương quan giữa khối lượng thân và sức sinh sản tuyệt đối: Sức sinh sản tuyệt đối
và khối lượng thân cá Trèn Bầu cái có mối tương quan chặt chẽ với nhau thông qua
hệ số tương quan R2
= 0,9324 (Võ Thanh Tân, 2012) Phương trình tương quan giữa khối lượng thân và sức sinh sản tuyệt đối của cá Trèn Bầu như sau:
Hình 6: Tương quan giữa khối lượng thân (W) với sức sinh sản tuyệt đối (F) của cá
Trèn Bầu (Võ Thanh Tân, 2012)
2.2.6.6 Kết quả sinh sản và ương cá Trèn bầu của Lê Văn Lễnh (2012)
- Dùng LHRH-a + DOM liều lượng từ 100 – 200 µg.kg-1 cá cái, HCG liều lượng từ
2000 – 3000 UI.kg-1 cá cái đều sinh sản; Não thùy dùng liều lượng 5 – 15 mg.kg-1 cá cái, thì ở liều 15 mg cá sinh sản Thời gian hiệu ứng từ 7,5 – 9 giờ đối với LHRH-a + DOM; từ 8 – 9 giờ đối với HCG và Não thùy SSS thực tế từ 46 – 154 trứng.g-1
cá cái Tỷ lệ thụ tinh từ 71 – 93 % Tỷ lệ nở từ 83 – 90 % Tỷ lệ sống cá bột sau 3 ngày
76 – 88 % Thời gian phát triển phôi từ 22 – 24 giờ Kích thước trứng dao động 1,0 – 1,3 mm, trứng cá trèn bầu thuộc loại trứng chìm (dính nhẹ)
- Tăng trưởng về khối lượng và chiều dài cá sau 60 ngày ương với các loại thức ăn khác nhau (tép, cá biển và trùn chỉ) đều cho tăng trưởng tốt Sự phân đàn cá trèn bầu thấp Hệ số thức ăn thấp nhất là NT trùn chỉ Tỷ lệ sống thấp nhất là TACN Như vậy thức ăn thích hợp nhất để ương cá trèn bầu từ cá bột đến cá 60 ngày tuổi là trùn chỉ
Trang 242.2.7 Chất kích thích sinh sản
2.2.7.1 Não thùy
Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009), bất kì một loài cá nào khi tuyến sinh dục thành thục thì hoạt tính của não thùy là cao nhất Bởi vì, 2 loại kích tố trong não thùy là FSH và LH được sản sinh ra nhiều nhất khi tuyến sinh dục thành thục, ngoài ra các thành phần kích tố khác cũng tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình đẻ trứng của cá
Não thùy cá Chép được coi là loại chế phẩm kích dục tố mạnh cho nhiều loài cá
kể cả các đối tượng khác họ và các loài cá biển (Nguyễn Tường Anh, 1999) Sử dụng não thùy để kích thích sinh sản cá là một phương pháp phổ biến trong nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, phương pháp đơn giản này không phải lúc nào cũng thành công
do một số nguyên nhân như thiếu tuyến yên, phương pháp bảo quản và liều lượng sử dụng Ngoài ra, phương pháp này còn phải đối mặt với những bất tiện như khó xác định hiệu năng của chất kích dục có trong tuyến yên để từ đó đề ra kỹ thuật chuẩn (Nguyễn Tường Anh, 1999)
Trong sinh sản nhân tạo, người ta dùng não thùy thay một số yếu tố ngoại cảnh để chuyển hóa, phá vỡ màng follycul và kích thích cá đẻ (Vũ Trung Tạng và Nguyễn Đình Mão, 2005)
2.2.7.2 HCG
HCG còn gọi là kích dục tố màng đệm hoặc kích dục tố nhau thai do màng đệm thai (Chorion) tiết ra có chức năng duy trì thể vàng sau khi rụng trứng do tác dụng của LH LH là hormone do tuyến yên tiết ra HCG được hai nhà sinh lý học nội tiết người Đức là Zondek và Aschheim phát hiện năm 1927 trong nước tiểu phụ nữ mang thai và hiện nay là loại kích dục tố dị chủng được dùng có hiệu quả cho nhiều loài cá nhất Việc dùng HCG để kích thích cá đẻ đã được thử nghiệm từ những năm 1930 Cũng như các kích dục tố khác, HCG tác động lên nang trứng cá, làm cho nang trứng
sản xuất ra yếu tố gây chín (hormone Steroid C21
) và yếu tố gây rụng trứng (làm vỡ
nang trứng, chẳng hạn hormone Prostaglandin và enzym Protease) cho noãn bào thoát ra ngoài Trứng cá chín và rụng bình thường theo ống dẫn trứng ra môi trường nước, gặp tinh trùng và được thụ tinh ở đó (Thu Hương, 2007)
HCG đã được sử dụng có hiệu quả rõ rệt trong những thành công đầu tiên khi thử nghiệm kích thích cá Tra sinh sản trong điều kiện ở ĐBSCL, hiện nay HCG được dùng khá phổ biến để kích thích sinh sản cá Tra (có thể dùng cho cả cá Basa –
Pangasius bocourti và cá Hú – P conchophilus) (Nguyễn Tường Anh, 1999)
Ngoài ra, HCG còn có ba ưu điểm so với não thùy cá (chiết xuất tuyến yên): rẻ hơn nhiều, không dễ phân huỷ nên có thể để lâu hơn và sẵn có ở dạng tinh chế (Thu Hương, 2007)
Tuy nhiên, Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009), đã nhận định rằng trong sinh sản nhân tạo, liều lượng HCG sử dụng cho cá phụ thuộc rất nhiều vào
Trang 25mức độ tinh khiết của chế phẩm cũng như sự thành thục của cá Thậm chí có loài dùng đơn độc HCG hiệu quả rất kém hoặc không có tác dụng
HCG là một hormone polypeptide có chức năng như LH và FSH HCG kích thích buồng trứng phát triển, sự rụng trứng và tiết ra hormone sinh dục (Bùi Minh Tâm và
cs, 2008)
2.2.7.3 LHRH-a
Leutinising Hormone Releasing Hormone (LHRH – hormone giải phóng hoóc môn kích dục) là tên của một loại hoóc môn của loài động vật có vú được sử dụng thành công để kích thích giải phóng các hoóc môn kích dục Trong vài năm gần đây, LHRH nhân tạo, gọi là LHRH-a, được phát triển hiệu quả hơn nhiều Vì chúng tinh khiết hơn và không được cá chuyển hóa nhanh, các chất này duy trì được tác dụng trong thời gian dài (Thu Hương, 2007)
Nhận định tương tự cũng được đưa ra bởi Nguyễn Tường Anh (1999), LHRH-a hay mGnRH-a (là chất tương tự GnRH của động vật có vú) là một trong những GnRH-a (những chất tổng hợp tương tự hormone phóng thích kích dục tố từ tuyến yên nhưng hoạt tính cao hơn hàng chục đến hàng trăm lần các hợp chất tự nhiên)
Vì những lý do trên nên LHRH-a được xem như là một trong ba loại GnRH-a được sử dụng phổ biến trong sinh sản nhân tạo cá (Thu Hương, 2007)
2.2.7.4 Domperidon (DOM)
DOM là một trong những Antidopamine (Dopamine antagonist, Dopamine blocker) là chất chống lại Dopamin – kháng Thường được sử dụng kèm theo các GnRH-a hay các chất tương tự GnRH trong sinh sản nhân tạo cá Trong điều kiện tự nhiên, cơ thể cá có một cơ chế phản ứng làm hạn chế việc giải phóng chất kích dục
Cơ chế này sử dụng một chất hóa học có tên là Dopamin, chất này kiềm chế hoạt động của LHRH Khi cá có Dopamin, thì cả LHRH-a cũng bị hạn chế Chất kháng Dopamin là DOM thường được sử dụng để hạn chế tác dụng của Dopamin Khi sử dụng kết hợp LHRH-a và kháng Dopamin, sinh sản thành công tăng đột biến (Nguyễn Tường Anh, 1999)
Trang 262.2.8 Thức ăn ƣơng cá Trèn Bầu
2.2.8.1 Động vật thân mềm (Sò huyết)
Hình 7: Sò huyết làm thức ăn ương cá Trèn Bầu
Về thành phần hóa học, trong 100 g thịt sò huyết có 83,8 g nước, 8,8 g protid, 0,4
g lipid, 3 g lucid, 4 g tro, nhiều chất khoáng cần thiết cho cơ thể như sắt, magiê, kẽm, canxi, photpho và các vitamin B1, B2, PP (Fishbase, 2013)
2.2.8.2 Cá tạp (cá đồng)
Hình 8: Cá tạp cho cá Trèn Bầu ăn
Cá tạp là những loài cá nhỏ như cá rô đồng, cá sặc rằn, cá linh, cá chốt, Đã phân tích mẫu và xác định hàm lượng dinh dưỡng của cá tạp khô có 35% protein
Trang 272.2.8.3 Trùn chỉ (Tubifex tubifex Mueller, 1774)
c xuống 21,5 0
(Fishbase, 2013)
Phân tích của R Ponnuchamy et al, (1979), cho kết quả là trong trùn chỉ sống có 83,76% là nước, khi phân tích trùn ở khối lượng khô thì thành phần dinh dưỡng của trùn chỉ gồm có khoáng 4,26%, lipid 33,67%, protein 62,07%
Hình 9: Trùn chỉ cho cá Trèn Bầu ăn
2.2.8.4 Thức ăn công nghiệp
Thức ăn được sử dụng trong nghiên cứu là thức ăn công nghiệp (AFIEX) có kích
cỡ hạt nhỏ, màu xám nhạt Thành phần nguyên liệu: protein tối thiểu 40%, béo thô tối thiểu 4%
Trang 28Hình 10: Thức ăn công nghiệp
2.2.9 Sơ lƣợc nhu cầu dinh dƣỡng của họ cá Trèn
2.2.9.1 Protein
Nhu cầu protein là lượng protein tối thiểu có trong thức ăn nhằm thỏa mãn yêu cầu các amino acid để đạt tăng trưởng tối đa (Nutrient Reasearch Council (NRC), 1993; Lê Thanh Hùng, 2008)
Choltisak Chawpaknum (2003) đã cho rằng nhu cầu dinh dưỡng protein tối ưu của
cá trèn bầu từ 1 – 4 tháng tuổi là 37,66% Trong một nghiên cứu khác cũng của tác giả đã kết luận rằng mức năng lượng có trong thức ăn 40% đạm tối ưu cho sự tăng
trưởng của Ompok bimaculatus là khoảng 466,40 và 489,50 kcal/100 g thức ăn 40%
protein
Nghiên cứu ương cá Leo bằng thức ăn chế biến được thực hiện bởi Lam Mỹ Lan
và Trần Bảo Trang (2010) ở cá 27 ngày tuổi Thí nghiệm được bố trí trong bể composite (500 lít) ở mật độ 50 con/bể với 3 nghiệm thức (I) thức ăn chế biến 40% đạm, (II) thức ăn chế biến 50% đạm và (III) cá tạp Mỗi nghiệm thức lập lại 3 lần và thí nghiệm trong 30 ngày Kết quả cho thấy với thức ăn chế biến 50% đạm và cá tạp cho tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá cao hơn thức ăn chế biến 40% đạm
2.2.9.2 Lipid (năng lượng)
Riêng về nhu cầu năng lượng cung cấp từ lipid của động vật thủy sản thì được xác định dựa vào nhu cầu về năng lượng, yêu cầu về acid béo cần thiết, nhu cầu về phospholipid và cholesterol và đặc điểm sống và dự trữ lipid của loài Đối với cá, hàm lượng lipid thay đổi tùy theo loài, tuy nhiên mức đề nghị từ 6 – 10% (Lê Thanh Hùng, 2008)
Trang 29Bổ sung lipid vào thức ăn sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng Hiệu quả sử dụng protein ở động vật thủy sản, nhờ tác dụng chia sẻ nhu cầu năng lượng của protein (Lê Thanh Hùng, 2008)
2.2.9.3 Carbohydrate (bột đường)
Lê Thanh Hùng (2008) cho rằng, carbohydrate không phải là thành phần dinh dưỡng cần thiết trong thức ăn thủy sản và động vật thủy sản không có nhu cầu carbohydrate trong thức ăn như acid amin và các acid béo thiết yếu Tuy nhiên, carbohydrate là nguồn thức ăn, cung cấp năng lượng rẻ tiền Khi thiếu nguồn năng lượng này trong thức ăn các động vật thủy sản sẽ sử dụng protein và lipid làm nguồn năng lượng Một số loài cá, đặc biệt là cá ăn tạp dùng carbohydrate trong thức ăn sẽ giúp cá tăng trưởng tốt hơn và sử dụng protein hiệu quả hơn
2.2.9.4 Vitamin
Vitamin đóng vai trò quan trọng trong thành phần dinh dưỡng của động vật thủy sản So với các thành phần dưỡng chất chính trong thức ăn như protein, lipid và carbohydrate, vitamin chiếm một lượng rất nhỏ từ 1 – 2% trong thức ăn Tuy nhiên, vitamin có vai trò quyết định trong quá trình trao đổi chất của cơ thể và chi phí có thể lên đến 15% trong khẩu phần ăn Vì hầu hết các vitamin giữ vai trò đặc biệt như là một co-enzyme hay các tác nhân hỗ trợ các enzyme thực hiện các phản ứng sinh hóa trong cơ thể sinh vật Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, động vật thủy sản không có khả năng hay khả năng tổng hợp rất ít không đủ cho nhu cầu nên việc cung cấp vitamin vào thức ăn cho động vật thủy sản là rất cần thiết Động vật thủy sản ăn thức
ăn không được cung cấp đầy đủ vitamin sẽ sinh trưởng chậm, tỉ lệ sống thấp, khả năng chịu đựng với biến động môi trường kém và dễ bị bệnh Một điều cần lưu ý khi
bổ sung vitamin vào thức ăn cho động vật thủy sản là ngoài việc căn cứ vào nhu cầu của đối tượng thủy sản còn phải xem xét đặc tính của loại vitamin (Lê Thanh Hùng, 2008)
2.2.9.5 Chất khoáng (đa và vi lượng)
Chất khoáng là những nguyên tố hóa học cần thiết để xây dựng nên cơ thể và tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cơ thể động vật Chất khoáng có vai trò như là chất xúc tác đối với các enzyme, hormone và protein (Lại Văn Hùng, 2004) Nhu cầu chất khoáng cho động vật thủy sản là một trong những nhu cầu khó xác định nhất, bởi lẽ cá có thể hấp thu khoáng trực tiếp từ môi trường nước qua mang, da Các khoáng vi lượng hiện diện với một tỷ lệ nhỏ trong thức ăn, nhưng giữ vai trò quan trọng: xúc tác các phản ứng hóa học xảy ra trong dinh dưỡng của cơ thể (Lê Thanh Hùng, 2008)
2.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương giống cá Trèn Bầu thì cần phải trả lời các câu hỏi sau: Chất kích thích nào và liều lượng bao nhiêu thì kích thích cá sinh sản? Cá Trèn Bầu ăn gì và sinh trưởng như thế nào từ cá bột lên cá giống?
Trang 30CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 MẪU NGHIÊN CỨU
Cá Trèn Bầu (Ompok bimaculatus Bloch, 1797)
3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
3.2.1 Thí nghiệm 1: Thử nghiệm kích thích sinh sản nhân tạo cá Trèn Bầu bằng các loại chất kích thích và liều lượng khác nhau
Bố trí thí nghiệm
- Chọn cá bố mẹ cho sinh sản:
+ Cá cái: từ dỡ chà ngoài sông sau đó thuần dưỡng một tuần trong ao, kích cỡ
từ 45 – 115 g/con, khỏe mạnh, không bị thương tật, bụng to, mềm, lỗ sinh dục màu hồng, dùng tay vuốt nhẹ từ gốc vây ngực kéo dài đến lỗ sinh dục thấy có trứng tròn, đều màu, lấy trứng xem dưới kính hiển vi thấy nhân lệch về cực động vật
+ Cá đực: từ dỡ chà ngoài sông sau đó thuần dưỡng một tuần trong ao, kích cỡ
từ 25 – 50 g/con, khỏe mạnh, nguyên vẹn, gai sinh dục sưng to, màu hồng nhạt, tinh dịch màu trắng sữa
Trang 31Hình 12: Mô tả thí nghiệm 1
- Một ống LHRH-a (200 µg) pha chung với 2 viên Motilium (20 mg Dom) nghiền nhuyễn
- Chỉ tiêm một liều duy nhất cho tất cả các nghiệm thức
- Cá đực được tiêm cùng thời điểm cá cái, với liều lượng bằng 1/2 của cá cái
- Vị trí tiêm: cơ lưng
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn với bốn nghiệm thức và
ba lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức
NT1:
LHRH-a +
DOM
Bố trí thí nghiệm
kg
cá cái
1D
100 µg/
kg
cá cái
1E
225 µg/
kg
cá cái
3A
15 mg/kg
cá cái
3B
20 mg/kg
cá cái
3C
25 mg/kg
cá cái
3D
30 mg/kg
cá cái
3E
35 µg/
kg
cá cái
Trang 32- Cá từ 1 – 3 ngày tuổi: cho ăn 4 lần trong ngày là 7h, 10h, 13h và 16h; khẩu phần
từ 20 – 30% khối lượng thân/ngày; thức ăn là lòng đỏ trứng gà cộng với bột đậu nành (tỷ lệ là 1 : 1)
- Cá từ 4 – 10 ngày tuổi: cho ăn 3 lần trong ngày là 7h, 13h và 18h; khẩu phần từ
20 – 30% khối lượng thân/ngày; thức ăn là Moina
- Cá từ 11 – 60 ngày tuổi: cho ăn 2 lần trong ngày là 7h và 17h Khẩu phần cho ăn
từ 10 – 20% khối lượng thân/ngày, cho ăn bằng sàng ăn, điều chỉnh lượng thức ăn theo nhu cầu của cá, sáng cho ăn 1/4 và chiều 3/4 khẩu phần, sau khi cho ăn một giờ thì lấy thức ăn thừa ra ngoài Động vật thân mềm, cá tạp, trùn chỉ được xay nhỏ trước khi cho ăn, thức ăn công nghiệp cho ăn trực tiếp
- Trong quá trình ương sau 3 ngày tiến hành vệ sinh và thay nước 70%
- Mẫu cá được cân và đo 15 ngày/lần, một lần lấy ngẫu nhiên 30 cá thể cho mỗi nghiệm thức
- Tốc độ tăng trưởng được xác định bằng cách đo chiều dài tổng và cân khối lượng Đo chiều dài cá bằng giấy kẻ ôly, cân khối lượng cá bằng cân điện tử bốn số
lẽ
3.2.3 Phương pháp phân tích:
3.2.3.1 Các chỉ tiêu về môi trường nước
- Nhiệt độ: đo nhiệt độ của bể đẻ, bể ấp, bể ương bằng nhiệt kế thủy ngân
NT4: TACN
Bố trí thí nghiệm
Trang 33- pH, NH3/NH4+, NO2-, DO: đo trong bể đẻ, bể ấp, bể ương bằng dụng cụ test Sera được sản xuất tại Đức
- Các yếu tố môi trường nước: nhiệt độ đo hàng ngày (7h và 14h); pH, NH3/NH4+,
- Sức sinh sản tương đối thực tế (trứng/g)
- Kích thước trứng mới đẻ: đo 30 trứng dưới kính hiển vi ngay sau khi cá đẻ
- Kích thước trứng sau khi trương nước (2 giờ sau khi ấp): đo 30 trứng dưới kính hiển vi sau khi đẻ 2 giờ
- Theo dõi quá trình phát triển của phôi: theo dõi quá trình phân cắt và phát triển phôi được thực hiện dưới kính hiển vi ở vật kính 10 ngay sau khi trứng thụ tinh, nhằm xác định thời gian nở của trứng (thời gian giữa 2 lần quan sát từ 5 – 10 phút), đồng thời tham khảo mô tả của tác giả Lưu Thị Dung và Phạm Quốc Hùng (2005) về quá trình phát triển phôi của các loài cá xương (Lưu Thị Dung và Phạm Quốc Hùng, 2005)
- Thời gian trứng nở: từ khi trứng thụ tinh đến khi trứng nở
Số lượng cá đẻ
Tổng số cá cho đẻ
Số trứng cá đẻ ra (trứng) Sức sinh sản tương đối thực tế (trứng/g) =
Khối lượng cá cái (g)