iv TÓM TẮT Mặc dù đã thống nhất sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ toàn dân, nhưng vì nhiều lí do khác nhau, năng lực sử dụng tiếng Việt của đồng bào các dân tộc ít người, trong đó có ngườ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
Trang 2i
TRANG CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Đề tài nghiên cứu khoa học “Năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer trên địa bàn tỉnh An Giang” do tác giả Trương Chí Hùng, công tác tại Khoa Sư phạm
thực hiện Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày 9 tháng 04 năm 2015
………
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học An Giang, các giảng viên đồng nghiệp tại Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư phạm đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin gởi lời cám ơn chân thành đến chính quyền địa phương và bà con Khmer tại địa bàn hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên tỉnh An Giang đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập tư liệu, khảo sát, điều tra để thực hiện đề tài
Tôi xin gởi lời cám ơn chân thành đến Tiến sĩ Hoàng Quốc, người đã có nhiều ý kiến quý báu, những góp ý xác đáng và kịp thời cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành tri ân!
An Giang, ngày 25 tháng 3 năm 2015
Tác giả
Trương Chí Hùng
Trang 4iii
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
An Giang, ngày 25 tháng 3 năm 2015
Tác giả
Trương Chí Hùng
Trang 5iv
TÓM TẮT
Mặc dù đã thống nhất sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ toàn dân, nhưng vì nhiều
lí do khác nhau, năng lực sử dụng tiếng Việt của đồng bào các dân tộc ít người, trong đó
có người Khmer ở An Giang còn nhiều hạn chế Năng lực sử dụng tiếng Việt hạn chế khiến đa số người dân Khmer gặp khó khăn trong việc tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật để ứng dụng vào đời sống sản xuất, nắm bắt thông tin chậm, khó hoà nhập với các dân tộc khác trong cộng đồng…
Để có cái nhìn khách quan, khoa học về năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer ở An Giang, đề tài tiến hành khảo sát 600 đối tượng là người Khmer cư trú tại địa bàn hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, thuộc ba khu vực khác nhau (nông thôn, miền núi, đô thị) bằng phiếu điều tra kết hợp với quan sát và phỏng vấn sâu Trên cơ sở dữ liệu thu thập được, nghiên cứu chỉ ra thực trạng về năng lực tiếng Việt, đặc điểm sử dụng ngôn ngữ cũng như thái độ ngôn ngữ của cộng đồng Khmer ở An Giang
Đề tài cũng tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sử dụng tiếng Việt, đề ra những giải pháp, những kiến nghị cần thiết cho việc phát huy năng lực ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang
ABSTRACT
Although Vietnamese was agreed as the official and common language in Vietnam, for different reasons, the ethnic minorities’ ability of using Vietnamese, including the Khmer people in An Giang, is limited This causes difficulty in acquiring the progress of science and technology to apply in manufacturing; the slow acknowledgement of information, and the difficulty in integrating with other races in the community
To get an objective and scientific view about this matter, a survey on 600 Khmers who reside in Tri Ton and Tinh Bien district was carried out, spreading three different areas (rural, mountainous and urban) through questionnaires along with observation and interviews Based on the data collected, the study indicates the fact about the ability, features as well as the attitude of the Khmers An Giang in using Vietnamese language The thesis also analyzes factors affecting the Khmers’ ability to use Vietnamese, and proposes solutions, the necessary recommendations for developing this ability of the Khmer people in An Giang
Trang 6v
MỤC LỤC
Chương 1: Giới thiệu……… 1
1.1 Lý do chọn đề tài……… 1
1.2 Mục tiêu của đề tài……… 2
1.3 Nội dung nghiên cứu……… 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu và mẫu nghiên cứu ……… 3
1.5 Câu hỏi nghiên cứu……… ……… 4
Chương 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu……….……… 5
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước……….……… 5
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước…… ……….……….6
Chương 3: Cơ sở lý luận ……….……… …… 10
3.1 Khái quát về cộng đồng Khmer và tiếng Khmer ở An Giang… ……….… 10
3.2 Ngôn ngữ, năng lực ngôn ngữ và các thuật ngữ liên quan 20
Chương 4: Kết quả khảo sát và đánh giá 28
4.1 Năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer ở An Giang 28
4.2 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang 38
4.3 Thái độ ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang 43
4.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer 48
4.5 Giải pháp nhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ cho người Khmer….……… 54
Chương 5: Kết luận và kiến nghị……… 59
5.1 Kết luận……… … … 59
5.2 Kiến nghị……… ……… ……….60
Tài liệu tham khảo………62
Phụ lục……….……… 67
Trang 7CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
sự tồn tại và phát triển của một cộng đồng dân tộc, trong mọi thời đại
Việt Nam là quốc gia có 54 cộng đồng dân tộc cùng cư trú Trong đó, hầu hết các dân tộc có ngôn ngữ riêng để giao tiếp trong phạm vi cộng đồng dân tộc mình
Do vậy, để có sự thống nhất về ngôn ngữ, Đảng và Nhà nước ta nhất quán chọn tiếng Việt là ngôn ngữ chung cho cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia được dùng làm công cụ giao tiếp chung trong cộng đồng 54 dân tộc Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của dân tộc Kinh, nhưng lại là ngôn ngữ thứ hai của 53 dân tộc còn lại Do vậy, việc học tập và sử dụng tiếng Việt của đồng bào các dân tộc thiểu số luôn được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước:
“Tất cả các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam đều cần học và dùng tiếng, chữ phổ
thông Nhà nước cần ra sức giúp đỡ nhân dân các dân tộc thiểu số học biết nhanh tiếng phổ thông.” (Quyết định 153/CP, ngày 20 tháng 8 năm 1969)
Ở tỉnh An Giang, ngoài người Kinh còn có các dân tộc anh em khác cộng cư,
đa số là người Chăm, Hoa, Khmer Trong đó, dân tộc Khmer có dân số đứng thứ hai sau dân tộc Kinh Người Khmer sống tập trung chủ yếu tại hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Điều kiện sống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc Khmer ở An Giang còn nhiều khó khăn, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân về rào cản ngôn ngữ Năng lực sử dụng tiếng Việt hạn chế khiến đa số người dân Khmer nơi đây gặp khó khăn trong việc tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật để ứng dụng vào đời sống sản xuất, nắm bắt thông tin chậm, khó hoà nhập với các dân tộc khác trong cộng đồng… Do vậy, chúng tôi cho rằng, vấn đề năng lực tiếng Việt của đồng bào Khmer ở An Giang cần phải được quan tâm đặc biệt
Thực tế cho thấy, mặc dù chúng ta đã thống nhất sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ toàn dân, nhưng vì nhiều lí do khác nhau, năng lực sử dụng tiếng Việt của đồng bào các dân tộc ít người, trong đó có người Khmer ở An Giang còn khá nhiều điều đáng băn khoăn Chúng tôi thiết nghĩ, cần có những khảo sát, nghiên cứu một cách nghiêm túc để có cái nhìn khoa học, biện chứng về năng lực ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang Từ đó tạo cơ sở cho những định hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho người Khmer ở An Giang
Căn cứ những yếu tố đã nêu, việc thực hiên đề tài Năng lực sử dụng tiếng Việt
của người Khmer trên địa bàn Tỉnh An Giang là rất cần thiết Kết quả nghiên cứu
của đề tài giúp ta có cái nhìn khoa học về năng lực hiểu và sử dụng tiếng Việt của cộng đồng dân tộc Khmer ở An Giang, từ đó tạo cơ sở cho những giải pháp góp phần phát triển năng lực tiếng Việt, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào Khmer nơi đây
Trang 81.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1 Khái quát về tiếng Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long (trong giao tiếp thường ngày và trong giáo dục) Cụ thể là tìm hiểu đặc điểm loại hình, cội nguồn tiếng Khmer để từ đó chỉ ra những ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ (Khmer) của người Khmer khi học và sử dụng tiếng Việt (giao thoa ngôn ngữ dẫn đến lỗi phát âm, chính
4 Phân tích thái độ ngôn ngữ của người Khmer An Giang đối với tiếng Khmer và tiếng Việt
5 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tiếng Việt của người Khmer;
6 Đề xuất một số định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng song ngữ
Khmer - Việt và năng lực tiếng Việt cho cộng đồng Khmer ở An Giang
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Tiến hành điều tra thực trạng năng lực tiếng Việt của cộng đồng dân tộc Khmer ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên tỉnh An Giang;
2 Phân tích, đánh giá các nhân tố xã hội (như kinh tế, văn hoá, tuổi tác, giới tính, địa bàn cư trú ) tác động đến năng lực tiếng Việt của cộng đồng dân tộc Khmer;
3 Mức độ sử dụng tiếng mẹ đẻ (tiếng dân tộc) của cộng đồng dân tộc Khmer
so với tiếng Việt và tác động hai chiều (tích cực và tiêu cực) đối với năng lực tiếng Việt;
4 Vai trò của gia đình, xã hội đối với năng lực tiếng Việt của người dân Khmer;
5 Tác động của các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, đài phát thanh
và truyền hình) đối với năng lực tiếng Việt của cộng đồng dân tộc Khmer;
6 Thái độ của cộng đồng dân tộc Khmer đối với việc thụ hưởng giáo dục và
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MẪU NGHIÊN CỨU
Phương pháp chung: Kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định lượng và
phương pháp nghiên cứu định tính Trong đó:
Trang 9- Phương pháp định lượng: thu thập dữ liệu bằng các chỉ số liên quan đến sự
lựa chọn ngôn ngữ, thái độ ngôn ngữ của cộng đồng người Khmer An Giang
- Phương pháp định tính: mô tả đặc điểm ngôn ngữ Khmer, bổ sung kiểm
chứng các thống kê định lượng thu được, phân tích năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer và lí giải các nguyên nhân dẫn đến thái độ ngôn ngữ của người Khmer
Theo đó, chúng tôi chọn 6 địa bàn sau: xã Văn Giáo (Tịnh Biên), xã
An Hảo (Tịnh Biên), thị trấn Chi Lăng (Tịnh Biên); xã Vĩnh Gia (Tri Tôn), xã Núi
Tô (Tri Tôn), thị trấn Tri Tôn (Tri Tôn)
Đối tượng khảo sát:
Tiêu chí chọn đối tượng: đối tượng lựa chọn khảo sát là người Khmer trên địa bàn An Giang theo các tiêu chí có tính phân tầng như: giới tính, tuổi tác, nơi sinh,
nơi ở, trình độ học vấn và nghề nghiệp
Số lượng người được khảo sát: 600 (sáu trăm người)
+ Nội dung khảo sát:
+ Năng lực sử dụng tiếng Việt
Trang 10+ Mục đích: Thu thập thông tin về năng lực tiếng Việt của người Khmer
+ Nội dung quan sát: cách phát âm, dùng từ trong giao tiếp; sự lựa chọn ngôn
ngữ trong các tình huống giao tiếp cụ thể
Đối với các đối tượng khảo sát là người Khmer không biết tiếng Việt hoặc năng lực tiếng Việt hạn chế, chúng tôi sử dụng lực lượng cộng tác viên là người Khmer song ngữ hoàn hảo để phiên dịch, chuyển tải các nội dung khảo sát và thu thập thông tin
- Phương pháp so sánh:
+ Mục đích:
Tìm ra sự khác biệt về năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer theo
độ tuổi, giới tính, địa bàn cư trú…
+ Kỹ thuật tiến hành:
So sánh dựa trên những cứ liệu đã thống kê, tổng hợp được
Ngoài những phương pháp chính đã nêu trên, trong quá trình nghiên cứu
chúng tôi còn vận dụng một số phương pháp khác như: phương pháp phân tích - tổng
hợp, phương pháp thống kê và xử lí số liệu… nhằm nghiên cứu một cách có hệ thống
về đối tượng
1.5 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer ở tỉnh An Giang như thế nào?
- Người Khmer An Giang sử dụng tiếng Việt trong những hoàn cảnh giao tiếp nào?
- Năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer theo độ tuổi, theo trình độ học vấn, theo giới tính theo địa bàn cư trú… có gì giống và khác nhau?
- Trong hoàn cảnh nào thì người Khmer dùng tiếng mẹ đẻ (tiếng Khmer)?
- Thái độ lựa chọn ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang như thế nào?
- Làm cách nào để nâng cao năng lực tiếng Việt cho người Khmer?
Trang 11CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu về ngôn ngữ dân tộc Khmer nói chung từ trước đến nay đã trở thành một nội dung được khá nhiều học giả quan tâm Tuỳ theo mục đích, đối tượng
mà các nhà nghiên cứu lựa chọn phương pháp và cách thức tiếp cận khác nhau, khai thác những khía cạnh khác nhau Điều này một mặt cho thấy tính hấp dẫn của vấn đề Mặt khác cũng phản ánh tính phức tạp của nó Điểm qua các công trình nghiên cứu ngoài nước về ngôn ngữ cộng đồng dân tộc Khmer, chúng tôi thấy đáng lưu ý là loạt công trình của các học giả người Pháp
Trước hết, G Maspero (1915) trong quyển “Grammaire de Langue Khmer”
đã đi sâu vào nghiên cứu ngữ pháp và ngữ âm tiếng Khmer ở Campuchia cũng như khu vực Nam Bộ Trong công trình này, tác giả còn đưa ra nhận định cho rằng tiếng Khmer ở Nam Bộ giống như một phương ngữ của tiếng Khmer ở Campuchia, vì vậy,
nó cần được nghiên cứu với đúng bản chất phương ngữ của nó Nghĩa là, vừa đối chiếu với ngôn ngữ gốc (tiếng Khmer ở Campuchia), vừa tìm ra sự khác biệt tương đối với ngôn ngữ gốc này Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra hiện tượng ngữ âm của tiếng Khmer ở Nam Bộ đã chịu sự ảnh hưởng lớn từ tiếng Việt bản địa (và ngữ âm tiếng Việt cũng chịu ảnh hưởng lớn từ ngữ âm tiếng Khmer) Do vậy, nó cần phải được nhìn nhận, nghiên cứu trong thế độc lập với tiếng Khmer ở Campuchia
Học giả F Martini (1959) đã nghiên cứu mối quan hệ giao thoa, pha trộn giữa tiếng Khmer và tiếng Việt ở Nam Bộ Tác giả cho rằng quá trình tiếp xúc, sử dụng ngôn ngữ giữa hai cộng đồng dân tộc Việt và Khmer ở khu vực Nam Bộ tất yếu xảy
ra hiện tượng ảnh hưởng qua lại giữa tiếng Việt và tiếng Khmer Sự ảnh hưởng này diễn ra theo cả hai chiều: tiếng Khmer bị ảnh hưởng bởi tiếng Việt và tiếng Việt bị ảnh hưởng bởi tiếng Khmer Từ nhận định đó, tác giả đưa đến kết luận sự giao thoa, pha trộn này là nội dung rất quan trọng đối với công tác nghiên cứu tiếng Việt hoặc tiếng Khmer khu vực Nam Bộ Vấn đề này hiện vẫn được nhiều nhà nghiên cứu Khmer ngữ quan tâm
Marie A Martin (1979) đã đặc biệt quan tâm đến ngôn ngữ Khmer vùng Châu Đốc, Việt Nam Trong bài viết “Les voyelles du Combodigien parlé dans la province de Chau Doc (sub- Viet Nam)” (Marie A Martin 1979), tác giả cho rằng tiếng Khmer khu vực Châu Đốc (Việt Nam) vào khoảng năm 1970 chỉ bao gồm trên dưới 900 đơn vị từ vựng Sau đó, chúng được phát triển lên trong quá trình hoạt động giao tiếp và trở nên phong phú như hiện tại Hệ thống nguyên âm tiếng Khmer bao gồm nguyên âm đơn và nguyên âm đôi Tác giả tiến hành đối chiếu các từ Khmer ở Campuchia và từ Khmer Châu Đốc, từ đó đi đến nhận định hệ thống ngữ âm của cộng đồng người Khmer Châu Đốc còn giữ nhiều đặc điểm ngữ âm của tiếng Campuchia bên kia biên giới Nguyên nhân là do người Khmer Châu Đốc ít vay mượn ngữ âm bản địa (tiếng Việt) Ngoài ra, tác giả cũng đặt vấn đề phát triển ngôn ngữ cộng đồng Khmer Nam Bộ nói chung để tạo cơ sở cho việc phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc này
Tác giả Gérard Diffloth (2003) đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu tổng quan về tiếng Khmer (nguồn gốc, phương ngữ, âm vị học, hệ thống chữ viết, hình thái, cú pháp, phong cách từ vựng) Gérard Diffloth cho rằng tiếng Khmer là
Trang 12một trong những ngôn ngữ có số lượng nguyên âm nhiều nhất trên thế giới Tác giả này nhận định, tiếng Khmer đang được sử dụng ở Miền Nam Việt Nam thuộc nhóm ngôn ngữ Khmer Krom (tiếng Khmer ở Miền Nam Camphuchia), có sự khác biệt nhất định so với tiếng Khmer chuẩn hiện đại Tuy nhiên, sự khác biệt này không lớn lắm, không gây ảnh hưởng đến việc giao tiếp
Bên cạnh các công trình kể trên, việc nghiên cứu ngôn ngữ Khmer còn phải
kể đến Từ điển tiếng Khmer của Choun Nath (1967 - 1968) Đây được xem là quyển
từ điển thông dụng nhất của cộng đồng người Khmer ở Campuchia Ngoài số lượng
mục từ phong phú, trong Từ điển tiếng Khmer của Choun Nath, tác giả còn ghi chú
rất cụ thể về nguồn gốc các từ, đối chiếu những từ Khmer thông dụng với từ gốc từ Pa-li, Sangskrit hoặc từ pha trộn Pa-li, Sangskrit
Ngoài ra, vấn đề nghiên cứu tiếng Khmer còn phải kể đến bài viết của A.G
Haudricourt: “La place du Vietnamien dans les langues austroasiatiques” đăng trên Tạp chí Bulletin de la Société de Linguistique (1953) Trong bài viết này, A.G
Haudricourt đã trình bày cái nhìn khái quát về các ngôn ngữ Nam Á ở Việt Nam, trong đó có ngôn ngữ Khmer Ông cũng nhận định tiếng Việt có mối liên hệ nhất định với các ngôn ngữ họ Nam Á, dòng Môn-Khmer Năm (1954), trong bài viết:
“De l’origine des tons en vietnamien” (Journal Asiatique, 242, 69-82), A.G
Haudricourt tiếp tục đưa ra nhận định nguồn gốc của các âm trong tiếng Việt có mối quan hệ với tiếng Khmer
Thomas David (1960, 1969, 1976), đã thống kê, khảo sát các từ vựng cơ bản cũng như hệ thống chữ số trong ngôn ngữ Khmer; khảo sát khái quát về ngôn ngữ Khmer khu vực miền Nam Việt Nam trên cơ sở đối chiếu với tiếng Khmer ở Campuchia để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt Ngoài ra, Thomas David & Wanna Tienmee (1983) đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu ngữ
âm tiếng Khmer, so sánh ngữ âm tiếng Khmer với một số ngôn ngữ trong khu vực
Nhìn chung, các học giả ngoại quốc đã đề cập đến khá nhiều vấn đề trọng yếu của ngôn ngữ Khmer như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, sự giao thoa ngôn ngữ… Tùy vào mục đích khác nhau, các tác giả có thể nghiên cứu những mặt khác nhau của ngôn ngữ Khmer Nhưng nhìn chung, hầu hết các tác giả đều đặt ngôn ngữ trong mối quan hệ qua lại với nhau để nghiên cứu Đặc biệt, là dù xuất phát từ góc độ nào, đứng trên quan điểm nào thì các tác giả cũng khá đồng nhất với nhau trong việc nhìn nhận mối quan hệ qua lại tất yếu giữa tiếng Khmer ở khu vực Nam Bộ với tiếng Việt
Do vậy, khi nghiên cứu tiếng Khmer khu vực này thì không thể tách rời với tiếng Việt, và ngược lại, nghiên cứu tiếng Việt cũng phải đặt trong mối quan hệ gắn bó, giao thoa với tiếng Khmer
Tuy nhiên, khảo sát các công trình nghiên cứu tiếng Khmer của học giả nước ngoài, chúng tôi nhận thấy chưa có học giả nào tập trung nghiên cứu vấn đề năng lực tiếng Việt của cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ nói chung và người Khmer An Giang nói riêng Điều này cho thấy, vấn đề mà đề tài chúng tôi hướng đến vẫn còn mới mẻ
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ Khmer cũng được quan tâm từ khá sớm Các công trình đã phác thảo phần nào về bức tranh đa ngữ ở các vùng dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, thực tế cho thấy, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở nước ta vẫn còn khá khiêm tốn so với các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung Riêng về tiếng Khmer ở khu vực
Trang 13Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và An Giang nói riêng, chúng tôi nhận thấy có các công trình nổi bật sau đây:
Trước hết, có thể kể đến những nội dung liên quan đến tiếng Khmer được Lê
Hương (1969) đề cập trong cuốn “Người Việt gốc Miên” in tại Sài Gòn Phần Ngôn
ngữ trong sách này, Lê Hương trình bày khái lược về nguồn gốc, một số đặc điểm
ngữ âm, từ vựng tiếng Khmer ở Nam Bộ Ngoài ra, sách “Tự học chữ Miên” (Lê
Hương, 1963) cũng đề cập nhiều vấn đề liên quan đến ngữ âm, chữ viết của tiếng Khmer Tuy nhiên, trong hầu hết các công trình của Lê Hương, ngôn ngữ Khmer đều không phải là đối tượng nghiên cứu chính Do đó, tác giả chỉ đề cập ở một mức độ thích hợp, chưa đưa ra những luận điểm cơ bản và hầu như không đề cập đến năng lực ngôn ngữ của cộng đồng Khmer ở Nam Bộ
Nguyễn Đình Hoà (1997) trong công trình Tiếng Việt không son phấn cũng
đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng của tiếng Việt như ngữ âm, từ vựng, cú pháp Đặc biệt, tác giả nêu ra nhiều vấn đề liên quan đến nguồn gốc tiếng Khmer trong tiếng Việt, mở ra hướng tiếp cận tiếng Việt trên cơ sở tham chiếu với các ngôn ngữ trong khu vực, đặc biệt là tiếng Khmer
Hoàng Học (1977, 1979) đóng góp vào việc nghiên cứu ngôn ngữ Khmer với
hai bộ từ điển rất giá trị: Từ điển Việt – Khmer (2 tập) và Từ điển Khmer - Việt Đóng
góp lớn nhất của cả hai bộ từ điển này là số lượng mục từ phong phú, bên cạnh các từ thường dùng trong sinh hoạt còn có các từ chuyên sâu thuộc lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa… Chính vì vậy, nó rất thuận lợi cho việc tra cứu, học tập tiếng Khmer cũng như tiếng Việt, đúng theo tiêu chí, mục đích ban đầu của tác giả từ điển
là bên cạnh việc nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc mình, việc tìm hiểu ngày càng đầy
đủ hơn ngôn ngữ của dân tộc láng giềng sẽ tạo thêm được nhiều thuận lợi mới
Công trình Tiếng Việt và các Ngôn ngữ dân tộc phía Nam do Viện Khoa học
Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh (1992) thực hiện đã đề cập đến những vấn đề về ngữ âm, từ vựng, sự vay mượn qua lại giữa tiếng Việt và tiếng Khmer Từ đó, các tác giả nhận định, cần có một chính sách hợp lý để phát triển ngôn ngữ dân tộc ở khu vực phía Nam
Phát triển giáo dục vùng dân tộc Khmer Nam Bộ là công trình tập hợp 37 bài
viết trích từ Kỷ yếu hội thảo “Thực trạng và giải pháp cho việc phát triển giáo dục
vùng đồng bào Khmer Nam Bộ” Các tác giả đề cập khá nhiều nội dung quan trọng
xoay quanh vấn đề về công tác giáo dục của đồng bào Khmer ở khu vực Nam Bộ trên cơ sở phân tích, đối sánh những khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Khmer (Đinh
Lê Thư và cs 2003)
Đinh Lư Giang (2003, 2008, 2011) đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên
cứu Tình hình song ngữ Khmer - Việt của cộng đồng người Khmer ở khu vực Đồng
Bằng Sông Cửu Long Đặc biệt, Đinh Lư Giang (2010) đã nghiên cứu khá toàn diện
về tình hình song ngữ Khmer – Việt tại Đồng bằng sông Cửu Long Trong công trình của mình, tác giả Đinh Lư Giang đã giải quyết nhiều vấn đề trọng yếu liên quan đến cảnh huống ngôn ngữ Khmer ở Đồng Bằng sông Cửu Long; các môi trường song ngữ ở Đồng bằng sông Cửu Long; một số hệ quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ Khmer – Việt; giao thoa ngôn ngữ Khmer – Việt; chính sách và giáo dục song ngữ Khmer – Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long… Tác giả chọn đối tượng khảo sát chủ yếu là người Khmer ở hai tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh và một phần thuộc xã Cô Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang Có thể nói, kết quả khảo sát, phân tích, kiến giải trong công trình của Đinh Lư Giang là những gợi ý hết sức quý báu cho chúng tôi trong quá trình tiếp cận, thực hiện đề tài này
Trang 14Nguyễn Thị Huệ (2013) cũng đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến giao
thoa, tiếp xúc ngôn ngữ Khmer – Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Trà Vinh nói riêng; miên tả trạng thái của sự tiếp xúc ngôn ngữ Khmer – Việt (cảnh huống ngôn ngữ, song ngữ, chức năng xã hội, thái độ ngôn ngữ, các hiện tượng giao thoa, chuyển mã…); vấn đề giáo dục song ngữ trong cộng đồng Khmer ở Trà Vinh
Từ các cơ sở phân tích, đánh giá về tình hình song ngữ và giáo dục song ngữ Khmer – Việt ở Trà Vinh, tác giả Nguyễn Thị Huệ đã đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học tiếng Việt cho học sinh Khmer trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
Tác giả Hoàng Quốc (2005, 2008, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015a, 2015b) đã có nhiều công trình, bài viết về năng lực ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ của học sinh Khmer cũng như cộng đồng Khmer ở An Giang Đặc biệt, những nghiên cứu về vấn đề song ngữ, cảnh huống ngôn ngữ ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và An Giang nói riêng của tác giả Hoàng Quốc đã bao quát được khá toàn diện vấn đề ngôn ngữ dân tộc ít người trong tỉnh và khu vực Kết quả nghiên cứu từ các công trình của tác giả Hoàng Quốc là những gợi ý quan trọng
và những cứ liệu tham khảo cần thiết cho việc khai thác, tiếp cận đề tài này
Nguyễn Thị Thoa (2012) đã khảo sát các phương thức vay mượn của tiếng Khmer đối với tiếng Việt tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Theo đó, tác giả trình bày 5 phương thức vay mượn chủ yếu là: (1) dịch nghĩa từ tiếng Việt sang tiếng Khmer; (2) vay mượn từ và phát âm theo cách phát âm của người Khmer; (3) vay mượn nghĩa và giữ nguyên cách phát âm; (4) mượn bằng cách dịch một hoặc một vài thành tố và mô phỏng cách phát âm đối với thành tố còn lại trong tổ hợp từ tiếng Việt; (5) vay mượn theo kiểu kết hợp giữa từ tiếng Khmer với từ tiếng Việt
Phan Thái Bích Thuỷ (2008a, 2008b) trong hai đề tài: “Thực trạng dạy - học
tiếng Việt cho học sinh Khmer bậc tiểu học huyện Tri Tôn tỉnh An Giang” và
“Nghiên cứu cải tiến phương pháp dạy - học học vần cho học sinh lớp 1 dân tộc
Khmer huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang” - đã đề cập đến các yếu tố xoay quanh việc
dạy tiếng Việt cho học sinh Khmer.Qua việc khảo sát năng lực tiếng Việt của học sinh Khmer, khảo sát thực trạng dạy và học tiếng Việt ở một số trường tiểu học ở huyện Tri Tôn, tác giả đã đề xuất các mô hình giáo dục sáng tạo nhằm giúp học sinh Khmer lĩnh hội tiếng Việt tốt hơn
Có thể thấy, tính đến thời điểm hiện tại, các đề tài nghiên cứu về ngôn ngữ Khmer khá phong phú và đa dạng Những công trình này là định hướng, gợi ý quan trọng cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Chúng tôi xem các công trình của những tác giả đi trước như một nguồn tư liệu tham khảo quý giá và cần thiết, đồng thời kế thừa các thành tựu mà giới nghiên cứu đã đóng góp để có những định hướng thiết thực, những giải pháp cụ thể cho việc tiếp cận đề tài nghiên cứu của mình
Điểm qua các công trình nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ của người Khmer nói chung, chúng tôi nhận thấy, các tác giả đề cập đến những vấn đề cơ bản như ngữ âm, từ vựng, chữ viết, ngữ pháp, giao thoa ngôn ngữ, hiện tượng song ngữ Khmer - Việt, việc phát triển giáo dục vùng đồng bào Khmer Nam Bộ… Hầu hết các
đề tài đều dàn trải nghiên cứu ngôn ngữ cộng đồng Khmer trên diện rộng (khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long), các đề tài nghiên cứu hẹp thường chọn mẫu nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh Vấn đề nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang chỉ mới tập trung chủ yếu vào đối tượng là học sinh Khmer, chưa đi sâu nghiên cứu năng lực ngôn ngữ của cộng đồng người Khmer Từ
Trang 15đó cho thấy, vấn đề năng lực sử dụng tiếng Việt của cộng đồng người Khmer ở tỉnh
An Giang vẫn là vấn đề còn bỏ ngõ
Trang 16CHƯƠNG 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN
3.1 KHÁI QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG KHMER VÀ TIẾNG KHMER Ở AN
GIANG
3.1.1 Cộng đồng dân tộc Khmer ở An Giang
An Giang là một tỉnh miền Tây Nam bộ, thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích tự nhiên 353.676 ha, trong đó có 297.872 ha đất sản xuất nông nghiệp An Giang là tỉnh vừa có đồng bằng, vừa có núi và có đường biên giới dài gần
100 km, giáp với 02 tỉnh Tà - Keo và Kan – Đan (Vương quốc Campuchia); có 02 cửa khẩu quốc tế là Xuân Tô (huyện Tịnh Biên), Vĩnh Xương (thị xã Tân Châu) và
01 cửa khẩu quốc gia là Khánh Bình (huyện An Phú) Về địa giới hành chính: tỉnh
An Giang có 08 huyện, 01 thị xã, 02 thành phố và 156 xã, phường, thị trấn Trong đó
có 18 xã biên giới, 38 xã dân tộc
Theo số liệu thống kê đến tháng 5 năm 2015, dân số toàn tỉnh 2.155.323 người, với 539.347 hộ Đồng bào dân tộc thiểu số 114.128 người, với 27.296 hộ, chiếm tỷ lệ 5,29% dân số toàn tỉnh Có 03 dân tộc thiểu số là Khmer, Hoa, Chăm cùng chung sống lâu đời Dân tộc Khmer có 91.138 người (22.631 hộ) chiếm 4,19%; dân tộc Chăm có 14.358 người (3.518 hộ), chiếm 0,66% và dân tộc Hoa có 8.282 người (2.024 hộ), chiếm tỷ lệ 0,37% dân số toàn tỉnh Đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh An Giang đa số là người dân tộc Khmer (chiếm gần 80% dân tộc thiểu số cả tỉnh) và tập trung nhiều nhất ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh biên Người Chăm sinh sống tại huyện An Phú, Tân Châu và Phú Tân, ngoài ra còn có một bộ phận nhỏ ở huyện Châu Thành và Thành phố Long Xuyên Người Hoa ở An Giang hiện sinh sống chủ yếu tại thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc và rải rác ở một số huyện thị khác như Châu Phú, Tân Châu, Phú Tân, Tri Tôn Tình trạng sống đan xen giữa các dân tộc là phổ biến Tình hình này tạo nên một trạng thái đa ngữ phức tạp trong giao tiếp, trong tiếp xúc ngôn ngữ và trong giáo dục song ngữ
Điều kiện sống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc Khmer còn gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân về rào cản ngôn ngữ, làm ảnh hưởng đến việc nắm bắt và tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật để ứng dụng vào đời sống sản xuất và vấn đề hoà nhập cộng đồng xã hội
Theo Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang (Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang, 2015), tổng số học sinh dân tộc thiểu số ở An Giang năm học 2014 - 2015 là 17.319 học sinh (tiểu học: 10.396 học sinh, trung học cơ sở: 5.611 học sinh, trung học phổ thông: 1.312 học sinh), chiếm tỷ lệ 5,12% học sinh toàn tỉnh Giáo viên người dân tộc thiểu số là 665 giáo viên (Khmer: 563 người, Chăm: 18 người, Hoa: 84 người) trong đó: trình độ đại học là 386 người, sau đại học là 5 người Tỉnh có 01 Trường phổ thông Dân tộc nội trú có 2 cấp học: Trung học cơ sở và Trung học phổ thông dành cho học sinh dân tộc Khmer, đặt tại thị trấn Tri Tôn (Tri Tôn); 01 Trường trung học cơ sở Dân tộc bán trú, đặt tại thị trấn Chi Lăng (Tịnh Biên) Các em học sinh Trường Dân tộc nội trú được học chữ Khmer trong chương trình chính khóa Mỗi trường có dạy tiếng dân tộc Khmer được bố trí thêm 01 biên chế, định mức dạy 23 tiết/tuần đối với tiểu học, 17 tiết/tuần đối với trung học cơ sở và 15tiết/tuần đối với trung học phổ thông
Trang 17Đồng bào dân tộc Khmer ở An Giang hầu hết theo Phật giáo Nam tông, rất tôn trọng sư sãi, xem chùa vừa là nơi sinh hoạt tôn giáo, vừa là nơi sinh hoạt văn hoá tinh thần Toàn tỉnh có 65 chùa Khmer (trong đó có 46 chùa theo hệ phái Mahanikai
và 19 chùa theo phái Thommadut), chư tăng Nam tông Khmer có 979 vị, trong đó có
04 Hoà thượng, 11 Thượng toạ, 30 đại đức; 130 Tà cha Phật giáo Nam Tông Khmer
ở An Giang mang tính biệt truyền, nhưng gần đây đã có những thay đổi, thanh niên
tự nguyện vào chùa tu chứ không bắt buộc Có người vào tu một thời gian ngắn rồi xuất tu, kể cả một số sải cả tu lâu năm, nên số lượng sư sãi luôn biến động và có nhiều sải cả tuổi đời còn rất trẻ
Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh An Giang có chương trình phát thanh 2 giờ/ngày và phát sóng truyền hình 7 giờ/ngày bằng tiếng dân tộc Khmer trên truyền hình tiếng dân tộc ATV2 Nội dung các phóng sự, tin bài, chuyên mục tuyên truyền trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội trong đồng bào dân tộc thiểu số; những thay đổi, phong trào xây dựng đời sống và những mô hình làm ăn mới đem lại hiểu quả, các chế độ chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số Tất cả các xã trong vùng đồng bào dân tộc Khmer đều được trang bị loa truyền thanh hoạt động 2 buổi trong ngày Công tác thông tin, cổ động qua hình thức phát thanh, pano, áp phích ở vùng đồng bào dân tộc Khmer đều được phát và in bằng 02 thứ tiếng Việt và Khmer
Người Khmer ở An Giang chủ yếu là cư dân nông nghiệp, địa bàn cư trú trong vùng nông thôn, miền núi Nền tảng kinh tế truyền thống của họ là trồng lúa và hoa màu Ngoài ra, họ còn phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, dệt vải, làm đường thốt lốt… Đặc điểm kinh tế truyền thống nông nghiệp qui định vấn đề cư trú của người Khmer, qua đó cũng ảnh hưởng đến việc giao lưu, tiếp xúc ngôn ngữ với các dân tộc khác trong khu vực Điển hình, đồng bào Khmer lựa chọn vùng đất đồi núi khu vực Tri Tôn và Tịnh Biên để định cư Đồng thời, họ tổ chức cư trú theo các phum, sóc Đa số các phum, sóc này đều được thành lập khá lâu đời và thường phân
bố theo chân núi, bìa rừng vùng Thất Sơn Nhà nước hầu như cũng luôn giữ nguyên trạng cơ cấu của các phum, sóc này Thông thường từ 3 đến 7 phum sẽ được gộp lại thành một ấp, nhiều ấp hình thành nên một xã Mỗi phum, sóc ở An Giang thường có hàng trăm nhà, thuộc nhiều dòng họ qui tụ Ngoài ra, trong mỗi phum, sóc còn chia
ra thành nhiều “chòm nhà” (tiếng Khmer gọi là “đom pteah”) Mỗi “đom pteah” có khoảng 10 đến 20 nhà Thông thường các “đom pteah” này tập hợp các gia đình có cùng huyết thống, và có tên gọi riêng, dùng để phân biệt với các “đom pteah” khác trong phum, sóc
Như vậy, có thể thấy quá trình cư trú và truyền thống kinh tế của cộng đồng Khmer An Giang hầu như đã tạo cho họ một ranh giới khá biệt lập so với các dân tộc khác Chính vì vậy mà khả năng tiếp xúc ngôn ngữ với các dân tộc khác có phần bị hạn chế Cụ thể là trong môi trường giao tiếp ở các “đom pteah” hay phum, sóc thì hầu như người Khmer chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ Từ đó dẫn đến năng lực tiếng Việt của họ không tốt
Cũng cần nói thêm, địa bàn cư trú của đa số người dân Khmer ở An Giang là vùng sâu, vùng xa, miền núi Đây là những địa bàn xa xôi cách trở, giao thông không thuận lợi, vì vậy mà việc được đến trường học tập cũng bị ảnh hưởng không nhỏ Điều này thể hiện ở các đặc điểm như đa phần các người lớn trước đây không được
đi học Nhiều trẻ em Khmer đến trường muộn hơn so với độ tuổi qui định Nhiều trẻ
em đến trường nhưng năng lực tiếng Việt hạn chế, không tiếp thu được kiến thức, học chậm hơn so với bạn bè đồng lứa nên bỏ học sớm Từ đó dẫn đến năng lực tiếng Việt rất hạn chế Do nếp sống quần cư và đặc điểm địa phương, hầu hết trẻ em Khmer khi còn học tiểu học có thể đến trường với cự li tương đối ngắn, vì mạng lưới
Trang 18trường tiểu học ở An Giang tương đối rộng khắp Tuy nhiên, càng lên các bậc học cao hơn, các em phải di chuyển khá xa để đến trường Nhiều gia đình khó khăn, không trang bị được phương tiện cho các em, không mua sắm đủ các dụng cụ học tập, đồng phục… từ đó dẫn đến việc cho trẻ nghỉ học sớm Những yếu tố này đều có ảnh hưởng rất lớn năng lực tiếng Việt của của trẻ em Khmer nói riêng và cộng đồng Khmer ở An Giang nói chung
3.1.2 Đặc điểm tiếng Khmer
Tiếng Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, nằm trong ngữ hệ Nam
Á, có nguồn gốc bản địa và từng bước được bổ sung bởi các ngôn ngữ du nhập
Tiếng Việt và tiếng Khmer đều là những đại diện cho các nhánh khác nhau thuộc khối Môn – Khmer, Ngữ hệ Nam Á, một ngữ hệ lớn và cổ xưa ở khu vực Đông Nam Á Tiếng Việt thuộc nhóm Vietic (gồm các ngôn ngữ Việt, Mường, Tum, Rục, Arem, Thà vựng) Nhóm ngôn ngữ này được sử dụng chủ yếu ở Việt Nam và Lào Trong khi đó, tiếng Khmer là đại diện duy nhất của nhóm Khmeric Cả Vietic và Khmeric cùng với Katuic, Bahnaric thuộc khối Khmero-Vietic Như vậy, tiếng Khmer và tiếng Việt có quan hệ khá gần gũi, nằm chung một khối nhưng khác nhau
về nhánh
Ở Việt Nam, tiếng Khmer là ngôn ngữ đứng hàng thứ 6 về số lượng người nói, sau các ngôn ngữ Việt, Tày-Nùng, Thái, Mường, Hoa Tiếng Khmer phổ biến ở các tỉnh thuộc khu vực Đồng Bằng sông Cửu Long như Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cần Thơ, Cà Mau…
Tiếng nói và chữ viết được nhân dân Khmer Nam Bộ tôn trọng và giữ gìn
trong sự kết hợp chặt chẽ giữa ba dạng: Đom rai (tiếng thường), Pali và Sanskrit
Tiếng nói và chữ viết Khmer đã có khả năng diễn đạt và thể hiện những vấn đề khác nhau của khoa học, văn học và xã hội
Ngày nay, tiếng Khmer ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long được dùng chủ yếu trong gia đình, trong sinh hoạt tôn giáo, trong giao tiếp giữa người Khmer với nhau và gồm ba phương ngữ chính: phương ngữ Trà Vinh, phương ngữ Sóc Trăng, phương ngữ Kiên Giang Ba phương ngữ này có những điểm khác nhau chủ yếu trên phương diện phát âm và một phần trên phương diện sử dụng từ ngữ Nhưng không quá cách biệt, vì người Khmer vùng này nói (một cách rõ ràng) các vùng khác đều hiểu được
Tiếng Khmer có chữ viết từ khá sớm, ước tính vào khoảng thế kỷ thứ III sau Công nguyên Cũng như chữ Thái, chữ Lào, chữ Khmer bắt nguồn từ hệ thống chữ Pali – Sanskrit, loại chữ mà người ta đã dùng ở miền Nam Ấn Độ vào thế kỷ thứ I sau Công nguyên Tuy nhiên, trước đây ở Nam Bộ, tiếng Khmer chủ yếu chỉ được dùng trong giao tiếp hàng ngày Nói cách khác, chức năng giáo dục của tiếng Khmer chưa được đề cao Người Mỹ không mở trường dạy tiếng Khmer cho con em người Khmer Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, hệ thống giáo dục nước ta ngày càng phát triển, vấn đề ngôn ngữ dân tộc thiểu số ngày càng được quan tâm Vì vậy
mà vị thế của tiếng Khmer cũng không ngừng được nâng lên trong đời sống xã hội của cộng đồng
Riêng về góc độ chức năng tôn giáo, tiếng Khmer có một vị thế hết sức quan trọng Hàng trăm bộ kinh Phật bằng tiếng Pali đã được dịch ra tiếng Khmer để lưu truyền trong các chùa, hàng trăm tập sách (chủ yếu là văn học dân gian) đã được ghi chép bằng tiếng Khmer trên lá buông
Trang 19Dạng chữ Khmer truyền thống là dạng chữ khó viết và khó nhớ hơn dạng chữ Latinh nên nói chung, nó không được phổ cập rộng rãi trong dân chúng Khmer Đồng bằng Sông Cửu Long Chỉ có tầng lớp “trí thức” Khmer, gồm sư sãi và những người hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục… là biết sử dụng thành thạo chữ viết
Về mặt ngữ âm, tiếng Khmer thường có nhiều tổ hợp phụ âm đầu, không có
tổ hợp phụ âm cuối Âm tiết chính trong từ thường được kết thúc bằng nguyên âm hoặc phụ âm đơn Vì vậy mà trong tiếng Khmer, số lượng phụ âm cuối ít hơn phụ âm đầu
Phụ âm tiếng Khmer gồm có 33 con chữ, được chia làm 2 giọng là giọng “O”
và giọng “Ô”
Tiếng Khmer là một trong những ngôn ngữ có nhiều nguyên âm, vào loại nhất nhì trên thế giới Nguyên âm tiếng Khmer có 2 loại:
Nguyên âm thường là những nguyên âm phải ráp với các phụ âm mới có
nghĩa Loại này gồm 24 nguyên âm Nhưng khi phát âm thì mỗi nguyên âm lại có 2 giọng khác nhau Tức là khi chúng đi với phụ âm giọng “O” thì đọc khác, khi đi với phụ âm giọng “Ô” thì đọc khác
Nguyên âm độc lập là nguyên âm không cần ráp vần với phụ âm vẫn có
nghĩa, tức là bản thân các nguyên âm này đã có chứa những nét khu biệt nhất định Loại này có 13 nguyên âm
Sự gia tăng và biến động về số lượng các nguyên âm trong tiếng Khmer là kết quả của quá trình biến đổi lâu dài của ngôn ngữ này, trong đó có vai trò tác động của các phụ âm
Tiếng Khmer không có thanh điệu, các từ phần lớn là từ đơn tiết hoặc từ có một tiền âm tiết không mang trọng âm, với nguyên âm bị nhược hóa đứng trước và một âm tiết chính đứng sau Tiếng Khmer cũng sử dụng các phụ tố cấu tạo từ, bao gồm tiền tố và trung tố Chức năng của các tiền tố này là làm thay đổi từ loại của từ Tuy nhiên, đặc điểm hình thái này hiện nay cũng ít xuất hiện trong tiếng Khmer, nhiều phụ tố đã có ý nghĩa chuyên biệt hóa
Theo Lê Hương (Lê Hương, 1969), tính tôn ti trong tiếng Khmer thể hiện khá
rõ nét Cụ thể là việc phân chia các tiếng bình dân và các tiếng có sắc thái trang trọng, quí phái Việc sử dụng chính xác các tiếng này được xem là một yêu cầu bắt buộc, nếu không tuân thủ có thể xem như xúc phạm người đối thoại Điển hình như tiếng “ăn” trong ngôn ngữ Khmer trước kia phải dùng trong từng trường hợp cụ thể như sau:
- “si”: bình dân, hạ cấp, dùng cho thú vật
- “pisa”: dùng với thái độ lễ phép, trân trọng người đối thoại
- “chann”: dùng đối với nhà sư
- “pisa kraya”: dùng đối với nhà vua
Hay tiếng “đi” trong ngôn ngữ Khmer cũng dùng khác nhau đối với từng trường hợp cụ thể:
- “tâu”: đối với người bình dân
- “nimon”: đối với nhà sư
- “trong diên/ sđach diên”: đối với nhà vua
Trang 20Vấn đề phân biệt về “giới” cũng xuất hiện khá phổ biến trong tiếng Khmer Nghĩa là, trong từng trường hợp cụ thể, tương đồng về ngữ cảnh, tiếng Khmer sẽ qui định người nam nói một cách, người nữ nói một cách Ví dụ: khi cần nói “dạ/ vâng” như trong tiếng Việt, người nam phải nói là “bat”, nữ nói là “chaks”
3.1.3 Một số điểm tương đồng và khác biệt giữa tiếng Khmer và tiếng Việt 3.1.3.1 Tương đồng
Như đã trình bày ở trên, tiếng Khmer và tiếng Việt có quan hệ cội nguồn, cùng thuộc ngữ hệ Môn – Khmer, họ Nam Á Do vậy, giữa tiếng Việt và tiếng Khmer có những nét tương đồng nhất định về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Cụ thể như sau:
Về ngữ âm: tiếng Việt và tiếng Khmer đều thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập,
không biến hình, đơn tiết Tiếng Khmer cũng giống tiếng Việt về âm đoạn, có điều tiếng Khmer không có thanh điệu, thay vào đó các nguyên âm có sự đối lập về âm vực để khu biệt nghĩa Âm tiết tiếng Khmer và âm tiết tiếng Việt thường không phải
là những đơn vị ngữ âm thuần túy mà còn là đơn vị có nghĩa
Về từ, giữa tiếng Việt và tiếng Khmer có nét tương đồng rất lớn Trước hết,
xét trên bình diện số lượng nghĩa của từ, cả hai tiếng này đều có hai loại là từ đơn nghĩa – có một nghĩa duy nhất và từ đa nghĩa Các từ đơn nghĩa trong tiếng Khmer như “tia” (con vịt), “kro bây” (con trâu)… Các từ đa nghĩa trong tiếng Khmer điển hình như “chôh” có 3 nghĩa: 1 Xuống; 2 Hao tốn; 3 Đồng tình Xét trên bình diện quan hệ giữa nghĩa và âm, cả hai ngôn ngữ này đều có lớp từ đồng âm và lớp từ đồng nghĩa Điển hình, khi thể hiện nghĩa “ăn”, có nhiều từ đồng nghĩa như “si, hốp, nhăm, xôi, xép, pisa, tô tuôl tiên…” Điều này cũng giống như trường hợp “ăn, xơi, dùng, xực, ngốn…” trong tiếng Việt Hay từ “ba” có các nghĩa như sau: “ba” (cha),
“ba” (con trai), “ba” (con bò đực), “ba” (tuôn ra) Tiếng Khmer cũng có hiện tượng
từ trái nghĩa như trong tiếng Việt Ví dụ “tâu” (đi) – “nâu” (ở); “thum” (lớn) – “toch” (nhỏ)…
Trong tiếng Khmer cũng có hiện tượng vay mượn từ ngữ từ các ngôn ngữ khác như trong tiếng Việt Điều này phần nhiều do quá trình tiếp xúc ngôn ngữ của cộng đồng Khmer với các ngôn ngữ khác trong khu vực và yêu cầu bổ sung vốn từ cho tiếng Khmer Chúng tôi nhận thấy, vốn từ được vay mượn trong tiếng Khmer có các nguồn gốc chủ yếu sau:
1 Từ các ngôn ngữ Ấn – Âu Ví dụ trong tiếng Khmer có các từ như: “ghi ta” (đàn guitar), “vi ô lon” (đàn violon)…
2 Vay mượn từ tiếng Việt Trường hợp này khá phổ biến vì quá trình tiếp xúc lâu dài trong lịch sử hai ngôn ngữ Cộng đồng Khmer mượn các từ tiếng Việt để
bổ sung vốn từ còn thiếu trong ngôn ngữ của mình Cụ thể như “chhe keo” (xe kéo);
“hơp tac” (hợp tác), “bi thư” (bí thư)…
3 Ngoài ra, tiếng Khmer còn vay mượn các từ ngữ thuộc tiếng Pali và Sanskrit, ngôn ngữ có quan hệ khá lâu đời với tiếng Khmer
Các từ ngữ được cộng đồng Khmer vay mượn hầu hết là các từ mới, thuộc các lĩnh vực khoa học kỹ thuật hiện đại hoặc trong các lĩnh vực hành chính công vụ Tuy nhiên, cũng có những trường hợp, các từ vay mượn (từ tiếng Việt chẳng hạn) đã
có những đơn vị tương ứng trong tiếng Khmer, nhưng người Khmer vẫn vay mượn
và sử dụng theo 2 phương thức: khi thì dùng từ mượn của tiếng Việt; khi thì dùng từ Khmer (vì dụ các từ: “bộ đội” – “tia hiên”; “chính phủ” – “rắch chă ka”…)
Trang 21Tiếng Khmer có hệ thống từ loại và các tiêu chí phân định từ loại khá giống với các phân định từ loại của tiếng Việt Theo đó, tiếng Khmer có 9 từ loại bao gồm: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, phụ từ, quan hệ từ, trợ từ, thán từ Trong đó, đơn cử từ loại danh từ thì chức năng cú pháp khá giống với tiếng Việt Cụ thể là danh
từ trong tiếng Khmer chủ yếu làm thành phần chủ ngữ trong câu, làm trung tâm của danh ngữ Về ý nghĩa khái quát, đây là lớp từ chỉ tồn tại trong thế giới Ví dụ: “prek” (sông), “phnom” (núi), “pô pôk” (mây)…
Về mặt ngữ pháp, tiếng Khmer có cách phân loại câu khá giống tiếng Việt
Cụ thể câu trong tiếng Khmer cũng được chia dựa theo hai tiêu chí Thứ nhất là chia
câu theo cách nói năng, chúng ta quen gọi là chia theo mục đích nói, gồm có câu kể (trần thuật), câu hỏi (nghi vấn), câu cầu khiến (câu mệnh lệnh), câu cảm xúc (câu
cảm thán) Thứ hai là chia theo cấu trúc, gồm có câu đơn (câu đơn thường và câu đơn
đặc biệt), câu ghép (câu ghép có quan hệ từ và câu ghép không có quan hệ từ)
Như vậy, có thể thấy sự tương đồng khá lớn ở tiếng Khmer và tiếng Việt, trên tất cả các bình diện từ ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp Chính những nét tương đồng này tạo điều kiện cho quá trình giao thoa ngôn ngữ diễn ra khá tự nhiên đối với đồng bào Khmer ở An Giang cũng như đối với những người Kinh sống ở các khu vực có nhiều đồng bào Khmer cộng cư Tuy nhiên, giữa tiếng Việt và tiếng Khmer vẫn có những nét khác biệt khá cơ bản
- Phụ trước + trung tâm
- Trung tâm + phụ sau
Hiện tại, những phần phụ trước và phụ sau trong danh ngữ tiếng Việt thường không có gì bàn cãi Tuy nhiên, phần trung tâm của danh ngữ có rất nhiều quan điểm khác nhau và còn khá nhập nhằng Điển hình là hai xu hướng chính: hướng thứ nhất, các học giả cho rằng ở danh ngữ tiếng Việt, trung tâm là một bộ phận ghép gồm một trung tâm ngữ pháp (loại từ) và một trung tâm từ vựng (danh từ) Hướng thứ hai cho rằng chính danh từ chỉ loại mới là thành tố trung tâm, còn danh từ ở sau chỉ là thành
tố phụ
Ở đây, chúng tôi quan niệm trung tâm của danh ngữ tiếng Việt như sau:
- Danh ngữ có danh từ làm trung tâm trong những trường hợp bản thân nó là
danh từ chính, tức không có danh từ chỉ loại đứng trước (làng, màu, người, nơi, ngày
hay một số danh từ chỉ tên riêng…)
Ví dụ: Hai năm đó
- Danh ngữ nếu có danh từ chỉ loại đứng trước thì từ này đảm nhận vai trò trung tâm (chính) trong cụm danh từ đó vì danh từ chỉ loại hiểu rộng là tất cả những
từ có tính chất của từ loại danh từ và có nội dung ý nghĩa chỉ thứ, hạng của sự vật, kể
cả những danh từ có ý nghĩa từ vựng trực tiếp chỉ loại như: thứ, loại, hạng, kiểu
Trang 22Danh từ chỉ loại khá đa dạng và chúng ta thường gặp với vai trò thành tố chính cụm danh từ và trực tiếp đứng sau các số từ đếm:
+ Danh từ chỉ loại có thể đi với danh từ vật thể: cái, con, cây, cục, quyển, tờ,
bức…
Ví dụ: Mấy con chim sâu nhỏ ấy
+ Danh từ chỉ loại có thể đi cùng với danh từ thể chất: cục, hòn, thanh, tấm,
miếng, giọt, luồng, hạt…
Ví dụ: Những hạt dưa ấy
- Một số danh từ (có gốc động từ) chỉ đơn vị đại lượng cũng được xếp vào
danh từ chỉ loại như: bó, nắm, ôm, vốc…
Ví dụ: Một bó củi
- Danh từ chỉ loại hiểu rộng ra còn bao gồm các trường hợp như: sự, nỗi,
niềm, cuộc… và từ để gọi tên các đơn vị vật thể rời gộp lại như: lũ, đàn, bầy, đoàn, bọn, tụi…
Ví dụ: Một đàn cò trắng
- Danh từ đơn vị đo lường đặt trước danh từ chỉ chất liệu cũng được chúng tôi
xác định là danh từ chính: cân, lít, tấn, sào…
Ví dụ: Một cân thịt lợn
- Ngoài phần trung tâm của danh ngữ thì các phần phụ trước và phụ sau cũng
có vai trò vô cùng quan trọng trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt Để có cách nhìn tổng quan chúng tôi sẽ đưa ra những đặc điểm khác nhau cơ bản của hai thành phần này:
• Về mặt từ loại: thành tố phụ trước trung tâm trong nhiều trường hợp đều do
những từ có nghĩa không chân thực đảm nhiệm, còn thành tố phụ đứng sau trung tâm lại phần lớn do những từ có nghĩa chân thực đảm nhiệm
• Về mặt số lượng: những từ có thể làm thành tố phụ trước có số lượng rất
hạn chế, có thể thống kê và lập danh sách được Những từ có khả năng dùng làm thành tố phụ sau lại có số lượng rất lớn
• Về mặt tổ chức: thành tố phụ trước phần lớn xuất hiện dưới dạng của một
từ, thành tố phụ sau thường lại rất dễ dàng kèm thêm yếu tố phụ để phát triển thành một cụm từ nhỏ
• Về mặt phân bố vị trí: thành tố phụ trước phân thành những vị trí rất rành
mạch, mỗi kiểu thành tố phụ bao gồm những từ có chung một ý nghĩa khái quát bao giờ cũng được quy vào một vị trí Ở phần cuối lại không có hiện tượng đó
• Về mặt ý nghĩa: thành tố phụ đứng đầu ít có tác dụng hạn chế khái niệm
nêu ở danh từ trung tâm, thành tố phụ ở cuối thường có tác dụng hạn định khái niệm của danh từ trung tâm
Điều này được miêu tả cụ thể bằng ví dụ sau:
Trong đó:
Trang 23- Vị trí số 0 là vị trí của danh từ trung tâm Trước và sau danh từ trung tâm có thể có các yếu tố xuất hiện theo một trật tự khá ổn định
- Vị trí (-3) là vị trí của các từ chỉ tổng lượng như: tất cả, cả, tất thảy, hết thảy,
toàn bộ…
- Vị trí (-2) là vị trí của các yếu tố chỉ số lượng, như: số đếm (một, hai, trăm, nghìn, vạn…), từ chỉ số ước lượng (vài, dăm, mươi, dăm ba…), từ với ý nghĩa phân phối (mọi, mỗi, từng…), các hư từ chỉ số (những, các, mọi…)
- Vị trí (-1) là vị trí của từ “cái” chỉ xuất
- Vị trí (+1) là vị trí của thành tố phụ hạn định do danh từ đảm nhận Vị trí này trong cấu trúc danh ngữ của tiếng Việt chính là trung tâm ngữ nghĩa của danh ngữ
- Vị trí (+2) là vị trí phức tạp nhất của danh ngữ Đây được xem là thành tố phụ hạn định có tính “mở”, có thể do một từ, một cụm từ hoặc một cấu trúc C-V đảm nhận Thành tố này nêu lên đặc điểm của sự vật mà danh từ trung tâm biểu hiện để miêu tả cụ thể về nó, hạn định nó khỏi sự vật cùng loại
- Vị trí (+3) là vị trí của những đại từ chỉ định (ví dụ: ấy, đó, kia, nọ, này, nấy,
nay, đây, đấy…) Nhiệm vụ của các đại từ này là chỉ rõ vị trí của sự vật (danh từ
trung tâm) trong không gian, thời gian và trong diễn tiến của quá trình giao tiếp
Ngoài ra, vị trí (+3) còn là vị trí kết thúc của một cụm danh từ
Sau đây là khái quát các kiểu cấu trúc danh ngữ tiếng Việt:
Tất cả những cái cuốn sách mới ấy
Trang 24Như vậy, có thể thấy khả năng kết hợp của danh từ tiếng Việt trong một ngữ đoạn là hết sức phức tạp Nó có nhiều điểm khác biệt với cấu tạo của một cụm danh
từ trong tiếng Khmer
Sơ đồ cụm danh từ trong tiếng Khmer có thể khái quát như sau:
Danh từ
trung tâm
Định ngữ hạn định
Từ chỉ tổng lượng
Từ chỉ số lượng
Loại từ Đại từ chỉ
định
nhà mới tất cả ba ngôi này
(tất cả ba ngôi nhà mới này)
- Vị trí (0) là vị trí của danh từ trung tâm Trong danh ngữ tiếng Khmer, danh
từ trung tâm luôn đứng đầu Nghĩa là các thành tố phụ chỉ có thể phân bổ phía sau
nó Danh từ trung tâm trong danh ngữ tiếng Khmer vừa là trung tâm về ngữ pháp, vừa là trung tâm về ngữ nghĩa
- Vị trí (1) là vị trí định ngữ hạn định Vị trí này có thể do danh từ, động từ,
tính từ hoặc các cụm từ, thậm chí là một kết cấu C-V đảm nhận Định ngữ hạn định đặt sau danh từ trung tâm, điều này phần nào giống với cấu trúc danh ngữ trong tiếng Việt
- Vị trí (2) là vị trí của từ chỉ tổng lượng Ví dụ như các từ “ten osk” (tất cả),
“pôuk” (các), “ten môl” (toàn bộ)… Điều này cũng khác biệt so với danh ngữ tiếng Việt Bởi trong danh ngữ tiếng Việt, các từ chỉ tổng lượng nếu có xuất hiện thì nó luôn đứng trước danh từ trung tâm
- Vị trí (3) là vị trí từ chỉ số lượng Điều này cũng khác biệt so với danh ngữ
tiếng Việt Vì trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt, số từ luôn được đặt trước danh từ
trung tâm Ví dụ: tiếng Việt có danh ngữ: “bốn cô gái đó” thì trong tiếng Khmer sẽ là: “nia ry buôn niak” (cô gái bốn đó)
- Vị trí (4) là vị trí của danh từ đơn vị Đây cũng là một trong những điểm
khác biệt giữa danh ngữ tiếng Khmer so với danh ngữ tiếng Việt Tiếng Khmer đặt danh từ đơn vị sau danh từ trung tâm Trong khi đó, ở danh ngữ tiếng Việt, về mặt ngữ pháp, danh từ đơn vị được xem là trung tâm của danh ngữ
- Vị trí (5) là vị trí của các đại từ chỉ định, là thành tố đánh dấu sự kết thúc của
danh ngữ tiếng Khmer Các từ này chủ yếu có: “nis” (này), “nuôc” (kia), “enuôc” (ấy)…
Cũng như danh ngữ tiếng Việt, danh ngữ tiếng Khmer không phải lúc nào cũng xuất hiện đầy đủ các thành phần như đã liệt kê Trong từng trường hợp cụ thể, các vị trí 1/2/3/4/5 có thể vắng mặt Dạng thức đơn giản nhất của danh ngữ Khmer chỉ bao gồm yếu tố (0) và (5) Sau đây là bảng khái quát các kiểu cấu trúc danh ngữ tiếng Khmer:
Trang 250 1 2 3 4 5 Danh từ
trung tâm
Định ngữ hạn định
Từ chỉ tổng lượng
Từ chỉ số luợng
Loại từ Đại từ chỉ
định
photes thmây ten osk bây khonoong nis
hư hóa là những từ thường có một hoặc ít ngữ trị Nghĩa là khả năng kết hợp của chúng trong cấu trúc rất hạn chế
Nhìn chung, trật tự các yếu tố trong danh ngữ tiếng Khmer đi theo khuynh hướng tăng dần tính cụ thể Điều này phản ánh qui luật tư duy trong quá trình quan sát sự vật hiện tượng sau đó khái quát hóa qua ngôn ngữ Tính chất của sự vật hiện tượng thường được khái quát từ cái chung tới cái riêng, từ sự thể hiện chung nhất của lớp sự vật đi đến những đặc điểm cụ thể hơn
So sánh cấu trúc danh ngữ tiếng Khmer và cấu trúc danh ngữ tiếng Việt, có thể nhận thấy tính ổn định của một số vị trí trong cấu trúc danh ngữ tiếng Khmer kém hơn tiếng Việt Trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt, sự phân bố các thành tố phụ trước và thành tố phụ sau danh từ trung tâm tương đối chặt chẽ, có khi là cố định và bắt buộc Các thành tố phụ trước hầu như không thể hoặc rất ít khi được chuyển xuống đứng sau danh từ trung tâm và ngược lại Nhiều vị trí trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt có chức năng như một kiểu dấu hiệu nhận dạng danh ngữ
Về mô hình đầy đủ, hai danh ngữ này có sự khác biệt, thể hiện qua hai mô hình khái quát sau:
Mô hình đầy đủ của danh ngữ tiếng Việt:
Phụ trước Trung tâm Phụ sau
Trang 26Mô hình đầy đủ của danh ngữ tiếng Khmer:
Trung tâm Phụ sau
Trong danh ngữ tiếng Khmer, những thành tố chỉ tổng lượng và thành tố chỉ
số lượng là những thành tố có vị trí tương đối tự do, tạo nên sự biến động nhiều nhất
về mặt phân bố, chúng có thể hoán đổi vị trí cho nhau, có thể đứng trước hoặc sau trung tâm tùy theo từng trường hợp cụ thể mà sắc thái ngữ nghĩa của danh ngữ rất ít biến đổi
Ví dụ: photes thmây ten osk bây khonoong nis (tất cả ba ngôi nhà mới này)
Ta cũng có thể nói: photes thmây bây khonoong ten osk nis (nhà mới ba ngôi
tất cả này)
Một đặc điểm khác biệt nữa là trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt, có một từ loại đặc biệt độc chiếm một vị trí cố định, đứng sau từ chỉ số lượng và đứng trước loại từ, đó là từ “cái” chỉ xuất Vai trò của từ “cái” chỉ xuất là dùng để nhấn mạnh sự vật, chỉ xuất sự vật, làm cho nó không thể lẫn với sự vật khác cùng loại Hiện tượng này lại không hề thấy xuất hiện trong cấu trúc danh ngữ tiếng Khmer
Như chúng tôi đã trình bày, sự tương đồng giữa tiếng Việt và tiếng Khmer là khá lớn Tuy nhiên, sự khác biệt nói chung và sự khác biệt về cấu trúc danh ngữ nói riêng trong hai ngôn ngữ này là một vấn đề khá thú vị, tạo ra nét đặc trưng của từng ngôn ngữ Việc đối chiếu cấu trúc danh ngữ trong tiếng Việt và tiếng Khmer cũng cho thấy nhiều khía cạnh độc đáo
Cũng cần nói thêm, việc nghiên cứu sự tương đồng, khác biệt trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt và tiếng Khmer có vai trò rất lớn trong việc sửa các lỗi tiếng Việt của người Khmer Bởi chính sự khác biệt trong cấu trúc danh ngữ của hai ngôn ngữ này khiến người Khmer thường xuyên mắc các lỗi về trật tự từ, dẫn đến sai về ngữ nghĩa khi họ sử dụng tiếng Việt
Ví dụ, một câu tiếng Việt “Bốn con trâu đang ăn cỏ” thì người Khmer lại nói
là “Kro buôn kompung si smau” (Con trâu bốn đang ăn cỏ) Trường hợp này sẽ được
chúng tôi phân tích cụ thể ở các chương sau
3.2 NGÔN NGỮ, NĂNG LỰC NGÔN NGỮ VÀ CÁC THUẬT NGỮ LIÊN QUAN
3.2.1 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Nhìn vào cả quá trình lịch sử loài người, chúng ta thấy rõ vai trò và tác dụng to lớn của ngôn ngữ Cùng với sự phát triển của tư duy, của ý thức, ngôn ngữ đã góp phần hoàn thiện con người, là dấu hiệu phân biệt con người với con vật Ngôn ngữ đôi khi là nhân tố quyết định đảm bảo sự ổn định và tiến bộ của một quốc gia bằng cách giữ vai trò tác nhân giao tiếp, thống nhất dân tộc, pháp luật, quản lí nhà nước… Tại các nước tiên tiến, vấn đề ngôn ngữ thường được hoàn
tất trước so với các vấn đề khác để hỗ trợ cho quá trình phát triển quốc gia
Để có thể thấy rõ vai trò cũng như chức năng của ngôn ngữ trong chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước, bên cạnh việc tìm hiểu về ngôn ngữ thì ta cần phải làm sáng tỏ thêm về mặt lí thuyết một số khái niệm cơ sở khác như sau:
Ngôn ngữ mẹ đẻ (còn gọi là tiếng mẹ đẻ) được hiểu là ngôn ngữ mà con
người học được trong những năm đầu của đời mình và thường trở thành công cụ tư duy và truyền thống tự nhiên Ngôn ngữ mẹ đẻ thường là ngôn ngữ của người mẹ,
Trang 27của gia đình, được coi là sự tiếp thụ ngôn ngữ thứ nhất ở mỗi người (ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ thứ hai); nhờ đó hình thành các thói quen sớm nhất của hoạt động nói năng và những mối liên hệ đầu tiên giữa các đơn vị ngôn ngữ với thế giới bên ngoài Đối với người Kinh (Việt) thì tiếng Kinh (Việt) là tiếng mẹ đẻ, còn đối với đồng bào dân tộc thiểu số như đồng bào Khmer thì tiếng mẹ đẻ là tiếng Khmer Ngôn ngữ mẹ đẻ trong đa số các trường hợp thường là ngôn ngữ tộc người Cùng với sự hình thành và phát triển ngôn ngữ, mỗi cá nhân được làm quen với truyền thống văn hóa, đạo đức, tinh thần của tộc người; nhân cách dần dần được hình thành và phát triển, được xã hội hóa
Ngôn ngữ tộc người là ngôn ngữ mẹ đẻ của các thành viên trong cộng đồng
tộc người và góp phần hình thành nên tộc người đó Ngôn ngữ tộc người là phương tiện giao tiếp giữa các thành viên tộc người và nó phản ánh các kinh nghiệm lịch sử của tộc người, nhờ nó văn hoá tộc người được bảo tồn, phát triển Do đó, ngôn ngữ tộc người là tài sản thân thiết của mỗi tộc người Ngôn ngữ tộc người tồn tại dưới dạng các phương ngữ, thổ ngữ và nền văn học truyền khẩu
Ngôn ngữ quốc gia thường được hiểu một cách chung nhất là ngôn ngữ do
luật pháp Nhà nước quy định, được sử dụng trong phạm vi cả nước, không hạn chế trong một khu vực lãnh thổ hay trong nội bộ một tộc người hay nhóm tộc người Với
tư cách là ngôn ngữ của cả quốc gia, ngôn ngữ quốc gia được sử dụng trong hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, đối ngoại… Ngôn ngữ quốc gia là tài sản của quốc gia và có ý ngĩa biểu trưng cho độc lập, thống nhất của quốc gia Ngôn ngữ quốc gia được sử dụng trong phạm vi cả nước, là công cụ giao tiếp chung của các cộng đồng các dân tộc, do đó nó là phương tiện thống nhất quốc gia về mặt ngôn ngữ Cùng với ý thức quốc gia, ngôn ngữ quốc gia tạo nên sự gắn kết về tinh thần, tình cảm của các thành viên quốc gia Tiếng Việt hiện nay có cương vị là ngôn ngữ quốc gia của nước CHXHCN Việt Nam
Ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc là ngôn ngữ được coi là phương
tiện giao tiếp giữa các tộc người trong quốc gia đa ngôn ngữ Một quốc gia đa dân tộc không thể thiếu ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc, thiếu nó, có thể dẫn đến chia rẽ dân tộc, cản trở sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia Ở Việt Nam, tiếng Việt (Kinh) hội đủ các nhân tố này và từ lâu đã đảm nhận chức năng phương tiện giao tiếp chung giữa các dân tộc, chính thức được coi là “ngôn ngữ chung”, “tiếng phổ thông”
Tiếp xúc ngôn ngữ là sự tác động lẫn nhau của hai hay hơn hai ngôn ngữ, hệ
quả của nó là ảnh hưởng tới cấu trúc và từ vựng của các ngôn ngữ tham gia tiếp xúc
Có thể nói, tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng phổ biến trong đời sống giao tiếp ngôn ngữ Khi một cá nhân hay cộng đồng sử dụng từ hai ngôn ngữ trở lên thì sẽ nảy sinh tiếp xúc ngôn ngữ Tiếp xúc ngôn ngữ lúc đầu được quan niệm là học ngôn ngữ, tức
là khi một cá nhân học thêm một ngôn ngữ khác bên cạnh tiếng mẹ đẻ thì sẽ nảy sinh hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ Người Khmer ở An Giang ngoài biết tiếng mẹ đẻ, còn học thêm tiếng Việt để phục vụ giao tiếp Từ đây trong cộng đồng người Khmer xuất hiện trạng thái song ngữ và có sự tiếp xúc giữa tiếng Khmer - tiếng Việt
Giao thoa ngôn ngữ là khái niệm chỉ sự tác động qua lại giữa các cấu trúc
và các yếu tố của cấu trúc, giữa hai hay hơn hai ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp của cư dân song ngữ Nói cách khác, giao thoa là hiện tượng chệch khỏi chuẩn của một ngôn ngữ nào đó trong lời nói của người song ngữ
Trong quá trình giao tiếp với tiếng Việt lâu đời, tiếng Khmer dễ dàng có sự giao thao với tiếng Việt Hiện tượng giao thoa ngôn ngữ là sự tiếp xúc giữa hai
Trang 28ngôn ngữ đưa đến biến đổi nhất định trong cả hai ngôn ngữ đồng thời hoặc nối tiếp
ở các bình diện ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp… Mọi cá nhân đều sử dụng trên một mã
để giao tiếp Bất cứ khi nào có nhu cầu nói năng trong một tình huống giao tiếp cụ thể, thì cũng có thể quyết định chuyển từ một mã này sang một mã khác, hay phối hợp các mã lại với nhau Hiện tượng chọn mã trong giao tiếp liên quan đến các ngôn ngữ tham gia vào trạng thái song ngữ và bản thân chủ thể giao tiếp
Vay mượn ngôn ngữ là hiện tượng phổ biến trong các ngôn ngữ, nó là hệ quả
của tiếp xúc ngôn ngữ, bao gồm cả tiếp xúc trực tiếp và tiếp xúc gián tiếp Vay mượn ngôn ngữ, theo truyền thống chỉ được hiểu là sự vay mượn do “thiếu”, tức là ngôn ngữ đi vay sẽ tiếp nhận một yếu tố của ngôn ngữ cho vay khi mà ngôn ngữ đi vay không có yếu tố này Tuy nhiên, từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, tác giả Nguyễn Văn Khang (2006) cho rằng vay mượn diễn ra không chỉ do “thiếu” mà ngay cả khi “có rồi” vẫn đi vay Từ cách nhìn này, tác giả cho rằng chính việc vay mượn các yếu tố khi mà ngôn ngữ đi vay đã có, điều này tạo nên một hiện tượng lí thú trong ngôn ngữ
và hiện tượng đồng nghĩa cũng từ đó xuất hiện Ví dụ các từ: “bộ đội” – (tia hiên);
“chính phủ” – (rắch chă ka)… trong tiếng Khmer được vay mượn từ tiếng Việt, trong khi ở ngôn ngữ này vẫn có các từ tương ứng
Hiện tượng trộn mã là khái niệm chỉ sự đan xen, trộn lẫn giữa các ngôn ngữ trong cộng đồng đa ngữ Các tình huống giao tiếp vốn rất đa dạng Trong một
số tình huống nhất định, đòi hỏi người nói phải có khả năng và vốn từ vựng phong phú Nhiều khái niệm tương đối khó nhớ trong tiếng mẹ đẻ của người dân tộc này
có thể được chuyển sang tiếng của dân tộc khác với sự giải thích của đối tượng là
“cho đơn giản hơn”, “cho nhẹ hơn” Hòa mã ở cộng đồng song ngữ Khmer – tiếng Việt là việc một số các yếu tố tiếng Việt được sử dụng trong các phát ngôn Khmer, hoặc ngược lại, sử dụng một số yếu tố tiếng Khmer trong phát ngôn tiếng Việt của người Khmer Những yếu tố bên ngoài của một ngôn ngữ được sử dụng khi đối tượng đang nói một ngôn ngữ khác thường tập trung ở cấp độ từ ngữ Tuy nhiên quá trình tiếp xúc lâu dài và hòa mã thường xuyên, hay trong những tình huống giao tiếp đặc thù, có thể làm xuất hiện cả những yếu tố ngữ đoạn hay những yếu tố
có tính chất siêu ngữ đoạn
Tiếp xúc với người dân tộc Khmer, ta dễ dàng nhận thấy có nhiều câu nói kiểu như:
- “Khnhum tâu thanh phô hơi!” (Tôi đã đi thành phố rồi!)
- “Trong người pibáth.” (Trong người khó chịu)
Đây là hiện tượng phổ biến ở các vùng song ngữ Khmer - Việt
Hiện tượng chuyển mã có thể hiểu là sự thay đổi ngôn ngữ hay phương ngữ
trong quá trình giao tiếp Ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên (An Giang) có sự chuyển mã giữa tiếng Khmer và tiếng Việt Một cá nhân song ngữ đang sử dụng một mã ngôn ngữ nào đó có thể chuyển sang nói một mã ngôn ngữ khác khi một số tác động từ ngữ cảnh hay ngoài ngữ cảnh xảy ra Và kết quả của sự chuyển đổi đó mang lại ít nhất một phát ngôn bằng ngôn ngữ thứ hai, hay có thể là cả một đoạn hội thoại hoặc một phần còn lại của hội thoại Như vậy, chuyển mã là một hiện tượng ngôn ngữ có động cơ của người nói Chẳng hạn, trong một hoàn cảnh giao tiếp có cả người Việt lẫn người Khmer, các đối tượng người Khmer sẽ nói với nhau bằng tiếng Khmer Nhưng khi họ nói với đối tượng là người Việt, họ sẽ nói tiếng Việt
Trang 29Từ sự chuyển mã, giữa tiếng Khmer và tiếng Việt có hiện tượng giao thoa
Sự phát triển của tiếng Khmer đang hướng về phía tiếng Việt Đó là nhu cầu chính đáng và logic của cộng đồng Khmer trong quá trình phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội
3.2.2 Năng lực ngôn ngữ
Theo Colin Baker (Colin Baker, 2008), năng lực ngôn ngữ là khả năng ngôn ngữ và sự thành thạo ngôn ngữ thông qua quá trình học tập chính thức, qua quá trình thụ đắc ngôn ngữ không chính thức do tiếp xúc (ví dụ giao tiếp ngoài đời thường), do những tư chất của mỗi cá nhân
Năng lực ngôn ngữ bao gồm bốn kỹ năng cơ bản là nghe, nói, đọc hiểu và viết Bốn kỹ năng này nằm trong hai chiều kích: kỹ năng sản sinh, kỹ năng lĩnh hội
Kỹ năng nghe, nói Kỹ năng đọc hiểu, viết
Kỹ năng lĩnh hội Nghe Đọc hiểu
Kỹ năng sản sinh Nói Viết
Cũng cần nói thêm, bốn kỹ năng cơ bản này không tồn tại một cách riêng biệt, tách bạch Mỗi kỹ năng có thể phát triển ở một mức độ cao hay thấp Điển hình kỹ năng đọc hiểu có thể từ chậm, đến trôi chảy, lưu loát hoàn toàn Mặt khác, với kỹ năng nghe, một người có thể nghe hiểu trong tình huống này nhưng lại không hiểu trong tình huống khác Điều này cho thấy, các kỹ năng đã nêu hoàn toàn có thể được phân chia theo các chiều kích nhỏ hơn, tinh vi hơn Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài này, nghiên cứu chỉ dừng lại ở bốn cấp độ kỹ năng phổ biến
là nghe, nói, đọc hiểu và viết
Ngoài bốn kỹ năng trên, các nhà ngôn ngữ học còn chỉ ra một kỹ năng nữa, cũng thuộc phạm trù năng lực ngôn ngữ, đó là kỹ năng tư duy Kỹ năng tư duy là khả năng sử dụng một ngôn ngữ nào đó để lý luận và suy nghĩ Nghĩa là, khi một người không nói, không đọc, không nghe, không viết mà họ đang suy nghĩ thì cũng xem như ngôn ngữ đang được sử dụng cho quá trình tư duy của họ Nó được gọi là
“lời nói bên trong” Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi cũng quan tâm đến kỹ năng
tư duy Tuy nhiên, thang đo để kiểm định kỹ năng này rất khó, nằm ngoài khả năng hạn chế của người nghiên cứu, vì vậy, chúng tôi chủ yếu chỉ khảo sát bốn kỹ năng
cơ bản là nghe, nói, đọc hiểu và viết, còn kỹ năng tư duy chúng tôi chỉ đề cập đến ở một vài khía cạnh nhỏ trong phần nội dung
3.2.3 Song ngữ
Khái niệm song ngữ, theo cách hiểu chung nhất, đó là hiện tượng một người
có thể biết và sử dụng hai hoặc trên hai ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp Hiện nay khái niệm song ngữ đã được mở rộng và theo đó có một số vấn đề được đặt ra:
Thứ nhất, xu hướng người biết không chỉ hai mà trên hai ngôn ngữ ngày càng
tăng, theo đó, thuật ngữ đa ngữ xuất hiện Tuy nhiên, theo thói quen, người ta vẫn sử dụng một trong hai thuật ngữ này (hoặc song ngữ hoặc đa ngữ) cho cùng một hiện tượng vừa nêu Trong bài viết này, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ “song ngữ”
Thứ hai, nói đến song ngữ không chỉ nhằm đến các cá nhân song ngữ mà
muốn còn nhằm đến song ngữ trong một cộng đồng, đó là, hiện tượng song ngữ xã hội Ở đấy, các cá nhân song ngữ có thể sử dụng ngôn ngữ mà họ cùng biết để giao
Trang 30tiếp với nhau và các ngôn ngữ trong cộng đồng này có thể tương tác lẫn nhau, tạo nên hiện tượng song ngữ xã hội
Thứ ba, yếu tố không kém phần quan trọng liên quan đến song ngữ xã hội là
phải có người song ngữ Cách hiểu đơn giản về người song ngữ là một người có khả năng sử dụng luân phiên hai hoặc trên hai ngôn ngữ
Thứ tư, khi nói đến người song ngữ, tiếng mẹ đẻ thường được nhắc đến như
một ngôn ngữ mà người song ngữ phải biết một cách tất nhiên
Theo Nguyễn Văn Khang (Nguyễn Văn Khang, 2012), khả năng song ngữ của con người được chia thành hai loại lớn là song ngữ hoàn toàn và song ngữ không hoàn toàn:
Người song ngữ hoàn toàn (song ngữ hoàn hảo/ song ngữ lý tưởng) là một
người mà ngoài ngôn ngữ thứ nhất ra thì ngôn ngữ thứ hai (gồm một hoặc trên một ngôn ngữ) phải đạt đến trình độ thuần thục Nghĩa là họ có khả năng nắm bắt một cách chủ động, tự do như nhau hai ngôn ngữ, đến mức có thể tư duy trực tiếp bằng từng ngôn ngữ mà không cần chuyển dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác Nói cách khác, họ có thể sử dụng các ngôn ngữ một cách tự nhiên tùy vào từng bối cảnh giao tiếp cụ thể
Người song ngữ không hoàn toàn (song ngữ bộ phận/ song ngữ có điều
kiện) là người trong từng phạm vi cơ bản mà bản thân quan tâm, có thể sử dụng hai hoặc trên hai ngôn ngữ để trình bày được nội dung cần thông báo và người nghe hiểu được, thụ cảm được, đồng thời lại có thể hiểu được điều người khác trình bày bằng các ngôn ngữ đó Yêu cầu của người song ngữ không hoàn toàn là ngoài tiếng
mẹ đẻ ra thì các ngôn ngữ khác phải đạt đến mức độ sử dụng để giao tiếp được trong lĩnh vực mà mình quan tâm
Người đơn ngữ trong cộng đồng song ngữ là những người sống trong một
cộng đồng song ngữ nhưng bản thân họ chỉ có thể sử dụng được duy nhất một ngôn ngữ Ví dụ trường hợp người Khmer ở An Giang, họ là những người sống trong cộng đồng song ngữ Khmer – Việt Tuy nhiên, trong cộng đồng Khmer này, có những cá nhân chỉ có thể sử dụng được hoặc tiếng Khmer (mà hoàn toàn không sử dụng được, thụ cảm được tiếng Việt), hoặc tiếng Việt (mà hoàn toàn không sử dụng được, thụ cảm được tiếng Khmer)
3.2.4 Thái độ ngôn ngữ
Thái độ ngôn ngữ có thể coi là “sự đánh giá về giá trị và khuynh hướng hành
vi của một cộng đồng hay cá nhân đối với một ngôn ngữ nào đó” (Nguyễn Văn Khang, 2012, 74) Chẳng hạn, An Giang là một tỉnh đa dân tộc và đa ngôn ngữ với cuộc sống cộng cư, đan xen giữa các dân tộc, tìm hiểu thái độ ngôn ngữ chính là tìm hiểu thái độ của các cộng đồng cư dân ở đây đối với tiếng Việt cũng như đối với chính ngôn ngữ mẹ đẻ của họ và ngôn ngữ của các dân tộc khác
Cho đến nay, ngôn ngữ học xã hội thường nhắc đến ba loại thái độ cơ bản, đó
là thái độ trung thành ngôn ngữ, thái độ kì thị ngôn ngữ và thái độ tự ti ngôn ngữ
Thái độ trung thành ngôn ngữ là thái độ luôn hướng tới, bảo vệ ngôn ngữ của
dân tộc mình, quê hương mình Thái độ này bắt nguồn từ tình cảm yêu quý và thuỷ chung với dân tộc mình
Thái độ tự ti ngôn ngữ là thái độ mặc cảm - tự cảm thấy ngôn ngữ hay tiếng
nói của mình (phương ngữ, thậm chí là giọng nói cá nhân) “không bằng” các ngôn
Trang 31ngữ hay phương ngữ khác Thái độ tự ti về ngôn ngữ thường dẫn đến hai cách hành
xử về ngôn ngữ: Thứ nhất là từ bỏ ngôn ngữ hay phương ngữ của mình để chuyển sang ngôn ngữ hay phương ngữ có uy tín cao hơn; Thứ hai là học tập để nắm vững
và biết cách sử dụng ngôn ngữ có uy tín hơn để sử dụng trong môi trường giao tiếp phù hợp
Thái độ kì thị ngôn ngữ gắn với thái độ tự ti ngôn ngữ Thái độ kì thị ngôn ngữ được biểu hiện bằng sự coi nhẹ, xem thường ngôn ngữ hoặc phương ngữ của
cộng đồng khác, quá đề cao ngôn ngữ hay phương ngữ của cộng đồng mình
Sự hình thành thái độ ngôn ngữ phụ thuộc vào hàng loạt các nhân tố ngoài ngôn ngữ như giới tính, nghề nghiệp, tuổi tác và các nguyên nhân chính trị xã hội khác Thái độ ngôn ngữ cũng không phải nhất thành bất biến mà nó thay đổi trong cộng đồng cũng như trong mỗi cá nhân dưới tác động của các nhân tố nêu trên Theo
đó, một vấn đề tất yếu kéo theo trong sử dụng: đó là hoặc theo hướng duy trì ngôn ngữ hoặc theo hướng chuyển đổi ngôn ngữ
3.2.5 Chính sách ngôn ngữ
Tiếng Việt đảm nhận chức năng của một ngôn ngữ quốc gia kể từ khi có Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1945 (nay là Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam) Tiếng Việt cùng với quốc huy và quốc kỳ Việt Nam là
ba chỉ tố quốc thể Việt Nam về mặt hình thức Với vị thế là ngôn ngữ quốc gia, tiếng Việt được quyền phát huy chức năng sử dụng của mình trong giao tiếp và trong giáo dục thông qua đường lối, chủ trương của Đảng, Chính phủ và việc thực thi chủ trương, đường lối đó Tuy nhiên, việc phát huy chức năng của tiếng Việt luôn đặt trong mối quan hệ với ngôn ngữ của các dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam Là một quốc gia xã hội chủ nghĩa thống nhất, đa dân tộc, đa ngôn ngữ,
Nhà nước Việt Nam “có nhiệm vụ giữ gìn và phát triển sự đoàn kết giữa các dân tộc
Mọi hành vi khinh miệt, áp bức, chia rẽ dân tộc luôn bị nghiêm cấm” (Điều 3
Chương 1, Hiến pháp Việt Nam, 1960)
Chức năng của các ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong mối quan hệ với tiếng Việt đã được ghi rõ trong Hiến pháp, trong Pháp luật, trong các Nghị định, Quy định của Chính phủ Ví dụ, trong năm bản Hiến pháp của Việt Nam đều có điều khoản riêng về dân tộc trong đó nêu rõ người dân tộc thiểu số Cụ thể: “Nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.” (Điều 5, Hiến pháp Việt Nam, 2013) Bên cạnh đó, “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”
(Khoản 3, Điều 61, Hiến pháp Việt Nam, 2013)
Trong luật pháp “Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học
tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của Chính phủ” (Luật Giáo dục, 2005)
Trong các Nghị định, Quy định, Chính phủ luôn coi việc bảo vệ, giữ gìn tiếng nói, chữ viết dân tộc là nhiệm vụ quan trọng, có mối quan hệ gắn bó với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa giáo dục ở vùng dân tộc và miền núi Coi tiếng nói, chữ
Trang 32viết của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam “vừa là vốn quý của dân tộc đó, vừa là tài
sản văn hóa chung của cả nước”, Chính phủ ta trong Quyết định 153/CP năm 1969
và Quyết định 53/CP năm 1980 đã chú trọng tới việc xây dựng, cải tiến và sử dụng
chữ viết của các dân tộc thiểu số Cụ thể là “xây dựng, cải tiến và sử dụng chữ viết
dân tộc; sử dụng tiếng và chữ viết dân tộc trên các lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, thông tin báo chí… ở những nơi có đông đảo đồng bào dân tộc; quyền dùng chữ viết dân tộc trong việc ghi sổ sách, viết thư và làm đơn từ gửi các cơ quan nhà nước” (trích
Quyết định 153/CP, 1969); “Tiếng nói và chữ viết của mỗi dân tộc thiểu số ở Việt
Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hoá chung của cả nước ở các vùng dân tộc thiểu số, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời với tiếng và chữ phổ thông Cùng với chữ phổ thông, chữ dân tộc tham gia nhiều mặt hoạt động ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là trong việc giữ gìn và phát triển vốn văn hoá dân tộc Vì thế, đi đôi với việc hoàn thành phổ cập tiếng và chữ phổ thông, cần
ra sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số xây dựng mới hoặc cải tiến chữ viết của từng dân tộc…” (trích Quyết định 53/CP 1980)
Để làm tốt công tác về tiếng nói, chữ viết dân tộc, Chính phủ còn có những Thông tư hướng dẫn cụ thể Ví dụ, Thông tư số 1/GD-ĐT ngày 3/2/1997 hướng dẫn việc dạy học tiếng nói chữ viết dân tộc thiểu số đã chỉ ra “Một số nguyên tắc chung”,
“Một số việc làm cụ thể trước mắt” và “Tổ chức thực hiện” Thông tư nhấn mạnh đến việc triển khai dạy học môn tiếng dân tộc trong các trường mẫu giáo, các trường tiểu học, các lớp xóa mù chữ và bổ túc văn hóa tại các vùng dân tộc thiểu số Thông
tư nhấn mạnh đến các điều kiện hành chính (được chính quyền địa phương cấp tỉnh đồng ý), cơ sở vật chất và phương pháp dạy học cần đa dạng hóa Đến nay, Bộ Giáo dục Đào tạo đã xây dựng được 8 bộ chương trình cho 8 thứ tiếng dân tộc thiểu số chính thức đưa vào các trường tiểu học và trường phổ thông dân tộc nội trú, gồm có: chữ Chăm, chữ Thái, chữ Bana, chữ Hán, chữ Mông, chữ Khmer, chữ Jarai và chữ Xơđăng.
Ngoài ra,Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về một số chủ trương, biện pháp
tiếp tục phát triển kinh tế – xã hội miền núi, số 525-TTg ngày 02/11/1993 viết: "Tiếp
tục phát triển phát thanh và truyền hình ở miền núi và vùng dân tộc: hết năm 1995, hoàn chỉnh việc phủ sóng truyền hình cho các huyện Nâng cao chất lượng các buổi phát thanh bằng tiếng dân tộc."
Như vậy, có thể thấy, khẳng định vị thế quốc gia của tiếng Việt, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng bảo tồn và phát huy chức
năng của các ngôn ngữ dân tộc thiểu số “Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ và chữ viết
các dân tộc Đi đôi với việc sử dụng ngôn ngữ chữ viết phổ thông, khuyến khích thế
hệ trẻ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình” (trích Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban chấp
hành Trung ương Đảng khóa VIII, 1998)
Những quy định cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với ngôn ngữ dân tộc thiểu số cho thấy, đây là kế hoạch hóa hoàn toàn mang tính xây dựng: việc bảo vệ, truyền bá và giáo dục tiếng Việt được đặt trong mối quan hệ với việc bảo vệ, phát triển và giáo dục ngôn ngữ các dân tộc thiểu số và
ngược lại “Ở các vùng dân tộc thiểu số, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời
với tiếng và chữ phổ thông” (Quyết định 53/CP, 1980) Chẳng hạn, việc xây dựng và
sử dụng chữ dân tộc trong mối quan hệ với chữ Việt, tiếng Việt là: “Giúp đỡ người
dân tộc có thể học nhanh được tiếng, chữ phổ thông”, “(…) nơi nào không biết hoặc biết ít tiếng phổ thông thì cho học xen kẽ chữ dân tộc với tiếng và chữ phổ thông ở các lớp cấp I Từ cấp II trở lên thì học hoàn toàn bằng tiếng và chữ phổ thông” , “ở
Trang 33cấp II và cấp III, chủ yếu là dạy tiếng và chữ phổ thông, đồng thời có dạy môn Ngữ văn dân tộc” (Quyết định 153/CP, 1969);…
Có thể thấy, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với sự phát triển của đất nước trong sự đoàn kết hòa hợp giữa các dân tộc Nó chẳng những không làm cho tiếng Việt trở thành mối đe dọa đối với ngôn ngữ các dân tộc mà việc phát huy chức năng của tiếng dân tộc còn nhằm tạo điều kiện cho sự truyền bá và giáo dục tiếng Việt Đồng thời, các ngôn ngữ dân tộc muốn phát huy được thật tốt chức năng của mình thì không thể không tính đến vai trò và tác động tích cực của tiếng Việt
Chính sách ngôn ngữ - dân tộc là một phần trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Nguyên tắc cơ bản của chính sách này là tôn trọng, đảm bảo quyền bình đẳng và tự nguyện trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của các dân tộc Trong hoàn cảnh cụ thể của nước ta, giải quyết vấn đề dân tộc chủ yếu là giải quyết hài hoà lợi ích giữa các dân tộc anh em với nhau, giữa lợi ích của từng dân tộc với lợi ích chung của quốc gia, giữa ý thức dân tộc và ý thức quốc gia, giữa yêu cầu bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hoá riêng từng dân tộc và sự thống nhất về chính trị, kinh tế chung toàn quốc gia; làm cho các dân tộc đều phát triển trong một đất nước
dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, có nền văn hoá thống nhất mà đa dạng
Trang 34CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ
VỀ NĂNG LỰC SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT CỦA NGƯỜI KHMER
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG
4.1 NĂNG LỰC SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT CỦA NGƯỜI KHMER Ở AN
GIANG
Để khảo sát năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer trên địa bàn tỉnh
An Giang, chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra, quan sát thực tế các đối tượng là người Khmer ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Số lượng phiếu điều tra được thực hiện là 600 phiếu/ 600 người, ngoài ra còn có 27 file ghi âm và 50 ảnh
Đối với phiếu điều tra, có 6 phiếu ghi thông tin không chính xác đã được lọc
ra, còn lại 594 phiếu hợp lệ, với các thông số khái quát như sau:
Về giới tính, có 282 đối tượng được khảo sát là nam giới (chiếm 47,5%), 312
đối tượng được khảo sát là nữ giới (chiếm 52,5%) Như vậy, có thể thấy sự chênh lệch về giới của các đối tượng nghiên cứu là không đáng kể
Về độ tuổi, các đối tượng khảo sát được chúng tôi phân chia thành ba nhóm
tuổi, như trong Bảng 1
Độ tuổi của đối tượng được khảo sát
Nhóm đối tượng có độ tuổi từ 30 đến 50 chiếm số lượng lớn nhất, với 360 người (60,6%); tiếp theo là nhóm có độ tuổi dưới 30, với 124 người (20,9%); ít nhất
là nhóm có độ tuổi trên 50, với 110 người (18,5%)
Về trình độ văn hóa (Bảng 2), có 188 (31,6%) đối tượng không đi học; có 234
đối tượng học đến cấp 1 (39,4%); số đối tượng học đến cấp 2 là 96 người (16,2%); cấp 3 là 76 người (12,8%) Như vậy, nhìn chung các đối tượng được khảo sát đa phần là không được đi học hoặc chỉ học đến cấp 1
Trang 35Trình độ văn hóa của đối tượng được khảo sát
Về địa bàn cư trú, các đối tượng được khảo sát có địa bàn cư trú thuộc ba khu
vực chủ yếu là đô thị (82 người ,13,8%), nông thôn (288 người, 48,5%), Miền núi (224 người, 37,7%) Nhìn chung, số lượng người được khảo sát phân bố không đồng đều giữa ba địa bàn, tập trung chủ yếu ở địa bàn nông thôn và miền núi, trong khi đó khu vực đô thị chiếm tỉ lệ rất thấp Điều này một phần do đặc điểm truyền thống định
cư của đồng bào Khmer chủ yếu ở miền núi và nông thôn, ít định cư ở khu vực đô thị Do vậy, số lượng các đối tượng được khảo sát ở địa bàn đô thị ít hơn hai địa bàn còn lại
Về nghề nghiệp (Bảng 3), đa số các đối tượng được khảo sát là nông dân (464
người, 78,1%); ngoài ra còn có các ngành nghề khác như làm tóc, chạy xe ôm, phụ giúp việc nhà, làm hồ, cõng gạch mướn… (94 người, 15,8%) Trong số 594 người Khmer được khảo sát, chỉ có 8 người làm cán bộ viên chức (1,3%) Điều này cho thấy, đa phần người dân Khmer là nông dân, lao động chân tay là chủ yếu Số người Khmer làm cán bộ viên chức tại các cơ quan nhà nước chiếm tỉ lệ rất thấp
Nghề nghiệp của đối tượng được khảo sát
Trong 594 đối tượng được khảo sát, chỉ có 26 trường hợp (chiếm 4,4%) từng sống hoặc đi làm việc ở nơi khác ngoài địa bàn cư trú Các đối tượng này chủ yếu là
đi làm công nhân ở Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh hoặc sang phụ việc ở nước bạn Campuchia
Các đối tượng khảo sát cũng cho biết những người thân cùng chung sống với
họ hầu hết là người cùng dân tộc Khmer (586 trường hợp, 98,7%), chỉ có 8 trường hợp có sống chung với người thân thuộc dân tộc khác như Kinh, Hoa Điều này cho thấy, vấn đề kết hôn ngoại tộc không phổ biến trong cộng đồng Khmer Từ đó dẫn đến vấn đề trộn mã ngôn ngữ trong môi trường giao tiếp gia đình cũng ít xảy ra
Trang 36100% đối tượng được khảo sát đều xác định tiếng mẹ đẻ của họ là tiếng Khmer Điều này cho thấy ý thức và sự nhất quán trong quan niệm về tiếng mẹ đẻ của đồng bào Khmer là tuyệt đối
Về năng lực sử dụng tiếng Việt, trong số 594 đối tượng được khảo sát thì có
87 trường hợp (14,6%) hoàn toàn không biết tiếng Việt Chúng tôi tạm xếp các đối tượng này vào nhóm “đơn ngữ” trong môi trường song ngữ để tiện khảo sát
Số còn lại (507 người, chiếm 85,4%) ghi nhận biết tiếng Việt ở các mức độ khác nhau Đối với các đối tượng biết tiếng Việt, chúng tôi tiếp tục phân chia ra thành hai trường hợp nhỏ: trường hợp hoàn thiện cả 4 kỹ năng tiếng Việt (290 người, chiếm 48,8%) được xếp vào nhóm “song ngữ hoàn hảo”; trường hợp còn lại xếp vào nhóm “song ngữ hạn chế” (217 người, chiếm 36,5%)
Bảng 4
Nghe hiểu, nói được,
đọc hiểu, (không biết
viết)
Đối tượng nghiên cứu tự đánh giá năng lực sử dụng tiếng Việt
4.1.1 Trường hợp đơn ngữ trong môi trường song ngữ
Cộng đồng Khmer ở An Giang là một cộng đồng đa ngữ Bởi lẽ, ngoài tiếng
mẹ đẻ của họ là tiếng Khmer, cộng đồng này còn phải sử dụng tiếng Việt để giao tiếp, thực hiện các chức năng xã hội, trao đổi thông tin, làm ăn buôn bán với người Kinh và các dân tộc khác như Chăm, Hoa Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, có trên 14,0% người Khmer ở An Giang không biết tiếng Việt, nghĩa là họ chỉ có khả năng
sử dụng một ngôn ngữ duy nhất là tiếng Khmer Đây là trường hợp đơn ngữ (tiếng Khmer) trong môi trường song ngữ (gọi tắt là người đơn ngữ) Hiện tượng này có những đặc điểm đáng lưu ý sau đây:
Thứ nhất, những người Khmer đơn ngữ ở An Giang phần lớn là nữ giới
(71/87 người, chiếm 81,6%) So với nam giới, phụ nữ Khmer ít được học tập, ít có điều kiện giao tiếp bằng tiếng Việt và tham gia các hoạt động xã hội, từ đó dẫn đến năng lực tiếng Việt của họ có phần hạn chế Trong xã hội Khmer, người nam khi trưởng thành phải đi tu, đây được xem là điều bắt buộc để trả hiếu cho cha mẹ, thể hiện trách nhiệm với cộng đồng Việc đi tu giúp cho nam giới Khmer tách khỏi môi trường ngôn ngữ gia đình, hòa nhập vào môi trường ngôn ngữ rộng hơn, từ đó góp phần làm cho năng lực ngôn ngữ, năng lực tiếng Việt của họ có điều kiện phát triển Trong khi đó, nữ giới Khmer không phải đi tu, môi trường giao tiếp của họ phần lớn chỉ là gia đình hoặc phum sóc, nơi mà tiếng Khmer hầu như chiếm vị thế độc tôn, rất
ít khi dùng đến tiếng Việt, chính vì vậy mà năng lực tiếng Việt của họ hạn chế hơn nam giới
Trang 37Thứ hai, hiện nay, mặc dù mạng lưới trường lớp trong hệ thống giáo dục quốc
dân đã khá phát triển, các trường mầm non, trường tiểu học đã được xây dựng đến một số phum, sóc Tuy nhiên, do điều kiện địa lý đặc thù của hai huyện miền núi Tri Tôn, Tịnh Biên (nơi có nhiều đồng bào Khmer sinh sống), việc đến trường của học sinh Khmer còn nhiều bất cập Theo quan sát của chúng tôi, hệ thống giao thông, đường sá từ các phum, sóc đi tới các trường học mặc dù có nhiều cải thiện song vẫn còn nhỏ hẹp, thường lầy lội vào mùa mưa (Một số phum sóc chúng tôi không thể đi
xe vào khảo sát được mà phải đi bộ.) Đây có thể là một trong những nguyên nhân khiến trẻ em Khmer không thể đi học Ngoài ra, nguyên nhân rào cản ngôn ngữ cũng đáng lưu tâm Bởi khi đến trường, học sinh Khmer học và giao tiếp bằng tiếng Việt Nhiều trường có tỉ lệ học sinh Khmer đông như trường THPT Dân tộc nội trú thì các
em còn có thể giao tiếp với bạn bè, với một một số thầy cô bằng tiếng Khmer Nhưng đối với các trường còn lại, hầu như các em phải giao tiếp bằng tiếng Việt Trong khi năng lực tiếng Việt của học sinh Khmer, nhất là ở bậc mẫu giáo và tiểu học còn nhiều hạn chế, dẫn đến việc không thể giao tiếp được, do vậy mà các em chán học và
bỏ học khá nhiều Trong khi đó, chính đối tượng người Khmer không được đi học hoặc bỏ học sớm lại tiếp tục là một trong những nguyên nhân chính khiến năng lực tiếng Việt của họ hạn chế Nghiên cứu cho thấy, trong số 87 trường hợp người Khmer đơn ngữ ở An Giang thì có tới 75 người chưa từng đi học, chiếm 86,2% Số còn lại chỉ học đến lớp 1, sau đó bỏ học và dẫn đến đánh mất năng lực tiếng Việt
Thứ ba, nghiên cứu cũng cho thấy, đa số các trường hợp người Khmer đơn
ngữ là những người cao tuổi Có đến 83 trường hợp, chiếm 95,4% những người Khmer đơn ngữ có độ tuổi từ 40 trở lên, trong đó tập trung chủ yếu ở độ tuổi từ 55 đến 70 tuổi Điều này cho thấy, số lượng người Khmer đơn ngữ đa phần là những người già, tỉ lệ người trẻ đơn ngữ rất thấp (chưa đến 5%) Bởi lẽ, hiện nay điều kiện giáo dục ngày càng phát triển, các hoạt động trao đổi thông tin, giao tiếp ngày càng được cải thiện, do đó giới trẻ Khmer có nhiều điều kiện hơn trong việc lĩnh hội tiếng Việt và sử dụng trong các hoạt động giao tiếp, phục vụ cuộc sống
Thứ tư, các trường hợp người Khmer đơn ngữ ở An Giang phần lớn có địa
bàn cư trú ở khu vực miền núi (44/87 người, chiếm 50,6%), nông thôn (41/87 người, 47,1%), trong khi đó khu vực đô thị chỉ có 2 trường hợp, chiếm 2,3% Điều này cho thấy, địa bàn cư trú có ảnh hưởng đến năng lực ngôn ngữ của các đối tượng này Những người sinh sống tại các địa bàn miền núi và nông thôn sẽ ít được thụ hưởng các điều kiện giáo dục, văn hóa hơn so với những người ở đô thị Do vậy mà năng lực ngôn ngữ của họ cũng hạn chế Điều kiện sinh sống tách biệt, tương đối khép kín tại các phum sóc cũng phần nào khiến cho năng lực tiếng Việt của họ không được tốt Ngoài ra, cũng chính điều kiện sống khép kín làm cho bộ phận người Khmer không hoặc ít có nhu cầu, cơ hội giao tiếp với các cộng đồng dân tộc khác trong khu vực, vì vậy mà họ không có nhu cầu trang bị năng lực tiếng Việt 100% người Khmer đơn ngữ cho biết từ trước đến nay họ chưa từng đi làm ăn xa, chưa từng cư trú nơi nào khác ngoài quê nhà của họ
Thứ năm, theo quan sát của chúng tôi, đa phần những người Khmer đơn ngữ
ở An Giang rất ngại giao tiếp với người lạ Chúng tôi chỉ có thể tiếp xúc, thu thập tin của họ thông qua lực lượng cộng tác viên là người Khmer Đa số cho biết, vì điều kiện kinh tế khó khăn nên không được đi học tiếng Việt Hơn nữa, môi trường sống
và sinh hoạt của họ hầu như chỉ hoàn toàn dùng tiếng Khmer nên họ không có nhu cầu trang bị tiếng Việt 71,3% số người Khmer đơn ngữ là nông dân Công việc của
họ quẩn quanh ruộng đồng, phum sóc nên họ không có nhu cầu và điều kiện sử dụng
Trang 38tiếng Việt Một số khác cho biết làm nghề buôn bán nhỏ, chủ yếu mua bán ở phum sóc, ngôn ngữ sử dụng cũng đều là tiếng Khmer
Có thể thấy, trường hợp đơn ngữ trong môi trường song ngữ của một bộ phận người Khmer ở An Giang là một trường hợp rất đáng lưu tâm Bởi lẽ, khi không được trang bị năng lực tiếng Việt, bộ phận người Khmer này rất khó khăn trong quá trình giao tiếp, không thể hòa nhập vào các hoạt động văn hóa xã hội ở một môi trường rộng hơn Chính vì vậy mà điều kiện kinh tế, đời sống văn hóa của họ còn nhiều hạn chế Mặt khác, việc tiếp nhận các chủ trương, chính sách cũng sẽ hạn chế Kết quả điều tra cho thấy, hầu hết các người đơn ngữ không tham gia vào các cuộc họp từ cấp xã trở lên Một số trường hợp có tham gia các cuộc họp ở địa phương thì
họ cũng không phát biểu, hoặc chỉ có thể phát biểu bằng tiếng Khmer Họ cũng không nghe đài phát thanh, không xem các chương trình ti vi bằng tiếng Việt 80% người Khmer đơn ngữ cho biết họ không thích đi khỏi địa bàn cư trú do gặp khó khăn về giao tiếp, ngại nói chuyện với người lạ
Như đã trình bày, trường hợp đơn ngữ của người Khmer An Giang có liên quan mật thiết đến giới tính, tuổi tác, trình độ văn hóa, địa bàn cư trú, nghề nghiệp
Cụ thể là phụ nữ Khmer có tỉ lệ đơn ngữ cao hơn nhiều so với nam giới; người đơn ngữ Khmer chủ yếu là người già, tập trung ở độ tuổi từ 55 đến 70; đa phần những người Khmer đơn ngữ là những người không được đi học hoặc chỉ học đến lớp 1 rồi
bỏ học; địa bàn cư trú của các đối tượng này chủ yếu là nông thôn và miền núi, với công việc chủ yếu là làm ruộng, nội trợ, buôn bán nhỏ, họ hiếm khi rời khỏi địa bàn
cư trú Họ hầu như không giao tiếp được với người Kinh (trừ trường hợp người Kinh biết tiếng Khmer) Điều kiện kinh tế của những người Khmer đơn ngữ còn nhiều khó khăn
Điều đáng lưu ý là qua quá trình khảo sát 594 đối tượng là người Khmer ở An Giang, chúng tôi chỉ ghi nhận được các trường hợp đơn ngữ Khmer chứ không ghi nhận được trường hợp nào là đơn ngữ tiếng Việt Có nghĩa là không có trường hợp người Khmer chỉ sử dụng được tiếng Việt mà hoàn toàn không biết tiếng Khmer Điều này cho thấy, ý thức giữ gìn tiếng mẹ đẻ của người Khmer trên địa bàn Tri Tôn
và Tịnh Biên là khá tốt
4.1.2 Trường hợp song ngữ hạn chế
Người song ngữ hạn chế hay còn gọi là người song ngữ không hoàn toàn là
người trong từng phạm vi cơ bản mà bản thân quan tâm, có thể sử dụng hai hoặc trên hai ngôn ngữ để trình bày được nội dung cần thông báo và người nghe hiểu được, thụ cảm được, đồng thời lại có thể hiểu được điều người khác trình bày bằng các ngôn ngữ đó Yêu cầu của người song ngữ không hoàn toàn là ngoài tiếng mẹ
đẻ ra thì các ngôn ngữ khác phải đạt đến mức độ sử dụng để giao tiếp được trong lĩnh vực mà mình quan tâm
Người Khmer ở An Giang được xếp vào nhóm song ngữ hạn chế là những người biết tiếng mẹ đẻ của họ (tiếng Khmer) đồng thời có năng lực tiếng Việt ở các mức độ khác nhau nhưng chưa đạt đến mức thuần thục
Kết quả điều tra năng lực ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang cho thấy có 217/594 trường hợp người được xếp vào nhóm song ngữ hạn chế, với các mức độ khác nhau như sau:
Trang 39205
8 0
Nghe hiểu, nói được, đọc được
Biểu đồ 1: Năng lực tiếng Việt của người Khmer song ngữ hạn chế
Biểu đồ 1 cho thấy, đa số người Khmer song ngữ hạn chế có năng lực nghe
và nói được tiếng Việt (205 người, chiếm 94,5%) Đây là kết quả của việc giao tiếp, trao đổi thông tin giữa người Khmer và người Kinh trong quá trình cộng cư lâu dài trên địa bàn cư trú Bởi lẽ, để trang bị năng lực nghe, nói, người Khmer không cần phải học tập bài bản tại trường lớp trong hệ thống giáo dục quốc dân, chỉ cần thông qua quá trình tiếp xúc ngôn ngữ với người Kinh là có thể có được hai kỹ năng cơ bản này Cũng có trường hợp (4 người, chiếm 1,8%) chỉ nghe được tiếng Việt ở mức độ nhất định nhưng không nói được Hoặc trường hợp nghe, nói, đọc được tiếng Việt nhưng không viết được (8 người, chiếm 3,7%) Không có trường hợp người Khmer song ngữ hạn chế viết được tiếng Việt
100% những người Khmer song ngữ hạn chế cho biết, họ từng tiếp xúc, giao tiếp, trao đổi thông tin với người Kinh và các dân tộc khác trong khu vực bằng tiếng Việt ở các mức độ khác nhau Cũng tương tự như trường hợp đơn ngữ, những người Khmer song ngữ hạn chế phần lớn là những người không được đi học hoặc bỏ học sớm, do vậy mà năng lực tiếng Việt của họ có phần hạn chế Có đến 111/217 người (chiếm 51,2%) cho biết họ chưa từng đi học tại các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân 100/217 người (chiếm 46,1%) chỉ học đến cấp 1 sau đó bỏ học giữa chừng; số người song ngữ hạn chế học đến cấp 2 chỉ có 6/217 người (chiếm 2,8%) Điều này cho thấy, trình độ học vấn có liên quan chặt chẽ đến năng lực sử dụng tiếng Việt của người Khmer Người càng có trình độ học vấn cao thì năng lực sử dụng tiếng Việt của họ càng tốt Bởi lẽ, khi đi học, người Khmer sẽ được dạy tiếng Việt, phải dùng tiếng Việt để học tập các môn khác trong chương trình, dùng tiếng Việt để giao tiếp với thầy cô, bạn bè người dân tộc khác…
Về nghề nghiệp, đa số người Khmer song ngữ hạn chế làm ruộng (nông dân), một số làm nghề buôn bán nhỏ hoặc chạy xe ôm, thợ hồ, giúp việc nhà (nghề khác)
Có thể thấy, công việc của họ chủ yếu là lao động chân tay, lao động phổ thông, không có điều kiện, nhu cầu tiếp xúc với các loại văn bản tiếng Việt Do vậy mà đa
số người Khmer song ngữ hạn chế không có khả năng đọc, viết tiếng Việt Sự phân
bố nghề nghiệp của nhóm người Khmer song ngữ hạn chế được thể hiện trong Biểu
đồ 2 dưới đây
Trang 4011
28
0 20
Biểu đồ 2: Nghề nghiệp của người Khmer song ngữ hạn chế
4.1.3 Trường hợp song ngữ hoàn hảo
Người song ngữ hoàn hảo hay còn gọi là người song ngữ lý tưởng là người
mà ngoài ngôn ngữ thứ nhất ra thì ngôn ngữ thứ hai (gồm một hoặc trên một ngôn ngữ) phải đạt đến trình độ thuần thục Nghĩa là họ có khả năng nắm bắt một cách chủ động, tự do như nhau hai ngôn ngữ trở lên, đến mức có thể tư duy trực tiếp bằng từng ngôn ngữ mà không cần chuyển dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác Nói cách khác, họ có thể sử dụng các ngôn ngữ một cách tự nhiên tùy vào từng bối cảnh giao tiếp cụ thể
Đối với người Khmer ở An Giang, những người song ngữ hoàn hảo là những người ngoài khả năng thuần thục bốn kỹ năng tiếng mẹ đẻ (tiếng Khmer), họ còn phải hoàn thiện bốn kỹ năng tiếng Việt (nghe, nói, đọc hiểu, viết)
Kết quả điều tra cho thấy, có 290 đối tượng được khảo sát cho biết họ hoàn thiện 4 kỹ năng tiếng Việt Nghĩa là, các đối tượng này có thể sử dụng thuần thục tiếng Việt Tuy nhiên, đây chưa phải là những người được xếp vào nhóm song ngữ hoàn hảo Bởi lẽ, trong số 290 đối tượng đã nêu thì chỉ có 146 trường hợp cho biết
họ đạt đến độ thuần thục 4 kỹ năng tiếng Khmer Các trường hợp còn lại không thể đọc hiểu hoặc không thể viết được tiếng Khmer, do đó không được xếp vào nhóm song ngữ hoàn hảo