1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng sản xuất sinh khối và giá trị dinh dưỡng của dế ta gryllus bimaculatus bằng nguồn thức ăn ở địa phương

56 46 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Long Xuyên từ 4-10/2019 nhằm xác định năng suất sinh khối, lượng dưỡng chất ăn vào, tỷ lệ sống, tăng khối lượng, hệ số chuyển hóa thức ăn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT SINH KHỐI VÀ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA DẾ

TA (Gryllus bimaculatus) BẰNG NGUỒN

THỨC ĂN Ở ĐỊA PHƯƠNG

BÙI PHAN THU HẰNG

AN GIANG, THÁNG 08-2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT SINH KHỐI VÀ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA DẾ

TA (Gryllus bimaculatus) BẰNG NGUỒN

THỨC ĂN Ở ĐỊA PHƯƠNG

Chủ nhiệm đề tài

TS BÙI PHAN THU HẰNG Thành viên đề tài

NGUYỄN VĂN CỌP PGS TS VÕ LÂM

AN GIANG, THÁNG 08-2020

Trang 3

CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG

Đề tài “Nghiên cứu khả năng sản xuất sinh khối và giá trị dinh dưỡng của dế ta

(Gryllus bimaculatus) bằng nguồn thức ăn ở địa phương” do các tác giả Bùi Phan

Thu Hằng, công tác tại Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên Thiên nhiên; Nguyễn Văn Cọp, học viên cao học Chăn nuôi, khóa 4 và Võ Lâm, công tác tại Phòng Quản lý

Khoa học và Đào tạo Sau đại học thực hiện Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày 20 tháng 8 năm 2020

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Chúng tôi chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa NN-TNTN Trường Đại học An Giang đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài này Chúng tôi cũng chân thành cảm ơn đến quý đồng nghiệp Bộ môn Chăn nuôi Thú y, Khoa NN-TNTN

và các cán bộ Khu Thí nghiệm Thực hành đã tạo điều kiện cho việc thực hiện đề tài này

An Giang, ngày tháng năm 2020

Người thực hiện

Bùi Phan Thu Hằng

Trang 5

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất sứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

An Giang, ngày tháng năm 2020

Người thực hiện

Bùi Phan Thu Hằng

Trang 6

TÓM TẮT

Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Long Xuyên từ 4-10/2019 nhằm xác định năng suất sinh khối, lượng dưỡng chất ăn vào, tỷ lệ sống, tăng khối lượng, hệ số chuyển hóa thức ăn và giá trị dinh dưỡng của dế khi thu hoạch Thí nghiệm được thiết kế hoàn toàn ngẫu nhiên với 8 nghiệm thức với 6 lần lặp lại Mỗi đơn vị thí nghiệm có 300 cá thể dế ta 7 ngày tuổi Tám khẩu phần thí nghiệm gồm: (1) thức ăn gà, (2) thức ăn gà +

lá khoai mì, (3) thức ăn gà + lá bình bát dây, (4) thức ăn gà + lá rau muống, (5) cám

gạo, (6) cám gạo + lá khoai mì, (7) cám gạo + lá bình bát dây và (8) cám gạo + lá rau muống

Kết quả nghiên cứu cho thấy:

Lượng vật chất khô và đạm ăn vào gia tăng khi bổ sung rau xanh vào khẩu phần cơ bản thức ăn gà hay cám gạo

Thời gian dế trưởng thành ở các khẩu phần thức ăn gà ngắn (27-28,7 ngày) so với các khẩu phần cám gạo (33-41,3 ngày)

Tỷ lệ nuôi sống dế ở các khẩu phần thức ăn gà cao hơn nhiều so với các khẩu phần cám gạo và có sự khác nhau ý nghĩa thống kê (P<0,01), trong đó cao nhất ở khẩu phần thức ăn gà có bổ sung lá khoai mì (86,44%) và thấp nhất ở khẩu phần cám gạo (35,56%)

Khối lượng của dế khi thu hoạch, sinh khối và tăng khối lượng trung bình của dế ở các khẩu phần thức ăn gà cao hơn so với các khẩu phần cám gạo (P<0,01) Ngược lại, hệ

số chuyển hóa thức ăn ở khẩu phần cám gạo cao hơn so với các khẩu phần thức ăn gà Hàm lượng đạm của bột dế thí nghiệm cao (từ 51,44 đến 57,58%) Khi bổ sung lá khoai mì vào khẩu phần nuôi dế đã tăng hàm lượng đạm của bột dế so với các khẩu phần còn lại (P<0,01)

Từ khóa: cám gạo, Gryllus bimaculatus, sinh khối, thức ăn gà, thức ăn xanh

Trang 7

ABSTRACT

The research was conducted in the farm of Long Xuyen city from April to October

2019 to evaluate biomass production, nutrient intake, survival rate, growth rate, feed

conversion ratio and nutritive value of cricket (Gryllus bimaculatus) The design was

a complete randomized design with 8 treatments and 6 replications The experimental unit was 300 crickets at 7 days old Eight experimental diets were offered for crickets: (1) chicken feed fed solely, (2) chicken feed + cassava leaves, (3) chicken feed +

Coccinia grandis leaves, (4) chicken feed + water spinach leaves, (5) rice bran fed

solely, (6) rice bran + cassava leaves, (7) rice bran + Coccinia grandis leaves and (8)

rice bran + water spinach leaves

The results showed that:

Dry matter and crude protein intake increased in diets supplemented with fresh foliages;

Crickets fed by chicken feed reached maturity about 27.0-28.7 days that was shorter than crickets fed by rice bran solely (33-41.3 days);

Survival rate was a significant higher in chicken feed diets than in rice bran diets (P<0.01), while the highest was in chicken feed supplemented cassava leaves (86.44%) and the lowest was in rice bran diet (35.56%);

Final weight, biomass and average daily gain of crickets were also significantly higher

in chicken feed diets than in rice bran diets (P<0.01) However, feed conversion ratio

in rice bran diets was greater than in chicken feed diets;

Cricket powders were rich in protein, which ranged from 51.44% to 57.58% Protein content of cricket powder at all diets with cassava leaves was statistically higher compared to the other diets (P<0.01)

Key words: chicken feed, biomass, Gryllus bimaculatus, fresh foliages, rice bran

Trang 8

MỤC LỤC

Nội dung Trang

Chấp nhận của hội đồng i

Lời cảm tạ ii

Lời cam kết iii

Tóm tắt ………iv

Abstract v

Mục lục ……… vi

Danh sách hình xx

Danh sách bảng ………x

Danh sách từ viết tắt xi

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Nội dung nghiên cứu 2

1.5 Những đóng góp của đề tài 2

1.5.1 Đóng góp về mặt khoa học……… 2

1.5.2 Đóng góp công tác đào tạo ……… 2

1.5.3 Đóng góp phát triển kinh tế xã hội ……… 2

1.6 Phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng 3

1.6.1 Chuyển giao kết quả nghiên cứu ……….3

1.6.2 Địa chỉ ứng dụng kết quả nghiên cứu ……….3

Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 4

2.2 Đặc điểm sinh học của dế ta (Gryllus bimaculatus) 4

2.2.1 Đặc điểm hình thái 4

2.2.2 Phân bố 5

2.2.3 Vòng đời 5

2.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng và nuôi dưỡng 5

2.2.5 Các nghiên cứu trên dế 6

2.3 Những loại thức ăn cho dế 8

2.3.1 Khoai mì 8

2.3.2 Bình bát dây 8

2.3.3 Rau muống 9

2.3.4 Cám gạo 10

Trang 9

3.1 Phương pháp nghiên cứu 11

3.1.1 Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu 11

3.1.2 Công cụ thí nghiệm 11

3.2 Bố trí thí nghiệm 12

3.2.1 Thiết kế thí nghiệm 12

3.2.2 Nuôi dưỡng và quản lý 13

3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 14

3.4 Phương pháp thu thập số liệu 15

3.5 Phương pháp phân tích hóa học 15

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 15

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16

4.1 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 16

4.2 Lượng dưỡng chất ăn vào của dế thí nghiệm 17

4.2.1 Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên lượng dưỡng chất ăn vào của dế được nuôi khẩu phần cơ bản thức ăn gà 17

4.2.2 Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên lượng dưỡng chất ăn vào của dế được nuôi khẩu phần cơ bản cám gạo 18

4.2.3 Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên lượng dưỡng chất ăn vào của dế được nuôi khẩu phần cơ bản thức ăn gà hoặc cám gạo 18

4.3 Thời gian nuôi và tỷ lệ sống của dế thí nghiệm 19

4.3.1 Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên thời gian nuôi và tỷ lệ sống của dế được nuôi khẩu phần cơ bản thức ăn gà 19

4.3.2 Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên thời gian nuôi và tỷ lệ sống của dế được nuôi khẩu phần cơ bản cám gạo 20

4.3.3 Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên thời gian nuôi và tỷ lệ sống của dế thí nghiệm 21

4.4 Đánh giá sinh khối, tăng khối lượng bình quân và hệ số chuyển hóa thức ăn của dế thí nghiệm 22

4.4.1 Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên sinh khối, tăng khối lượng bình quân và hệ số chuyển hóa thức ăn của dế được nuôi khẩu phần cơ bản thức ăn gà 22

4.4.2 Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên sinh khối, tăng khối lượng bình quân và hệ số chuyển hóa thức ăn của dế được nuôi khẩu phần cơ bản cám gạo 23

4.4.3 Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên sinh khối, tăng khối lượng bình quân và hệ số chuyển hóa thức ăn của dế được nuôi khẩu phần cơ bản thức ăn gà hoặc cám gạo 24

4.5 Hàm lượng dinh dưỡng của dế thí nghiệm 25

Trang 10

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 27

5.1 Kết luận 27

5.2 Khuyến nghị 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

PHỤ LỤC THỐNG KÊ 32

Trang 11

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1: Lá, hoa và quả bình bát dây 9

Hình 2: Lá khoai mì 13

Hình 3: Lá bình bát dây 13

Hình 4: Lá rau muống đồng 13

Trang 12

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1: Thành phần hóa học của lá rau muống (g/kg vật chất khô) 10

Bảng 2: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm (%) 16

Bảng 3: Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên lượng dưỡng chất ăn vào của dế được nuôi khẩu phần cơ bản thức ăn gà (mg/con/ngày) 17

Bảng 4: Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên lượng dưỡng chất ăn vào của dế được nuôi khẩu phần cơ bản cám gạo (mg/con/ngày) 18

Bảng 5: Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên lượng dưỡng chất ăn vào của dế thí nghiệm (mg/con/ngày) 19

Bảng 6: Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên thời gian nuôi và tỷ lệ sống của dế được nuôi khẩu phần cơ bản thức ăn gà 20

Bảng 7: Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên thời gian nuôi và tỷ lệ sống của dế được nuôi khẩu phần cơ bản cám gạo 21

Bảng 8: Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên thời gian nuôi và tỷ lệ sống của dế thí nghiệm 22

Bảng 9: Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên sinh khối, tăng khối lượng bình quân và

hệ số chuyển hóa thức ăn của dế được nuôi khẩu phần cơ bản thức ăn gà 23

Bảng 10: Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên sinh khối, tăng khối lượng bình quân

và hệ số chuyển hóa thức ăn của dế được nuôi khẩu phần cơ bản cám gạo 24

Bảng 11: Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên sinh khối, tăng khối lượng bình quân

và hệ số chuyển hóa thức ăn của dế thí nghiệm 25

Bảng 12: Ảnh hưởng của bổ sung rau xanh lên hàm lượng dinh dưỡng của dế thí nghiệm (%) 26

Trang 13

Standard error of the mean

Tăng khối lượng trung bình Khoáng tổng số

Xơ thô Cám gạo

Protein thô

Cộng sự

Vật chất khô Đồng bằng Sông Cửu Long Béo thô

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới

Hệ số chuyển hóa thức ăn

Trang 14

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Theo ước tính của Liên Hiệp Quốc, dân số thế giới khoảng 9,1 tỷ người vào năm 2050

Để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho toàn bộ dân số này thì sản xuất lương thực phải tăng lên gấp đôi Tuy nhiên, đất sử dụng cho trồng trọt và chăn nuôi đang dần khan hiếm do đô thị hoá, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và lượng cá khai thác Lượng cá của tự nhiên để cung cấp phần lớn lượng đạm cho nhu cầu con người và thức ăn chăn nuôi cũng khan hiếm dần do khai thác quá mức và môi trường sống bị thu hẹp Vì vậy,

để đảm bảo lương thực và nhu cầu dinh dưỡng của hiện tại với gần 1 tỷ người thiếu đói thì hệ thống sản xuất hiệu quả, bền vững và thân thiện với môi trường cần được nghiên cứu và phát triển trong tương lai

Các loài côn trùng ăn được đã được sử dụng thức ăn cho con người có từ lâu trong lịch sử tiến hoá và hình trình văn hoá của rất nhiều xã hội trên thế giới, đặc biệt là khu vực châu Á và châu Phi (Bodenheimer 1951; Morris 2004) Theo Huis và cs (2013),

có khoảng 2 tỷ người trên thế giới sử dụng côn trùng trong khẩu phần ăn truyền thống của họ và hơn 1.900 loài được sử dụng như thức ăn cho người và một phần nhỏ cho động vật Trong số các loài côn trùng ăn được có các bộ phổ biến sau: bọ cánh cứng (Coleoptera, 31%), sâu bướm (Lepidoptera, 18%), ong, kiến (Hymenoptera, 14%), Cào cào và dế (Orthoptera, 13%), ve sầu (10%), mối (3%), bọ ngựa (3%), ruồi (2%)

và các họ côn trùng khác (5%) Trong số các loài côn trùng ăn được kể trên, có rất ít loài được thuần hoá để nuôi thâm canh có thể do các giới hạn về kỹ thuật thực hành; kết quả nghiên cứu phục vụ sản xuất; đặc biệt các nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của các loài có tiềm năng dùng làm thức ăn cho con người và gia súc

Dế ta địa phương (Gryllus bimaculatus) là loài côn trùng được con người chú ý để làm

thức ăn cho con người và động vật Trong thực tế, loài dế ta được đánh giá là một loài

có khả năng nuôi nhốt và sản xuất sinh khối tốt tại các khu vực như Thái Lan, pu-chia và Việt Nam Trong những năm gần đây dế được nuôi rãi rác ở Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) để làm thức ăn cho con người, chim cảnh và cá cảnh nhưng chưa được phổ biến rộng rãi Theo tác giả Collavo và cs (2016), dế có vòng đời ngắn, sinh sản nhanh, dễ nuôi ở nhiều điều kiện sinh thái và thức ăn khác nhau Nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, dế ta sử dụng ít nước, thải ra ít khí thải nhà kính ngắn hơn các loài vật nuôi truyền thống khác Mặt khác, dế ta có hàm lượng đạm khoảng 58% và béo khoảng 12%, thích hợp dùng làm nguồn thức ăn đạm cho con người và động vật nuôi (Ghosh và cs., 2017) Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu liên quan đến năng suất và giá trị dinh dưỡng của dế ta nuôi nhốt bằng các loại thức ăn sẵn có

Trang 15

Cam-tại địa phương ở ĐBSCL Chính vì vậy, “Nghiên cứu khả năng sản xuất sinh khối và

giá trị dinh dưỡng của dế ta (Gryllus bimaculatus) bằng nguồn thức ăn ở địa phương”

được thực hiện

1.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

Xác định năng suất sinh khối, lượng dưỡng chất ăn vào, tỷ lệ sống, tăng khối lượng trung bình và hệ số chuyển hóa thức ăn của dế ta nuôi nhốt bằng thức ăn ở địa phương

Xác định giá trị dinh dưỡng của dế ta nuôi nhốt với các khẩu phần thức ăn khác nhau

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này được thực hiện trên 14 400 dế ta (Gryllus bimaculatus) 1 tuần tuổi

được chọn lọc từ đàn dế bố mẹ có nguồn gốc địa phương (tỉnh An Giang) Đàn dế giống bố mẹ đã được nuôi dưỡng và thuần lọc qua nhiều thế hệ

Nguồn thức ăn của thí nghiệm có sẵn tại địa phương, bao gồm:

Thức ăn hỗn hợp là thức ăn dùng nuôi gà thịt chứa ít nhất 18% đạm

Cám gạo dùng trong thí nghiệm là loại cám mịn được mua từ nhà máy xay sát gạo trong thành phố Long Xuyên

Lá khoai mì, lá rau muống đồng và lá bình bát dây được thu hoạch từ các khu đất hoang, bờ kênh tại thành phố Long Xuyên

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài nghiên cứu bao gồm hai nội dung sau:

1 Xác định năng suất sinh khối, lượng dưỡng chất ăn vào, tỷ lệ sống, tăng khối lượng trung bình và hệ số chuyển hóa thức ăn của dế ta nuôi nhốt bằng thức ăn

1.5.2 Đóng góp công tác đào tạo

Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp và bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu và giảng dạy

Trang 16

Đề tài nghiên cứu góp phần tạo điều kiện cho sinh viên ngành Chăn nuôi tham gia nghiên cứu và thực hiện đề tài tốt nghiệp

15.3 Đóng góp phát triển kinh tế xã hội

Kết quả nghiên cứu tìm ra nguồn thức ăn sẵn có thích hợp cho sự sinh trưởng của dế

ta, góp phần giúp cho người nuôi dế tăng thêm thu nhập

1.6 PHƯƠNG THỨC CHUYỂN GIAO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA CHỈ ỨNG DỤNG

1.6.1 Chuyển giao kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được chuyển đến thư viện trường Đại học An Giang làm nguồn dữ liệu cho cán bộ và sinh viên các ngành liên quan tham khảo,

và Trung tâm Khuyến nông, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tỉnh An Giang để phục vụ cho công tác chuyên môn Kết quả nghiên cứu cũng sẽ được chuyển giao rộng rãi trong và ngoài nước thông qua bài báo đăng tạp chí chuyên ngành

1.6.2 Địa chỉ ứng dụng kết quả nghiên cứu

Trường Đại học An Giang và Trung tâm Khuyến nông, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tỉnh An Giang

Trang 17

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong sản xuất nông nghiệp, côn trùng gây ra nhiều tác hại như: phá hoại mùa màng (châu chấu), hại lúa (rầy nâu), hại rau màu (sâu) Tuy nhiên, côn trùng cũng mang lại các lợi ích trong sản xuất và đời sống của con người Chẳng hạn, côn trùng góp phần tạo ra các sản phẩm nông nghiệp bằng việc thụ phấn cho hoa (ong, kiến), côn trùng là nguồn thuốc chữa bệnh (ong) và các sản phẩm được tạo ra từ côn trùng có lợi cho con người như: tơ tằm, mật ong Ngoài ra, một số loài côn trùng được sử dụng làm thực phẩm cho con người như: bọ cạp, dế cơm, đuông dừa, tằm, cà cuống Đây là những món ăn ngon và là một nét ẩm thực độc đáo ở các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia (Phan Thị Thu Huyền, 2013)

Ở Việt Nam, bên cạnh các loài côn trùng trên thì dế cũng trở thành món ăn ngon từ các góc phố đến các nhà hàng sang trọng Vì thế, ngành chăn nuôi dế đã hình thành và đang phát triển do những lợi ích như: vốn đầu tư thấp, kỹ thuật nuôi đơn giản và dễ áp dụng, tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp và mang lại lợi nhuận khá cao Hình thức

chăn nuôi chủ yếu là nuôi nhốt, dế ta (Gryllus bimaculatus) là loài được lựa chọn để

nuôi vì có hàm lượng giá trị dinh dưỡng cao, dễ nuôi và có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta (Phan Thị Thu Huyền, 2013)

Tuy nhiên, chăn nuôi dế hiện nay cũng gặp trở ngại như: xác định nguồn thức ăn phù

hợp để nâng cao khả năng tăng khối lượng của dế ta nuôi nhốt Vì vậy, đề tài “Nghiên

cứu khả năng sản xuất sinh khối và giá trị dinh dưỡng của dế ta (Gryllus bimaculatus) bằng nguồn thức ăn ở địa phương” được tiến hành nhằm mục đích xác định nguồn

thức ăn sẵn có, rẻ tiền và đem lại hiệu quả cho người chăn nuôi dế

2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA DẾ TA (Gryllus bimaculatus)

2.2.1 Đặc điểm hình thái

Dế có cấu tạo hình thái giống như những loài côn trùng khác gồm 3 phần: đầu, ngực

và bụng (Nguyễn Thị Chắt, 2007) Đầu là phần trước của cơ thể, giữ chức năng quan trọng trong đời sống của dế Phần đầu do 5-6 đốt phía trước cơ thể hợp lại thành Phần ngực do 3 đốt thân tạo thành, là phần phát triển nhất và là trung tâm vận động của cơ thể gồm 3 đôi chân và 2 đôi cánh Phần bụng được cấu thành bởi nhiều đốt nối với nhau bằng một lớp màng mỏng, bên trong chứa các cơ quan tiêu hóa và sinh sản của

dế Phần bụng của dế thuộc loại bụng rộng, có các phần phụ như: lỗ thở, lông đuôi và

bộ phận sinh dục ngoài (Nguyễn Thị Gái, 2013)

Trang 18

Dế ta (Gryllus bimaculatus) có hai kiểu màu sắc đặc trưng là: màu đen tuyền và màu

vàng nghệ Chính vì vậy, trong dân gian gọi tên hai kiểu hình này là: dế than và dế lửa

và nhiều người nhầm lẫn dế than và dế lửa là hai loài khác nhau Trong thực tế, chúng

chỉ cùng một loài Gryllus bimaculatus Chúng có thể giao hoan với nhau và sinh sản

bình thường (Trương Văn Trí, 2011) Trong tự nhiên, dế ta có bản tính hung hăng nhưng lại thích sống thành bầy đàn, môi trường sống đơn giản như: ở hang, những đám cỏ Dế leo trèo rất giỏi và có thể nhảy xa hàng mét Dế ta sinh trưởng và phát triển quanh năm, nhiều nhất là vào mùa mưa (Huy Linh, 2013)

2.2.2 Phân bố

Dế sống nhiều ở những vùng Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước nhiệt đới

có khí hậu nóng ẩm, khô hạn (Nguyễn Thị Chắt, 2007) Ở Việt Nam, dế phân bố khắp nơi như: sống trong hang đất, đất cát pha, dưới lá hay thân cây mục Dế thích sống ở nơi ấm áp, khô ráo có nhiệt độ khoảng 20 0C-30 0C và hàm lượng nước trong đất từ 20-25% (Nguyễn Thị Gái, 2013)

2.2.3 Vòng đời

Dế là loài biến thái không hoàn toàn Dế non, khi nở ra, sẽ giống với dế trưởng thành nhưng kích thước rất nhỏ và chưa mọc cánh Khi mới nở, dế con thường rất mềm, yếu,

dễ bị tổn thương hay chết Dế con phải trải qua các lần lột xác để có hình thái giống

dế trưởng thành với đầy đủ 2 bộ cánh (Nguyễn Lân Hùng và cs., 2010) Dế sẽ trải qua

2.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng và nuôi dưỡng

Dế là loài ăn tạp, ăn nhiều nguồn thức ăn khác nhau kể cả động vật và thực vật Chúng cũng có thể ăn các sản phẩm từ giấy, bông, vải lanh, len, tơ nhân tạo, nylon, lụa, các vật liệu bẩn, trái cây, rau và thịt Trong tự nhiên, dế sống ở những bụi rậm hay vùng

có nhiều cỏ non, do đó chúng sinh sản và phát triển phụ thuộc nhiều vào những loại thực vật nơi chúng sinh sống (Nguyễn Lân Hùng và cs., 2010)

Các nguồn thức ăn được sử dụng thường khác nhau tùy thuộc vào tình trạng sẵn có và chi phí của người nuôi Thức ăn tinh thường được sử dụng là các loại thức ăn từ các ngành chăn nuôi như: thức ăn cho gà, thức ăn cho vịt, thức ăn cho heo, thức ăn cho

Trang 19

cá/ếch hoặc đôi khi kết hợp các loại thức ăn này với nhau Thức ăn thô là cỏ, lá rau,

vỏ củ quả (Miech, 2018; Nguyễn Lân Hùng và cs., 2010)

Dế có khả năng chuyển hoá thức ăn rất hiệu quả so với các loại vật nuôi truyền thống khác Để tăng 1 kg trọng lượng cơ thể, nhu cầu thức ăn đối với gà là 1,8 kg (PoultryHub, 2018); đối với heo là 5 kg và đối với bò 10 kg (Smil, 2002); trong khi dế cần ít nhất là 1,7 kg (Collavo và cs., 2005) Ngoài ra, dế có thể sử dụng được rất nhiều loại thức ăn khác nhau, từ thức ăn hỗn hợp đến các loại rau xanh sẵn có Ở Thái Lan, người nuôi dế thường sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm thô từ 14% đến 21%, giá trị đạm cao hơn cho dế dưới 20 ngày tuổi (Hanboonsong và cs., 2013) Ngoài ra, sản xuất

dế ít tốn nước hơn so với sản xuất chăn nuôi thông thường (Huis và cs., 2013) Về nước uống, cần phải bổ sung nước cho dế uống mặc dù trong thức ăn thô đã có hàm lượng nước cao

2.2.5 Các nghiên cứu trên dế

2.2.5.1 Trong nước

Các nghiên cứu về dế ta (Gryllus bimculatus) chủ yếu tập trung vào đặc điểm nuôi sinh

học loài, khả năng nuôi nhốt và lai tạo Nghiên cứu của Từ Văn Dững và Nguyễn Văn Huỳnh (2008) xác định được vòng đời của dế ta trong điều kiện nhà lưới trung bình khoảng 56 ngày; con cái có giao phối với con đực bắt đầu đẻ trứng khoảng 13 ngày và mỗi con cái đẻ 836 trứng với tỉ lệ nở của trứng là 92,1% Để nuôi tập trung cho sản xuất có thể cho dế con ăn bằng cỏ non có thêm ít cám, mặc dù tỉ lệ sống sót và tăng khối lượng sẽ cao hơn nếu có thêm thức ăn gia súc Tác giả Phan Thị Thu Huyền (2013) xác định được sự biến động về hình thái, sinh trưởng, phát triển, điều kiện nuôi

và thức ăn của các quần thể nuôi nhốt tại Sơn Trà, Đà Nẵng Tác giả này đã báo cáo, khi nuôi dế trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, khối lượng cá thể

dế cái đạt khoảng 1,24 g/con, khối lượng của dế đực khoảng 1,15 g/con, tăng khối lượng khoảng 52,4 mg/ngày/con và tỷ lệ sống lúc trưởng thành khoảng 30% Trong điều kiện nuôi nhốt hiện nay, Nguyễn Thị Gái (2013) xác định các đặc điểm sinh học, sinh sản Tác giả Đặng Thị Thu (2018) thực hiện nghiên cứu so sánh khả năng sản xuất

giữa 2 giống dế Thái (Acheta domesticus) và dế ta Tác giả này đã kết luận: khả năng

đẻ trứng của dế Thái thấp hơn dế ta, thời gian ấp trứng thì giống nhau ở 2 giống nhưng

tỷ lệ nở trứng của giống dế ta cao hơn dế Thái khoảng 20%, khối lượng cơ thể của dế

ta khi thu hoạch cao hơn dế Thái, tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ nuôi sống thì tương đương nhau ở hai giống dế Kết quả đáng quan tâm trong nghiên cứu này cho thấy khả năng vượt trội về sinh sản ở giống dế ta Kết quả các nghiên cứu liệt kê kể trên là cơ sở quan trọng để nuôi dưỡng và sử dụng dế ta trong tương lai Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước chưa chú trọng đến đánh giá việc sử dụng hiệu quả nguồn thức ăn sẵn có tại địa

Trang 20

phương và giá trị dinh dưỡng của dế ta khi được cho ăn nguồn thức ăn này Cám gạo,

lá khoai mì, lá bình bát dây và lá rau muống có rất nhiều ở ĐBSCL

Điều thú vị là trong thực tế việc nuôi dế như là mô hình chăn nuôi động vật 6 chân để làm thực phẩm cho con người đang được quan tâm ở Việt Nam và được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng Mặt khác, Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, thuận lợi để nuôi dế Việc phát triển mô hình này sẽ mang lại nhiều lợi ích như bảo tồn

sự đa dạng sinh học, người dân có thêm nghề mới, xóa đói giảm nghèo ở những vùng ĐBSCL, cung cấp nguồn thực phẩm hữu dụng cho các chương trình an toàn lương thực Tuy nhiên, ích lợi của nuôi dế chỉ được nhìn nhận ở mức độ là thức ăn lạ miệng, dùng làm thức ăn con người trong nhà hàng; nuôi dế chủ yếu làm thức ăn cho chim và

cá cảnh; làm mồi câu cá Trong khi đó, các phương pháp nuôi dưỡng, quản lý và dinh dưỡng của dế chưa được chú trọng nghiên cứu và công bố

2.2.5.2 Ngoài nước

Các nghiên cứu về côn trùng làm thức ăn như nguồn đạm có giá trị cho con người và động vật đã được nhiều tác giả trên thế giới thực hiện và hiện nay được quan tâm nhiều hơn do việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên tự nhiên, sự thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp do đô thị hoá và suy thoái môi trường Theo tổng kết của Dossey và cs (2018), các nghiên cứu về triển vọng sử dụng các nguồn đạm thay thế cho cả con người và động vật nuôi như các loại côn trùng đang được chú trọng Chẳng hạn, nghiên cứu sử dụng côn trùng làm thức ăn cho vật nuôi từ 35 bài được công bố giai đoạn (1969 đến 1999) đến 95 bài giai đoạn (2000-2015) Trong các loài côn trùng có khả năng thuần

hoá và nuôi nhốt thì các loài dế thuộc họ Gryllidae đang được chú trọng phát triển, đặc

biệt ở khu vực Châu Phi và Đông Nam Á (Huis và cs., 2013) Các nghiên cứu trước

đây cho thấy hàm lượng đạm trong dế nhà (Acheta domesticus), dế đồng (Teleogryllus

testaceus) và dế Mormon (Anbrus simplex) từ 46-78% (tính trên vật chất khô), khoảng

22,8% béo và các loài này giàu chất khoáng (Wang và cs., 2004; Wang và cs., 2005; Finke, 2007; Moreki và cs., 2012) Sự biến động các hàm lượng dinh dưỡng có thể do thời điểm thu hoạch dế, thành phần thức ăn cho ăn và cách xử lý mẫu phân tích

Theo tác giả Ghosh và cs (2017), hàm lượng đạm và thành phần axít amin trong dế ta

cao nhưng hàm lượng béo thì thấp so với dế nhà (Acheta domesticus) và dế đồng (Teleogryllus emma) Dế ta, hiện nay được nuôi phổ biến ở ĐBSCL và Cam-pu-chia

dùng làm thức ăn cho người, nhưng quan sát của chúng tôi cho thấy hàm lượng dinh

dưỡng của dế trưởng thành G bimaculatus nuôi nhốt chưa được nghiên cứu Ngoài ra,

dế cũng là loài đang được giới thiệu như nguồn thức ăn đạm bổ dưỡng dưới dạng nguyên con ở Châu Âu (EFSA, 2015)

Theo Rumpold và Schlüter (2013) trong bối cảnh gia tăng nhu cầu tìm các nguồn đạm thay thế của thế giới thì côn trùng có thể là một nguồn thức ăn mới giàu đạm, béo,

Trang 21

khoáng và vitamin cho cả con người và động vật Thành phần dinh dưỡng của dế có chứa hàm lượng đạm, axít béo không no, axít amin và khoáng cao nên dế được xem như nguồn thức ăn thay thế tốt để giải quyết vấn đề thiếu lương thực và nguồn thức ăn

bổ dưỡng trong tương lai (Yeol và cs., 2016) Vì vậy để có được các sản phẩm dế làm thức ăn cho con người và động vật nuôi cần phải có các nghiên cứu nuôi dưỡng dế để tạo ra sinh khối lớn và dựa vào việc sử dụng nguồn thức ăn sẵn có của địa phương có thể là giải pháp lựa chọn khả thi, do số lượng dế trong tự nhiên không còn phong phú nữa

2.3 NHỮNG LOẠI THỨC ĂN CHO DẾ

2.3.1 Khoai mì

Khoai mì (Manihot esculenta Crantz) là cây lương thực ăn củ, thuộc họ thầu dầu

Euphorbiaceae Cây khoai mì là loại cây thân gỗ, hình trụ, có chia đốt và có lông, cao

từ 1-5 m Lá đơn, moc xen kẽ, thẳng hàng trên thân cây Lá gồm 2 phần: cuống và phiến lá Lá có thùy sâu, dạng chân vịt, thùy thường có cấu tạo số lẻ từ 5-7 thùy (Trần

Ngọc Ngoạn, 2007) Khoai mì (Manihot esculenta Crantz) là một trong những loại cây

có khả năng chịu đựng tuyệt vời trong điều kiện đất chua, đất có hàm lượng Fe, Al cao (Edwards và cs., 1990) Khoai mì được trồng nhiều ở những quốc gia nhiệt đới đang phát triển (Som, 2007) Sau cây lúa và bắp, khoai mì là cây lương thực đứng thứ 3 ở Việt Nam Diện tích trồng khoai mì ở nước ta là 560.000 ha Lá khoai mì khô được thu hoạch một lần, lúc 9 tháng tuổi, có sản lượng là 5,3 tấn/ha (Khuc và cs., 2012) Lá khoai mì khô có hàm lượng protein thô là 20-25% (Khuc và cs., 2012; Wanapat và cs., 1997) Ngọn lá khoai mì là nguồn thức ăn bổ sung protein (Wanapat và cs., 1997) Khi

bổ sung lá khoai mì khô vào khẩu phần của bò đã cải thiện tăng khối lượng và giảm sinh khí mêtan (Phạm Thế Huệ và cs., 2012; Tran và cs., 2010) Ngoài ra, lá khoai mì còn là nguồn thức ăn giàu khoáng và vitamin nên việc bổ sung tăng dần bột lá khoai

mì vào khẩu phần thức ăn gà sinh sản cho thấy tỷ lệ caroten trong trứng cũng tăng theo

và cải thiện được khả năng sinh trưởng của gà thịt (Dương Thanh Liêm, 1998) Lá khoai mì là nguồn thức ăn sẵn có của địa phương, rẻ tiền

2.3.2 Bình bát dây

Tên khoa học: Coccinia grandis (L.) J Voigt

Tên Việt Nam: dây mảnh bát, dây bình bát

Tên tiếng Anh: ivy gourd, baby water melon, baby gourd

Họ: bầu bí (Cucurbitaceae)

Trang 22

Hình 1: Lá, hoa và quả bình bát dây

Bình bát dây là cây thảo nhẵn và mảnh, mọc leo cao, đôi khi dài tới 5m hoặc hơn Lá nhẵn, hình 5 cạnh, có răng, rộng 5-8 cm, hình tim ở gốc, chia 5 thùy hình tam giác, có mũi nhọn cứng Tua cuốn đơn Hoa đực và hoa cái giống nhau, mọc đơn độc hay xếp hai cái một ở nách lá, có cuống dài 2 cm Quả hình trứng ngược hoặc thuôn, dài 5 cm, rộng 2,5 cm, khi chín có màu đỏ và thịt quả màu đỏ, chứa nhiều hạt

Bình bát dây phân bố ở Ấn Ðộ, Nam Trung Quốc, Malayxia, Campuchia, Inđônêxia

Ở nước ta, bình bát dây mọc hoang trên nương rẫy, ở rào, lùm bụi từ vùng thấp tới

vùng cao Các bộ phận của bình bát dây có thể thu hái quanh năm

2.3.3 Rau muống

Rau muống (Ipomoea aquatica) thuộc họ Bìm bìm (Convolvulaceae), có nguồn gốc từ

Ấn Độ, Đông Nam Á và Nam Trung Quốc Đây là một loại cây thủy sinh mọc trên mặt nước hoặc trong đất đầm lầy (FAO, 2009) Rễ của rau muống thuộc loại rễ chum Thân rau muống tròn, rỗng, trên thân có nhiều lóng Lá rau muống có hình mũi mác,

lá mọc cách trên thân Hoa rau muống là hoa tự thụ phấn Quả rau muống còn non màu xanh nhạt, mỗi quả có 4 ô, mỗi ô chứa một hạt (Nguyễn Kim Ngân, 2009)

Rau muống là cây ngắn ngày, sinh trưởng nhanh vào mùa mưa Rau muống có thể được trồng trên đất sét, đất pha cát, đất cát, đất giàu mùn (Trần Khắc Thi & Trần Ngọc Hùng, 2005) Rau muống được thu hoạch trong vòng 3-4 tuần sau khi trồng, với năng suất là 5 tấn/ha/năm

Rau muống nước luôn có sẵn quanh năm ở đồng bằng sông Cửu Long Rau muống thường được sử dụng làm thức ăn cho heo, vịt, cá, dê, bò (Trần Khắc Thi & Trần Ngọc

Trang 23

Bảng 1: Thành phần hóa học của lá rau muống (g/kg vật chất khô)

Lá rau muống 103 246 876 Pathoummalangsy & Preston

(2006)

Lá rau muống 116 351 858 Samkol và cs (2006)

Lá và thân non rau muống 112 256 867 Ty và Preston (2006)

Ghi chú: DM (vật chất khô), CP (đạm thô), OM (vật chất hữu cơ)

2.3.4 Cám gạo

Việt Nam đứng thứ hai về xuất khẩu gạo trên thế giới (Demont & Rutsaert, 2017) Cám gạo là một trong những nguồn phụ phẩm rất lớn từ công nghiệp chế biến gạo với hàm lượng axit amin, vitamin nhóm B, vitamin E cao Tuy nhiên, cám gạo để lâu ngày thường có mùi ôi, khét, vị đắng do trong cám gạo có chứa nhiều axit béo không no

Do đó, cám gạo thường không dự trữ quá 15 ngày Hàm lượng protein thô của cám gạo khoảng 11-13% và béo thô khoảng 10-15% Cám gạo được sử dụng làm thức ăn cung cấp protein và năng lượng trong chăn nuôi (Vũ Duy Giảng và cs., 2008)

Trang 24

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1.1 Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2019

- Địa điểm nuôi dế: tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

- Địa điểm phân tích mẫu: Khu thí nghiệm, Trường Đại học An Giang

- Đối tượng nghiên cứu: dế ta (Gryllus bimaculatus), có nguồn gốc từ địa phương An

Giang

- Cách chọn lọc đàn dế: Dế giống thế hệ thứ nhất có nguồn gốc từ huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang được nuôi dưỡng tại địa phương đến lúc trưởng thành, sau đó cho phối giống tự do với nhau tạo ra thế hệ con thứ hai, thế hệ dế thứ hai tiếp tục được nuôi đến lúc trưởng thành và cho phối giống với dế ta có nguồn gốc tại thành phố Long Xuyên (với tỉ lệ 1:1) tạo ra thế hệ dế thứ ba, tiếp tục nuôi dưỡng thế hệ này đến lúc trưởng thành và cho giao phối tự do với nhau để tạo ra thế hệ thứ tư dùng làm dế thí nghiệm

3.1.2 Công cụ thí nghiệm

- Nhà nuôi dế thí nghiệm

- Dế giống 7 ngày tuổi

- Thức ăn nuôi dế: Thức ăn gà, cám gạo, lá khoai mì, lá rau muống đồng, lá bình bát dây

- Hộp nhựa trong nuôi dế, dĩa nhựa đựng thức ăn, xốp thấm nước cho dế hút

- Khay giấy đựng trứng gia cầm cho dế trú ẩn và leo trèo

- Bình phun sương, nhiệt - ẩm kế

- Băng dán, dao, kéo, bịt nilon

- Xô, thau đựng thức ăn và thu hoạch dế

- Pen chuyên dụng để lấy thức ăn thừa

- Giá đỡ các hộp nhựa trong để nuôi dế

Trang 25

- Cân phân tích điện tử để cân khối lượng, cân loại 300 g, sai số 0,001 g

3.2 BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM

3.2.1 Thiết kế thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên (completely randomized design, CRD), với 8 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức có 6 lần lặp lại, tổng cộng có 48 đơn vị thí nghiệm (48 hộp nhựa), mỗi hộp nhựa có thể tích 30 lít (50 cm x 30 cm x 20 cm) để nuôi 300 dế ở 7 ngày tuổi đến lúc trưởng thành Các cá thể dế trong từng nghiệm thức có độ đồng đều về trọng lượng, ở cùng ngày tuổi và được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý trong cùng một điều kiện như nhau

Các nghiệm thức thí nghiệm như sau:

(1) Thức ăn gà (TAG),

(2) Thức ăn gà + Lá khoai mì (TAG + LKM),

(3) Thức ăn gà + Lá bình bát dây (TAG + LBBD),

(4) Thức ăn gà + Lá rau muống đồng (TAG + LRMĐ),

(5) Cám gạo (CG),

(6) Cám gạo + Lá khoai mì (CG + LKM),

(7) Cám gạo + Lá bình bát dây (CG + LBBD),

(8) Cám gạo + Lá rau muống đồng (CG + LRMĐ)

Thức ăn gà và cám gạo được mua tại chợ Long Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh

An Giang

Lá khoai mì, lá bình bát dây và lá rau muống đồng được thu hoạch từ tự nhiên, xung quanh thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, tách lấy lá (Hình 2, 3 và 4)

Trang 26

3.2.2 Nuôi dưỡng và quản lý

14.400 dế sử dụng trong thí nghiệm này được chọn lọc từ 1 đàn bố mẹ duy nhất có nguồn gốc từ dế tự nhiên ở địa phương và nở cùng ngày Dế thí nghiệm được nuôi

Trang 27

dưỡng và chăm sóc như nhau ở tất các các nghiệm thức từ 7 ngày tuổi đến lúc trưởng thành

Khối lượng ban đầu của dế thí nghiệm được cân lúc 7 ngày tuổi, bằng cách cân ngẫu nhiên 30 con trên tổng số dế của một đơn vị thí nghiệm là 300 con (10% đơn vị thí nghiệm) từ đó tính được khối lượng trung bình của 300 dế Qua nhiều lần cân dế thực nghiệm cho thấy việc cân 30 dế trên tổng số 300 dế để tính khối lượng trung bình là đáng tin cậy, ít gây xáo trộn và giảm tỉ lệ chết Tương tự như cách cân khối lượng dế ban đầu, cứ hai tuần một lần thực hiện cân dế lại để xác định khả năng tăng khối lượng

của dế

Thức ăn gà thịt và cám gạo được cân và cho vào dĩa thức ăn vào buổi sáng hàng ngày Thức ăn xanh (lá khoai mì, lá bình bát dây và lá rau muống đồng) được cân để cho

dế ăn tươi Dế thí nghiệm được cho ăn tự do suốt ngày, bằng cách cho ăn thừa thức

ăn ở mỗi nghiệm thức vào sáng hôm sau để tính lượng thức ăn ăn vào Thức ăn được cho ăn hai buổi mỗi ngày Thời gian cho ăn được cố định trong suốt thời gian thí nghiệm Nước uống phải sạch và cung cấp tự do

Thức ăn thừa (từng loại) ở mỗi nghiệm thức được thu gom vào mỗi sáng trước khi cho dế ăn, cân và phân tích các thành phần dinh dinh dưỡng

Theo dõi hình sức khoẻ hàng ngày, dế chết và các trường hợp bất thường khác trong suốt thời gian thí nghiệm

3.3 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI

Thành phần dinh dưỡng thức ăn thí nghiệm và thức ăn thừa như: vật chất khô, đạm thô, béo thô, xơ thô và khoáng tổng số của thức ăn gà thịt, cám, lá khoai mì, lá rau muống đồng, lá bình bát dây được phân tích bằng phương pháp phân tích hoá học theo quy trình chuẩn trong phòng thí nghiệm

Lượng dưỡng chất ăn vào hàng ngày của dế thí nghiệm

Tăng khối lượng hàng ngày của dế

Tỷ lệ sống của dế khi kết thúc thí nghiệm

Hệ số chuyển hóa thức ăn

Thời gian nuôi

Xác định sinh khối của dế khi kết thúc thí nghiệm và lấy mẫu dế của từng nghiệm thức

để phân tích thành phần dinh dưỡng như: vật chất khô, đạm thô, béo thô, xơ thô và khoáng tổng số bằng phương pháp phân tích hoá học theo quy trình chuẩn trong phòng thí nghiệm

Trang 28

3.4 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU

Mẫu thức ăn cho ăn, mẫu thức ăn thừa của dế được xác định hàm lượng dưỡng chất như: vật chất khô, đạm thô, béo thô, xơ thô và khoáng tổng số

Lượng dưỡng chất ăn vào hàng ngày được tính theo công thức:

Lượng dưỡng chất ăn vào = Lượng dưỡng chất cho ăn – Lượng dưỡng chất thừa

Tăng khối lượng của dế thí nghiệm được xác định bằng cách cân ngẫu nhiên 30 dế thí nghiệm với điều kiện còn đủ chân Cân dế cứ mỗi hai tuần một lần vào một ngày cố

định, và vào buổi sáng trước khi cho dế ăn Tăng khối lượng của dế được tính bằng

công thức sau:

Tăng khối lượng của dế = Khối lượng dế cuối kỳ – Khối lượng dế đầu kỳ

Tỷ lệ sống của dế được tính bằng công thức sau:

Tỷ lệ sống của dế = Tổng số dế cuối kỳ.100/ Tổng số dế đầu kỳ

Hệ số chuyển hóa thức ăn của dế được tính bằng công thức sau:

Hệ số chuyển hóa thức ăn của dế = Khối lượng thức ăn ăn vào/Tăng khối lượng của dế

Thời gian nuôi dế từ 7 ngày tuổi đến khi thu hoạch (khi trong thùng nuôi xuất hiện khoảng 80% con có cánh)

Mẫu dế sau khi thu hoạch (dế trưởng thành) của từng đơn vị thí nghiệm sẽ được cân

để xác định sinh khối và phân tích giá trị dinh dưỡng gồm: vật chất khô, đạm thô, béo thô, xơ thô và khoáng tổng số

Sinh khối của dế = tổng khối lượng dế cuối thí nghiệm – tổng khối lượng dế đầu thí nghiệm

3.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÓA HỌC

Vật chất khô, béo thô, xơ thô và khoáng tổng số được phân tích theo tiêu chuẩn AOAC (1990) Đạm thô của thức ăn cho ăn, thức ăn thừa và dế thí nghiệm được phân tích bằng phương pháp Kjeldahl và được tính bằng N.6,25 Khoáng tổng số được xác định bằng cách đốt các mẫu kiểm nghiệm ở 600 oC

3.6 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU

Số liệu thu thập xử lý sơ bộ và lưu trữ trong các bảng tính EXCEL (MS Excel Software

2016 for Windows), số liệu sau đó được phân tích thống kê để so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức ở mức P<0,05 bằng mô hình hồi qui tuyến tính chung (General Linear Model) của MINITAB, version 17

Ngày đăng: 08/03/2021, 16:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w