CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG Đề tài nghiên cứu khoa học “Xây dựng một số bản đồ tỉnh An Giang phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu địa lý địa phương”, do tác giả Trần Thế Định, công tác tạ
Trang 3CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Đề tài nghiên cứu khoa học “Xây dựng một số bản đồ tỉnh An Giang phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu địa lý địa phương”, do tác giả Trần Thế Định, công tác tại Khoa Sư phạm thực hiện Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày 28 tháng 8 năm 2019
Trang 4TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện nhằm thành lập các bản đồ địa lý tỉnh An Giang, góp phần hỗ trợ cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu địa lý địa phương Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là thu thập thông tin từ tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, dân cư và kinh tế - xã hội của tỉnh Tài liệu thứ cấp ở dạng văn bản, bảng biểu, ảnh viễn thám và bản đồ, chúng được xử lý để tạo ra hệ thống dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính phục vụ cho việc xây dựng các bản
đồ Quy trình xây dựng bản đồ địa lý được thực hiện theo 05 bước: thu thập dữ liệu,
xử lý dữ liệu, khảo sát thực tế, biên tập nội dung và hoàn thiện bản đồ
Kết quả là, bằng việc ứng dụng hệ thống thông tin địa lý, nghiên cứu đã xây dựng thành công 6 bản đồ địa lý tỉnh An Giang với tỉ lệ 1:500.000, bao gồm: bản đồ khí hậu, bản đồ thủy văn, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ dân số, bản đồ kinh tế chung, bản đồ nông nghiệp Nghiên cứu đã tập hợp các bản đồ đã xây dựng thành một tập bản đồ với nội dung bao gồm 6 bản đồ chính, các bản đồ chuyên đề bổ trợ và các thông tin kèm theo Tập bản đồ này sẽ là sự bổ sung cần thiết cho hệ thống tài liệu học tập để phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu về địa lý ở An Giang
Từ khóa: bản đồ, địa lý, An Giang, GIS
ABSTRACT
The study was conducted to establish geographic maps of An Giang province, contributing to support for the teaching, learning and researching on local geography The research method was to synthesize information from secondary materials on natural conditions, population and socio-economic of the province Secondary materials existed in forms such as documents, tables, remote sensing images and maps that was processed to create a system of spatial data and attribute data for building the maps The process of establishing map includes five main steps, namely data collection, data processing, field surveys, map editing and completion
As a result, through the application of geographic information systems, the study has built 6 geographic maps of An Giang province with the scale of 1: 500000, including climate maps, hydrologic maps, soil map, population map, economic map, and agricultural map The study has compiled these maps into atlas with content including 06 major maps, 05 sub-maps and attached information This atlas will be
an essential addition to the learning materials system to serve for the geographic teaching, learning and researching in An Giang
Keywords: map, geography, An Giang, GIS
Trang 5LỜI CAM KẾT
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
An Giang, ngày 28 tháng 08 năm 2019
Người thực hiện
Trần Thế Định
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp 2
4.2 Phương pháp xử lý, phân tích và chọn lọc dữ liệu 3
4.3 Phương pháp số hóa và cập nhật dữ liệu bản đồ số 3
4.4 Phương pháp khảo sát ngoài thực địa 3
4.5 Phương pháp ứng dụng công nghệ GIS để biên tập bản đồ 4
4.6 Phương pháp xử lý ảnh viễn thám 4
5 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHỤC VỤ GIẢNG DẠY, HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG 6
1.1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ 6
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢN ĐỒ ĐỊA LÝ 10
1.2.1 Quan niệm về bản đồ địa lý 10
1.2.2 Tính chất của bản đồ địa lý 11
1.2.3 Yêu cầu đối với bản đồ địa lý 12
1.2.4 Các yếu tố cấu thành bản đồ địa lý 12
1.3 PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐỊA LÝ 16
1.4 ỨNG DỤNG HỆ GIS ĐỂ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐỊA LÝ 18
1.4.1 Khái quát về GIS 18
1.4.2 Ứng dụng GIS trong việc xây dựng bản đồ địa lý 20
1.5 QUY TRÌNH XÂY DỰNG BẢN ĐỒ CỦA ĐỀ TÀI 21
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU PHỤC VỤ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐỊA LÝ TỈNH AN GIANG 23
2.1 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 23
Trang 72.2 CƠ SỞ DỮ LIỆU BẢN ĐỒ TỈNH AN GIANG 25
2.2.1 Dữ liệu không gian (dữ liệu nền địa lý) 26
2.2.2 Dữ liệu phi không gian (dữ liệu thuộc tính) 36
2.2.3 Dữ liệu ảnh viễn thám 57
2.3 KIỂM TRA VÀ ĐIỀU CHỈNH DỮ LIỆU BẢN ĐỒ NGOÀI THỰC ĐỊA 63 CHƯƠNG 3 BIÊN TẬP BẢN ĐỒ ĐỊA LÝ TỈNH AN GIANG PHỤC VỤ GIẢNG DẠY, HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG 65
3.1 QUY ĐỊNH CHUNG CHO BẢN ĐỒ ĐỊA LÝ AN GIANG 65
3.1.1 Cơ sở pháp lý để biên tập bản đồ địa lý tỉnh An Giang 65
3.1.2 Quy trình để biên tập bản đồ địa lý tỉnh An Giang 65
3.1.3 Biên tập các yếu tố chung (áp dụng cho tất cả các BĐ của đề tài) 66
3.2 BIÊN TẬP MỘT SỐ BẢN ĐỒ CỤ THỂ 72
3.2.1 Bản đồ khí hậu 72
3.2.2 Bản đồ thủy văn 78
3.2.3 Bản đồ thổ nhưỡng 83
3.2.4 Bản đồ dân số 88
3.2.5 Bản đồ kinh tế chung 92
3.2.6 Bản đồ nông nghiệp 96
3.3 ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ ĐỊA LÝ TỈNH AN GIANG VÀO GIẢNG DẠY, HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG 101
3.3.1 Ứng dụng các bản đồ địa lý vào hoạt động dạy học 101
3.3.2 Ứng dụng các bản đồ vào hoạt động nghiên cứu địa lý 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
1 KẾT LUẬN 105
2 KIẾN NGHỊ 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Vị trí các điểm khống chế trên BĐ và ngoài thực địa 26
Bảng 2.2 Các giá trị của nhiệt độ ở An Giang 37
Bảng 2.3 Các giá trị của mưa, ẩm ở An Giang 38
Bảng 2.4 Các giá trị nắng, gió ở An Giang 39
Bảng 2.5 Lưu lượng nước tại trạm Tân Châu trên sông Tiền năm 2017 41
Bảng 2.6 Lưu lượng nước tại trạm Châu Đốc trên sông Hậu năm 2017 41
Bảng 2.7 Thống kê loại đất ở An Giang 46
Bảng 2.8 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh An Giang năm 2017 47
Bảng 2.9 Diện tích, dân số, mật độ dân số An Giang năm 2017 48
Bảng 2.10 Số liệu dân số An Giang giai đoạn 1995 – 2017 49
Bảng 2.11 Cơ cấu dân số theo độ tuổi 49
Bảng 2.12 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế qua các năm 50
Bảng 2.13 Danh sách các KCN, CCN ở An Giang 51
Bảng 2.14 Một số địa danh du lịch ở An Giang 53
Bảng 2.15 Đóng góp của nông nghiệp trong GRDP của tỉnh (theo giá thực tế) 54
Bảng 2.16 Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp so với các ngành kinh tế 54
Bảng 2.17 Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành sản xuất nông nghiệp 55
Bảng 2.18 Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành ngành trồng trọt 55
Bảng 2.19 Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành ngành chăn nuôi 56
Bảng 2.20 Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành ngành lâm nghiệp (giá thực tế) 56
Bảng 2.21 Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành ngành thủy sản (giá thực tế) 57
Bảng 2.22 Các điểm khảo sát ngoài thực địa bằng phần mềm Super GeoGPS 64
Bảng 3.1 Tổng hợp cấu trúc DL và PP thể hiện BĐ khí hậu 74
Bảng 3.2 Dữ liệu thuộc tính tiểu vùng khí hậu 75
Bảng 3.3 Cấu trúc dữ liệu và PP thể hiện BĐ thủy văn 80
Bảng 3.4 Tổng hợp cấu trúc dữ liệu và PP thể hiện BĐ thổ nhưỡng 85
Bảng 3.5 Cấu trúc dữ liệu và PP thể hiện BĐ dân số 89
Bảng 3.6 Cấu trúc dữ liệu và PP thể hiện BĐ kinh tế chung 94
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Hình 1 Tuyến, điểm khảo sát thực tế của đề tài 4
Hình 2 Quy trình các bước nghiên cứu của đề tài 5
Hình 1.1 Khái quát các yếu tố cấu thành BĐ địa lý (Salishev, 2006) 13
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa DL không gian và DL thuộc tính của BĐ 20
Hình 1.3 Quy trình công nghệ xây dựng BĐ bằng phần mềm GIS 21
Hình 1.4 Quy trình xây dựng BĐ của đề tài 22
Hình 2.1 Cấu trúc CSDL cho các BĐ tỉnh An Giang 25
Hình 2.2 Ảnh quét 3 BĐ tỉnh An Giang 26
Hình 2.3 Chọn hệ tọa độ và đăng ký tọa độ ảnh 27
Hình 2.4 Công cụ Drawing và kết quả vector hóa các đối tượng trên BĐ 28
Hình 2.5 Cấu trúc dữ liệu BĐ nền tỉnh An Giang (dựa theo MONRE, 2016) 28
Hình 2.6 Tổng hợp dữ liệu BĐ nền tỉnh An Giang trong MapInfo 29
Hình 2.7 Dữ liệu BĐ nền về địa giới hành chính 30
Hình 2.8 Dữ liệu BĐ nền về thủy hệ 31
Hình 2.9 Dữ liệu BĐ nền về giao thông 32
Hình 2.10 Dữ liệu BĐ nền về dân cư, cơ sở hạ tầng 33
Hình 2.11 Dữ liệu BĐ nền về lớp phủ 34
Hình 2.12 Dữ liệu BĐ nền các yếu tố cơ sở toán học và ghi chú 35
Hình 2.13 Dữ liệu BĐ nền về địa hình 35
Hình 2.14 Chức năng cập nhật và tính diện tích đất trong MapInfo 43
Hình 2.15 Ba cảnh ảnh được lựa chọn để giải đoán 58
Hình 2.16 Thu thập ảnh viễn thám trên website của USGS 58
Hình 2.17 Ảnh landsat 8 và thông tin ảnh 58
Hình 2.18 Thông số tham chiếu hiệu chỉnh cho cảnh ảnh 59
Hình 2.19 Nhập tọa độ khống chế cho ảnh 59
Hình 2.20 Phân loại ảnh ISODATA và điền các tham số phân loại 60
Hình 2.21 Kết quả phân loại ảnh bằng ISODATA 60
Hình 2.22 Bảng thống kê Class Statistics cho phân loại ISODATA 61
Hình 2.23 Thay đổi thang màu cho kết quả phân loại 61
Hình 2.24 Kết quả thành lập BĐ giải đoán 62
Trang 10Hình 2.25 BĐ lớp phủ bề mặt được xây dựng từ ảnh viễn thám 62
Hình 2.26 Các bước xác định tọa độ thực tế bằng phần mềm Super GeoGPS 63
Hình 2.27 Điều chỉnh DL đường và điểm trên BĐ 64
Hình 3.1 Quy trình biên tập BĐ địa lý trong đề tài 66
Hình 3.2 Xác định hệ tọa độ cho BĐ An Giang 67
Hình 3.3 Công cụ vẽ thước tỉ lệ 67
Hình 3.4 Vẽ lưới tọa độ và khung bản đồ 68
Hình 3.5 Công cụ Create Thematic Map để biên tập nội dung BĐ 71
Hình 3.6 Cố định tỉ lệ BĐ trên trang Layout 72
Hình 3.7 Hộp thọai Create Thematic Map 75
Hình 3.8 Công cụ Create Thematic Map biên tập nội dung BĐ 76
Hình 3.9 Tạo lớp vị trí trạm Khí tượng trên BĐ bằng Create Point 76
Hình 3.10 Sắp xếp các lớp DL và kết quả BĐ trang Layout 77
Hình 3.11 BĐ nhiệt độ trung bình và tổng lượng mưa năm khu vực Nam Bộ 78
Hình 3.12 Công cụ Create Thematic Map biên tập nội dung BĐ 81
Hình 3.13 Sắp xếp các lớp DL và kết quả BĐ trang Layout 82
Hình 3.14 Bản đồ phân vùng ngập lụt An Giang 82
Hình 3.15 Chức năng Update Column để cập nhật diện tích và tên loại đất 84
Hình 3.16 Thống kê thông tin đất đai 84
Hình 3.17 Công cụ Create Thematic Map biên tập nội dung BĐ 86
Hình 3.18 Chức năng vẽ biểu đồ Create Graph trong MapInfo 86
Hình 3.19 Vẽ biểu đồ cơ cấu loại đất trong MapInfo 87
Hình 3.20 Sắp xếp các lớp DL và kết quả BĐ trang Layout 87
Hình 3.21 Chức năng Update Column kết nối DL thuộc tính và không gian 90
Hình 3.22 Chức năng Ranges thể hiện mật độ dân số 91
Hình 3.23 PP bản đồ - biểu đồ, chức năng Pie Charts 91
Hình 3.24 Sắp xếp các lớp DL và kết quả BĐ trang Layout 92
Hình 3.25 Sắp xếp các lớp DL và kết quả BĐ trang Layout 96
Hình 3.26 Sắp xếp các lớp DL và kết quả BĐ trang Layout 100
Hình 3.27 Bản đồ lúa và bản đồ thủy sản 100
Trang 11DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Diễn biến các yếu tố nhiệt độ ở An Giang 37
Biểu đồ 2.2 Diễn biến chế độ mưa, ẩm, bốc hơi ở An Giang 38
Biểu đồ 2.3 Lưu lượng nước trung bình tại 2 trạm Tân Châu và Châu Đốc 42
Biểu đồ 2.4 Mực nước trung bình ở Tân Châu và Châu Đốc 42
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bản đồ (BĐ) là công cụ quan trọng trong công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu địa lý Trong giảng dạy, BĐ được xem là một loại “ngôn ngữ” đặc biệt của địa
lý, là kênh hình quan trọng để giáo viên phân tích và minh họa những thông tin về sự vật, hiện tượng trên lãnh thổ một cách trực quan Trong học tập địa lý, BĐ là cơ sở
để học sinh khai thác kiến thức có hiệu quả thông qua nội dung, màu sắc và hệ thống
ký hiệu của BĐ Trong nghiên cứu khoa học về địa lý, BĐ cũng là phương tiện không thể thiếu được để thể hiện sự phân bố không gian của các đối tượng nghiên
cứu, vì bất cứ nghiên cứu địa lý nào cũng thể hiện kết quả nghiên cứu bằng các BĐ
(Lâm Quang Dốc & Phùng Ngọc Đĩnh, 2005)
Theo giáo sư K.A Salishev, BĐ là tài liệu không thể thay thế được đối với sự
nghiệp giáo dục trong và ngoài nhà trường Chúng không chỉ là kho tàng lưu trữ những kiến thức địa lý đã tích lũy được mà còn là công cụ để truyền bá một cách có hiệu quả những kiến thức đó để nâng cao trình độ văn hóa chung, để giới thiệu về đất nước mình và các quốc gia khác trên thế giới (Salishev, 2006) Hiện nay, việc
giảng dạy và học tập các học phần Địa lý đại cương, Địa lý các khu vực và Địa lý Việt Nam đã có hệ thống BĐ tương đối hoàn chỉnh được biên tập trong các tập BĐ hoặc Atlas địa lý Tuy nhiên, đối với việc giảng dạy, học tập các học phần Địa lý địa phương hoặc liên quan đến địa phương An Giang thì ngoài giáo trình vẫn chưa có hệ thống BĐ phục vụ cho hoạt động dạy học, giáo viên và học sinh vẫn phải phụ thuộc vào các BĐ được xây dựng với các nội dung chung cho cả nước Những BĐ này không đủ chi tiết để đảm bảo yêu cầu và nội dung giảng dạy, học tập địa lý địa phương tỉnh An Giang
Ngoài ra, BĐ có ý nghĩa lớn lao khi được dùng làm công cụ nghiên cứu khoa
học, nhất là những nghiên cứu địa lý Nó ghi lại vị trí, trạng thái và các quan hệ không gian của các đối tượng cụ thể, không chỉ cho phép trình bày một cách rõ ràng
về sự phân bố các hiện tượng mà còn cho phép phát hiện ra các quy luật của sự phân
bố đó (Salisev, 2006) Vì thế BĐ được sử dụng như là một phương tiện trong nghiên
cứu địa lý Những năm gần đây, các nghiên cứu về địa bàn tỉnh An Giang ngày càng phong phú và đa dạng, trong đó nhiều nghiên cứu cần có BĐ để thể hiện phạm vi nghiên cứu và sự phân hóa của các sự vật, hiện tượng theo không gian Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn thiếu những BĐ riêng của địa phương đủ chi tiết để thể hiện hết được nội dung này Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu trên địa bàn cần thiết phải xây dựng hệ thống BĐ đa dạng và chi tiết hơn
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, tôi lựa chọn đề tài “Xây dựng một số bản đồ tỉnh An Giang phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu địa lý địa phương” với
mong muốn ứng dụng Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System -
GIS) và cập nhật các số liệu của địa phương để tạo ra các BĐ phục vụ tốt cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu của giáo viên, sinh viên, học sinh trên địa bàn
Trang 132.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác lập cơ sở lí luận cho việc xây dựng BĐ địa lý
- Xây dựng hệ thống dữ liệu (DL) không gian và DL thuộc tính về điều kiện tự nhiên, dân cư và KT-XH tỉnh An Giang để làm cơ sở biên tập BĐ địa lý
- Ứng dụng GIS để biên tập các BĐ địa lý về các đặc điểm tự nhiên, dân cư và các hoạt động KT-XH ở An Giang
- Vận dụng các BĐ địa lý đã xây dựng vào việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu địa lý địa phương An Giang
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Về không gian: nghiên cứu tập trung vào toàn bộ lãnh thổ tỉnh An Giang theo đơn vị hành chính với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh 3.536,68 km2
, gồm 11 đơn vị hành chính trực thuộc
- Về thời gian: đề tài được thực hiện từ 4/2018 đến 06/2019 Số liệu được sử dụng để xây dựng các BĐ địa lý tỉnh An Giang là số liệu được cập nhật tới hết năm
2017
- Về nội dung: đề tài tập trung xây dựng 06 BĐ địa lý cấp tỉnh tỉ lệ 1:500.000
về các lĩnh vực khác nhau trên địa bàn tỉnh An Giang (BĐ khí hậu, BĐ mạng lưới thủy văn, BĐ thổ nhưỡng, BĐ kinh tế chung, BĐ nông nghiệp, BĐ dân cư) Hướng dẫn ứng dụng các BĐ địa lý này vào giảng dạy, học tập và nghiên cứu địa lý địa phương An Giang
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Đây là bước đầu tiên sau khi xác định được mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của
đề tài và tiếp tục được tiến hành thường xuyên trong suốt quá trình thực hiện đề tài Mục đích của việc thu thập DL thứ cấp là để xây dựng DL thuộc tính và DL không gian của BĐ
DL thứ cấp có liên quan đến điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư
và KT-XH tỉnh An Giang được thu thập từ các tài liệu, đề tài nghiên cứu, báo cáo tổng kết của Trung tâm Khí tượng Thủy văn An Giang; Cục thống kê An Giang, các phòng chuyên môn và UBND các huyện, thị xã, các Sở ban ngành của tỉnh An
Trang 14Giang Tư liệu thứ cấp còn bao gồm BĐ nền tỉnh An Giang được thu thập từ Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam (tại Hà Nội) và ảnh viễn thám qua tỉnh An Giang được thu
thập từ website của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (United States Geological Survey
– USGS) Dữ liệu BĐ nền tỉnh An Giang thu thập được bao gồm:
- Địa hình: đường bình độ và các điểm độ cao;
- Địa giới hành chính: toàn bộ đường địa giới hành chính các cấp;
- Hệ thống thuỷ văn: hệ thống sông ngòi, kênh rạch;
- Hệ thống giao thông: các đường quốc lộ và tỉnh lộ;
- Các điểm dân cư mang tính định hướng: trụ sở UBND, các địa vật độc lập quan trọng;
- Lớp phủ hiện tại trên bề mặt;
- Cơ sở toán học của BĐ
4.2 Phương pháp xử lý, phân tích và chọn lọc dữ liệu
Dữ liệu thống kê nói chung có thể được trình bày, thể hiện ở nhiều hình thức
khác nhau như văn bản (documents), các bảng (tables) và các biểu đồ (charts), các
BĐ (maps) Dữ liệu thu thập được cũng từ nhiều nguồn khác nhau nên đôi khi có sự
không trùng khớp Vì vậy, việc xử lý dữ liệu đã được thực hiện thông qua các phần mềm quản lý, xử lý dữ liệu Từ đó, nghiên cứu lựa chọn những số liệu, thông tin phù hợp, chính xác và tin cậy nhất để cập nhật vào BĐ địa lý
Các BĐ nền thu thập được từ các nguồn khác nhau được xây dựng bằng các
phần mềm khác nhau như Microstation, ArcGIS, MapInfo nên khác nhau về định
dạng kiểu file và kiểu dữ liệu nên phải được chuyển đổi đưa về cùng định dạng để chuẩn hóa việc xây dựng BĐ Trong đề tài, tất cả các BĐ từ các phần mềm khác
nhau đều được đưa về cùng định dạng của MapInfo
4.3 Phương pháp số hóa và cập nhật dữ liệu bản đồ số
Đối với các BĐ giấy thu thập được, nghiên cứu tiến hành số hóa BĐ bằng phần mềm MapInfo Các đối tượng trên thực tế sẽ được thể hiện bằng các điểm, đường, vùng trên BĐ, được gắn tọa độ và được kiểm tra lại ngoài thực địa bằng định vị GPS
thông qua phần mềm Super GeoGPS
Đối với số liệu thu thập được, đề tài sử dụng công cụ Info Tools và chức năng
Update Column của phần mềm MapInfo để cập nhật các DL vào BĐ nền Các DL
được cập nhật sẽ được xử lý để trở thành DL thuộc tính và DL không gian cho các
BĐ địa lý
4.4 Phương pháp khảo sát ngoài thực địa
Trong quá trình xây dựng BĐ địa lý tỉnh An Giang, nghiên cứu tiến hành 02 lần khảo sát thực tế trên địa bàn để thu thập DL liệu sơ cấp, kiểm tra sự phân hóa
không gian của các đối tượng:
Trang 15- Khảo sát thực địa lần 1: Sau khi có BĐ nền, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát
sơ bộ để xác định các mốc, định vị các vị trí ngoài thực địa đảm bảo độ chính xác về ranh giới của BĐ địa lý Việc định vị ngoài thực địa được thực hiện bằng phần mềm
Super GeoGPS Khảo sát thực địa lần 1 được thực hiện theo điểm (20 địa điểm) phân
bố đều trên địa bàn tỉnh An Giang (Long Xuyên, Châc Đốc, Tân Châu, An Phú, Phú
Tân, Chợ Mới, Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên)
- Khảo sát thực địa lần 2: Đã được thực hiện sau khi đã biên vẽ các BĐ địa lý,
khảo sát lần này nhằm đối sánh thực tế với BĐ đã vẽ trên máy để từ đó có sự điều chỉnh phù hợp Khảo sát này được thực hiện theo tuyến (theo đường giao thông chính) ở tất cả địa phương trên địa bàn tỉnh An Giang
Hình 1 Tuyến, điểm khảo sát thực tế của đề tài
4.5 Phương pháp ứng dụng công nghệ GIS để biên tập bản đồ
Là phương pháp (PP) chủ yếu được sử dụng trong đề tài, bao gồm việc cập
nhật, trình bày DL, và ứng dụng để biên tập BĐ Đề tài sử dụng chức năng Create
Thematic Map của phần mềm MapInfo để biên tập BĐ Tùy thuộc từng loại BĐ mà
đề tài ứng dụng các kiểu thể hiện (Type) khác nhau để biên tập nội dung BĐ như:
Ranges (thể hiện PP đồ giải), Bar Charts hay Pie Charts (thể hiện PP bản đồ - biểu
đồ), Graduated (thể hiện PP ký hiệu), Dot Density (thể hiện PP chấm điểm),
Individual (thể hiện PP nền chất lượng), Grid (thể hiện PP BĐ chủ đề kiểu lưới)
4.6 Phương pháp xử lý ảnh viễn thám
Đề tài thu thập các ảnh viễn thám độ phân giải cao từ vệ tinh Landsat 8 của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (download miễn phí trên website: https://earthexplorer.usgs.gov/) Các ảnh được thu thập trải qua các bước xử lý cơ bản bằng phần mềm ENVI như: Hiệu chỉnh ảnh; Phân loại ảnh; Xử lý kết quả sau
Trang 16phân loại Với chuỗi DL thu được từ việc xử lý ảnh viễn thám, nghiên cứu đã tiến
hành thành lập BĐ lớp phủ tỉnh An Giang Ngoài ra, các DL này cũng được sử dụng
trong việc thành lập các BĐ địa lý khác có liên quan
5 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Trên cơ sở mục tiêu, phạm vi và PP nghiên cứu, tác giả đã tiến hành xác định
quy trình nghiên cứu của đề tài gồm các bước sau (hình 2):
Hình 2 Quy trình các bước nghiên cứu của đề tài
Xây dựng bản đồ phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu địa lý địa phương An Giang
Thu thập dữ liệu nền bản đồ
Phân tích, xử lý ảnh viễn thám thámkinh tế
Trang 17PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHỤC
VỤ GIẢNG DẠY, HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU
ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG1.1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ
BĐ là tài liệu quan trọng có thể cung cấp cho người đọc nhiều thông tin về các hiện tượng đang tồn tại và phát triển trên mặt đất Đó là tài liệu phục vụ cho các quá
trình nhận thức, nghiên cứu và chinh phục thiên nhiên của con người Hầu như trên
tất cả các lĩnh vực sản xuất và đời sống, tất cả các ngành kinh tế, nhất là những ngành có liên quan đến môi trường địa lý đều sử dụng và khai thác BĐ (Lê Văn Thơ,
Phan Đình Binh & Nguyễn Quý Ly, 2017) Từ thời xa xưa, để phục vụ cho việc đi lại, trao đổi mua bán hàng hóa, con người đã tự vẽ lại những sơ đồ và BĐ đơn giản trên những vật liệu thô sơ Ngày nay, với công nghệ hiện đại, BĐ được xây dựng ngày càng chi tiết và chính xác nhằm phục vụ hiệu quả cho thực tiễn nghiên cứu và sản xuất như trong việc quản lý, giám sát tài nguyên và môi trường, trong quy hoạch lãnh thổ sản xuất, trong phát triển du lịch, giao thông và an ninh, quốc phòng,…
Vì tầm quan trọng như vậy nên những nghiên cứu về xây dựng BĐ và những ứng dụng của của BĐ trong khoa học và đời sống ngày càng đa dạng Cụ thể:
Trên thế giới: có rất nhiều công trình nghiên cứu xây dựng BĐ
- Thời cổ đại, những người Hy Lạp đã xác định được dạng hình cầu của Trái Đất và đã tính được kích thước của nó Họ đã đề xướng những phép chiếu
BĐ và đưa ra lưới kinh, vĩ tuyến Họ là những người sáng tạo ra các BĐ địa lý đầu tiên có tính đến dạng cầu của Trái Đất Công trình tiêu biểu trong giai đoạn
này đề cập đến BĐ và xây dựng BĐ là tác phẩm gồm 8 tập có tên “Địa lý học”
(Geographia) của Claudius Ptolemaeus - nhà BĐ học, thiên văn học nổi tiếng Hy Lạp thời cổ đại Công trình đã mô tả vị trí và hình dáng các đối tượng địa lý bằng hệ thống các đường nét và ký hiệu – là PP xây dựng BĐ mà hiện nay vẫn được sử dụng trong khoa học BĐ Công trình đã cung cấp tư liệu để xây dựng 27 BĐ, gồm 1 BĐ thế giới và 26 BĐ các khu vực lớn trên Trái Đất Chúng hợp thành một tập hợp có hệ thống các BĐ địa lý đầu tiên, khá chi tiết Công trình không chỉ mô tả việc sản xuất
BĐ và cách thể hiện BĐ mà còn thống kê gần 8.000 tên gọi các đối tượng khác nhau như thành phố, núi, sông, vịnh,… Tuy nhiên, do những hạn chế về tầm hiểu biết địa
lý và kỹ thuật còn lạc hậu nên độ chính xác các BĐ này còn thấp, các BĐ thể hiện diện tích đất nổi lớn hơn diện tích đại dương và xem Ấn Độ Dương là một biển kín (Nguyễn Thị Kim Hiệp, Vũ Thanh Thủy, Võ Quốc Việt, Phan Đình Binh, & Lê Văn Thơ, 2006)
- Thời kỳ trung đại, chế độ phong kiến thống trị, khoa học bị dồn sâu vào chỗ phục vụ cho nhà thờ, nhu cầu về BĐ địa lý không đáng kể Các sản phẩm BĐ
chủ yếu là các “bản đồ tu viện” với cách tiếp cận Trái Đất là một mặt phẳng vì thế
Trang 18độ chính xác rất thấp Đến thế kỷ thứ XV - XVII, sự tan rã của chế độ phong kiến ở Châu Âu, các lãnh địa phong kiến nhỏ bé được thay thế bằng các quốc gia rộng lớn hơn, nhu cầu sử dụng BĐ tăng lên vượt bậc Việc đo vẽ BĐ một cách có hệ thống các miền đất nổi đã được bắt đầu Một trong những công trình sớm nhất thuộc loại
này là việc đo vẽ “Bản đồ Bravia”, tỷ lệ 1:50.000 do Philip Apia thực hiện và được
in vào năm 1568 Nhưng tiêu biểu hơn cả là công trình của Gerard Mercator (Hà
Lan) - nhà BĐ học nổi tiếng với tác phẩm “Bản đồ thế giới cỡ lớn” (1569), công
trình này đã sửa được những chỗ sai trên BĐ của Ptolemaeus Trên các BĐ của ông, các đối tượng địa lý đã được biểu hiện dựa trên cơ sở toán học, các ký hiệu tượng hình thay cho các hình vẽ cồng kềnh, hệ thống chữ viết đã được cải tiến Ông đã xây dựng phép chiếu đồ hình trụ giữ góc để chuyển mạng lưới kinh, vĩ tuyến từ mặt đất lên mặt phẳng của BĐ Phép chiếu đồ Mercator đến nay vẫn dùng để vẽ BĐ thế giới (Lâm Quang Dốc, 2004; Lê Văn Thơ và cs, 2017)
- Thời kỳ cận đại, cùng với sự phát triển bước đầu của nền kinh tế và khoa học
kỹ thuật thế giới, hầu hết các nước tư bản trên thế giới đã tiến hành đo đạc và thành lập các BĐ tỷ lệ lớn biểu diễn chi tiết lãnh thổ quốc gia mình Các hoạt động xây dựng BĐ diễn ra sôi nổi ở Pháp, Anh, Đức nhưng tiêu biểu hơn cả là ở Nga Năm
1745, Viện Hàn lâm khoa học đã xây dựng tập “Atlas nước Nga” – tập Atlas đầy đủ
đầu tiên về đất nước Nga Sau này được chỉnh lý lại bởi nhà bác học M.V Monoloxov (1765) Giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, nhiều công trình toán BĐ của các nhà BĐ học, toán học như Bonn, Lambert, Wollweide, Gauss, đã góp phần nâng cao độ chính xác về cơ sở toán học của BĐ Trong thế kỷ XIX, các BĐ xây dựng
phục vụ mục đích quân sự phát triển, đặc biệt là các BĐ địa hình Ví dụ: BĐ địa hình
Pháp tỷ lệ 1:80.000, BĐ địa hình Thụy Sĩ tỷ lệ 1:100.000, BĐ địa hình Hà Lan tỷ lệ 1:50.000,… (Lâm Quang Dốc, 2004; Lê Văn Thơ và cs, 2017)
- Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là các ngành đo đạc trên không và đo đạc mặt đất làm cho công tác đo
vẽ, biên tập và sản xuất BĐ trở nên thuận lợi, nhanh chóng, chính xác Sản phẩm BĐ ngày càng đa dạng, phong phú cả về nội dung lẫn hình thức
+ Các tuyển tập BĐ thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau Các tuyển tập BĐ
phục vụ học tập như công trình “World Atlas” được xuất bản năm 2001 tại Anh là
một trong những tập BĐ đầy đủ và chi tiết nhất về lĩnh vực địa lý tự nhiên cũng như lĩnh vực địa lý KT-XH, hiện nay, nó trở thành tài liệu trong giảng dạy địa lý
ở nhiều quốc gia như Anh, Mỹ, Đức, Úc và Ấn Độ Công trình Pocket Book of the
World Atlas, Children’s World Atlas của công ty xuất bản Dorling Kindersley
cũng là những tập BĐ chi tiết về thế giới và các quốc gia trên thế giới, tài liệu này còn có các chỉ dẫn địa lý giúp cho việc học tập địa lý và các khoa học lân cận trở
nên dễ dàng hơn Các sách BĐ phục vụ cho nghiên cứu như World Atlas of
Natural Disaster Risk (Shi et al., 2015) mô tả về tính dễ bị tổn thương, khả năng
phục hồi, thích ứng và rủi ro do thiên tai trên thế giới được thể hiện kết hợp ngôn
ngữ BĐ và chữ viết, The Water Atlas (Clarke & King, 2004)- một phân tích trực
Trang 19quan độc đáo về tài nguyên nước dưới dạng tập BĐ và hộp chữ để truyền tải nhiều vấn đề về nước trên thế giới Các BĐ dạng DL số phục vụ quản lý tài
nguyên như công trình Digital Soil Map of the World (Sanchez et al., 2009) –
tuyển tập BĐ tài nguyên đất trên thế giới được trình bày dưới dạng WebGis; công
trình World Ocean Atlas 2001: Objective analyses, data statistics, and figures
(Conkright et al., 2002) – một sê-ri (Series) về DL, thông tin, BĐ đại dương toàn cầu được lưu trữ dưới dạng tài liệu CD-ROM;…
Về nội dung, các BĐ được xây dựng phục vụ cho nhiều lĩnh vực khác nhau
như mô tả đặc điểm tài nguyên biển và đại dương World ocean atlas (Locarnini et al., 2013), xây dựng BĐ nghèo đói toàn cầu từ DL vệ tinh A global poverty map
derived from satellite data (Elvidge et al., 2009), đặc điểm phân bố của các nền
văn hóa trên thế giới Atlas of world cultures (Murdock, 1981), lịch sử một quốc gia hay vùng lãnh thổ Atlas of Russian history (Gilbert & Banks, 1993),…
Ở Việt Nam:
- Sự đo vẽ BĐ đã được tiến hành từ những năm đầu Công nguyên nhằm bảo vệ
sự toàn vẹn lãnh thổ, một trong số những công trình BĐ còn giữ lại đó là “Tập bản
đồ Hồng Đức” được thành lập dưới triều vua Lê Thánh Tông Trên các BĐ này đã
thể hiện hình dạng lãnh thổ đất nước và công bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa Thế kỷ XVIII, nhà bác học Lê Quý Đôn viết bộ sách “Kho hiểu
biết” gồm 9 tập, ông đã dành một tập viết về BĐ Về mặt lý thuyết tuy còn đơn giản
và chưa đầy đủ, song đó là một mốc quan trọng đánh dấu quá trình phát triển BĐ học
ở Việt Nam (Lê Văn Thơ và cs, 2017)
- Sau khi xâm lược đất nước ta, thực dân Pháp đã đẩy mạnh công cuộc đo đạc thành lập các BĐ tỷ lệ lớn nhằm phục vụ trực tiếp cho việc khai thác thuộc địa Kết quả, đã xác lập "Hệ thống khóa tam giác" - cơ sở khống chế đo vẽ chi tiết địa hình và thành lập hệ thống BĐ địa hình các tỷ lệ: 1/100.000 và 1/200.000 đối với Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ; BĐ 1/100.000 cho toàn Đông Dương; BĐ 1/25.000 và 1/50.000 cho các vùng đồng bằng, vùng mỏ; 1/10.000 và 1/5.000 cho các thành phố và thị xã (Lâm Quang Dốc, 2004; Lê Văn Thơ và cs, 2017)
- Năm 1959, Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước ra đời, đã tiến hành xác lập lại mạng lưới khống chế cả hai miền và chỉnh lí hệ thống BĐ địa hình Đến nay, nước ta
đã hoàn chỉnh hệ thống mạng lưới tam giác khống chế toàn quốc từ cấp I đến cấp IV, lập lưới tọa độ quốc gia Việt Nam và hệ thống BĐ địa hình, làm cơ sở để thành lập
các BĐ chuyên đề khác nhau Công trình “Xây dựng tập bản đồ Quốc gia Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” thuộc chương trình 48-03 do Viện Khoa học Việt Nam
thực hiện năm 1985 là tập hợp có hệ thống và tương đối hoàn thiện các tư liệu về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên và dân cư, KT-XH được thể hiện bằng ngôn ngữ BĐ
- Ngày nay, những công trình xây dựng BĐ ngày càng đa dạng và phong phú
Tiêu biểu là: “Tập BĐ Địa lý tự nhiên đại cương” (2009), “Tập BĐ Thế giới và các
Trang 20Châu lục” (2011), “Atlas Địa lý Việt Nam” (2014) của NXB Giáo dục; “Tập BĐ hành chính Việt Nam” (2009), “Tập BĐ nông nghiệp Việt Nam” (2001) của NXB
Bản đồ; Tập BĐ du lịch Việt Nam (2010), Tập BĐ chuyên đề Biển Đông (2013) của
Nhà xuất bản Tài nguyên Môi trường và Bản đồ Việt Nam Các công trình này đã xây dựng đầy đủ các loại BĐ từ thế giới cho đến các tỉnh, thành phố, biển đảo Việt Nam, mọi lĩnh vực từ địa lý tự nhiên đến địa lý KT-XH phục vụ hiệu quả cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu địa lý ở mọi cấp độ Ngoài ra, trong các chương trình địa lý từ lớp 6 cho đến lớp 12, bên cạnh sách giáo khoa thì NXB Giáo dục cũng xuất bản các Tập bản đồ gắn liền với các nội dung bài học trong sách giáo khoa giúp cho việc dạy và học địa lý trở nên trực quan, sinh động hơn
- Bên cạnh các BĐ giấy truyền thống, có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến việc ứng dụng khoa học công nghệ để xây dựng loại hình sản phẩm BĐ mới như
BĐ số, bản đồ 3D, Atlas điện tử, Có thể kể đến các công trình: “Nghiên cứu công
nghệ thành lập và ứng dụng bản đồ số địa chính trong điều kiện Việt Nam”, luận án
Tiến sĩ ngành Kỹ thuật Trắc địa – Bản đồ của Phạm Thế Huynh (2015); “Xây dựng
CSDL GIS và Atlas điện tử tổng hợp vùng Tây Nguyên”, đề tài trọng điểm cấp Nhà
nước của Nguyễn Đình Kỳ (2016); Các Atlas điện tử cấp tỉnh, như: Atlas điện tử tỉnh
Đắk Nông (2008), Atlas điện tử tỉnh Lào Cai (2009), Atlas điện tử tỉnh Hòa Bình
(2010), Atlas điện tử tỉnh Quảng Ninh (2011), Atlas điện tử tỉnh Hưng Yên (2012),
Atlas điện tử tỉnh Bình Dương (2013),…; Nhiều bộ CSDL GIS, như: bộ DL GISmap toàn bộ lãnh thổ đất liền Việt Nam (2004), bộ DL GISmap thành phố Hồ Chí Minh
(2010), bộ DL GISmap TP Hà Nội và TP Đà Nẵng (2012) Các công trình này là
thành quả nổi bật của những nghiên cứu ứng dụng khoa học - công nghệ để thành lập
BĐ, là cơ sở tham khảo quan trọng cho những nghiên cứu BĐ ở cấp độ khác nhau
Ở An Giang
Hệ thống BĐ ở An Giang cũng khá đa dạng, các BĐ được xây dựng nhằm mục đích quản lý nhà nước về hành chính, tài nguyên thiên nhiên và dân cư, KT-XH địa phương Một số BĐ đã được xây dựng cho địa bàn tỉnh An Giang, bao gồm:
- Tuyển tập BĐ về các lĩnh vực sử dụng đất nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, phát triển nông thôn tỉnh An Giang được xây dựng bởi Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp Việt Nam, đăng trên website của Vụ Kế hoạch, Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn (MARD) Đây là tuyển tập khá đầy đủ về các BĐ trong lĩnh vực
nông nghiệp có tỉ lệ 1:510.000, tuy nhiên, do được thành lập từ các năm 2007 nên các thông tin, số liệu mới chưa được cập nhật trên BĐ
+ BĐ Hành chính tỉnh An Giang tỉ lệ 1:125.000 được xây dựng bởi Sở Tài nguyên và Môi trường; BĐ Hành chính tỉnh An Giang tỉ lệ 1:500.000 in trong Tập
BĐ hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản Bản đồ Các BĐ này đã thể hiện ranh giới các đơn vị hành chính đến cấp xã, phường kèm theo địa danh và một một số yếu tố chính về tự nhiên, KT-XH của địa phương Những BĐ này giúp quản lí nhà nước về mặt hành chính và giúp tra cứu vị trí các đối tượng
Trang 21+ BĐ Hiện trạng sử dụng đất tỉnh An Giang năm 2010; BĐ Hiện trạng sử dụng
đất tỉnh An Giang năm 2014 tỉ lệ 1:50.000 do Sở Tài nguyên và Môi trường xây
dựng Các BĐ này đã phản ánh thực tế sử dụng đất ở thời điểm kiểm kê quỹ đất của đơn vị hành chính cấp tỉnh nhằm thống kê toàn bộ quỹ đất của tỉnh, làm tài liệu phục
vụ công tác quy hoạch sử dụng đất
+ BĐ Quy hoạch và sử dụng đất tỉnh An Giang đến năm 2020, tỉ lệ 1:50.000
được Trung tâm quan trắc và Kỹ thuật Tài nguyên môi trường tỉnh An Giang xây dựng BĐ này xây dựng làm tài liệu cơ bản, thống nhất để các ngành sử dụng các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và định hướng phát triển của ngành
+ BĐ hệ thống tuyến, điểm du lịch tỉnh An Giang đăng trên Cổng thông tin điện
tử của UBND tỉnh An Giang BĐ đã thể hiện đầy đủ các tuyến điểm du lịch cần thiết với các thông tin du lịch cho từng khu vực riêng biệt trên địa bàn An Giang
Tóm lại, trên Thế giới và Việt Nam, hệ thống BĐ đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, phục vụ tốt cho việc học tập, nghiên cứu cũng như giải quyết các vấn đề thực tiễn sản xuất Tuy nhiên, ở An Giang hệ thống BĐ chủ yếu phục vụ cho mục đích quản lý nhà nước về tài nguyên và dân cư, KT-XH của địa phương; còn hạn chế những BĐ được thiết kế riêng phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu những vấn
đề liên quan đến địa lý địa phương Vì vậy, việc xây dựng các BĐ của đề tài như mục tiêu đã nêu ở trên là có ý nghĩa thực tiễn
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢN ĐỒ ĐỊA LÝ
1.2.1 Quan niệm về bản đồ địa lý
Theo giáo sư K.A Salishev: "BĐ địa lý là những biểu hiện thu nhỏ bề mặt Trái
đất lên trên mặt phẳng, được quy định về mặt toán học, có tính chất hình ảnh - kí hiệu và được khái quát hóa Những biểu hiện này trình bày sự phân bố, tình trạng và các mối liên hệ của những hiện tượng tự nhiên và xã hội khác nhau, cả những biến đổi của chúng theo thời gian, đã được lựa chọn và nêu đặc trưng phù hợp với mục đích của từng BĐ cụ thể" (Salishev, 2006)
Đại hội lần thứ 10 của Hội Bản đồ thế giới tổ chức tại Tây Ban Nha (1995)
đã đưa ra định nghĩa "BĐ địa lý là hình ảnh của thực tế địa lý, được kí hiệu hóa,
phản ánh các yếu tố hoặc các đặc điểm địa lý một cách có chọn lọc, kết quả từ sự nỗ lực sáng tạo trong lựa chọn của tác giả BĐ và được thiết kế để sử dụng chủ yếu liên quan đến các mối quan hệ không gian" (theo Đỗ Vũ Sơn, 2013)
Luật Đo đạc và Bản đồ của Việt Nam xác định “BĐ là mô hình khái quát thể
hiện các đối tượng địa lý ở tỷ lệ nhất định, theo quy tắc toán học, bằng hệ thống ký hiệu quy ước, dựa trên kết quả xử lý thông tin, DL từ quá trình đo đạc” (Luật Đo đạc
và Bản đồ, 2018)
Những định nghĩa này mặc dù khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều thống nhất về nội dung và phản ánh được đầy đủ những thuộc tính của một BĐ địa lý Đó là:
Trang 22- Mỗi BĐ đều được xây dựng trên một cơ sở toán học xác định như tỉ lệ và phép chiếu BĐ, bố cục BĐ, các điểm khống chế tọa độ trắc địa…;
- Các đối tượng và hiện tượng (nội dung BĐ) được biểu thị theo một PP lựa chọn và khái quát nhất định (tổng quát hóa BĐ);
- Các đối tượng và hiện tượng được biểu thị bằng ngôn ngữ BĐ – đó là hệ thống các ký hiệu quy ước
1.2.2 Tính chất của bản đồ địa lý
Tính khoa học của bản đồ:
Đây là một tính chất quan trọng của BĐ, nó thể hiện ở khả năng đo được và khả năng cung cấp thông tin của BĐ
- Khả năng đo được của BĐ: có liên quan chặt chẽ với cơ sở toán học của BĐ
Căn cứ vào tỷ lệ và phép chiếu của BĐ, căn cứ vào các thang bậc của các ký hiệu, quy ước người sử dụng BĐ có khả năng xác định được rất nhiều trị số khác nhau như: Toạ độ, biên độ, độ dài, khoảng cách, diện tích, thể tích, phương hướng và các trị số khác Chính do tính chất này mà BĐ được dùng làm cơ sở để xây dựng các mô hình toán học của các hiện tượng địa lý và để giải quyết những vấn đề khoa học và thực tiễn sản xuất Khả năng đo được của BĐ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như giao thông, xây dựng, quy hoạch, quản lý đất đai,
- Khả năng cung cấp thông tin của BĐ: là khả năng lưu trữ, truyền đạt cho
người đọc những tin tức khác nhau về các đối tượng và các hiện tượng Từ những thông tin hiện trạng cho ta những ý tưởng, phát hiện mới cho tương lai Ví dụ BĐ hệ thống giao thông cho người đọc những thông tin về hiện trạng hệ thống đường xá, từ
đó người ta có thể định hướng sử dụng, cải tạo hay huỷ bỏ,…(Lê Văn Thơ và cs, 2017)
Tính giáo dục của bản đồ:
BĐ là giáo cụ trực quan, là cuốn “sách giáo khoa” thứ hai trong công tác giảng dạy và học tập các môn địa lý, vì vậy BĐ xây dựng phục vụ dạy học phải đảm bảo tính giáo dục (hay tính sư phạm) Tính sư phạm của BĐ ở đây bao gồm: sự phù hợp với chương trình giảng dạy môn địa lý địa phương ở trường đại học và trường phổ thông; thẩm mĩ của BĐ (kích thước, màu sắc, hệ thống kí hiệu,…); nội dung BĐ dễ hiểu, dễ khai thác
Trang 231.2.3 Yêu cầu đối với bản đồ địa lý
Việc thành lập BĐ phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu địa lý phải thoả mãn được các yêu cầu sau đây:
- Phản ánh được tính chất cùng thời gian đặc trưng của các đối tượng, hiện tượng Các đối tượng, hiện tượng luôn biến động theo không gian và thời gian, nhất
là những biến đổi về sự phát triển kinh tế Vì vậy, các chỉ số đưa lên BĐ càng cập nhật thì BĐ càng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao Các chỉ tiêu đó phải thống nhất về thời gian
- Tài liệu sử dụng để thành lập BĐ địa lý phải bảo đảm sự thống nhất và đầy
đủ đối với toàn bộ lãnh thổ được biểu thị trên BĐ Sự không đồng nhất về chất lượng của những tài liệu để thành lập BĐ sẽ dẫn đến sự không đồng nhất của BĐ trên những lãnh thổ khác nhau, cũng như làm sai lệch tính khách quan của các đối tượng, hiện tượng Vì vậy, cần phải chọn và dựa trên nguồn tài liệu cơ bản và đáng tin cậy nhất, có tham khảo các tài liệu khác để chỉnh lý và bổ sung
- PP biểu thị các đối tượng và nội dung trên BĐ phải gần gũi nhất với đặc tính địa lý của các đối tượng, hiện tượng Mỗi loại đối tượng, hiện tượng có đặc điểm phân bố khác nhau (như theo điểm, đường, vùng) Để BĐ có tính địa lý cao, phản ánh tốt nhất đặc trưng phân bố của các hiện tượng, phải vận dụng những PP biểu thị phù hợp nhất và phối hợp các PP thể hiện một cách khoa học
- Bố cục BĐ phải chặt chẽ, khoa học Các đối tượng, hiện tượng biểu thị trên
BĐ không những được phản ánh về phân bố, mà còn cả những đặc tính số lượng, chất lượng, cơ cấu và động lực Vì vậy, bố cục phải nhấn mạnh được những quan điểm chính, những yếu tố nội dung cơ bản theo mục đích và chủ đề của BĐ
- Yêu cầu về thông tin: Thông tin mang tính pháp lý cao, đầy đủ theo yêu cầu của việc xây dựng BĐ, có tính đồng bộ và tính thời gian, tính hiện thời,
- Nội dung của BĐ cần được thể hiện đúng theo các yêu cầu đối với BĐ truyền thống như: cơ sở toán học, độ chính xác, PP biểu thị nội dung, tổng quát hóa,… Ngoài ra, để đối tượng sử dụng BĐ đa dạng hơn thì BĐ cần phải dễ đọc, dễ hiểu (dẫn theo ý của Bùi Ngọc Quý, 2013)
1.2.4 Các yếu tố cấu thành bản đồ địa lý
Mỗi BĐ đều bao gồm các nhóm yếu tố để thể hiện sau: yếu tố nội dung, cơ sở
toán học, các yếu tố hỗ trợ và bổ sung (hình 1.1)
Trang 24Hình 1.1 Khái quát các yếu tố cấu thành BĐ địa lý (Salishev, 2006)
1.2.4.1 Cơ sở toán học của bản đồ địa lý
Các yếu tố cơ sở toán học của BĐ bao gồm: tỷ lệ, phép chiếu, hệ tọa độ (cơ sở
trắc địa) và bố cục BĐ
Tỷ lệ bản đồ
Tỷ lệ BĐ là thể hiện mức độ thu nhỏ của BĐ so với thực tế Trong quá trình
biên tập, thành lập BĐ thì việc lựa chọn tỷ lệ BĐ là khâu cực kỳ quan trọng quyết định đến quy mô lãnh thổ thể hiện, nội dung mục đích chuyên đề, kích thước và bố cục của tờ BĐ (Lâm Quang Dốc, 2004) Tỷ lệ được thể hiện trên BĐ dưới 3 dạng:
- Tỷ lệ số: có dạng là một phân số với tử số luôn luôn bằng 1, mẫu số thường là
số chẵn thể hiện số lần thu nhỏ của các đối tượng trên BĐ so với ngoài thực địa (Ví dụ: 1:500.000, 1:100.000, 1:50.000)
- Tỷ lệ chữ: là chữ viết thể hiện ý nghĩa của tỷ lệ BĐ và thường được đặt ngay bên dưới dòng tỷ lệ số trên BĐ (Ví dụ: 1cm trên BĐ tương ứng với 5 km trên thực địa),
- Thước tỷ lệ: là dạng đồ thị chia khoảng tương ứng được thiết kế theo tỷ lệ BĐ
để tiện cho việc tính toán tên BĐ
Đối với các BĐ xây dựng trong khuôn khổ đề tài này, tỉ lệ BĐ được thể hiện ở
2 dạng là tỉ lệ số và thước tỉ lệ
Phép chiếu bản đồ
Phép chiếu là nguyên tắc toán học để triển khai bề mặt chiếu hình Trái đất lên mặt phẳng BĐ Mạng lưới kinh tuyến, vĩ tuyến được biểu diễn trên mặt phẳng được gọi là lưới chiếu BĐ hay lưới BĐ (Lê Văn Thơ và cs, 2017) Có rất nhiều phép chiếu
BĐ khác nhau, tùy vào tỷ lệ BĐ mà áp dụng cho phù hợp Các phép chiếu thường sử dụng là: phép chiếu hình trụ đứng, phép chiếu hình trụ ngang, phép chiếu hình nón
Trang 25đứng, phép chiếu phương vị đứng,…
Ở Việt Nam, các phép chiếu đã được sử dụng là :
- Phép chiếu Bone: Đây là PP chiếu hình nón giả, không có sai số về diện tích
do Bone – nhà địa lý người Pháp đề xuất năm 1752 (Lê Văn Thơ và cs, 2017) Lưới
chiếu Bone là cơ sở BĐ địa hình của Việt Nam và bán đảo Đông Dương thời Pháp thuộc với các tỷ lệ cơ bản của BĐ là 1:25.000 ở vùng đồng bằng; 1:100.000; 1:400.000 cho toàn khu vực Đông dương
- Phép chiếu Gauss - Kruger: Đây là phép chiếu hình trụ ngang giữ góc do nhà
toán học người Đức – K.F Gauss đề xuất vào cuối thế kỷ 19 và được L Kruger phát triển và công bố vào năm 1912 (Lê Văn Thơ, 2017) Từ năm 1952, lưới chiếu Gauss
- Kruger được sử dụng thống nhất cho các nước xã hội chủ nghĩa với việc phân chia lãnh thổ thành các múi 60 phù hợp với BĐ quốc tế Nước ta đã sử dụng lưới chiếu này làm cơ sở toán học của BĐ địa hình với Ellipsoid Krasovsky và hệ tọa độ Gauss năm 1972 (gọi là hệ tọa độ Hà Nội - 72)
- Phép chiếu UTM (Universal Transverse Mecator): Đây cũng là phép chiếu hình trụ ngang giữ góc giống phép chiếu Gauss – Kruger nhưng phép chiếu UTM có
ưu điểm là độ biến dạng được phân bố đều hơn và có trị số nhỏ hơn (Lê Văn Thơ và
cs, 2017) Phép chiếu UTM cũng được sử dụng rộng rãi trong việc thành lập các BĐ địa hình tỷ lệ lớn đối với nhiều quốc gia trên thế giới Hiện nay, nước ta đang sử dụng hệ tọa độ VN-2000 với lưới chiếu BĐ được xây dựng từ phép chiếu UTM với ellipsoid WGS-84 được định vị lại phù hợp với lãnh thổ Việt Nam
Hệ tọa độ của bản đồ
Hệ tọa độ địa lý của quả đất được tạo nên bởi mặt phẳng xích đạo và mặt phẳng kinh tuyến gốc Cơ sở để xác định hệ tọa độ địa lý là hệ thống kinh tuyến, vĩ tuyến Tọa độ địa lý của một điểm được xác định bằng vĩ độ ( ) và kinh độ ( )
(Nguyễn Thị Kim Hiệp và cs, 2006)
Các hệ tọa độ của BĐ được sử dụng ở Việt Nam từ sau 1954:
- Hệ tọa độ HN – 72: Từ năm 1959 đến năm 1966, nước ta đã xây dựng được
hệ thống lưới tọa độ Nhà nước hạng I và II phủ kín lãnh thổ miền Bắc Việt Nam Hệ quy chiếu được chọn là hệ thống chung cho các nước xã hội chủ nghĩa với Elipxoit Kraxôpsky Năm 1972 Chính phủ đã quyết định công bố Hệ quy chiếu và Hệ tọa độ quốc gia nói trên là hệ Hà Nội – 72 (viết tắt là HN – 72) để sử dụng thống nhất trong
cả nước Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước tiếp tục phát triển vào phía Nam
- Hệ tọa độ VN – 2000: Trong quá trình sử dụng, HN – 72 không đáp ứng được
nhu cầu kỹ thuật mà thực tế đòi hỏi Vì vậy Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định
số 83/2000/QĐ-TTG ngày 12 tháng 7 năm 2000 đưa Hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN – 2000 vào sử dụng thống nhất trên toàn quốc Hệ tọa độ quốc gia VN –
2000 khắc phục được những hạn chế của HN-72 và được áp dụng thống nhất để xây
Trang 26dựng hệ thống tọa độ các cấp hạng, hệ thống BĐ địa hình cơ bản, BĐ nền, hệ thống
BĐ địa chính, BĐ hành chính quốc gia và các loại BĐ chuyên đề khác
Khung và bố cục bản đồ
- Khung BĐ: Trên phần lớn các BĐ, khung là một đường giới hạn lãnh thổ
được thể hiện gọi là khung trong, song song với khung trong là khung ngoài, có tính chất trang trí Giữa khung trong và khung ngoài là trị số các đường kinh vĩ tuyến, địa danh các đường phụ cận, nút giao thông gần nhất
- Bố cục BĐ: Là sự bố trí khu vực được thành lập trên BĐ, sắp xếp những yếu
tố trình bày ngoài khung và những tư liệu bổ sung Các BĐ địa lý bao giờ cũng định hướng kinh tuyến giữa theo Bắc - Nam Trong khung biểu thị khu vực thể hiện nội
dung, bố trí tên BĐ, tỷ lệ, bảng chú giải, và các yếu tố phụ
1.2.4.2 Nội dung bản đồ địa lý
Nội dung BĐ là bộ phận chủ yếu của BĐ, bao gồm thông tin về các đối tượng
và các hiện tượng được hiển thị trên BĐ Các yếu tố của nội dung BĐ địa lý phục vụ dạy học thường bao gồm:
- Các yếu tố địa lý tự nhiên:
+ Hệ thống thuỷ hệ: bao gồm các đối tượng như sông ngòi, hồ ao, kênh rạch, nguồn nước Khi thể hiện thuỷ hệ, thường dùng các ký hiệu khác nhau cho phép phản ánh các đặc tính của từng loại thủy hệ Ví dụ: trên BĐ, sông được thể hiện bằng một, hai nét hoặc thể hiện bằng vùng phụ thuộc vào độ rộng trên thực địa, mức độ quan trọng và tỷ lệ BĐ
+ Địa hình mặt đất: biểu thị mức độ lồi lõm của bề mặt trái đất, như các dạng địa hình, các dãy núi, đồi, đồng bằng, địa hình cồn, đầm lầy, Để thể hiện đầy đủ các tính chất đặc trưng của địa hình thường vẽ thêm các đường bình độ
+ Lớp phủ thực vật: Biểu thị các loại rừng, cây trồng, lúa, rau, màu, vườn cây
ăn quả Ranh giới các khu vực được biểu thị chính xác, các loại thực vật và thổ nhường khác nhau được thể hiện bằng ký hiệu qui ước khác nhau Trên BĐ chuyên
đề, lớp phủ thực vật thường không được thể hiện hoặc thể hiện sơ lược phụ thuộc vào nội dung, tỷ lệ và mục đích sử dụng của BĐ
- Các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội:
+ Dân cư: biểu thị các thành phố, thị xã, thị trấn, thôn xóm, số dân Đặc điểm của dân cư được biểu thị bằng độ lớn màu sắc, kiểu dáng của ký hiệu và ghi chú tên gọi
+ Các đối tượng thuộc lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội như các trung tâm công nghiệp, nông nghiệp, các công trình văn hóa, các di tích lịch sử, đình chùa, nhà thờ, Các công trình này biểu thị bằng ký hiệu phi tỷ lệ, chỉ chú ý đến sự phân bố + Hệ thống đường giao thông bao gồm tất cả các loại đường như đường bộ,
Trang 27đường thuỷ, đường hàng không Mạng lưới đường giao thông thể hiện chi tiết hay khái lược phụ thuộc vào tỷ lệ BĐ, cần thiết phải phản ánh mật độ, hướng và vị trí của đường giao thông
+ Các đường ranh giới bao gồm: mạng lưới địa giới hành chính các cấp như đường biên giới, đường địa giới tỉnh, huyện, xã và các loại đường ranh giới khác như ranh giới giữa các khu vực kinh tế, văn hoá, xã hội, ranh giới khu vực cấm,
Trong các nghiên cứu về địa lý, các yếu tố nội dung chuyên đề của BĐ thường phụ thuộc vào đề tài cụ thể, bao gồm: nội dung chính (chủ đề chính), nội dung thứ hai (BĐ nền, thông tin cơ bản của BĐ), yếu tố phụ trợ (thông tin lề như chú thích, tỉ
lệ, tiêu đề ) Nội dung chính là các yếu tố thể hiện chủ đề của BĐ Ví dụ, nội dung chính của BĐ khí hậu bao gồm nhiệt độ, lượng mưa, gió…; của BĐ giao thông bao gồm các loại đường, các điểm dân cư (đầu mối giao thông) chính Nội dung thứ hai bao gồm những yếu tố địa lí cơ sở để thể hiện nội dung chính như lưới toạ độ, địa hình, sông ngòi, địa mạo,…
1.2.4.3 Các yếu tố hỗ trợ, bổ sung
Ngoài cơ sở toán học và nội dung BĐ, trên BĐ còn có các yếu tố hỗ trợ, bổ sung giúp cho việc sử dụng BĐ được dễ dàng, hiệu quả Yếu tố hỗ trợ quan trọng nhất là bảng chú giải BĐ, đó là “chìa khoá ” để người đọc tìm hiểu và khám phá nội dung BĐ Thông thường, bảng chú giải là bảng ký hiệu có kèm theo những lời giải
thích ngắn gọn Ngoài ra, tuỳ theo nội dung BĐ mà các yếu tố hỗ trợ bổ sung được
cấu tạo tương ứng như: BĐ phụ, thước tỷ lệ, mũi tên chỉ hướng, các biểu đồ, các bảng, ghi chú, hình ảnh minh họa,…
1.3 PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐỊA LÝ
BĐ địa lý có thể được xây dựng bằng nhiều PP khác nhau Hiện nay, có các
PP phổ biến để xây dựng BĐ địa lý như: PP đo vẽ trực tiếp ngoài thực địa, PP biên
vẽ từ BĐ tỷ lệ lớn, PP đo vẽ ảnh hàng không và ảnh viễn thám (Nguyễn Thùy Linh,
2015)
Xây dựng BĐ địa lý bằng đo vẽ trực tiếp ngoài thực địa
PP này dùng để đo vẽ BĐ địa hình, địa chính tỉ lệ lớn trên quy mô diện tích nhỏ, chủ yếu ở các vùng dân cư, đặc biệt là khu vực đô thị có mật độ dân cư đông đúc, công trình nhiều PP này cũng có thể thực hiện cho việc thành lập BĐ chuyên đề
và các công tác đo đạc khác
Ưu điểm của PP này phản ánh trung thực, chính xác, chi tiết các đối tượng nội dung BĐ cần thể hiện Tuy nhiên, hạn chế của nó là quá trình đo vẽ chịu ảnh hưởng nhiều bởi thời tiết, khí hậu, điều kiện địa lý khu vực đo vẽ; năng suất lao động không cao do đó chỉ thực hiện công việc đo vẽ trên khu vực có diện tích nhỏ
Để xây dựng BĐ theo PP này, các công việc cần thực hiện là:
– Khảo sát, thiết kế, xây dựng luận chứng kinh tế – kỹ thuật
Trang 28– Lập lưới khống chế trắc địa làm cơ sở tọa độ để vẽ chi tiết
– Đo đạc chi tiết ngoài thực địa
– Nhập liệu và xử lý kết quả đo
– Biên tập BĐ
– Kiểm tra, sửa chữa, hoàn thiện BĐ
Xây dựng BĐ địa lý từ ảnh hàng không và ảnh viễn thám
PP này được ứng dụng để xây dựng BĐ tỷ lệ từ 1:2000 –1:50000; thành lập
một số BĐ mang tính chất chuyên ngành tỷ lệ lớn như BĐ địa chính hay BĐ lâm nghiệp
Ưu điểm của PP này là loại bỏ khó khăn, vất vả của công tác ngoại nghiệp;
cùng một lúc có thể đo vẽ được vùng rộng lớn, rút ngắn thời gian biên tập BĐ Tuy nhiên, hạn chế là độ chính xác BĐ phụ thuộc vào chất lượng và độ chính xác của ảnh chụp; quá trình đoán đọc có thể làm giảm độ chính xác các thông tin thể hiện trên
BĐ
Để xây dựng BĐ theo PP này, các công việc cần thực hiện là:
– Khảo sát, thiết kế, xây dựng luận chứng kinh tế-kỹ thuật
– Chụp ảnh hàng không hoặc thu thập ảnh viễn thám
– Lập lưới khống chế ảnh ngoại nghiệp
– Đo vẽ với ảnh hàng không và giải đoán đối với ảnh vệ tinh
– Biên tập BĐ
– Kiểm tra, sửa chữa và hoàn thiện BĐ
Xây dựng BĐ địa lý từ BĐ địa lý tỉ lệ lớn hơn
– PP này được ứng dụng phổ biến để xây dựng các BĐ tỉ lệ nhỏ, phù hợp với việc thành lập các BĐ phục vụ dạy học như các BĐ giáo khoa, BĐ địa lý chung, BĐ chuyên đề tỉ lệ nhỏ
– Ưu điểm của PP này là loại bỏ khó khăn vất vả của công tác ngoại nghiệp;
tận dụng các nguồn tư liệu BĐ, rút ngắn thời gian biên tập BĐ; sử dụng các nguồn tư liệu phi đồ họa (DL thuộc tính) Tuy nhiên, hạn chế của nó là độ chính xác BĐ phụ thuộc vào độ chính xác của các BĐ tư liệu; quá trình tổng quát hóa nội dung BĐ, biên tập BĐ có thể làm sai lệch, giảm độ chính xác của các thông tin thể hiện trên
BĐ
Hiện nay, thành lập BĐ địa lý từ BĐ địa lý tỉ lệ lớn hơn được thực hiện bằng hai dạng công nghệ: công nghệ truyền thống và công nghệ số Các công việc cần thực hiện khi xây dựng BĐ là:
– Chuẩn bị tư liệu là các BĐ tỉ lệ lớn hơn
Trang 29– Xử lý tư liệu BĐ
– Khảo sát ngoại nghiệp
– Nghiên cứu nội nghiệp
– Biên tập BĐ
– Kiểm tra, sửa chữa và hoàn thiện BĐ
Từ ưu, nhược điểm của các PP trên, đề tài lựa chọn PP xây dựng BĐ địa lý từ các BĐ địa lý khác nội dung và có tỉ lệ lớn hơn Đề tài sử dụng công nghệ GIS để trích xuất những DL sẵn có từ BĐ thu thập được làm cơ sở nền, cập nhật những số liệu chuyên ngành và tiến hành xây dựng BĐ địa lý các chuyên đề Bên cạnh đó, để tăng độ chính xác cho BĐ, đề tài cũng tiến hành kết hợp PP giải đoán ảnh viễn thám
và điều tra thực tế ngoài thực địa để thu thập các DL phong phú hơn cho việc xây dựng BĐ
1.4 ỨNG DỤNG HỆ GIS ĐỂ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐỊA LÝ
1.4.1 Khái quát về GIS
Định nghĩa về GIS
Có nhiều quan niệm khác nhau về GIS:
- Theo Burrough (1986), “GIS là một công cụ mạnh dùng để lưu trữ và truy
vấn, biến đổi và hiển thị DL không gian từ thế giới thực cho những mục tiêu khác nhau”(dẫn theo Phạm Hữu Đức, 2005)
- Theo Aronoff (1993),“GIS là một hệ thống gồm các chức năng: Nhập DL,
quản lý và lưu trữ DL, phân tích DL, xuất DL”.(dẫn theo Phạm Hữu Đức, 2005)
- Theo Nguyễn Kim Lợi và Vũ Minh Tuấn (2010), “GIS là một hệ phần mềm
máy vi tính cung cấp các công cụ phục vụ cho việc thu thập, lưu trữ, phân tích, xử lý
và hiển thị các thông tin địa lý Các thông tin đó mô tả về hình dạng, vị trí cũng như các tính chất của các đối tượng trên Trái Đất trong một hệ tọa độ nào đó” (Nguyễn
Kim Lợi & Vũ Minh Tuấn, 2010)
Các định nghĩa trên cho thấy rằng, GIS là một công cụ tập hợp những quy trình dựa trên máy tính để lập BĐ, lưu trữ và thao tác DL địa lý, phân tích các sự vật hiện tượng thực trên Trái Đất GIS lưu giữ thông tin về thế giới thực dưới dạng tập hợp các lớp chuyên đề có thể liên kết với nhau nhờ các đặc điểm địa lý Hai ưu điểm quan trọng của GIS so với BĐ giấy là:
- Dễ dàng cập nhật thông tin không gian
- Tổng hợp hiệu quả nhiều tập hợp DL thành một CSDL kết hợp
Cơ sở dữ liệu (CSDL) của GIS
DL được sử dụng trong GIS không chỉ là DL địa lý (geo-referenced data) riêng lẻ mà còn phải được thiết kế trong một CSDL (database) (Võ Quang Minh,
Trang 302007)
Có 2 dạng DL được sử dụng trong kỹ thuật GIS là:
- DL không gian của BĐ: Đặc trưng thông tin của DL không gian là có khả
năng mô tả “vật thể ở đâu” nhờ vị trí tham chiếu, đơn vị đo và quan hệ không gian Chúng còn khả năng mô tả “hình dạng hiện tượng” thông qua mô tả chất lượng, số lượng của hình dạng và cấu trúc Có 2 loại DL không gian:
+ DL liệu Vector: thông tin về điểm, đường và vùng được mã hoá và lưu dưới dạng tập hợp các toạ độ x,y Vị trí của đối tượng điểm, như đỉnh núi, có thể được biểu diễn bởi một toạ độ đơn x,y Đối tượng dạng đường, như đường giao thông, sông suối, có thể được lưu dưới dạng tập hợp các toạ độ điểm Đối tượng dạng vùng, như khu vực trồng lúa hay vùng lưu vực sông, được lưu như một vòng khép kín của các điểm toạ độ
+ DL Raster: được trình bày dưới dạng lưới ô vuông hay ô chữ nhật đều nhau, giá trị được ấn định cho mỗi ô sẽ chỉ định giá trị của thuộc tính Ảnh vệ tinh và
BĐ sau khi quét (scanned map) là các loại DL Raster
- DL thuộc tính của BĐ: được trình bày dưới dạng các ký tự hoặc số, hoặc ký
hiệu để mô tả các thuộc tính của các thông tin thuộc về địa lý Thông thường, hệ thống thông tin địa lý có các loại dữ liệu thuộc tính sau:
+ Đặc tính của đối tượng: chiều dài, chu vi, diện tích, tọa độ,… có liên kết chặt chẽ với các thông tin không gian có thể thực hiện truy vấn;
+ Số liệu hiện tượng, tham khảo địa lý: miêu tả những thông tin, các hoạt động thuộc vị trí xác định;
+ Chỉ số địa lý: tên, địa chỉ, phương hướng định vị, …liên quan đến các đối tượng địa lý
- Mối quan hệ giữa DL không gian và DL thuộc tính: Một trong các chức năng
đặc biệt của công nghệ GIS là khả năng liên kết và xử lý đồng thời giữa DL không gian và DL thuộc tính của BĐ Trong một hệ thống GIS tất cả những phần tử đồ hoạ (không gian) đều được thiết kế để có thể lưu trữ, cập nhật những thuộc tính phi đồ hoạ (thuộc tính) nào đó
VD: Trên BĐ thổ nhưỡng, ngoài các khoanh vi đất mà ta có thể nhìn thấy nó còn có các thông tin liên quan khác về khoanh vi đất đó như: diện tích, độ dày tầng tất, hàm lượng dinh dưỡng,…
Trang 31Hình 1.2 Mối quan hệ giữa DL không gian và DL thuộc tính của BĐ
(Phạm Thị Việt Hà, 2011; Nguyễn Thế Thận & Trần Công Yên, 2000)
1.4.2 Ứng dụng GIS trong việc xây dựng bản đồ địa lý
Ngày nay, GIS được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như quản lý và quy hoạch lãnh thổ, quản lý tài nguyên và môi trường, quy hoạch và phát triển đô thị,
nông nghiệp, kinh tế, giáo dục,…
Trong xây dựng BĐ (trường hợp dựa trên BĐ tỉ lệ lớn hơn), GIS được ứng
dụng theo quy trình sau (hình 1.3):
- Chuẩn bị xây dựng: thu thập dữ liệu BĐ hiện hành có liên quan đến BĐ cần xây dựng, tiến hành phân tích các lớp thông tin và xác định cơ sở toán học;
- Quét ảnh: từ BĐ giấy thông qua máy quét ảnh (Scaner) tạo ra tập tin ảnh BĐ
- Biên tập nội dung BĐ: là quá trình thể hiện việc thiết kế và tô vẽ các đối
tượng BĐ theo một chuyên đề cụ thể Bằng công cụ Thematic Map trong các phần
mềm GIS cho phép người sử dụng hoàn toàn có thể thể hiện được tất cả các đối tượng địa lý tự nhiên và địa lý KT-XH lên BĐ bằng các PP khác nhau, đảm bảo độ chính xác, thẩm mỹ, trực quan và khoa học;
Trang 32- Hoàn thiện và sửa chữa BĐ: là quá trình thực hiện sau khi biên tập nội dung, tiến hành khảo sát đối sánh lại với thực tế, điều chỉnh lại nội dung cho phù hợp Khi hoàn thiện có thể lưu BĐ dưới dạng số hoặc in ra dưới dạng BĐ giấy
Hình 1.3 Quy trình công nghệ xây dựng BĐ bằng phần mềm GIS
(Nguyễn Thùy Linh, 2015)
1.5 QUY TRÌNH XÂY DỰNG BẢN ĐỒ CỦA ĐỀ TÀI
Kết hợp các PP truyền thống, ứng dụng công nghệ GIS và yêu cầu thực tế, đề tài
xác định các bước tiến hành xây dựng các BĐ như sau (hình 1.4):
Bước 1 Chuẩn bị biên tập: Là bước đầu tiên của quá trình thành lập BĐ Nội
dung là xác định mục tiêu, nhiệm vụ thành lập BĐ, phạm vi lãnh thổ biểu hiện, thu thập tài liệu, tư liệu liên quan (số liệu, BĐ, ảnh viễn thám)
Bước 2 Xử lý dữ liệu: Tùy vào dạng tài liệu thu thập được mà có các PP xử
lý khác nhau: đối với BĐ hiện hành, tiến hành số hóa bằng phần mềm MapInfo; đối với ảnh viễn thám, tiến hành giải đoán bằng phần mềm ENVI; đối với số liệu dạng bảng, tiến hành xử lý bằng phần mềm MS Excel Các DL sau xử lý sẽ cho ra 2 kiểu
là: DL thuộc tính và DL không gian
Bước 3 Khảo sát sơ bộ: Công việc này nhằm mục đích kiểm tra sự chính xác của DL thuộc tính và DL không gian của BĐ Tiến hành điều chỉnh các sai số để đảm bảo sự trùng khớp cho các đối tượng giữa BĐ và thực tế
Bước 4 Biên tập BĐ: Là bước quan trọng để chuyển hóa DL đã xử lý hiển thị lên BĐ, bao gồm 2 thao tác chính:
- Lựa chọn các yếu tố nội dung (yếu tố địa lí nền và yếu tố chuyên đề) phù hợp với mục tiêu xây dựng BĐ;
- Lựa chọn công cụ và tiến hành biên tập BĐ: Có nhiều công cụ biên vẽ khác
Trang 33nhau như MapInfo, ArcGIS, Quantum GIS, Microstation, Đề tài chọn công cụ
MapInfo để biên tập các BĐ
Bước 5 Khảo sát thực tế và hoàn thiện BĐ: Sau khi biên tập, các nội dung của BĐ cần được khảo sát lại để đối chiếu với thực tế Nếu không trùng hợp, cần tìm hiểu nguyên nhân và biên tập, hiệu chỉnh lại BĐ BĐ của đề tài sau khi được hiệu chỉnh được lưu lại dưới dạng số, dạng file ảnh và BĐ giấy
Hình 1.4 Quy trình xây dựng BĐ của đề tài
Trang 34CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU PHỤC VỤ XÂY
DỰNG BẢN ĐỒ ĐỊA LÝ TỈNH AN GIANG 2.1 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Vị trí địa lý
An Giang là một tỉnh biên giới Tây Nam của Tổ quốc, nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long Trung tâm của tỉnh An Giang cách TP Hồ Chí Minh 200 km, cách trung tâm TP Cần Thơ 60 km; có đường biên giới với Vương quốc Campuchia dài khoảng 96 km
An Giang có tọa độ địa lý như sau:
- Cực Nam: 10010’30”B (xã Bình Thành, huyện Thoại Sơn);
- Cực Bắc: 10057’50”B (xã Khánh An, huyện An Phú);
- Cực Tây: 1040 47’20”Đ (xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn);
- Cực Đông:1050 35’10”Đ (xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới)
An Giang có vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Tây Bắc giáp Vương quốc Campuchia;
- Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp;
- Phía Đông Nam giáp TP Cần Thơ;
- Phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh 353.668 ha, có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm:
TP Long Xuyên, TP Châu Đốc, TX Tân Châu và 08 huyện là An Phú, Châu Phú, Châu Thành, Tri Tôn, Tịnh Biên, Phú Tân, Chợ Mới và Thoại Sơn
Đặc điểm tự nhiên
Về khí hậu, An Giang nằm trong vùng khí hậu á xích đạo gió mùa ẩm; biểu hiện ở nhiệt độ cao (trung bình 27,40C), biên độ nhiệt năm nhỏ (3 – 50
C), lượng mưa dồi dào (1200 – 1500mm), độ ẩm lớn (82 - 85%), trong năm có 2 mùa rõ rệt gồm mùa mưa (tháng 5 đến tháng 11) và mùa khô (tháng 12 đến tháng 4 năm sau)
Về địa hình, An Giang được chia thành hai dạng địa hình chính là đồng bằng
và đồi núi Đồng bằng có độ cao biến thiên từ 0,8-3,0m, thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam với độ chênh cao 0,5-1,0 cm/km Đồi núi phân bố chủ yếu ở 02 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên với nhiều núi có độ cao từ 300-700 m, bao bọc xung quanh núi là đồng bằng chân núi có cao trình từ 4-40 m và độ dốc từ 30
-80
Về thủy văn, An Giang có nguồn nước mặt và nước ngầm rất dồi dào Sông Mêkông chảy vào Việt Nam theo 2 nhánh: sông Tiền và sông Hậu song song với nhau từ Tây Bắc xuống Đông Nam; có mạng lưới kênh rạch lớn, nhỏ với mật độ dày Chế độ thủy văn của tỉnh phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nước của sông Mêkông,
Trang 35trước đây (khi chưa có đê bao), hàng năm có gần 70% diện tích tự nhiên bị ngập vào mùa lũ, thời gian ngập lũ từ 3 – 4 tháng
Về thổ nhưỡng, An Giang có thể chia thành 3 nhóm chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất phù sa 257.656 ha chiếm 72,85% diện tích đất tự nhiên; nhóm đất phèn 45.670 ha chiếm 12,91%; nhóm đất bạc màu (đất phát triển tại chỗ và đất phù sa cổ) 37.293 ha chiếm 10,55%; còn lại là diện tích mặt nước
Về sinh vật, An Giang hiện có khoảng 14.000 ha rừng với hơn 4.000 ha rừng sản xuất, gần 9.000 ha rừng phòng hộ và khoảng 1.000 ha rừng đặc dụng Bên cạnh
đó, An Giang có nguồn lợi thủy sản không nhỏ trên sông Tiền, sông Hậu với nhiều loài đặc trưng, đặc biệt vào mùa lũ 1
Đặc điểm dân cư, kinh tế - xã hội
Theo số liệu thống kê của Cục thống kê An Giang, đến hết năm 2017 dân số
An Giang là 2.161.713 người (đứng thứ 6 trong cả nước), mật độ dân số trung bình khá cao 611 người/km2
(gấp gần hơn 2,16 lần mật độ trung bình cả nước), tỉ lệ gia tăng
tự nhiên là 0,93% (thấp hơn mức tăng của cả nước - 1,03%) Dân cư phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu ở nông thôn chiếm 69,25% dân số Trên địa bàn tỉnh có
4 dân tộc sinh sống chủ yếu là người Kinh, Khmer, Chăm, Hoa
Về kinh tế, trong những năm vừa qua, nền kinh tế tỉnh An Giang có nhiều thay đổi, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2015 là 6,20% (cả nước là 6,68%), 2016 là 6,50% (cả nước là 6,21%), năm 2017 là 5,11% (cả nước là 6,81%) Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực và dần ổn định (tỉ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản trong cơ cấu kinh tế ngày càng giảm; tỉ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng, khu vực dịch vụ tăng dần qua các năm)
Về cơ sở hạ tầng, An Giang có hệ thống đường bộ, đường thủy khá phát triển,
có 03 cửa khẩu quốc tế (Tịnh Biên, Khánh Bình và Vĩnh Xương); 01 cửa khẩu quốc gia Vĩnh Hội Đông và 01 cửa khẩu phụ Bắc Đai (An Phú) nên rất thuận lợi cho việc giao lưu, hội nhập và phát triển kinh tế với bên ngoài
Về du lịch, An Giang được xem là vùng đất giàu tiềm năng du lịch Hiện nay, phát triển du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn của An Giang, do đó, tỉnh đang tập trung đầu tư, khai thác để phát triển nhanh các khu di tích văn hóa lịch sử như: núi Sam (TP Châu Đốc); núi Cấm (huyện Tịnh Biên), đồi Tức Dụp (huyện Tri Tôn), văn hóa Óc Eo (huyện Thoại Sơn),…
Về mặt xã hội, đời sống của dân cư được cải thiện, tỉ lệ hộ nghèo giảm, thu nhập bình quân của người lao động khoảng 3.214.000 đồng/người/tháng Cơ sở y tế, giáo dục, văn hóa đáp ứng được nhu cầu của người dân 2
Trang 362.2 CƠ SỞ DỮ LIỆU BẢN ĐỒ TỈNH AN GIANG
Hệ thống CSDL để xây dựng BĐ tỉnh An Giang gồm 3 bộ phận:
- Nguồn DL không gian (DL nền địa lý): Được khai thác từ BĐ hành chính tỉnh
An Giang tỉ lệ 1:125.000, BĐ đơn vị hành chính An Giang, tỷ lệ 1:500.000 và BĐ hiện trạng sử dụng đất tỉnh An Giang tỉ lệ 1:100.000 Các BĐ này được số hóa và tạo
ra 6 nhóm lớp DL: cơ sở toán học, ranh giới (biên giới địa chính), thủy hệ (mạng lưới thủy văn), giao thông, dân cư (dân cư và cơ sở hạ tầng), và thực vật (phủ bề mặt) Riêng DL nền địa hình được thu thập từ Trung tâm thông tin dữ liệu đo đạc và bản
đồ, Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam
- Nguồn DL phi không gian (DL thuộc tính): bao gồm các số liệu lấy từ nội
dung BĐ nền và số liệu thống kê nội, ngoại nghiệp về điều kiện tự nhiên và KT-XH tỉnh An Giang (bản giấy, file excel) Số liệu sau khi thu thập được sẽ được tổng hợp,
xử lý dưới dạng các biểu đồ, bảng biểu tổng hợp để làm cơ sở để xây dựng BĐ
- DL viễn thám: 03 ảnh vệ tinh Landsat 8 được thu thập từ Cục Khảo sát Địa
chất Hoa Kỳ được xử lý và giải đoán bằng phần mềm ENVI Kết quả giải đoán xây dựng được BĐ lớp phủ bề mặt đất, kết hợp BĐ này với BĐ hiện trạng sử dụng đất thu thập được làm tăng tính tin cậy cho DL của đề tài
Hình 2.1 Cấu trúc CSDL cho các BĐ tỉnh An Giang
Trang 372.2.1 Dữ liệu không gian (dữ liệu nền địa lý)
Đề tài đã thu thập nguồn dữ liệu không gian là 03 BĐ giấy, đó là:
- BĐ hành chính tỉnh An Giang, tỷ lệ 1:125.000 (Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang)
- BĐ hiện trạng sử dụng đất tỉnh An Giang, tỷ lệ 1:100.000 (Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang)
- BĐ đơn vị hành chính An Giang, tỷ lệ 1:500.000 (Nguồn: Viện Quy hoạch
và Thiết kế Nông nghiệp)
Các BĐ thu thập ở trên được tiến hành số hoá bằng phần mềm MapInfo, với
cấp độ chi tiết ở tỷ lệ tương ứng với BĐ đã thu thập Quy trình số hóa BĐ tỉnh An Giang được tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1 Quét bản đồ và tạo ra các tập tin ảnh
BĐ giấy tỉnh An Giang được quét qua máy quét tạo nên các tập tin ảnh
(raster file) với phần mở rộng là *.jpg Kết quả cho ra ảnh quét là ảnh màu, độ phân giải là 250dpi (hình 2.2), chất lượng ảnh quét rõ nét, đảm bảo chất lượng cho khâu
nắn và vectơ hóa BĐ
Hình 2.2 Ảnh quét 3 BĐ tỉnh An Giang
- Bước 2 Đăng ký tọa độ ảnh (nắn BĐ)
Để sử dụng các tập tin ảnh quét, nghiên cứu tiến hành đăng ký tọa độ cho ảnh
quét bằng công cụ Image Registration của MapInfo Trên ảnh quét này, đề tài sẽ sử
dụng 4 điểm có tọa độ trên BĐ giấy để làm điểm khống chế, tọa độ các điểm được
đổi về độ thập phân cho phù hợp với định dạng trong MapInfo trước khi đăng ký
Tọa độ 4 điểm khống chế được khai báo như sau:
Bảng 2.1 Vị trí các điểm khống chế trên BĐ và ngoài thực địa
Điểm
khống
chế
Tọa độ (độ, phút, giây) (thập phân) Tọa độ Vị trí trên thực địa
Trang 38Đề tài chọn hệ tọa độ (Projection) Quốc gia Việt Nam VN-2000/WGS84,
mũi 48 cho lãnh thổ Việt Nam
Hình 2.3 Chọn hệ tọa độ và đăng ký tọa độ ảnh
- Bước 3 Số hóa BĐ (vector hóa)
Quá trình biến đổi DL raster thành DL vector trên BĐ tỉnh An Giang (hay
còn gọi là quá trình vẽ lại các đối tượng bản đồ trên file hình ảnh thành đối tượng điểm, đường, vùng, chữ có gắn tọa độ trên MapInfo) Quá trình này được thực hiện
trên máy tính thông qua các công cụ vẽ Drawing của phần mềm MapInfo
Vector hóa BĐ tỉnh An Giang được tiến hành cho 4 loại đối tượng như sau:
+ Ðối tượng dạng điểm (point): thể hiện các đối tượng chiếm diện tích nhỏ
như trung tâm hành chính, các công trình tiêu biểu, các điểm di tích lịch sử - văn hóa, các đỉnh núi, cửa khẩu,…
+ Ðối tượng dạng đường (line): thể hiện các đối tượng không khép kín hình
học, bao gồm: các đường thẳng, các đường gấp khúc và các cung như đường giao thông, sông rạch, đường ranh giới hành chính,…
+ Ðối tượng dạng vùng (polygon): thể hiện các đối tượng khép kín hình học
bao phủ một vùng diện tích nhất định, có thể là các polygon, ellipse và hình chữ nhật, ví dụ lãnh thổ địa giới 1 xã, huyện, vùng khí hậu, khu vực trồng lúa,…
+ Ðối tượng dạng chữ (text): thể hiện các đối tượng không phải là địa lý của
Trang 39BĐ như nhãn, tiêu đề, ghi chú,…
Hình 2.4 Công cụ Drawing và kết quả vector hóa các đối tượng trên BĐ Sau quá trình vector hóa, DL điểm, đường, vùng, chữ được chỉnh sửa, bổ sung thông tin đầy đủ Quá trình này trong đề tài bao gồm các công đoạn: lọc bỏ
điểm dư thừa (filter), làm trơn đường (smooth), loại bỏ các đối tượng trùng nhau, sửa các điểm cuối tự do và tạo các điểm giao Thực hiện kiểm tra sai số giữa DL raster
và DL vector (độ lệch giữa các đường vector và tâm đường raster < 0.1mm) Các
điểm không trùng khớp với GPS ngoài thực địa cũng được chỉnh lại cho khớp tọa độ
Kết quả, 06 nhóm lớp DL đã được tạo ra từ việc số hóa 3 BĐ giấy và 01 nhóm lớp DL địa hình thu thập từ Trung tâm Thông tin Dữ liệu Đo đạc và Bản đồ,
nghiên cứu đã đảm bảo đủ lớp dữ liệu nền địa lý theo Thông tư số:
48/2016/TT-BTNMT quy định kỹ thuật CSDL địa lý (Bộ Tài nguyên và Môi trường [MONRE],
2016) (hình 2.5) Trong mỗi nhóm dữ liệu lại được phân tách thành các lớp (layer) riêng biệt giúp cho việc quản lý, xử lý DL trở nên dễ dàng (hình 2.6) Các DL không
gian này là cơ sở nền để xây dựng BĐ địa lý các chuyên đề về khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, dân cư, kinh tế và nông nghiệp như mục tiêu của đề tài
Hình 2.5 Cấu trúc dữ liệu BĐ nền tỉnh An Giang (dựa theo MONRE, 2016)
Trang 40Hình 2.6 Tổng hợp dữ liệu BĐ nền tỉnh An Giang trong MapInfo
Cấu trúc dữ liệu nền địa giới hành chính
DL về địa giới hành chính bao gồm phạm vi các đơn vị hành chính và ranh giới hành chính các cấp tuỳ thuộc vào vào tỷ lệ và mục đích sử dụng của BĐ Nhóm DL
về địa giới hành chính trong đề tài được số hóa từ BĐ hành chính tỉnh An Giang tỉ lệ
1:125.000 của Sở Tài nguyên và Môi trường Kết quả số hóa được 4 lớp DL (hình
2.7): lớp xã (COMMUNE), lớp huyện (DISTRICT), lớp tỉnh (PROVINCE), lớp ranh
giới hành chính (BOUNDERY) Cấu trúc DL được mã hóa như sau:
1 COMMUNE: Gồm các polygon xã
CODE: Mã CODE_COMMUNE: Mã xã CODE_DISTRICT : Mã huyện CODE_PROVINCE: Mã tỉnh NAME_OF_COMMUNE: Tên xã NAME_OF_DISTRICT: Tên huyện NAME_OF_PROVINCE: Tên tỉnh
2 DISTRICT: Gồm các polygon huyện
CODE: Mã CODE_DISTRICT : Mã huyện CODE_PROVINCE: Mã tỉnh NAME_OF_DISTRICT: Tên huyện