Trong hệ hình paradigme tư duy hoàn toàn mới đó mỹ học hậu hiện đại mọi giá trị đều tồn tại bình đẳng, mang tiếng nói ngang nhau, nghiên cứu văn học, với những mảng sáng tác đặc thù, có
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA SƯ PHẠM
YẾU TỐ FOLKLORE TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT CỦA CHINGHIZ AITMATOV
NGUYỄN THỊ TUYẾT
AN GIANG, THÁNG 8 - 2014
Trang 3TRANG CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Đề tài nghiên cứu khoa học “Yếu tố folklore trong một số tiểu thuyết của Chinghiz Aitmatov”, do tác giả ThS Nguyễn Thị Tuyết thực hiện Tác giả
đã báo cáo kết quả và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học
An Giang thông qua ngày 20 tháng 8 năm 2014
Thư ký
Phản biện 1 Phản biện 2
Chủ tịch Hội đồng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới Trường Đại học An Giang, Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế, Phòng Kế hoạch - Tài vụ, Phòng Thư viện đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về kinh phí lẫn tài liệu để tôi có
cơ hội hoàn thành đề tài này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các Cô, các Thầy trong tổ Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư phạm luôn giúp đỡ, động viên tôi, đặc biệt là các Thầy phản biện đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để công trình được hoàn thiện hơn Thiết tha bày tỏ lòng tri ân sâu nặng đến thầy GS Phùng Văn Tửu, TS Phạm Xuân Hoàng đã cung cấp cho tôi nhiều thông tin hữu ích; các thầy Trần Tùng Chinh, Nguyễn Đức Thăng, Nguyễn Thanh Phong, Phùng Văn Tửu, và bạn Nguyễn Minh Sang đã cho tôi nhiều ý kiến nhận xét quý trong quá trình đọc bản thảo
Xin được tri ân nhiệt tâm tới gia đình đã luôn cho tôi niềm tin tưởng vững vàng, cảm ơn bằng hữu đã khích lệ và chia sẻ cùng tôi trong quá trình nghiên cứu
Chân thành cảm ơn!
An Giang, tháng Tám năm 2014
Nguyễn Thị Tuyết
Trang 5TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BẰNG TIẾNG VIỆT
Chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp, trong đó lý thuyết Phân tâm học, Văn hóa học, Thi pháp học hiện đại là những lý thuyết chủ đạo để nghiên cứu
đề tài “Yếu tố folklore trong một số tiểu thuyết của Chinghiz Aitmatov” Folklore trong tiểu thuyết của Aitmatov rất phong phú, đa dạng, đó là folklore của nhiều dân tộc khác nhau ở vùng Trung Á, nó phản ánh thế giới tâm linh, vô thức tập thể của dân tộc trong sự gặp gỡ với vô thức nhân loại Nó mang dấu ấn của văn hóa
du mục, đậm thiên tính nữ, và cho thấy thế giới tín ngưỡng hết sức phong phú
Folklore là bức bình phong để nhà văn thể hiện thái độ tư tưởng chính trị một cách khôn ngoan, là một loại chất liệu đặc biệt để phản ánh những vấn đề cấp bách trong đời sống xã hội Xô viết nửa sau thế kỷ XX, và những vấn đề nhân sinh muôn thuở, tạo nên nội dung triết học đạo đức sâu sắc cho tác phẩm
Folklore tạo nên nét đặc trưng trong tư duy và kết cấu của hầu hết tác phẩm Aitmatov Folklore tham gia vào toàn bộ cấu trúc tác phẩm tạo thành dạng cốt truyện đồng tâm, không gian - thời gian tái sinh vô tận, nhân vật song trùng và tạo ra nhiều khả năng chủ đề, mô hình dung thông trong thi pháp Mặc dù là folklore của nhiều dân tộc khác nhau, song đều gặp gỡ trong nỗ lực tìm hiểu cội nguồn văn hóa, ký ức dân tộc, và hầu hết những câu chuyện, huyền thoại, truyền thuyết đều mang tính bi kịch, chúng giống như những câu chuyện ngụ ngôn khơi gợi cuộc sống đương thời
Folklore không chỉ tạo nên nét phong cách độc đáo, sức hấp dẫn đặc biệt của tiểu thuyết Aitmatov, mà còn phù hợp với xu hướng cách tân tiểu thuyết hiện đại và hậu hiện đại
Từ khóa: Folklore, Chinghiz Aitmatov, Kirghizia, Ký ức dân tộc, Cốt
truyện đồng tâm, Nhân vật song trùng, Thi pháp dung thông
Trang 6TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BẰNG TIẾNG ANH
We use a variety of methods, and Psychoanalysis theory, Cultural studies, modern Poetics are key approaches to research the subject: “Folklore element in Chinghiz Aitmatov‟s novels” Folklore in Aitmatov‟s novels is extremely rich and diverse; that is folklore of many different ethnic nationalities in Central Asia, reflecting the spiritual world, the nationalities‟ collective unconscious in encounter with the unconscious of mankind Folklore is marked by nomadic culture, with woman divinity, and primitive belief world rich of colours
Folklore is a screen for Aitmatov to show wisely his political ideology attitude, and is special material for him to reflect urgent problems of Soviet society in the second half of the twentieth century, and also the human‟s age-old problems, creating profound moral philosophical content for literary works
Folklore is the characteristic feature of Aitmatov‟s thinking mode and almost of his novel structure Folklore participates in the whole works structure to form concentric plot, infinitely regenerative space - time, parallel characters, creating many possibilites for themes, and many models in communication poetics Folklore elements in Aitmatov's novels are folklore of many different ethnic nationalities, but they have the mutual attempt to find out the source of culture and people's memory And most of the stories, myths, legends are tragic and have connection signification with the contemporary life
Folklore formes not only Aitmatov's novels original style, and their special attraction but it is also in accordance with the present modern and postmodern trend of novel innovations
Key words: Folklore, Chinghiz Aitmatov, Kirghizia, People‟s memories,
Concentric plot, Parallel characters, Communication poetics
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu ghi trong công trình này là trung thực, có xuất
xứ rõ ràng, và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kì một công trình nào khác
An Giang, ngày 20/8/2014
Họ tên tác giả
Nguyễn Thị Tuyết
Trang 8MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU 1
1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 4
CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ FOLKLORE 6
2.1.1 Trên thế giới 6
2.1.2 Ở Việt Nam 7
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TIỂU THUYẾT CỦA CHINGHIZ AITMATOV 8
CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
CHƯƠNG 4 - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 14
4.1 NHẬN DIỆN VẤN ĐỀ SỬ DỤNG FOLKLORE TRONG TIỂU THUYẾT CỦA AITMATOV 14
4.1.1 Xác định thuật ngữ, giới thuyết khái niệm folklore … 14
4.1.1.1 Xác định thuật ngữ, giới thuyết khái niệm……… 14
4.1.1.2 Huyền thoại, biểu tượng, mẫu gốc, vô thức tập thể………… 18
4.1.2 Sự khủng hoảng của nhận thức, của biểu đạt thực tại và những nỗ lực mới của tiểu thuyết, lý luận, phê bình nửa sau thế kỷ XX 24
4.1.2.1 Sự khủng hoảng của nhận thức và biểu đạt thực tại 24
4.1.2.2 Những nỗ lực mới của tiểu thuyết và lý luận phê bình thế kỷ XX… 31 4.1.3 Sự xuất hiện của Aitmatov trên văn đàn Nga (Liên Xô) nửa sau thế kỷ XX 40
4.1.3.1 Văn học Nga (Liên Xô) nửa sau thế kỷ XX 40
4.1.3.2 Sự xuất hiện của Aitmatov 45
Trang 94.2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA TIỂU THUYẾT AITMATOV TỪ GÓC
NHÌN FOLKLORE 53
4.2.1 Thống kê, phân loại các dạng folklore cơ bản trong một số tiểu thuyết của Aitmatov 53
4.2.1.1 Bảng thống kê, phân loại 53
4.2.1.2 Một số nhận xét 58
4.2.2 Nguyên lý tính mẫu hay mẫu gốc Mẹ 64
4.2.2.1 Mẹ thủy tổ 65
4.2.2.2 Nữ tính Vĩnh hằng 69
4.2.3 Tín ngưỡng vật linh và sự tôn trọng động vật 74
4.2.3.1 Tín ngưỡng vật linh 74
4.2.3.2 Sự tôn trọng động vật 83
4.2.4 Mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, tín ngưỡng và khoa học, con người và thiên nhiên 92
4.2.4.1 Truyền thống và hiện đại, tín ngưỡng và khoa học 92
4.2.4.2 Con người và thiên nhiên 101
4.3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN TIỂU THUYẾT AITMATOV TỪ GÓC NHÌN FOLKLORE 110
4.3.1 Kết cấu cốt truyện 110
4.3.1.1 Dạng “ly tâm” hay folklore - sự mở rộng cốt truyện 112
4.3.1.2 Dạng “hướng tâm” hay folklore - điểm gút của nhiều tuyến cốt truyện 121
4.3.2 Không gian, thời gian nghệ thuật 137
4.3.2.1 Không gian nguyên thủy 138
4.3.2.2 Thời gian tái sinh vô tận 143
4.3.3 Thế giới nhân vật 148
4.3.3.1 Nhân vật folklore - những cội nguồn văn hóa 149
4.3.3.2 Thế hệ lưu giữ văn hóa 152
4.3.3.3 Thế hệ tiếp nhận văn hóa 155
CHƯƠNG 5 - KẾT LUẬN 159
TÀI LIỆU THAM KHẢO 163
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Bảng thống kê, phân loại các dạng yếu tố folklore trong một số tiểu thuyết
của Chinghiz Aitmatov 53
Bảng 2: Số lƣợng các dạng yếu tố folklore 58 Bảng 3: Bảng phân loại cốt truyện 110 Bảng 4: Bảng thống kê vị trí và dung lƣợng những câu chuyện dân gian nổi bật trong
một số tiểu thuyết của Aitmatov 120
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Từ nguyên
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tính cần thiết của đề tài trước nhất được xác định xuất phát từ mục đích nhu cầu giảng dạy văn học Nga Xô viết nói chung, Aitmatov nói riêng trong nhà trường Song, vì sao đề tài lựa chọn từ góc nhìn folklore? Vì nó vừa gắn liền với đặc trưng tiểu thuyết Aitmatov, vừa phù hợp với xu hướng phát triển văn học hiện nay Chúng tôi cụ thể hóa thành ba luận điểm như sau:
1 Va
có biên độ “co giãn” rất lớn, hoặc rất (chỉ ) hoặc (rất) hẹp (chỉ văn học dân gian), song dù rộng hay hẹp thì nó đều
cô đọng tính dân tộc, cội nguồn văn hóa từ thời viễn xưa của mỗi cộng đồng
văn hóa học, và nó cho thấy mối
Văn học cũng như các loại hình nghệ thuật khác nói riêng và cuộc sống nói chung, luôn vận động và đổi mới không ngừng Xu hướng về nguồn và mở rộng, đi sâu vào văn hóa, tâm linh là một trong những xu hướng nổi bật trong sáng tác và phê bình hiện
Thực tiễn sáng tạo văn chương nửa sau thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI là thâm nhập sâu vào thế giới tiềm thức, các tầng sâu văn hóa, triết học và huyền thoại… Từ Kafka đến Th.Mann ở Tây phương, từ Borges đến Marquez ở Mỹ Latinh, và từ Kawabata đến Mạc Ngôn ở Đông phương, hay từ Nguyễn Xuân Khánh đến Nguyễn Bình Phương ở Việt Nam,… đều phóng chiếu thế giới nghệ thuật của mình trên những cơ tầng văn hóa và tâm linh, vô thức của nhân loại Từ thực tiễn sáng tạo đó
Trang 14đòi hỏi người đọc (nghiên cứu, phê bình) có những xu hướng giải mã mới, trong đó liên văn bản1
là hướng nghiên cứu đầy triển vọng trong “hoàn cảnh hậu hiện đại2” Trong hệ hình (paradigme) tư duy hoàn toàn mới đó (mỹ học hậu hiện đại) mọi giá trị đều tồn tại bình đẳng, mang tiếng nói ngang nhau, nghiên cứu văn học, với những mảng sáng tác đặc thù, có thể tiếp cận từ những góc nhìn khác nhau như dân tộc học, sử học, nhân học, xã hội học, tâm lý học, văn hoá học, folklore học… trong
đó, p là một hướng nghiên cứu có kết quả chung cho các ngành khoa học trên Bắt đầu từ những năm 1930 - 1940, khởi đi từ Carl Gustav Jung, Maud Bodkin, Joseph Campbell,… đến E M Meletinsky, Northrop Frye, Roland Barthes,
…và theo Phan Thu Hiền “Phê bình nguyên mẫu trở thành cái trục bánh xe qui tụ và vận hành Phê bình lịch sử, Phê bình cấu trúc, Phê bình hình thức thẩm mỹ…” (Phan
Thu Hiền, 2007, tr 57)
đànphẩm của ông
Chinghiz Aitmatov, một trong những nhà văn nổi tiếng nhất thế kỷ XX, tác giả
mà các tác phẩm đã đi vào kho báu của văn học Xô viết Tác phẩm của ông đã được
dịch ra 170 thứ tiếng, trong đó nhiều tác phẩm đã được đưa vào các chương trình phổ
thông không chỉ ở Nga, mà còn ở nhiều nước trên thế giới, (ở Việt Nam, văn bản Hai
cây phong trích từ tác phẩm Người thầy đầu tiên, được đưa vào chương trình lớp 8
tập 1) Chúng ta có thể kể đến những tác phẩm nổi tiếng của Aitmatov như: Jamilya (1958), tập truyện Núi đồi và thảo nguyên (1963), Cánh đồng mẹ (1963), Vĩnh biệt
Gunxarư! (1966), Con tàu trắng (1970), Sếu đầu mùa (1975), Con chó khoang chạy ven bờ biền (1977), Và một ngày dài hơn thế kỷ (1980), Đoạn đầu đài (1986), Khi những quả núi đổ sụp (2006)3
2 Tên một quyển sách của Jean-François Lyotard (1924 -1998), triết gia người Pháp
3 Năm xuất bản ghi ở đây là lần xuất bản đầu tiên ở Liên Xô
Trang 15“Đây là tổn thất lớn không sao bù đắp được cho tất cả chúng ta
Chinghiz Aitmatov luôn ngự trị trong ký ức của chúng ta như một nhà văn vĩ đại,
một nhà tư tưởng, một trí thức và một nhà nhân văn”
Con tàu trắng (CTT), Con chó khoang chạy ven bờ biển
(CCKCVBB), Vĩnh biệt Gunxarư! (VBG), Và một ngày dài hơn thế kỷ (VMNDHTK), Đoạn đầu đài (ĐĐĐ),…
âm vang lớn chảy dài theo thời gian:
Từ giá trị tự thân của yếu tố folklore trong tác phẩm của Aitmatov đến xu thế vận động và phát triển của hoạt động sáng tạo và phê bình văn học hiện nay, chúng
tôi chọn và nghiên cứu đề tài Yếu tố folklor
Chinghiz Aitmatov Hi vọng với hướng nghiên cứu này, sẽ tìm ra một lối đi riêng
để khám phá được vẻ đẹp thế giới nghệ thuật Aitmatov, và cũng là con đường để hiểu thêm về văn học, văn hóa Kirghizia nói riêng và Liên Xô nói chung
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài trực tiếp chỉ rõ yếu tố folklore (tín ngưỡng, lễ nghi, truyện cổ dân gian, huyền thoại, truyền thuyết, bài ca, motif tôn giáo, …) phản ánh thế giới tâm linh, vô
thức tập thể của dân tộc, trong một số tác phẩm như Con tàu trắng, Con chó khoang
chạy ven bờ biển, Vĩnh biệt Gunxarư!, Và một ngày dài hơn thế kỷ, Đoạn đầu đài,…
của nhà văn Aitmatov
Vai trò của yếu tố folklore trên một số bình diện cấu trúc tác phẩm như kết cấu cốt truyện, hệ thống nhân vật, không gian, thời gian, và đặc biệt là chủ đề tư tưởng gắn với những thông điệp nhân sinh sâu sắc
Trang 16Từ đó, khái quát hóa kiểu tư duy, phong cách nghệ thuật độc đáo của Aitmatov: bằng folklore nhà văn đã đặt ra nhiều vấn đề và tìm thấy câu trả lời cho những vấn nạn bức xúc trong đời sống xã hội Xô viết, và những vấn đề muôn thuở của nhân sinh
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Yếu tố folklore trên bình diện nghĩa rộng, bao gồm: các tín ngưỡng dân gian trong
đó nhấn mạnh thuyết vật linh, tín ngưỡng sùng bái vật tổ , các huyền thoại, truyền thuyết, câu chuyện, bài hát dân gian và motif tôn giáo từ phương diện nội dung tư
tưởng và hình thức nghệ thuật trong một số tác phẩm của Aitmatov: Con tàu trắng,
Vĩnh biệt Gunxarư!, Con chó khoang chạy ven bờ biển, Và một ngày dài hơn thế kỷ, Đoạn đầu đài
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Các tác phẩm của Aitmatov hầu hết đã được dịch sang Việt Nam, song ở đề tài này
chúng tôi tập trung vào các tác phẩm: Con tàu trắng, Vĩnh biệt Gunxarư!, Con chó
khoang chạy ven bờ biển, (Phạm Mạnh Hùng dịch, 1982, Nxb Tác phẩm mới - Hà
Nội); Và một ngày dài hơn thế kỷ (Lê Khánh Trường - Nguyễn Đức Dương dịch,
1986, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh); Đoạn đầu đài (Vũ Việt dịch, 1989, Nxb Tác phẩm mới - Hà Nội), từ điểm nhìn của các yếu tố folklore Lựa chọn những tác phẩm
này, không chỉ vì chúng phổ biến trên thế giới, chúng tiêu biểu cho phong cách sáng tác của Aitmatov, mà điều quan trọng hơn là tự thân trong mỗi tác phẩm trên yếu tố folklore vô cùng đậm đặc, mang giá trị nghệ thuật cao, và trở thành kiểu tư duy của nhà văn
Ngoài ra, chúng tôi còn mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số tác phẩm khác
như Cánh đồng mẹ, Jamilya (Aitmatov), Nghệ nhân và Margarita (Bulgakov) ở một
số khía cạnh nghệ thuật nhất định, nhằm đối chiếu so sánh, và để có thể đưa ra những kết luận khái quát hơn
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài trực tiếp chỉ ra các dạng cụ thể và biểu hiện sinh động của yếu tố folklore trong từng tác phẩm: từ đời sống tín ngưỡng đến lễ nghi, lễ hội và đặc biệt là những truyền thuyết, huyền thoại truy tìm nguồn gốc dân tộc, ẩn giấu trong những biểu tượng, mẫu gốc và vô thức tập thể
Trang 17Vai trò của yếu tố folklore trong cấu trúc tác phẩm: khởi đi từ yếu tố, song đề tài
đã khái quát hóa folklore trở thành đặc điểm thi pháp, một kiểu tư duy trong tiểu thuyết Aitmatov Folklore dự phần quan trọng trong việc tạo ra nhiều hệ chủ đề và cốt truyện, không gian, thời gian tái sinh vô tận trong nhịp điệu tuần hoàn và dung thông, hệ thống nhân vật như những bản ngã song trùng (hoặc bộ ba nhân vật) Khái quát hóa kiểu tư duy, kiểu “giải hiện thực” của Aitmatov: sử dụng folklore như một chất liệu, như một phương tiện, mục đích của ông là hướng đến giải quyết những vấn đề cấp bách của thời đại như xung đột giữa truyền thống và hiện đại, tín ngưỡng và khoa học, phát triển kinh tế xã hội trong mối quan hệ với vấn đề môi sinh, cuộc đấu tranh thiện ác, vấn đề đời sống đạo đức của con người,… Và những vấn đề
ấy không chỉ là những bức xúc trong đời sống kinh tế - chính trị - xã hội Liên Xô mà còn là những vấn nạn trong đời sống mọi thời đại, mà Aitmatov đã khái quát trong cái nhìn xuyên lịch sử
Đề tài được hoàn chỉnh sẽ là tài liệu hữu ích cho sinh viên khi tìm hiểu, nghiên cứu về Aitmatov
Trang 18CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ FOLKLORE
2.1.1 Trên thế giới
Folklore là thuật ngữ do William John Thoms (bút danh Merton) đề xuất năm
1846, với sự ghi chú là folklore = folk + lore, folk là thuộc về nhân dân, là dân gian; lore là tri thức, sự hiểu biết, là tinh thần, thậm chí là câu chuyện…
Từ đó đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn học dân gian nói riêng
và folklore nói chung Tựu trung, những tác phẩm đứng vào hàng ngũ kinh điển và được dịch ở Việt Nam như sau:
Văn hóa nguyên thủy của Edward Burnett Tylor (được viết 1869, xuất bản lần
đầu tiên 1971) là một trong những công trình văn hóa học xuất hiện đầu tiên, có vị trí đặc biệt, đặt nền móng cho khoa học về văn hóa Công trình nghiên cứu gần như đầy
đủ về các phương diện văn hóa nguyên thủy, trong đó, nội dung có ý nghĩa quan trọng đối với đề tài chúng tôi là các chương viết về huyền thoại và thuyết vật linh (chương XII đến chương XXI)
Với Cành vàng (được viết từ 1890 - 1907), James George Frazer đã xây dựng lý
thuyết phổ quát về sự tiến hóa tư duy nhân loại dựa trên việc thừa nhận sự thống nhất tâm lý - văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới, qua ba phương thức quan hệ với
tự nhiên: ma thuật, tôn giáo, khoa học
Thi pháp của huyền thoại (2004) của M E Meletinsky đã cho ta cái nhìn theo
dòng lịch đại của huyền thoại: từ nghi lễ - huyền thoại, huyền thoại trong truyện cổ dân gian, đến huyền thoại trong văn học thế kỷ XX như J Joyce, T Mann và F Kafka Từ cái nhìn của nhà folklore học và nhà kí hiệu học, tác giả đã khẳng định:
“kiểu tư duy huyền thoại là kiểu tư duy nguyên thủy nói chung và cho một số cấp độ
ý thức, đặc biệt là ý thức đại chúng trong mọi thời đại” (M E Meletinsky, 2004, tr xv)
Trong công trình Những huyền thoại (2008), Roland Barthes đã coi: “thời hiện đại là
một trường lực ưu thắng đối với huyền thoại hóa, là môi trường độc quyền cho sự huyền thoại hóa” Và ông nhấn mạnh sự khác biệt của huyền thoại hóa trong thế kỷ XX là:
“một triết thuyết đoạn tuyệt kiên quyết với truyền thống của thế kỷ XIX (…) vượt ra khỏi khuôn khổ lịch sử xã hội nhằm thể hiện những bản nguyên vĩnh cửu của đời sống
Trang 19và tư duy nhân loại”, “huyền thoại như một tư tưởng hệ sinh động của thời hiện đại” (R Barthes, 2008, tr 24) Những công trình nghiên cứu trên có ý nghĩa nền tảng để chúng tôi tiếp cận với vấn đề nghiên cứu, một cách khoa học hơn
Theo vết chân những người khổng lồ (Đỗ Lai Thúy biên soạn, 2006) đã giới thiệu
13 lý thuyết văn hóa, từ nhiều nguồn khác nhau, là những khái niệm chìa khóa, những ý niệm động lực để chúng tôi lựa chọn phương pháp phù hợp với đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đặc biệt là tuyển tập Folklore thế giới tuyển tập các bài viết nghiên cứu folklore thế giới (2005, 2 tập), do Ngô Đức Thịnh và Frank Proschan đồng chủ biên, bao gồm các
bài viết đã hình thành nên quá trình tiến triển và phát triển folklore trong hai thế kỷ qua
và những bài viết đại diện cho những khuynh hướng nghiên cứu mới mẻ vừa xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây Những bài viết ấy vận dụng các lí thuyết tâm lí, ngôn ngữ, nhân chủng học, cấu trúc luận, để nghiên cứu folklore, hoặc đặt ra các vấn đề căn bản của folklore như: phương pháp nghiên cứu, các hình thức mô phỏng, các kí hiệu, biểu tượng, hình thức thể loại, vấn đề tôn giáo/tín ngưỡng dân gian
Đây là công trình thiết yếu có tính chất bản lề, đặc biệt quan trọng đối với đề tài, trước hết là những bài viết mà trọng tâm hướng vào lý thuyết và phương pháp nghiên
cứu folklore, hoặc phương pháp tiếp cận của các nhà folklore hiện đại như: Folklore
với tính cách một hình thức sáng tạo đặc biệt của Petr Bogatyrev và Roman
Jakobson, Đặc trưng của folklore của Vlamidir Propp, Nghiên cứu thần thoại theo
phương pháp cấu trúc của Levi Strauss
Nhiều công trình lí luận của ngành folklore đã được xuất bản, góp phần làm rõ mục đích, đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ đặt ra đối với khoa nghiên cứu folklore
Đó là các công trình như: Văn hoá dân gian - những lĩnh vực nghiên cứu (Nhiều tác giả, 1989, Viện Văn hoá dân gian, Nxb Khoa học Xã hội); Văn hoá dân gian - những
phương pháp nghiên cứu (Nhiều tác giả, 1990, Viện Văn hoá dân gian, Nxb Khoa
học Xã hội); Trên đường tìm hiểu văn hoá dân gian (Đinh Gia Khánh, 1989, Nxb
Trang 20Khoa học Xã hội); Quan niệm về folklore (Ngô Đức Thịnh chủ biên, 1990, Nxb Khoa học xã hội); Dẫn luận nghiên cứu folklore Việt Nam (Vũ Ngọc Khánh, 1991,
Sở Giáo dục Thanh Hóa xuất bản); Văn hóa dân gian mấy vấn đề phương pháp luận
và nghiên cứu thể loại (Chu Xuân Diên, 2001, Nxb Giáo dục)…
Lý thuyết về folklore trên có vai trò vô cùng quan trọng, là bản mệnh của đề tài,
là cơ sở, nền tảng để chúng tôi khám phá đối tượng của đề tài theo con đường riêng trong mê cung phương pháp tiếp cận; đồng thời, những công trình trên đã chỉ ra cho người viết cách thức làm việc một cách khoa học nhất, để có thể đạt được hiệu quả cao nhất, trong quá trình nghiên cứu
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TIỂU THUYẾT CỦA CHINGHIZ AITMATOV
Là nhà văn quen thuộc trên văn đàn thế giới, và gần gũi với độc giả Việt Nam, song những công trình nghiên cứu về tác phẩm của Aitmatov đã được công bố ở nước ta mới chỉ dừng lại ở những bài giới thiệu, bài báo hoặc những bài phỏng vấn,… Trong điều kiện thời gian và năng lực bản thân có hạn, chúng tôi đã thu thập và tìm hiểu về một số bài nghiên cứu liên quan đến tác phẩm của Aitmatov như sau:
1 Có lẽ những người đầu tiên tiếp xúc với Aitmatov là giới dịch giả, những người dịch tác phẩm và viết Lời giới thiệu cho những tác phẩm ấy; hoặc họ dịch những bài nghiên cứu nhỏ và nó có vị trí như là Lời nói đầu trong mỗi cuốn sách
Trong cuốn Jamilya - Truyện núi đồi và thảo nguyên do Phạm Mạnh Hùng,
Nguyễn Ngọc Bằng, Cao Xuân Hạo, Bồ Xuân Tiến, bài viết của Andrei Turcov là Lời nói đầu cho cuốn sách Bài viết dài 5 trang, gồm vài nét phác thảo về quê hương đồi núi Kirghizia, ca ngợi những con người có sức mạnh tinh thần của những nhân vật nữ đã ý thức và đấu tranh cho quyền hạnh phúc chân chính của bản mình như Antưnai, Jamilya,… Kết lại bài viết, ông đã đánh giá một cách khái quát và khẳng định tầm ảnh hưởng của Aitmatov ngay từ những tác phẩm đầu tay: “Về sáng tác của Aimatov, người ta đã luận bàn nhiều ở cả quê hương ông, cả ở nơi khác: không một
ai có thể bàng quan trước những sáng tác đó được Tính hiện đại rõ ràng trong phong cách nghệ thuật của ông, sự mạnh dạn thoát ra khỏi khuôn khổ của những đề tài và thủ pháp từ trước đến nay vẫn được văn hóa ưa chuộng ở một mức độ nhất định đã làm gương cho một loạt các nhà văn Kirghizia, đặc biệt là lớp nhà văn trẻ” (Andrei Turcov, 2011, tr 9 - 10)
Trang 21Dịch giả Phạm Mạnh Hùng, trong Lời giới thiệu tác phẩm Vĩnh biệt Gunxarư!,
Con tàu trắng, Con chó khoang chạy ven bờ biển, đã khẳng định vai trò của huyền
thoại trong việc kiến tạo cốt truyện và điều quan trọng hơn là vai trò của huyền thoại
đã hun đúc nên thế giới tâm hồn con người, đặc biệt là trẻ thơ: “Trong Con tàu trắng cũng như Con chó khoang chạy ven biển, nhân vật chính đều là trẻ em Hai chú bé
cùng độ tuổi, cùng ngây thơ trong trắng Cả hai đều yêu mến cái đẹp, cái nhân hậu, lẽ công bằng, tâm hồn hai em đều được nuôi dưỡng bằng những huyền thoại và truyền thuyết đẹp đẽ, cả hai đều giàu tưởng tượng và ước mơ…” (Phạm Mạnh Hùng, 2000,
tr 568)
Lê Khánh Trường, Nguyễn Đức Dương trong Lời giới thiệu tác phẩm Và một
ngày dài hơn thế kỷ đã tổng kết lại quá trình sáng tạo của Aitmatov, và ca ngợi tài
năng, phong cách độc đáo “kết hợp tài tình tính dân tộc và tính hiện đại trong khi vận dụng nhuần nhuyễn truyền thuyết và huyền thoại trong dân gian, lẫn khoa học viễn tưởng vào tác phẩm của mình” (Lê Khánh Trường - Nguyễn Đức Dương, 1986, tr 6)
Những Lời giới thiệu ấy tuy rất ngắn gọn, song có vai trò quan trọng trong việc định hướng cách tiếp cận tác phẩm cho độc giả, và với chúng tôi, những ý kiến quý báu ấy bước đầu khơi gợi và hình thành những luận đề đầu tiên cho đề tài nghiên cứu
2 Những tài liệu khoa học tiếp theo cần được khẳng định là những bài báo xuất hiện rải rác từ những năm 80 (XX) đến nay trên các tạp chí, sách và mạng Internet
Trong cuốn khảo cứu Văn học Xô viết đương đại, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc
Hiến đã đánh giá rất cao tác phẩm của Aitmatov: “một tác giả còn rất trẻ và tài nghệ điêu luyện, một áng văn đậm đà bản sắc dân tộc và chứa chan tình cảm nhân loại” (Hoàng Ngọc Hiến, 1987, tr 196) Điều tác giả quan tâm tìm hiểu nhất là về hình
tượng nhân vật trong các tác phẩm Jamilia - Truyện núi đồi và thảo nguyên, Và một
ngày dài hơn thế kỷ, và ông khẳng định thêm “Và một ngày dài hơn thế kỷ là đỉnh
cao của khuynh hướng triển khai triết lý đối với cuộc sống, thông qua số phận con người”
Bài viết Đặc sắc tư duy nghệ thuật Ch Aitmatov của Đỗ Xuân Hà đã nỗ lực chỉ
ra những đặc trưng của phong cách Aitmatov: từ nghệ thuật xây dựng nhân vật với khả năng miêu tả “lịch sử trong con người” đến phương thức khái quát hiện thực mang tính sử thi - huyền thoại của Aitmatov Tác giả bài báo cho rằng: “Tác phẩm
Trang 22của ông (Aitmatov) là sự tiếp nối truyền thuyết, huyền thoại, vốn kinh nghiệm sống, triết học, ký ức của nhân dân” (Đỗ Xuân Hà, 1987, tr 44)
Nguyễn Hải Hà, trong bài viết Những chân trời của văn xuôi Xô viết hiện đại, in trong Văn học Nga - Sự thật và cái đẹp, đã khẳng định thêm vai trò của folklore
trong từng tác phẩm: “Huyền thoại, truyền thuyết được sử dụng nhuần nhuyễn làm tăng thêm sức biểu cảm trong các truyện của Aitmatov với phong cách phương Đông
rất gần gũi chúng ta Truyền thuyết đóng vai trò đắc lực trong Con chó khoang chạy
ven bờ biển, là ước vọng trong trắng thơ ngây của chú bé trong Con tàu trắng, là lời
nhắc nhủ của nhân vật chính trong Vĩnh biệt Gunxarư!” (Nguyễn Hải Hà, 2002, tr
297)
Gần đây có một số bài viết của Hà Văn Lưỡng như Bàn về huyền thoại, truyền
thuyết trong văn xuôi Aitmatov, Các kiểu thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Và một ngày dài hơn thế kỷ của Chinghiz Aitmatov đăng tải trên trang web của Tạp chí
Sông Hương… Trong đó, bài viết thứ nhất đã khái quát nét đặc trưng của văn chương Aitmatov: “Nét đặc trưng trong sáng tác của Aitmatov là sự hòa quyện một cách nên thơ giữa tư duy tiểu thuyết mang tính sử thi với những hình thức nghệ thuật dân gian của dân tộc Kirghizia” (Hà Văn Lưỡng, 2010) Tác giả chỉ ra những yếu tố huyền thoại, truyền thuyết trong một vài tác phẩm nhưng do dung lượng một bài viết rất ngắn (2 trang), chỉ mang tính chất giới thiệu, khái quát mà không phân tích bất kỳ tác phẩm nào
Những công trình trên dù dung lượng dài ngắn khác nhau và hình thức và thời gian xuất bản khác nhau4 nhưng đều gặp gỡ ở việc nhấn mạnh vai trò của truyền thuyết, huyền thoại là một nét đặc trưng trong tiểu thuyết Aitmatov, song họ đều chưa có phân tích bất kỳ một tác phẩm nào, hoặc phương diện nào của tác phẩm
3 Nguồn tài liệu thứ ba, khi nghiên cứu tác phẩm của Aitmatov, cần phải kể đến là những bài nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, hoặc những bài phỏng vấn Aitmatov đã được chuyển ngữ và phổ biến ở Việt Nam Những bài viết này phần nào cho thấy vị trí của Aitmatov trên văn đàn ngay từ những sáng tác đầu tay và quan trọng hơn là tìm ra được những nguồn cội tư tưởng, văn hóa trực tiếp làm nên tác phẩm và tên tuổi nhà văn Kirghizia này
4 Chúng tôi muốn lưu ý đến sự khác nhau về thời kỳ trước và sau khi Liên Xô tan rã
Trang 23Nhận định quan trọng và đã đưa Aitmatov nhanh chóng đến với bạn đọc thế giới
của nhà văn L Aragon, khi dịch Jamilya sang tiếng Pháp ông cho rằng tác phẩm là
“thiên tình sử đẹp nhất thế gian” Và “Cần phải làm cho cuốn sách nhỏ này của chàng thanh niên sinh năm 1928 ở vùng biên giới của Kirghizia và Kazacxtan, giữa núi đồi và thảo nguyên, tại cái xứ sở giáp Trung Quốc và Ấn Độ, nơi mà chúng ta bắt đầu tìm hiểu về những con người tuy giống chúng ta nhưng lại sống hoàn toàn khác chúng ta - cần phải làm cho cuốn sách nhỏ này của Aitmatov nhanh chóng trở thành bằng chứng nói lên rằng chỉ có chủ nghĩa hiện thực mới có khả năng kể về một câu chuyện tình yêu” (Lê Sơn, 2001, tr 386)
Sau Núi đồi và thảo nguyên, Aitmatov có nhiều chuyển biến trong sáng tác, đặc biệt từ Vĩnh biệt Gunxarư! folklore xuất hiện nhiều và trở thành một chất liệu quan
trọng trong mỗi tác phẩm của nhà văn Như một sự tôn vinh di sản văn hóa dân tộc Kirghizia lẫn tên tuổi của Aitmatov, nhà phê bình văn học N Potarov, trong bài viết
Thế giới của con người và con người trong thế giới đã khẳng định sức sống muôn
đời của folklore, và chính từ trong cội nguồn ấy đã triển nở và viên mãn những giá trị văn chương bất hủ Lý do quan trọng cho những thành công của nhà văn Aitmatov, theo Potarov là “biết lắng nghe tiếng nói của tổ tiên vang vọng trong những cảm xúc
về cái đẹp, trong những quan niệm về ý nghĩa của cuộc đời cũng như thực chất của con người, tiếng bước chân của lịch sử trong những trang sử thi không bao giờ mai một, trong những truyền thuyết và những điệu dân ca mộc mạc” (N Potarov, 1986,
tr III)
Nhận định đó trùng khớp với lời tâm sự của chính nhà văn trong lần trao đổi ý kiến với Irina Risina, phóng viên báo Literaturnai Gazeta, và xuất hiện với nhan đề
Cái giá là cuộc sống (1986) sau khi xuất bản tác phẩm Đoạn đầu đài Khi lý giải vì
sao Acbara và Tastrainar được viết với một sức truyền cảm và sức mạnh tâm lý kỳ
lạ, mang tính người sâu sắc, Aitmatov thừa nhận: “Cội nguồn của thái độ đam mê vô
độ của tôi đối với thế giới loài vật có cội rễ từ folklore dân tộc Kirghizia, bởi vì
“folklore Kirghizia đầy rẫy loài vật vì đó là folklore của những người chăn súc vật,
và “huyền thoại, truyền thuyết có ý nghĩa hướng thiện và khi đặt bên cạnh đời sống các nhân vật thì nó có tác dụng thanh lọc về mặt đạo đức” (Aitmatov, 2013) Ngoài
ra, bài phỏng vấn nhỏ đó còn có ý nghĩa rất lớn đối với chúng tôi trong quá trình tìm
ra “cách đọc” tác phẩm Đoạn đầu đài
Song, không phải chỉ từ di sản quá khứ nước Kirghizia xa xôi mà tác phẩm của Aitmatov được đông đảo bạn đọc biết đến và kết tinh giá trị nhân văn sâu sắc mang
Trang 24tầm nhân loại, bởi cội nguồn ảnh hưởng thứ hai là văn học Nga, văn hóa Nga, ngôn ngữ Nga trong mối gắn kết máu thịt với những vấn đề bức bách của đời sống thời Xô viết Điều này cũng được chính nhà văn xác nhận trong cuộc trao đổi giữa nhà văn và
bình luận viên báo Literatunai Gazeta, xuất hiện với nhan đề Lời tâm huyết nảy sinh
trong cuộc sống nội tâm (1994) Aitmatov luôn khẳng định: “văn học Nga bao giờ
cũng là văn học của lương tri” (Aitmatov, 1995, tr 52), và “tôi đã gắn bó mật thiết với văn học Nga” Ngay cả khi Liên bang Xô viết đã tan rã và “mọi thứ đang bị đảo lộn và sắp xếp lại” như cách Lenin nói về nước Nga sau thời cải cách nông nô, thì Aitmatov và nhiều nhà văn chân chính khác vẫn vững tin rằng: “Trên con đường Đông - Tây, không một ai và không bao giờ có thể thay thế được nước Nga Riêng tôi (Aitmatov), tôi hiểu rằng tôi càng cố khai thác những đề tài phức tạp bao nhiêu thì tôi càng liên hệ mật thiết với văn học Nga bấy nhiêu” (Aitmatov, 1995, tr 54),
“bởi vì văn học Nga là tài sản của lịch sử khiến cho nhiều nhà văn không có gốc gác Nga cũng hướng tới văn học Nga”…
Những tài liệu trên mà chúng tôi thu thập được, dù còn rất ít, chưa tương xứng với sự nghiệp sáng tác của nhà văn, và hơn nữa, các nhà nghiên cứu quan tâm về những phương diện khác nhau, nhưng tựu trung họ đã khẳng định vai trò của truyền thuyết, huyền thoại trong tác phẩm của Aitmatov, và đó là những gợi ý bổ ích cho chúng tôi trong quá trình triển khai đề tài này
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn làm sáng tỏ yếu tố folklore trong từng biểu hiện cụ thể, từng tác phẩm cụ thể ở các phương diện nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật, ở chiều sâu văn hóa nước Kirghizia và bề dày lịch sử văn hóa, xã hội Liên bang Xô viết Từ đó rút ra được đặc điểm thi pháp riêng và kiểu tư duy độc đáo của Aitmatov khi nhà văn tạo ra hành lang “giao thông” giữa quá khứ và hiện tại, giữa di sản văn hóa dân tộc và những vấn đề cấp bách của thời đại
Trang 25CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: 3.1 Phương pháp hệ thống, cấu trúc: Nghiên cứu yếu tố folklore dưới góc độ chỉnh thể - hệ thống, đặt nó trong mối quan hệ động với các yếu tố khác như cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian của tác phẩm để thấy được vai trò khác nhau của yếu tố folklore đối với kiến trúc tác phẩm
3.2 Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê các dạng yếu tố folklore, và thống kê tần suất xuất hiện của một yếu tố/một dạng yếu tố trong một hay nhiều tác phẩm nhằm thể hiện độ lớn, ý nghĩa của yếu tố/dạng yếu tố đó trong sáng tác của Aitmatov
3.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đây là phương bổ trợ cho hai phương pháp trên nhằm thể hiện tính riêng kiểu tư duy của nhà văn và vẻ đẹp riêng của thế giới tiểu thuyết Aitmatov
3.4 Vận dụng những lý thuyết nghiên cứu văn học như: Thi pháp học, Tự sự học để nghiên cứu tác phẩm một cách cụ thể, toàn diện; kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp,… là những kĩ năng cần thiết để khai phá tác phẩm và rút ra những kết luận chung nhất về vấn đề nghiên cứu
3.5 Chúng tôi dùng các lý thuyết nghiên cứu văn học Phân tâm học, Văn hóa học như là cách thức chủ đạo để nghiên cứu các giấc mơ, mẫu gốc, huyền thoại,
trực tiếp làm rõ yếu tố folklore trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng của nhà văn
Trang 26CHƯƠNG 4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
4.1 NHẬN DIỆN VẤN ĐỀ SỬ DỤNG FOLKLORE TRONG TIỂU THUYẾT CỦA AITMATOV
4.1.1 Xác định thuật ngữ, giới thuyết khái niệm folklore
4.1.1.1 Xác định thuật ngữ, giới thuyết khái niệm
Folklore là khái niệm được sử dụng rộng rãi trên thế giới với hình thái từ nguyên học không đổi Nguyên thủy, do nhà nhân chủng học người Anh, William
John Thoms đề xuất trong bài báo đăng trên tờ Athenaeum, ngày 22/8/1846, là một
thuật ngữ mang nội hàm rất rộng, để chỉ khái niệm văn hóa dân gian, gồm tất cả những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là di tích của nền văn hoá tinh thần như phong tục, đạo đức, tín ngưỡng, những bài dân ca, những câu chuyện kể của cộng đồng
Bài báo khoa học đó ngay lập tức gây được tiếng vang, và thuật ngữ foklore được chấp nhận, trở thành một xu hướng nghiên cứu mới ở Châu Âu và lan tỏa khắp thế giới Các hội nghiên cứu folklore lần lượt ra đời: Hội Folklore Anh năm 1878, Hội Folklore Mỹ 1888, và theo Nguyễn Hùng Vĩ, (trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An Phỏng vấn Nguyễn Hùng Vĩ về Folklore hiện đại), vào năm 1872, Hiệp hội Folklore quốc tế hình thành, và từ đây, khoa học về folklore trên thế giới phát triển hết sức mạnh mẽ Liên quan tới đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, thuật ngữ này (folklore) được hiểu với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Cho đến tận ngày hôm nay, khi folklore học đã phát triển và thu được nhiều thành tựu rực rỡ thì
sự khác biệt đó (chúng tôi sẽ bàn kĩ dưới đây) không những không giảm đi mà thậm chí còn có xu hướng tăng thêm, như lời nhà folklore học người Nga, L E Molianov
đã nhận xét trong hội nghị tổng kết những thành tựu đã đạt được trong công tác nghiên cứu folklore đầu những năm 50, rằng trong số những người tham dự “tiếc thay không có hai người có những quan niệm chúng ta có thể gọi là như nhau về folklore”, và cách nói dí dỏm của Dan Ben - Amos cũng thật đúng đắn và hợp lý:
“các định nghĩa folklore cũng nhiều và đa dạng như dị bản của một truyện cổ dân gian nổi tiếng” (Ngô Đức Thịnh - Frank Proschan, 2005, tr 209)
Những khó khăn khiến các nhà nghiên cứu luôn nỗ lực mà chưa thể đưa ra một định nghĩa thống nhất về folklore là bắt nguồn từ bản chất của folklore, và tự trong
Trang 27lịch sử phát triển của khái niệm này; xác định đặc trưng của folklore nhiều khi họ xuất phát từ những quan niệm khác nhau về ranh giới của đối tượng nghiên cứu nên rất khó có sự gặp gỡ đồng thuận về bản chất của khái niệm Hơn nữa thuật ngữ này liên tục được mở rộng đến tối đa và thu hẹp đến cùng cực Folklore ban đầu “biểu thị một lĩnh vực nhất định “những điều xa xưa” như phong tục, tập quán, lễ nghi, mê tín, tục dao (ballade),… (Guxep, 1999, tr 6), nhằm nhấn mạnh tính chất truyền thống cổ xưa Nhưng khi folklore là đối tượng nghiên cứu của Khảo cổ học, Sử học, Tâm lý học, Xã hội học, Nghiên cứu văn học,… thì nội hàm khái niệm có sự biến đổi
Thậm chí, các quốc gia trên thế giới cũng có quan niệm khác nhau về folklore Ở các nước Anh, Pháp, Mỹ folklore được phổ biến theo nghĩa rộng, tức là gồm “những
di tích của nền văn hóa vật chất nhưng chủ yếu là những di tích văn hóa tinh thần của nhân dân” (Nhiều tác giả, 2004, tr 495) Còn ở một số nước như Liên Xô trước đây thì lại có khuynh hướng thu hẹp nghĩa của thuật ngữ này, “dùng để chỉ nói về những sáng tạo nghệ thuật của nhân dân như văn học, âm nhạc, vũ,… trong đó chủ yếu là sáng tạo ngôn từ tức văn học dân gian” (Guxep,1999, tr 459)
Từ sự tổng thuật một số quan niệm về folklore trên thế giới, Chu Xuân Diên,
trong bài nghiên cứu Văn học dân gian và phương pháp nghiên cứu liên ngành, chỉ
rõ: “có sự phân hóa tương đối rõ hai khuynh hướng tiếp cận đối tượng (folklore): hướng tiếp cận nhân học văn hóa và hướng tiếp cận ngữ văn học”
Đối với các nhà nhân học văn hóa (Tylor, Klemm, Frazer,…) “folklore là một phần, một lĩnh vực trong tổng thể văn hóa” (Chu Xuân Diên, 2008, tr 35) tức là thiên về nghĩa rộng của thuật ngữ (folk culture), vì vậy folklore và nhân học có mối quan hệ khăng khít đến mức khó nhận ra, như lời thú nhận của nhà folklore học và nhà nhân học người Anh, Andrew Alang: “Nếu như người ta hỏi tôi folklore có khác
gì với anthropology (nhân học) thì tôi rất khó trả lời”
Theo hướng tiếp cận này (nhân học văn hóa), các nhà nghiên cứu đề cao “hai đặc tính được xem là chủ chốt của folklore là tính truyền thống và tính bình dân (dân chúng, truyền miệng)” (Chu Xuân Diên, 2008, tr 55) Đó cũng chính là hai giới hạn
mà họ gặp phải: giới hạn có tính chất văn hóa học (folklore không nghiên cứu toàn
bộ nền văn hóa dân tộc, mà chỉ nghiên cứu những truyền thống văn hóa có tính chất
cổ xưa) và giới hạn có tính chất xã hội học (folklore không nghiên cứu những bộ phận văn hóa truyền thống ấy trong phạm vi toàn xã hội mà chỉ thuộc tầng lớp dân chúng bình dân)
Trang 28Tuy nhiên, bước sang thế thế kỷ XX, các nhà folklore học theo khuynh hướng này đã mở rộng thuật ngữ bằng cách xem nhẹ khái niệm “truyền thống” và “dân chúng” để đi tới “hiểu biết ngày càng sâu sắc hơn bản chất của con người thông qua những sáng tạo folklore của con người” (Chu Xuân Diên, 2008, tr 56)
Bằng cách điểm qua hệ thống quan điểm của các nhà văn, nhà triết học, nhà mỹ học từ thời Aristotle đến Hegel, Chu Xuân Diên chỉ ra vai trò của folklore trong văn hóa và lịch sử nghệ thuật về những đặc trưng của folklore với tư cách là một loại hình nghệ thuật: “Có thể thấy rõ bản chất thẩm mỹ cũng như thành phần ngôn từ trong folklore đã từ lâu được coi là yếu tố quan trọng nhất tạo thành cơ sở khách quan cho hướng tiếp cận ngữ văn học nói riêng và mỹ học nói chung đối với folklore”(Chu Xuân Diên, 2008, tr 61)
Theo hướng tiếp cận ngữ văn học, có hai xu hướng nghiên cứu về folklore: xu hướng thu hẹp đối tượng và xu hướng mở rộng đối tượng
Xu hướng thu hẹp đối tượng nghiên cứu, xem folklore là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ, như ý kiến của V Propp: “Folklore chỉ bao gồm những sáng tạo tinh thần, hơn nữa, chỉ là những sáng tạo ngôn từ” (Chu Xuân Diên, 2008, tr 70) Theo hướng tiếp cận này chúng ta có thể kể đến các trường phái: Trường phái Ấn-Âu và trường phái thần thoại (anh em Grimm); trường phái vay mượn (hay lý thuyết di chuyển cốt truyện (T Benfey); trường phái Phần Lan (Địa lý-lịch sử, Julius Krohn, Kaarle Krohn) Các trường phái trên đều gặp nhau ở chỗ lấy việc khảo sát văn bản làm cơ sở và quá trình nghiên cứu của họ là sưu tầm, phân loại, phân tích
Trên cơ sở hướng tiếp cận ngữ văn học, trường phái thi pháp lịch sử ở Nga phát triển một cách mạnh mẽ, A N Vexelovski, minh chủ của trường phái, coi folklore như một hiện tượng nghệ thuật và được ông khảo sát trong mối liên hệ với lịch sử và văn học thành văn và chỉ ra nguồn gốc của nghệ thuật ngôn từ nảy sinh từ trong lòng nghệ thuật nguyên hợp nguyên thủy
Theo trường phái chủ nghĩa hình thức Nga, chúng ta phải kể đến công trình Hình
thái học của truyện cổ tích của V Propp (1928) được xem là “bước ngoặt quan trọng
trong hướng nghiên cứu hình thức nghệ thuật của folklore” (Chu Xuân Diên, 2008,
tr 67)
Từ nửa sau thế kỷ XX, nhiều công trình lý luận chung về folklore với tư cách là
một loại hình nghệ thuật và nghiên cứu các thi pháp thể loại folklore ra đời như: Mỹ
học foklore (Guxep), Thi pháp văn học Nga cổ (Likhachev), Thi pháp của huyền
Trang 29thoại (Meletinsky),…gắn với những công trình này là xu hướng mở rộng đối tượng
nghiên cứu của folklore, dựa trên tính nguyên hợp Vexelovski và Guxep cho rằng:
“folklore nói chung, xét về mặt bản chất nghệ thuật phải được xem như là một tổng thể các loại hình nghệ thuật nguyên hợp đa thành phần phức tạp, sử dụng những biện pháp nghệ thuật hình tượng lĩnh hội trực tiếp, vừa bằng thính giác vừa bằng thị giác trong thời gian diễn xướng” (Chu Xuân Diên, 2008, tr 73 - 75) Theo đó, họ mở rộng đối tượng folklore “từ thành phần ngôn từ, sang các thành phần nghệ thuật khác (nhạc, múa, ) trong đó thành phần ngôn từ là yếu tố hạt nhân cơ bản” (Guxep,1999,
tr 219)
Dù có khác nhau trong việc giới hạn đối tượng, các nhà nghiên cứu theo hướng tiếp cận ngữ văn học đều cho rằng “văn học và folklore có mối quan hệ họ hàng, ở một mức độ nhất định, đồng nhất với nhau” nên có chung một số nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu” (Chu Xuân Diên, 2008, tr 79) Vì vậy, Herder cho rằng
“… folklore là mảnh đất sinh trưởng của toàn bộ nền văn học các dân tộc…” và Gorky khẳng định: “Một nhà văn không biết văn học dân gian là một nhà văn tồi”
Ở Việt Nam, thuật ngữ folklore theo nghĩa rộng là để chỉ văn hóa dân gian, nghệ thuật dân gian, theo nghĩa hẹp là để chỉ văn học dân gian
Trong nỗ lực thống nhất quan niệm về folklore, Dan Ben-Amos trong bài viết
Tiến tới một định nghĩa về folklore trong ngữ cảnh, đã chỉ ra việc xây dựng một định
nghĩa thống nhất nằm trong bản chất của folklore Folklore “vừa là một hiện tượng siêu hữu cơ, nghĩa là khi chúng được tạo ra thì môi trường bản địa và bối cảnh văn hóa của chúng không còn là yêu cầu cần thiết cho việc duy trì tồn tại của chúng nữa, vừa là hiện tượng rất hữu cơ theo nghĩa nó là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa” (Ngô Đức Thịnh, 2005, tr 210) Ông đưa ra ba quan niệm cơ bản làm nền tảng cho những định nghĩa khác nhau: folklore là tri thức dân gian, folklore là phương thức tư duy, folklore là một loại hình nghệ thuật và những phạm trù này không loại biệt lẫn nhau Ông bác bỏ quan điểm folkore là tập hợp các thực thể vật chất, mà nó
là một quá trình, một quá trình giao tiếp trong bối cảnh văn hóa của nó Ông chỉ ra hạn chế của xuất phát điểm nghiên cứu folklore theo hướng ngữ văn học là “hạn chế khả năng nghiên cứu về folklore và thu hẹp phạm vi những khái quát hóa có thể suy
ra từ các dữ liệu đã có Còn các nhà nhân học văn hóa thì “chỉ xem folklore như một phản ảnh và hình chiếu các hiện tượng” (Ngô Đức Thịnh, 2005, tr 227)
Trang 30Trong định nghĩa của ông (Dan Ben-Amos) vắng mặt hai thuật ngữ chủ chốt của thuật ngữ folklore là truyền thống và truyền miệng Bởi theo ông, nếu như folklore như một ngành nghiên cứu khoa học chỉ tập trung vào truyền thống thì nhà nghiên cứu trở thành người sưu tầm đồ cổ và “nó mâu thuẫn với lý do tồn tại của chính nó” (Ngô Đức Thịnh, 2005, tr 225) Và trên thực tế văn bản truyền miệng đã đi vào lĩnh vực văn học thành văn, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật âm nhạc, những bài hát và câu chuyện cổ cũng đã chịu tác động của in ấn
Tóm lại, folklore là tấm gương của văn hóa, là tâm hồn trí tuệ của nhân dân trong mối quan hệ tương tác với bối cảnh xã hội Sự hiểu biết, trí tuệ của nhân dân là
vô cùng phong phú và sâu sắc, nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng vẫn luôn tiếp thu những giá trị ấy Trong đề tài này, chúng tôi hiểu, yếu tố folklore trong sáng tác của Aitmatov là sự tiếp thu tín ngưỡng văn hóa dân gian, cốt truyện, hình tượng, motif, ngôn ngữ và cả những tư tưởng triết lý nhân sinh trên các yếu tố cơ bản như bài hát dân gian, truyền thuyết, huyền thoại, các yếu tố tôn giáo, các biểu tượng, mẫu gốc, trở thành vô thức tập thể đi vào sáng tạo của Aitmatov như một ngọn nguồn và giá trị nghệ thuật vĩnh cửu
4.1.1.2 Huyền thoại, biểu tượng, mẫu gốc, vô thức tập thể
Huyền thoại (Mythe)
Huyền thoại là hiện tượng trung tâm trong lịch sử văn hóa, đồng thời là phương tiện cổ xưa để nhận thức thực tại xung quanh và bản chất con người “Huyền thoại là điều kiện cần thiết và là chất liệu cơ bản cho mọi nghệ thuật” (Schelling) Theo Eliade, “Huyền thoại là một câu chuyện có thật đã diễn ra từ buổi sơ khai của nhân loại và được xem là mẫu mực cho hành vi của tất cả mọi người” (Benac H 2005, tr 582) Vì những lý do khác nhau, từ khởi thủy cho đến nay và có lẽ, mãi về sau nhân loại đã luôn trăn trở kiếm tìm chân lý, cho nên, giải huyền thoại vẫn luôn là một hoài nghi, một nhọc nhằn nhưng tràn đầy vẫy gọi, mặc cho sự phát triển vũ bão của khoa học Thoạt kỳ thủy, huyền thoại và tôn giáo đã gặp gỡ nhau từ mục đích và huyền
thoại đã trở thành cái nôi thánh kinh của mọi tôn giáo
Huyền thoại cung cấp một chất liệu vô cùng phong phú cho tưởng tượng của con người và nó luôn biến đổi theo thời gian, không gian và quan điểm khác nhau, đặc biệt
là Kinh thánh thì N Frye coi đó là “ngữ pháp của các mẫu cổ trong văn học” Huyền
thoại đem đến những câu trả lời lớn cho các vấn đề lớn của triết học - sự sáng tạo ra vũ trụ, nguồn gốc của con người và nguồn gốc của những cộng đồng nhân loại đầu tiên Ở
Trang 31đó cũng dung chứa những “mô hình đầu tiên của mọi hệ tư tưởng, là cái nôi nguyên hợp của các loại hình văn hóa khác nhau - văn học, nghệ thuật, tôn giáo, và ở mức độ nào đó
cả triết học, thậm chí cả khoa học” (E M Meletinsky, 2004, tr XIV)
Có nhiều trường phái nghiên cứu về huyền thoại nên quan niệm về nó cũng cực kỳ
đa dạng và phức tạp Theo James George Frazer, “nguồn gốc của huyền thoại bắt nguồn
từ nghi lễ” và “thực hiện một chức năng là duy trì truyền thống, sự liên tục của nền văn hóa bộ tộc” (J G Frazer, 2007, tr 8) Còn Lévy-Bruhl xem “tư duy của huyền thoại là
tư duy tiền logic và thần bí của người nguyên thủy” (Chu Xuân Diên, 2008, tr 558) Với
E Cassier, ông lại tô đậm tính chất biểu tượng của huyền thoại Còn với các nhà phân tâm học, trong khi S Freud xem đó là phóng chiếu của những ham muốn, thì C Jung khám phá nó như biểu tượng nguyên sơ chứa đựng vô thức tập thể - cái tổng khởi
nguyên tinh thần của các bộ lạc nguyên thủy Meletinsky, trong công trình Thi pháp của
huyền thoại, đã khái quát bản chất của huyền thoại trong bốn nội dung cơ bản như sau:
1 Trong các xã hội nguyên thuỷ, huyền thoại có quan hệ chặt chẽ với ma thuật, nghi lễ đồng thời làm phương tiện duy trì trật tự tự nhiên và xã hội và kiểm soát
xã hội
2 Tư duy huyền thoại có sự độc đáo nhất định về lôgic và tâm lý
3 Sự sáng tạo huyền thoại là hình thức tư duy cổ xưa nhất của con người, là một thứ ngôn ngữ tượng trưng mà con người đã dùng để mô hình hoá, phân loại và giải thích tự nhiên, xã hội và bản thân mình
4 Những đặc điểm độc đáo của tư duy huyền thoại có những biểu hiện tương tự nhất định trong các sản phẩm của trí tưởng tượng con người, không chỉ ở thời cổ đại xa xưa mà còn cả ở những thời kỳ lịch sử khác, và như vậy, huyền thoại với
tư cách “một trình độ” hoặc “đoạn khúc” nào đó có thể hiện diện trong những nền văn hóa rất khác nhau, đặc biệt là trong văn học và nghệ thuật (E M Meletinsky,
2004, tr 197)
Từ đặc điểm thứ tư trên đây, tác giả (Meletinsky) đi tìm cơ sở và lý giải hiện tượng tái huyền thoại trong triết học và văn hóa, văn học Huyền thoại có sức sống mãnh liệt trong văn hóa mà trước hết là trong văn học Chừng nào việc sử dụng huyền thoại vẫn hãy còn là một thuộc tính phổ biến chung của văn học thì hơi ấm của huyền thoại vẫn còn chưa bao giờ tàn lụi Song, đến thế kỷ XX, “chủ nghĩa huyền thoại là một hiện tượng đặc trưng của văn học cả với tư cách là một thủ pháp nghệ thuật, cả với tư cách là một biện pháp cảm thụ thế giới đằng sau thủ pháp đó” (E M
Trang 32Meletinsky, 2004, tr 403) Hiện tượng này một mặt phản ánh bước thăng hoa trên con đường cách tân hình thức thể loại, nhưng mặt khác, theo chúng tôi, là thể hiện kiểu tư duy phi duy lý của thời đại Einstein Điều này gặp gỡ một cách đặc biệt với bản chất của huyền thoại là dung chứa cảm quan siêu tự nhiên, siêu logic về thế giới Luận điểm này vững chãi hơn khi “gặp gỡ” với kết quả Melentinsky khảo sát hiện tượng tái huyền thoại trong triết học: “sự tái huyền thoại hóa gắn liền với việc đưa lên bình diện thứ nhất nhân tố phi lý”(E M Meletinsky, 2004, tr 23) Đồng thời, sử dụng huyền thoại còn nhằm: một mặt, “bóc trần sự ti tiện và quái đản của thế giới hiện đại”; mặt khác, “giãi bày một số nhân tố vĩnh cửu, không thay đổi, tích cực hay tiêu cực, soi rọi dòng đời kinh nghiệm và các biến đổi lịch sử” (E M Meletinsky,
2004, tr 404)
Soi lý thuyết cấu trúc của Lévi-Strauss vào tiểu thuyết Aitmatov ta sẽ thấy các huyền thoại vừa mang tính đồng đại vừa mang tính lịch đại, như một hiện tượng có tính chất chu kỳ, lặp lại, và chính điều này, mang đến cho tác phẩm một tính hiện thực cao mang ý nghĩa sâu sắc, nó vừa tồn tại như một phương tiện kết cấu cốt truyện vừa mang tính vĩnh cửu trong ý nghĩa tư tưởng
Như vậy, huyền thoại là hình thức tư duy đặc thù của con người thời nguyên thủy, trong đó cái kỳ ảo che giấu những sự thật, được bảo lưu dưới nhiều dạng thức của đời sống tinh thần Theo Meletinsky, nhận thức không phải là mục đích duy nhất của huyền thoại mà quan trọng là huyền thoại duy trì sự hòa hợp giữa cá nhân, tự nhiên và xã hội, duy trì trật tự xã hội và vũ trụ Vì vậy, huyền thoại đa âm, phát sáng nhiều thông điệp và nó luôn được tái sinh
Biểu tượng được hiểu theo nhiều cách khác nhau Theo Jean Chevalier, khởi nguyên, “biểu tượng là vật làm tin, được cắt làm đôi mỗi người giữ một nửa, sau này, ráp lại với nhau họ sẽ nhận ra nhau” (J Chevalier, A Gheerbrant, 2002, tr XXIII) Như vậy, tự thân biểu tượng hai ý tưởng: phân ly và tái hợp Biểu tượng như những
di chỉ chứa đựng những mối quan hệ liên can và thêm những qui ước nên thông qua
biểu tượng ta có thể thăm dò tiềm thức
Theo Karl Jaspers, biểu tượng nắm giữ những gì vốn vượt chạy khỏi chúng ta để
mà tiêu tán trong hư vô, nó cho ta thấy những gì mà không có nó hoàn toàn bị ẩn giấu đối với chúng ta, “mỗi vật tự nó, có thể là một biểu tượng qua sự biến thành của trình trạng là tha thể trong hoạt trình của siêu việt tính” (Karl Jaspers, 2008, tr 37 -
Trang 3338) Biểu tượng không những làm cho rõ ràng mà còn làm cho trở nên chân thật những thực tại kinh nghiệm, là sự nhận thức vượt trội của cảm xúc hiện hữu, ví như hòn vọng phu là biểu tượng cụ thể cho nỗi đau chờ chồng đến hóa đá của người phụ
nữ, trong văn hóa của nhiều dân tộc
Theo Đoàn Văn Chúc, “biểu tượng là dấu hiệu được phô bày ra bên ngoài để nhận biết sự sở thuộc cộng đồng” (Đoàn Văn Chúc, 1997, tr 56), ví như “Con Hồng cháu Lạc” là biểu tượng nói về nguồn gốc của người Việt Quan hệ giữa vật được dùng làm biểu tượng với giá trị mà biểu tượng bao hàm là một quan hệ mang tính ngẫu nhiên, nhưng đồng thời lại là tất yếu của điều kiện sinh tồn Ngẫu nhiên do những đặc điểm bất kỳ của mỗi môi trường, tất yếu bởi với những đặc điểm ngẫu nhiên thế nào thì biểu tượng chỉ có thể là thế ấy Ở đây ta thấy tính võ đoán của biểu tượng là dễ hiểu: nó áp đặt vào cộng đồng và mỗi thành viên, nó buộc người ta thừa nhận nó nếu người ta muốn tồn tại Và mỗi thành viên không phản bác nó đã đành, còn tự nguyện nhận nó bởi nó mang vác và diễn đạt ao ước của mình: “Người ta thấy biểu tượng có một giá trị đối với nhóm, đối với cộng đồng, đối với xã hội, có một quyền năng tập hợp, đồng tình, nói cách khác biểu tượng là xã hội tính”
E Cassirer (1874 - 1945), nhà triết học nổi tiếng người Đức, trong Triết học các
hình thái biểu tượng đề nghị thay định nghĩa con người như một “động vật lý
trí” bằng định nghĩa con người như một “động vật sản xuất ra các hình thái biểu tượng” (E M Meletinsky, 2004, tr 47) Ông cho rằng: “Tư duy và hành vi “biểu tượng hoá” là đặc trưng tiêu biểu nhất của đời sống nhân loại và toàn bộ văn hoá nhân loại phát triển đều dựa vào những điều kiện này chúng ta nên định nghĩa con
người là động vật biểu trưng (Animal Symbolicum) chỉ có như thế, chúng ta mới
có thể vạch ra chỗ độc đáo của con người, cũng mới có thể lý giải được con đường mới khai phóng cho con người - con đường hướng về văn hoá”
Dựa vào năng lực “biểu tượng hoá” của con người và xem biểu tượng như là một hình thái biểu hiện ngôn ngữ đặc trưng của văn hoá: “Văn hoá là tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định thế ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ thành một cộng đồng riêng biệt” Tính chất đa nghĩa, trừu tượng, thậm chí là mơ hồ của các biểu tượng khiến cho việc phân tích và giải mã biểu tượng trong các tác phẩm văn học không dễ dàng, đôi khi lâm vào tình trạng bế tắc, tạo nên những “cuộc tranh luận liên miên về ý nghĩa của những biểu tượng” (Raymond Firth)
Trang 34Cassirer xem huyền thoại là hình thức biểu tượng tự trị của văn hóa: “Huyền thoại được thể hiện như một hệ thống biểu tượng biệt lập, được thống nhất bởi tính chất hoạt động và khả năng mô hình hóa thế giới xung quanh” (E M Meletinsky,
2004, tr 48) Quan điểm này của Cassirer có sự gặp gỡ với tư tưởng của Luc
Benoist (1893 - 1980), trong công trình Dấu hiệu, biểu trưng, thần thoại, ông chỉ ra
rằng: “Huyền thoại với bí ẩn như là một thực thể mà bản chất không thể diễn tả được, và nếu có, chỉ có thể diễn tả được bằng biểu tượng” Biểu tượng là yếu tố cổ sơ bất tử, mang tính khái quát cao, và đó là cơ sở để tái sinh huyền thoại: “Cái cổ sơ của huyền thoại phải có tính phổ quát hơn hẳn toàn bộ các biểu trưng ta có thể có được,
và có một điều thật thú vị là nhờ cái đó mà các biểu tượng cũng sẽ có thể được sản sinh trong một ngữ cảnh nhất định của văn bản như là một cuộc tái sinh trong một bộ lốt khác” (Đào Ngọc Chương, 2008, tr 23)
Ở đây, chúng tôi hiểu biểu tượng là những hình ảnh, kí hiệu, sự vật tượng trưng, chứa đựng những mối quan hệ liên can và những qui ước chung của toàn xã hội, như một yếu tố cổ sơ bất tử Nhưng có phải mọi biểu tượng đều là mẫu gốc?
Mẫu gốc (Archetype)
Khi “vẽ bản đồ tâm hồn con người” trong công trình Tâm lý học vô thức (1912),
nhà tâm lý học lừng danh người Thụy Sỹ, Carl Gustav Jung (1875-1961), đã vén mở những giới hạn trong khoa học nghiên cứu vô thức, đặc biệt là sự xác lập các thuật ngữ: mẫu cổ, vô thức tập thể, cho đến nay những thuật ngữ này được sử dụng một cách rộng rãi trong tâm lý học hiện đại, văn hóa học, nhân chủng học, văn học,… Mẫu gốc là “những yếu tố tâm thần không thể cắt nghĩa được bằng một sự việc xảy ra trong đời sống (…) Nó hình như bẩm sinh đã có, có từ thời nguyên thủy, nó là một thành phần trong gia tài tinh thần nhân loại” (C G Jung, 2007, tr 96) Theo Jung, cổ mẫu là nguồn phát những năng lượng tâm thần và tạo dựng khuôn mẫu “Nó tạo ra nguồn lớn nhất của những kí hiệu tâm thần, thu hút năng lượng, cấu trúc của
nó và cuối cùng dẫn tới việc sáng tạo ra nền văn minh và văn hóa” (Murray Stein,
2011, tr 133) Với Jung các cổ mẫu giống như những bản năng, với cấu trúc di truyền và bẩm sinh, và đó là tài sản chung của chúng ta: “Tất cả chúng ta đều có nó (cổ mẫu) như nhau, và tất cả mọi người đều có chúng, dù là giàu hay nghèo, da đen hay da trắng, cổ xưa hay hiện đại” (Murray Stein, 2011, tr 138) Luận điểm này được Jung rút ra khi quan sát huyền thoại của nhiều nền văn hóa rất khác xa nhau như huyền thoại châu Úc và Nam Mỹ, Trung Hoa và Lưỡng Hà, châu Phi và Hy Lạp
Trang 35cổ đại,… đều có những điểm chung, những biểu tượng thường lặp lại, và những biểu tượng ấy ông cũng tìm thấy trong giấc mơ của mình và nhiều bệnh nhân Sự khám phá này là nguồn gốc của thuyết vô thức tập thể - nơi sâu thẳm nhất của nội tâm, con người đi vào một vùng vô thức chứa đầy những hình ảnh và kỷ niệm mà cả nhân loại đều có, đó là cổ mẫu - các biểu tượng tinh thần được toàn thể thừa nhận, điều này càng có cơ sở khi ta nhận thấy các huyền thoại trước thời tháp Babel chứng minh cho
sự thống nhất cơ bản của loài người5
Mẫu gốc “dính dán tự ngàn xưa”6
trong tâm thức con người, nó là một kết tinh quan trọng nhất trong cội nguồn văn hóa lịch sử, chứa đựng những triết lý sâu xa về
sự sống và cái chết Tâm thần con người có những cấu trúc phổ biến chung, giống như cơ thể nên ứng với mỗi một trạng thái của con người sẽ có một cổ mẫu tương ứng, vì vậy, số lượng cổ mẫu là vô tận và trong quá trình tìm kiếm cổ mẫu, Jung nhận thấy một số các cổ mẫu thể hiện quá trình phát triển tâm lí cá nhân theo một dòng liên tục Các cổ mẫu này có tác dụng dẫn đường và điều phối sự phát triển tâm
lí con người từ một tâm thần nguyên thuỷ chung thành những cá nhân riêng biệt mà Jung gọi là quá trình cá nhân hoá (individuation)
Hệ thống mẫu gốc đó thường được phân chia thành hai dạng cơ bản: những mẫu
cổ thông thường (người mẹ, người cha, người anh hùng, sinh ra, chết đi, tái sinh, thượng đế, ác quỷ, mặt trời, mặt trăng, nước, lửa, đất,…) và những mẫu cổ quan trọng (thể hiện quá trình phát triển tâm lí cá nhân: persona (mặt nạ), shadow (bóng âm), anima (phần tâm thần vô thức nữ), animus (phần tâm thần vô thức nam), self (tự ngã) Nội dung cơ bản của tất cả các huyền thoại, các tôn giáo, các chủ nghĩa là cổ mẫu Cội nguồn của cổ mẫu luôn nằm trong ký ức của cả cộng đồng, hay nói đúng hơn là biểu hiện cụ thể của vô thức tập thể
Vô thức tập thể (Collective unconscious)
Vô thức tập thể là thuật ngữ bí ẩn và gây nhiều tranh cãi nhất của Jung, để chỉ một cấu trúc tâm lí chung cho mọi con người thuộc mọi thời đại Sự ra đời thuật ngữ này đánh dấu sự hình thành một trường phái Phân tâm học khác với Freud, “vô thức tập thể” do Jung đề xuất để phân biệt với vô thức của Freud mà ông gọi là “vô thức
Trang 36“Vô thức tập thể là lớp sâu nhất của tâm thần con người, chứa chất những dạng tâm lý chung, phản ánh các kinh nghiệm tích lũy qua các thời đại” (Murray Stein,
2011, tr 137) Với tư cách là ký ức loài, vô thức tập thể mang tính tiên nghiệm và không phụ thuộc vào môi trường hay hoàn cảnh, là nơi để ghi giữ và truyền lại như
là những đức tính để phản ứng trên bình diện cảm xúc một số phạm trù kinh nghiệm
Và vô thức tập thể được phóng ngoại qua các năng lực tạo hình như mẫu gốc, biểu tượng, huyền thoại , nơi ấy lưu giữ các huyền tích, huyền sử và cũng là nơi phát quang chủ yếu của ký ức cộng đồng
Đến đây chúng tôi muốn làm công việc phân biệt một cách khả quan mối quan
hệ giữa các thuật ngữ: biểu tượng và mẫu gốc, mẫu gốc với vô thức tập thể Như sự phân tích trên thì không phải mọi biểu tượng đều là mẫu gốc, biểu tượng là mẫu gốc (trong tác phẩm nghệ thuật) khi đảm bảo hai điều kiện sau: 1/ Nó không phải là sự
mã hóa của cá nhân chủ thể sáng tạo; 2/ Nó là kết tinh của vô thức tập thể, như một chất liệu đặc biệt cần sự phân tích, giải mã Mối quan hệ giữa mẫu gốc và vô thức tập thể là sự hình tượng hóa những thực tế có thể quan sát được của năng lượng tinh thần
vô thức, chủ yếu là qua giấc mơ và huyễn tưởng Vô thức tập thể sẽ phát quang qua mẫu cổ, mẫu cổ là biểu hiện trực tiếp và sinh động của ký ức loài: “Có thể nói không sai rằng toàn bộ cổ mẫu chính là nội dung của vô thức tập thể, hay so sánh một cách đơn giản hơn, vô thức tập thể là một vòng tròn bao quanh tất cả các cổ mẫu Bản chất của cổ mẫu, do gắn với bản năng, có thể được xem như “gene tâm lí” của con người hoặc hạt quark trong vật lí lượng tử vậy”7
Ở đây chúng tôi khảo sát các dạng yếu tố folklore cụ thể như tín ngưỡng, câu hát dân gian, huyền thoại, truyền thuyết, câu chuyện cổ, motif tôn giáo, gắn liền với những biểu tượng, mẫu gốc,… sâu xa là để giải mã bản đồ tâm lý con người, dân tộc trong một số tiểu thuyết của Aitmatov
4.1.2 Sự khủng hoảng của nhận thức, của biểu đạt thực tại và những nỗ lực mới của tiểu thuyết, lý luận, phê bình nửa sau thế kỷ XX
4.1.2.1 Sự khủng hoảng của nhận thức và biểu đạt thực tại
Thời đại của chúng ta (thế kỷ XX, XXI) đã và đang đứng trước nhiều mối đe dọa, nhiều cuộc khủng hoảng: sự đe dọa kinh hoàng của chiến tranh hạt nhân, sự ô nhiễm, hủy hoại môi trường sống, sự bất lực của chúng ta khi đối đầu với cảnh nghèo nàn, đói khát và những căn bệnh hiểm nghèo… Song, đó có lẽ là các mặt khác nhau
7 Bùi Lưu Phi Khanh (biên soạn), https://sites.google.com/site/buiquangthangvicas/sach/xxx/x , ngày truy cập 10/4/2014
Trang 37của một cuộc khủng hoảng duy nhất: khủng hoảng về nhận thức Đối mặt với thực trạng ấy, các nhà khoa học, các nghệ sĩ và các hoạt động xã hội khác nhau đang nỗ lực phát triển một tầm nhìn mới về thực tại
“Con người tự bản tính khát khao hiểu biết” (Aristotle), hiểu biết thế giới bên
ngoài và thế giới bên trong, hành trình sống là hành trình kiếm tìm chân lý Mỗi thời đại, mỗi nền văn hóa đều có một hệ thống chân lý vững như bàn thạch, tuy nhiên,
“khi thời gian đã điểm” sự thay đổi một hệ hình (văn hóa, tư duy) là điều khó tránh khỏi
Thế kỷ XX, ở phương Tây đã giã từ “Vật lý cổ điển Newton và Thế giới quan Kant để bước sang Vật lý lượng tử và Thế giới quan thực chứng logic của Ernst
Mach, đến cuối thế kỷ thì Thomas Kuhn đưa ra lý thuyết chuyển mô hình (paradigm
shift)”8, mà lực đẩy đã tạo nên những sự thay đổi về nhận thức thực tại trên là khoa học tự nhiên, trước hết là vật lý Vật lý trước kia chỉ là một ngành trong các ngành khoa học đến thế kỷ này đã được trao vương miện, trở thành ông vua của các ngành khoa học
Mô hình Cơ học cổ điển Newton (1642 -1727) đã thống trị toàn bộ nền tư duy
khoa học từ giữa thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX Newton được xem “là người đầu
tiên cung cấp một tường trình chính xác trên quy mô lớn về những chuyển động của trái đất và sự vận hành của hệ hành tinh” (Bryan Magee, 2003, tr 88) Đó như là sự vén mở độc đáo trong lịch sử con người, cho thấy dự án bí mật vĩ đại của vũ trụ, và
từ đó, làm biến đổi nhận thức của con người về bộ mặt trái đất, cũng như chính bản chất xã hội của loài người Chiến công trí tuệ của Newton làm kinh ngạc nhân loại đến mức ông được ví với nhà tiên tri Moses Alexander Pope, thi nhân đồng hương,
đã thâu tóm tinh thần hào quang của thời đại ấy trong những vần thơ tràn đầy ánh sáng:
Tự nhiên và những quy luật của tự nhiên trốn trong bóng tối
Chúa phán, hãy để mặc Newton!
Và tất cả bừng lên thành ánh sáng
8 Nguyễn Đức Hiệp, Từ lý thuyết lượng tử đến nghệ thuật hiện đại và hậu hiện đại
http://vietsciences.free.fr/giaokhoa/vatly/vatlyluongtu/tulythuyetluongtuden.htm , 18/02/2009
Trang 38Thành công to lớn của mô hình cơ học làm cho nhà vật lý của đầu thế kỷ XIX tin rằng, quả thật, vũ trụ phải là một hệ thống cơ giới khổng lồ, vận hành theo nguyên lý vận động của Newton đề ra Những qui luật này được xem như nền tảng của qui luật
tự nhiên và mô hình Newton là “thực tại cuối cùng” (“mô hình chung kết”) về thế giới hiện tượng
Thế nhưng chỉ không đầy một trăm năm sau, người ta khám phá một cơ sở lý thuyết về thực tại khác, nó làm rõ giới hạn của mô hình Newton và chỉ ra rằng mô hình đó không hề có giá trị tuyệt đối Nếu, vật lý cổ điển đặt nền tảng trên một không gian ba chiều, tuyệt đối, nó độc lập với những vật thể nằm trong nó và những định luật hình học tuân thủ hình học Euclid, và thời gian cũng là một chiều kích thước độc lập, nó trôi chảy tuyệt đối điều hòa, độc lập với thế giới của vật chất:
Tự tính của không gian tuyệt đối là luôn luôn như nhau, bất động, không hề phụ thuộc gì vào sự vật nằm trong đó
Thời gian tuyệt đối, đích thực, có tính toán học, tự chảy, theo tự tính của nó là đều đặn và không liên quan gì đến bất cứ vật nào (L Shlain, 2010, tr 166)
Thì, Thuyết tương đối của vật lý nguyên tử, đã phủ định vũ trụ tuyệt đối đó bằng cách mở ra một quan niệm mới về thế giới, thế giới là một hệ thống bất khả phân, ảnh hưởng lên nhau, liên tục biến dịch:
Không gian và thời gian mang tính tương đối là những tọa độ tương hỗ nhau và kết hợp với nhau để tạo nên một chiều kích cao hơn gọi là continuum không-thời gian, chúng không bất biến, không tuyệt đối và không tách biệt
Các quy tắc nhân quả của thế kỷ XIX sẽ bị hủy bỏ trong những hoàn cảnh tương đối nhất định (L Shlain, 2010, tr 167)
Công trình khoa học của Einstein trong đầu thế kỷ XX này sừng sững như một tòa tri thức vĩ đại - nó là kim tự tháp của văn minh hiện đại
Cùng với Thuyết tương đối, Cơ học lượng tử ra đời nhờ vào nhóm vật lý gia quốc tế, vượt qua mọi biên giới, họ đã tạo nên một thời kỳ sôi nổi của khoa học hiện đại, thời kỳ đưa con người lần đầu tiên đến tiếp cận với thực thể kỳ lạ và bất ngờ của thế giới hạ nguyên tử (ở dưới mức nguyên tử, Subatomic)
Thuyết lượng tử đã khám phá ra tính chất kỳ dị của vật chất và ánh sáng: chúng vừa là hạt tức là có kích thước rất nhỏ, đồng thời vừa là sóng, là một cái gì có thể tỏa rộng trong không gian “Với mức độ hạ nguyên tử thì hạt cứng chắc của vật lý cổ
Trang 39điển đã tan thành những hình ảnh xác suất có dạng như sóng, và hơn thế nữa những cấu trúc này không diễn tả xác suất hiện hữu của vật thể mà là xác suất của những
mối liên hệ” (Fritjof Capra, 2001, tr 50)
Vật lý cổ điển (Newton) xem thực tại là thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức con người (mang tính chủ quan) Vật lý hiện đại (Werner Heisenberg, Niels Bohr) đã bác bỏ luận điểm trên: “việc phân chia thông thường thế giới ra làm hai phần chủ thể và khách thể (…) đã không còn thỏa đáng nữa Theo vật lý mới, người quan sát và vật được quan sát, bằng cách nào đó, có một mối liên hệ với nhau;
và các lãnh địa của tư duy chủ quan ở bên trong con người hóa ra được kết giao mật thiết với thế giới bên ngoài thực tế khách quan” (L Shlain, 2010, tr 24)
Sau này, John Wheeler (1911 - 2008), học trò xuất sắc của Bohr, đã mở rộng thuyết lưỡng diện của thầy mình: Bộ óc (ý thức bên trong, chủ quan) và vũ trụ (thế giới bên ngoài, khách quan) giống như tính chất sóng và hạt của vật chất, tạo nên cặp
bổ sung tương hỗ lẫn nhau, bởi vì cái này tồn tại không thể không có cái kia, như tên
một quyển sách nổi tiếng của giáo sư Vật lý Trịnh Xuân Thuận, Giai điệu bí ẩn và
con người đã tạo ra vũ trụ Như vậy, thế giới không tồn tại độc lập, khách quan với ý
thức con người mà tồn tại vì và cho con người theo nguyên lý vị nhân (Anthropic
principle) Điều này được phản ánh một cách bí nhiệm trong kinh Tamud của người
Do Thái, trong cuộc đối thoại với Abraham, Chúa trời khẳng định quyền lực của mình: “Nếu không vì ta thì nhà ngươi đã không tồn tại” Sau một thoáng trầm tư, Abraham kính cẩn đáp: “Thưa Chúa, đúng thế ạ, con rất biết ơn và tôn kính điều ấy,
tuy nhiên, nếu không vì con thì Người cũng không được biết đến”
Nếu Einstein làm cuộc cách mạng cho tư tưởng khoa học với thuyết tương đối, còn Bohr và Heisenberg với giải thích về cơ học lượng tử đã mang lại những thay đổi lớn lao, thì Geoffrey Chew (1924) đã làm bước cách mạng thứ ba trong nền vật
lý thế kỷ XX; với thuyết Bootstrap (Dung thông), ông đã thống nhất cơ học lượng tử
và thuyết tương đối trong một thuyết, thuyết này tiêu biểu sự từ bỏ quyết liệt cách tiếp cận của phương Tây (thiên về tư duy phân tích, logic) về khoa học cơ bản
G Chew với giả thuyết Bootstrap đã phát triển lý thuyết của mình thành triết lý Dung thông, ở đó, vũ trụ vật chất chỉ được xem là một mạng lưới động gồm các biến
cố tác động lên nhau Không có tính chất nào của bất cứ thành phần riêng biệt nào của mạng lưới là cơ bản; tất cả chúng đều tuân thủ các tính chất của toàn thể các thành phần khác, và sự dung thông ăn khớp toàn bộ của những mối liên hệ chằng chịt
Trang 40của chúng là nhân tố xác định cấu trúc của toàn mạng lưới Đọc tiểu thuyết Aitmatov chúng tôi thấy nhà văn đã nỗ lực kết nối nhiều mô hình thời đại trong một vũ trụ tác phẩm thống nhất biện chứng, có lẽ, mỗi tác phẩm là một mô hình dung thông tự thân
Từ Newton trở về trước, các nhà khoa học tin rằng vũ trụ tồn tại một/những quy luật cơ bản, như thánh Thomas Aquinas khẳng định: “Có một quy luật trường cửu nhất định đó là Nghĩa lý, nó nằm trong ý định của Chúa, điều hành toàn thể vũ trụ
Và thực tại của Chúa vượt quá mọi khả năng nhận thức của con người” (Samuel
Enoch Stumpf, 2004, tr 152) Trái ngược với quan điểm trên các nhà vật lý hiện đại
đã nhìn nhận và bày tỏ một thái độ rất khác, theo họ, “tất cả lý thuyết của họ về hiện tượng tự nhiên, kể cả những qui luật mà họ mô tả, tất cả đều do đầu óc con người sáng tạo ra; tất cả là tính chất của hình dung của chính chúng ta về thực tại, chứ không phải bản thân thực tại” (Fritjof Capra, 2001, tr 211)
Như vậy, theo vật lý hiện đại bức tranh hoàn vũ là một tập hợp những khả năng, những thế giới cùng tồn tại trong những làn sóng biến dịch, và chỉ khi có sự tương tác với ý thức con người thì một trong những khả năng ấy mới trở thành hiện thực,
và những tương tác là hoàn toàn ngẫu nhiên nên thực tại trở nên bất định, hỗn độn
Sự khám phá ấy của nền vật lý hiện đại đòi hỏi một sự đổi thay các khái niệm về không gian, thời gian, vật chất, khách thể, nguyên nhân và hậu quả Sự khủng hoảng này còn kéo theo nhiều đảo lộn khác, đó là sự biểu đạt thực tại mà triết học, nghệ thuật đang trải qua Thực tại hỗn độn mở ra nhiều chiều kích phản ánh: với phân tâm học của Freud, Jung, Adler,… phơi mở không gian nội tâm; thế giới và tia nhìn của Hiện tượng luận và Thuyết Hiện sinh của Husserl, Heidegger, Sartre, Camus,… nhưng trước hết, có lẽ là ngôn ngữ học
Theo Engels: Ngôn ngữ là một trong hai yếu tố (ngôn ngữ và lao động) đã làm
cho con vật trở thành con người Trong câu chuyện ngụ ngôn về tháp Babel nhân
loại thuở ban sơ đã nuôi ý tưởng xây một cái tháp vươn lên đến tận trời Thịnh nộ trước kỳ tích táo bạo đó của con người, chúa trời đã lập tức hóa phép làm rối loạn lời nói của những người thợ, khiến công trình bị đình đốn Như vậy, từ thời viễn xưa, nhân loại đã hiểu được quyền lực của ngôn ngữ
Từ Bertran Russell (1872 - 1970), triết học đã chuyển sự chú ý của mình sang ngôn ngữ, đến Ludwig Wittgeinstein (1889 - 1950) triết học nằm trong giới hạn ngôn ngữ Ông đã nỗ lực tìm kiếm “bằng cách nào thế giới được mô tả bằng ngôn ngữ và
do đó có thể giải thích mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thực tại” (Bryan Magee, 2003,