Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, nhằm mục đích phát triển thể lực chung cho sinh viên hệ cao đẳng giáo dục thể chất, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn học trò chơi vận động c
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Cm : Centimet
ĐTKT : Đối tƣợng kiểm tra
ĐTV : Điều tra viên
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG i
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC 3
1.3 Công tác GDTC trong các trường đại học, cao đẳng và THCN hiện nay 9
1.4 Vai trò của TCVĐ đối với việc GDTC cho nữ sinh viên trong giờ học Bóng chuyền tự chọn: 10
1.5 Đặc điểm, phân loại và phương pháp giảng dạy TCVĐ 13
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý của nữ sinh viên : 13
1.5.2 Đặc điểm và phân loại trò chơi 18
1.5.3 Phương pháp giảng dạy trò chơi cho nữ sinh viên trong giờ học Bóng chuyền tự chọn: 20
2.1 Phương pháp nghiên cứu 25
2.1.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: 25
2.1.2 Phương pháp điều tra xã hội học: 25
2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm: 26
2.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: 28
2.1.5 Phương pháp toán học thống kê: 28
2.2 Tổ chức nghiên cứu: 29
2.2.1 Thời gian nghiên cứu: 29
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu: 30
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 31
3.1 Lựa chọn trò chơi vận động cho nữ sinh viên trong giờ học Bóng chuyền tự chọn trường Đại học An Giang 31
3.1.1 Quan điểm và nhận thức của giảng viên đối với việc sử dụng TCVĐ 31
3.1.2 Thực trạng thể lực chung của nữ sinh viên Đại học An Giang 33
3.2 Lựa chọn một số TCVĐ nâng cao thể lực cho nữ sinh viên trong giờ học bóng chuyền tự chọn Trường ĐHAG 33
3.2.1 Cơ sở lựa chọn nội dung TCVĐ để nâng cao thể lực cho nữ SV trong giờ học Bóng chuyền tự chọn trường Đại học An Giang: 33
3.2.2 Những cơ sở lựa chọn TCVĐ cho nữ sinh viên 34
3.2.3 Các yêu cầu đối với việc lựa chọn trò chơi cho nữ sinh viên 35
3.2.4 Tiến hành lựa chọn TCVĐ trong giờ học bóng chuyền tự chọn cho sinh viên 18 - 20 tuổi 37
3.3 Bàn luận và đánh giá hiệu quả một số TCVĐ đã lựa chọn 39
3.3.1 Tổ chức thực nghiệm 39
3.3.2 Kết quả thực nghiệm 41
3.3.3 So sánh kết quả kiểm tra thể lực sau thực nghiệm của nhóm thực nghiệm với tiêu chuẩn thể lực của người Việt Nam và QĐ 53 / BGD và ĐT 2008 42
3.3.4 Nhịp tăng trưởng các tố chất thể lực của sinh viên nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
Kết luận: 45
Kiến nghị: 45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
GDTC cho thế hệ trẻ là bộ phận cơ bản trong hệ thống GDTC nhân dân, trong đó các bài tập TDTT là biện pháp quan trọng để đem lại sức khỏe cho mọi người và thể chất cường tráng cho thế hệ trể Việt Nam hiện tại và mai sau Trong dự thảo nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX có đoạn viết: "Phát triển mạnh mẽ phong trào TDTT quần chúng cả về bề rộng lẫn chiều sâu, làm cho TDTT thực sự là một phương tiện đại chúng, góp phần bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho nhân dân, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội của đất nước" Muốn phát triển được phong trào TDTT, thì không thể thiếu được vai trò của GDTC trong nhà trường, từ bậc mẫu giáo đến đại học và chuyên nghiệp
GDTC cho thế hệ trẻ là bộ phận cơ bản trong hệ thống GDTC nhân dân, trong đó các bài tập TDTT là biện pháp quan trọng để đem lại sức khỏe cho mọi người và thể chất cường tráng cho thế hệ trể Việt Nam hiện tại và mai sau Trong dự thảo nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX có đoạn viết: "Phát triển mạnh mẽ phong trào TDTT quần chúng cả về bề rộng lẫn chiều sâu, làm cho TDTT thực sự là một phương tiện đại chúng, góp phần bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho nhân dân, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội của đất nước" Muốn phát triển được phong trào TDTT, thì không thể thiếu được vai trò của GDTC trong nhà trường, từ bậc mẫu giáo, sinh viên phổ thông, đến đại học và chuyên nghiệp
Trong bài phát biểu tại Đại hội TDTT toàn miền Bắc tháng 3/1960 của
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã chỉ rõ: "TDTT là cơ sở tiếp thu tốt đức học, trí
dục và mỹ dục" GDTC trong nhà trường cần nêu rõ tính quy luật khách quan
của quá trình GDTC
Vì vậy, vấn đề đặt ra cần đa dạng hóa các loại hình bài tập đặc biệt là các trò chơi vận động để sinh viên có thể tập luyện, mà không bị điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn chi phối
Từ thực tiễn cho thấy cần phải áp dụng một hệ thống TCVĐ sao cho nội dung, hình thức dễ được thực hiện, không đòi hỏi tốn kém về kinh phí, trang thiết bị,
Trang 5thuận lợi cho việc tổ chức giảng dạy, sử dụng thêm các trò chơi vận động làm phương tiện chuyên môn cơ bản để phát triển thể lực cho các em Thông qua trò chơi vận động các em có điều kiện hoàn thiện bản thân cả về thể chất và nhân cách Bởi vì trò chơi mang lại hiệu quả đáng kể, nó được coi như là phương tiện hoàn thiện thể chất rèn luyện các phẩm chất đạo đức, tâm lý, ý chí…làm phong phú thêm đời sống tinh thần, giúp các em có tình cảm gắn bó yêu thương giúp
đỡ lẫn nhau thông qua trò chơi các em củng cố những kỹ năng kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống.Trò chơi vận động rất phong phú và đa dạng nội dung và hình thức có thể kiểm soát được lượng vận động không dẫn tới mệt mỏi quá sức cho các em
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, nhằm mục đích phát triển thể lực chung cho sinh viên hệ cao đẳng giáo dục thể chất, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn học trò chơi vận động cho sinh viên hệ đại học trường Đại học An Giang, từng bước nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy - học tập trong nhà trường, chúng tôi tiến hành lựa chọn đề tài:
“Ứng dụng một số trò chơi vận động nâng cao thể lực cho nữ sinh viên trong giờ học bóng chuyền tự chọn trường Đại học An Giang”
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi xác định mục đích nghiên cứu sau:
Qua nghiên cứu về lý luận, dựa vào cơ sở thực tiễn của trường Đại học
An Giang đề tài sẽ lựa chọn và ứng dụng những trò chơi vận động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên Đại học An Giang
Đề tài thực hiện với mục tiêu:
- Lựa chọn và ứng dụng trò chơi vận động trong giờ học bóng chuyền tự chọn cho nữ sinh viên trường ĐHAG
- Đánh giá hiệu quả trò chơi vận động đến việc phát triển thể lực cho nữ sinh viên hệ trường Đại học An Giang
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC
Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo nói chung, về giáo dục thể chất trong nhà trường nói riêng, được xuất phát từ những
cở sở tư tưởng, lý luận của học thuyết Mác- Lê Nin về con người và sự phát triển toàn diện con người, về giáo dục thế hệ trẻ trong XHCN, những nguyên lý Mác xít, từ tư tưởng quan điểm Hồ Chí Minh về TDTT nói chung và giáo dục thể chất cho thế trẻ nói riêng
Những cơ sở tư tưởng, lý luận đó đều được Đảng ta quán triệt trong suốt thời kỳ lãnh đạo Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và tiến lên xây dựng CNXH ngày nay, được cụ thể hoá qua các kỳ Đại hội Đảng, các chỉ thị, các nghị quyết, nghị định thông tư về TDTT, ở từng giai đoạn Cách mạng theo yêu cầu nhiệm vụ và tình hình cụ thể của Đất nước
Cần khẳng định rằng không thể có sức khỏe của nhân dân nếu không quan tâm đến sức khỏe của thanh niên, sinh viên Việc duy trì và tăng cường thể chất của giống nòi Việt Nam phải bắt đầu từ thế hệ trẻ, Bác Hồ đã từng dạy: "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người" Rèn luyện TDTT là một biện pháp quan trọng nhằm đem lại sức khỏe và thể chất cường tráng cho thế hệ trẻ hiện tại và mai sau Bởi vậy việc chăm lo cho công tác GDTC trong trường học là một việc làm có tầm quan trọng dặc biệt của sự nghiệp giáo dục đào tạo, nhằm chuẩn bị con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III tháng 9/1960, đã định hướng công tác giáo dục và rèn luyện thể chất đối với tuổi trẻ học đường, chủ trương này đã được Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, tháng 04/1963 phát triển lên một bước mới, phù hợp với nguyên lý của chủ nghĩa Mác về phát triển con người toàn diện Nghị quyết Đại hội Đảng VIII viết: “ …Công tác giáo dục phải được phát triển theo quy mô lớn, nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ nước nhà, có giác ngộ xã hội chủ nghĩa, có văn hoá và khoa học kỹ thuật, có
Trang 7sức khoẻ nhằm phục vụ đắc lực cho việc đào tạo cán bộ và nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân lao động…”
Tại hội nghị giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông toàn quốc tại Hải Phòng, tháng 8/1996 Phó Thủ Tướng Nguyễn Khánh cũng đã nói: “ ước vọng của mõi chúng ta là mỗi thanh niên Việt Nam cả nam lẫn nữ đều có cơ thể cường tráng, cùng với tâm hồn trong sáng và trí tuệ phát triển… ”
Vì vậy gíáo dục thể chất trường học nói chung và các trường Đại học nói riêng là bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và thể dục ngành nghề là một mặt quan trọng trong hệ thống giáo dục thể chất học đuờng Cùng với thể thao thành tích cao, giáo dục thể chất trường học đã góp phần đảm bảo cho nền thể dục thể thao nước ta phát triển cân đối và đồng bộ, để thực hiện mục tiêu giáo dục và đoà tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện,cùng với thực hiện mục tiêu chiến lược củng cố, xây dựng và phát triển nền TDTT Việt Nam, đưa nền thể thao nước nhà hoà nhập và tranh đua với các nước trong khu vực và Thế giới Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII năm 1996 đã khẳng định: "…Giáo dục đào tạo cũng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu…Chuẩn bị tốt hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ 21" và nhấn mạnh
"…Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh không những chỉ có con người phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức, lối sống mà còn phải có trách nhiệm cảu toàn xã hội, của tất cả các cấp, các ngành, các đoàn thể"
Ngày 2/4/1998, thường vụ Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam ban hành thông tư 03 - TT/TW về tăng cường lãnh đạo công tác TDTT Thông tư nêu rõ: "Giáo dục thể chất trong trường học còn nhiều hạn chế…" nên cần chú trọng "Tăng cường cán bộ" cho ngành TDTT, tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, đặc biệt là trong các quy hoạch cần dành đất để xây dựng các công trình thể thao và các sân tập TDTT ở các địa bàn dân cư, các trường học, các xí nghiệp"
Ngày 9/10/2000, Chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công
bố lệnh về việc ban hành Pháp lệnh Thể dục, Thể thao đã được ủy ban thường
Trang 8vụ Quốc hội khóa X thông qua ngày 25/9/2000, Pháp lệnh có 9 chương, 59 điều Trong đó có một chương, 6 điều quy định về TDTT trường học
Điều 14 của Pháp lệnh ghi rõ: "Thể dục thể thao trường học bao gồm giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa cho người học Giáo dục thể chất trong trường học là chế độ giáo dục bắt buộc nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho người học Nhà nước khuyến khích hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa trong nhà trường"
Điều 15 của Pháp lệnh quy định: "Bộ Giáo dục - Đào tạo phối hợp với ủy ban TDTT thực hiện nhiệm vụ: Xây dựng, chỉ đạo, thực hiện chương trình GDTC Quy định tiêu chuẩn rèn luyện TDTT và đánh giá kết quả rèn luyện thể dục thể thao của người học Đào tạo, bồi dưỡng và đảm bảo đủ giáo viên, giảng viên thể dục thể thao Quy định hệ thống thi đấu thể dục thể thao trường học"
Ngày 12/11/2002, Ban Khoa giáo Trung ương đã có hướng dẫn thực hiện chỉ thị 17/CT/TW của Ban bí thư Trung ương về phát triển TDTT đến năm
2010, Ban Khoa giáo Trung ương yêu cầu:
"- Quán triệt chỉ thị 17/CT/TW nâng cao ý thức, trách nhiệm và nâng cao
sự tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các ngành, đoàn thể với sự nghiệp phát triển TDTT
- Xây dựng và thực hiện hiệu quả kế hoạch hành động triển khai chỉ thị 17/CT/TW phù hợp với điều kiện của từng ngành, địa phương, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về công tác TDTT trường học, hoạt động TDTT quần chúng cơ sở và tài năng trẻ về thể thao”
1.2 Cơ sở lý luận về công tác GDTC trong trường Đại học
1.2.1 Khái niệm về GDTC
Thể chất: Thể chất là chỉ chất lượng thân thể con người Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống Thể chất bao gồm thể hình, năng lực thể chất và năng lực thích ứng
Trang 9Kiến thức GDTC có logic rất quan trọng trong việc tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo vận động Theo Nôvicôp và Matveep thì '' Kiến thức làm tiền đề cho việc tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo vận động và sử dụng một cách có hiệu quả các năng lực thể chất trong cuộc sống Kiến thức chỉ rõ ý nghĩa cá nhân và là hội của việc GDTC cũng như bản chất của việc giáo dục này, các kiến thức cho phép sử dụng các giá trị của TDTT với mục đích tự giáo dục ''
Cũng theo hai tác giả trên thì kiến thức về GDTC giúp cho việc lựa chọn
và sử dụng các bài tập thể chất: '' Cùng một loại bài tập, có thể mang lại hiệu quả hoàn toàn khác nhau Căn cứ vào phương pháp sử dụng bài tập đó ''
Tiến sỹ khoa học giáo dục Pomomarev (1983) thì kiến thức GDTC được xác định bởi những tri thức chung, các hệ thống kỹ năng, kỹ xảo phong phú để điều khiển một hoạt động của cơ thể trong không gian và thời gian, biết sử dụng các kỹ năng, kỹ xảo vận động trong mọi điều kiện sống và sinh hoạt khác nhau của con người
Về nhận thức bao hàm những kiến thức lý luận khoa học, nội dung phương pháp tập luyện TDTT theo chương trình quy định nhằm giáo dục cho sinh viên, sinh viên về đạo đức xã hội chủ nghĩa, tinh thần tập thể, tính tự giác trong học tập, sử dụng các bài tập thể chất như là phương pháp GDTC nhằm mục đích rèn luyện thân thể cũng như nâng cao sức khoẻ, sẵn sàng lao động và bảo vệ Tổ quốc
Nguyễn Toán đưa ra khái niệm: "Giáo dục thể chất là một bộ phận của TDTT, là một trong những hoạt động cơ bản có định hướng rõ của TDTT trong
xã hội, một quá trình để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục, giáo dưỡng chung (chủ yếu là trong nhà trường) GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người."
Vũ Đức Thu, Nguyễn Xuân Sinh, Lưu Quang Hiệp và một số tác giả khác đã đưa ra khái niệm: GDTC là một quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế
hệ trẻ hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người
Trang 10Có thể thấy về GDTC có nhiều khái niệm được đưa ra dưới những góc độ, những cách nhìn khác nhau, song nói chung đều nêu lên hai mặt của một quá trình GDTC đó là: Giáo dục và giáo dưỡng
Giáo dưỡng: Là quá trình dạy học vận động hay giảng dạy động tác, qua đó hình thành kỹ năng vận động, kỹ xảo vận động và những hiểu biết liên quan Giáo dục: Là giáo dục các tố chất thể lực và phẩm chất ý chí của con người
Quá trình giảng dạy động tác và phát triển các tố chất thể lực có liên quan chặt chẽ và làm tiền đề cho nhau, có thể chuyển lẫn nhau, nhưng chúng không bao giờ đồng nhất và có quan hệ khác biệt trong các giai đoạn phát triển, hoàn thiện thể chất người tập
Trạng thái thể chất: Chủ yếu nói về trạng thái cơ thể qua một số dấu hiệu
về thể trạng được xác định bằng các cách đo tương đối đơn giản như chiều cao, cân nặng vòng ngực, chân, tay Trong một thời điểm nào đó
Phát triển thể chất: là quá trình biến đổi hình thái, chức năng cơ thể con người diễn ra trong suốt cuộc đời của mỗi cá nhân Hay nói cách khác phát triển thể chất là một quá trình hình thành biến đổi tuần tự theo quy luật trong cuộc đời từng người về hình thái, chức năng kể cả những tố chất thể lực và năng lực vận động
Phát triển thể chất phụ thuộc nhiều vào yếu tố tạo thành và sự biến đổi của
nó diễn ra theo quy luật di truyền và các quy luật phát triển sinh học tự nhiên theo lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, phương pháp và biện pháp giáo dục cũng như môi trường sống
Hoàn thiện thể chất: Hoàn thiện thể chất là phát triển thể chất lên một trình độ cao, nhằm đáp ứng một cách hợp lý các nhu cầu của hoạt động lao động, xã hội, chiến đấu và kéo dài tuổi thọ sáng tạo của con người
Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn cũng đưa ra khái niệm " hoàn thiện thể chất là mức tối ưu (tương đối), với một giai đoạn lịch sử nhất định của trình độ chuẩn bị thể lực toàn diện và phát triển thể chất cân đối, đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của lao động và những hoạt động cần thiết khác trong cuộc sống, phát huy cao
Trang 11độ, đầy đủ những năng khiếu bảm sinh về thể chất của từng người, phù hợp với những quy luật phát triển toàn diện nhân cách và giữ gìn, nâng cao sức khỏe để hoạt động tích cực, lâu bền và có hiệu quả"
Nhấn mạnh tới phương hướng, mục đích của GDTC trong trường đại học,
Vũ Đức Thu khái niệm như sau: "Chuẩn bị thể lực là một nội dung của quá trình GDTC, đây là một hoạt động chuyên môn hóa nhằm chuẩn bị thể lực cho con người học tập, lao động và bảo vệ tổ quốc."
Thể lực: Từ điển tiếng việt xuất bản năm 1996 của Nhà xuất bản Từ điển Đà Nẵng khái niệm: "Thể lực là sức lực của con người"
Theo Nguyễn Mạnh Liên " Thể lực là một nội dung nằm trong định nghĩa chung về sức khỏe" Tác giả cho rằng, để đánh giá thể lực cần có các chỉ tiêu về hình thái, giải phẫu và sinh lý con người, trong đó có hai chỉ tiêu cơ bản
là chiều cao đứng và cân nặng Tổ chức y tế thế giới (WHO) khái niệm sức khỏe như sau: "Sức khỏe là một trạng thái thoải mái về thể chất , tinh thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là không có bện tật, cho phép mọi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có hiệu quả" Sức khỏe gồm có sức khỏe cá nhân, sức khỏe gia đình, sức khỏe cộng đồng và sức khỏe xã hội Sức khỏe phụ thuộc vào môi trường sống, quá tình nuôi dưỡng, quá trình rèn luyện, những vấn đề chung của từng nước và cộng đồng thể giới Như vậy, thể lực là một yếu tố tạo nên sức khỏe
Theo Aulic I.A, năng lực thể lực là tiềm năng của VĐV để đạt được những thành tích nhất định trong môn thể thao được lựa chọn và năng lực thể lực được biểu hiện theo các thông số sư phạm như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng phối hợp vận động
Như vậy có thể nhận thấy ở những góc độ khác nhau, khái niệm thể lực của tác giả đề cập đến không hoàn toàn giống nhau Từ các kết quả phân tích trên đây
có thể hiểu: Thể lực là năng lực nhiên của con người, được phát triển hoàn thiện dưới tác động của lượng vận động và bộc lộ ra bên ngoài cơ thể cao hay thấp
Trang 121.3 Công tác GDTC trong các trường đại học, cao đẳng và THCN hiện nay
Để từng bước đẩy mạnh và nâng cao chất lượng GDTC theo tinh thần các chỉ thị 36 CT/TW, nghị quyết TW II khoá VIII, chỉ thị 133/TTg của Thủ tướng Chính phủ Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm, đánh giá đúng mức những cố gắng và thành tích đã đạt được, đồng thời chỉ rõ những tồn tại, thiếu sót trong công tác GDTC và thể thao học đường trong những năm qua: “Có sự chỉ đạo thống nhất từ Bộ xuống các trường và có được sự chăm lo bước đầu về các điều kiện đảm bảo như cán bộ, cơ sở vật chất và kinh phí, có tổ chức Hội thể thao Đại học và chuyên nghiệp Việt Nam từ cơ sở lên toàn ngành
và hoạt động có nhiều cố gắng và kết quả, có mối quan hệ quốc tế rộng rãi và có
vị trí tương xứng”
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đánh giá việc thực hiện chương trình giảng dạy thể dục nội khoá: “Việc dạy và học thể dục ở nhiều trường mới chỉ dừng ở hình thức, chủ yếu cho có được điểm số đánh giá mà chưa chú trọng thực chất”
- Hoạt động ngoại khoá là nội dung quan trọng của công tác GDTC trong nhà trường Hàng năm, bằng văn bản hướng dẫn công tác GDTC sức khoẻ, y tế trường học của mình, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định nhiệm vụ cụ thể là:
“Tích cực đẩy mạnh hoạt động ngoại khoá ngoài trời, khuyến khích sinh viên tập luyện vào thời gian rỗi, các trường cần tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất để sinh viên được tập luyện thường xuyên, nề nếp” “Hướng dẫn, khuyến khích sinh viên sinh viên tập luyện vào thời gian rỗi, duy trì nề nếp tập luyện thể dục buổi sáng, tập luyện và kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể hàng năm”
Tuy vậy, trong thực tế, việc rèn luyện thể chất và tập luyện TDTT của sinh viên, sinh viên còn gặp nhiều khó khăn, kể cả trong nhận thức về vị trí, công tác chỉ đạo và đầu tư các điều kiện đảm bảo, các hình thức và nội dung hoạt động ngoại khoá của sinh viên còn quá ít ỏi, số sinh viên trực tiếp tham gia tập luyện còn hạn chế, điều kiện đảm bảo về cán bộ và cơ sở vật chất còn khó khăn “Do đó, cả quy mô và chất lượng người tập nâng cao thành tích thể thao
Trang 13trong sinh viên sinh viên còn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển thể thao học đường”
- Vấn đề quan hệ quốc tế thể thao sinh viên, sinh viên đã và đang là mục tiêu đối ngoại quan trọng theo đường lối của Đảng và Nhà nước là: “Mở rộng và tăng cường quan hệ quốc tế trong lĩnh vực GDTC và hoạt động thể thao sinh viên sinh viên tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế và xã hội về tài chính cho hoạt động này”
Hội thể thao Đại học và chuyên nghiệp Việt Nam là thành viên chính thức của Liên đoàn thể thao Đại học thế giới, Liên đoàn thể thao Đại học Châu Á và Hội đồng thể thao Đại học ASEAN Hội thể thao Đại học và chuyên nghiệp Việt Nam đã có mối quan hệ truyền thống với các tổ chức thể thao đại học các nước Liên Xô cũ và các nước Đông Âu
Những hoạt động quốc tế của thể thao sinh viên sinh viên đã có tác dụng tốt, khích lệ phong trào thể thao sinh viên nước ta, đồng thời tăng cường sự hiểu biết, tình hữu nghị giữa sinh viên và nhân dân ta với sinh viên và nhân dân trong khu vực và trên thế giới
- Điều kiện đảm bảo, cơ sở vật chất: Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quán triệt các văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về công tác TDTT và GDTC trường học, đã đề ra những văn bản pháp quy, quy định: “Tạo những điều kiện cần thiết
về cơ sở vật chất và kinh phí để thực hiện việc dạy và học thể dục bắt buộc ở tất
cả các trường học , cùng với các ngành hữu quan xây dựng định mức, định chuẩn và các điều kiện đảm bảo về cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí để quản lý công tác GDTC trong quy hoạch xây dựng và nâng cấp trường sở phải đảm bảo sân chơi, bãi tập cho sinh viên sinh viên”
1.4 Vai trò của TCVĐ đối với việc GDTC cho nữ sinh viên trong giờ học Bóng chuyền tự chọn:
Hệ thống các tri thức cơ bản của tất cả các bài tập, hoạt động TDTT, giờ học thể dục…ảnh hưởng tới sức khoẻ và phát triển vận động của cơ thể (sức mạnh, nhanh, bền, khéo léo) Trong đó, hệ thống tri thức cơ bản về phương pháp tập luyện TDTT và trò chơi có ý nghĩa to lớn
Trang 14Trò chơi là một hoạt động đa dạng của con người, xuất hiện đồng thời với lao động và phát triển với sự phát triển của xã hội nhằm thoả mãn những nhu cầu, đạo đức, giáo dục…Trò chơi là bộ phận của nền văn hoá xã hội, là một phương tiện, phương pháp hữu hiệu để giáo dục con người
Đối với sinh viên, trò chơi là nhu cầu không thể thiếu được Thông qua trò chơi, sinh viên được chuẩn bị từng bước để đi vào cuộc sống xã hội, làm chủ xã hội Từ góc độ sư phạm - giáo dục, trò chơi là một nội dung quan trọng để thực hiện chức năng chuẩn bị thế hệ cho mỗi xã hội Do vậy, không thể đối lập hoặc tách rời giữa việc học và chơi
Dưới góc độ GDTC, vấn đề được chú ý nghiên cứu hơn cả là sưu tầm, biên soạn những TCVĐ phù hợp với tâm sinh lý, điều kiện thực hiện và tổ chức tốt quá trình chơi ngay tại trường học, trong các giờ thể dục nội và ngoại khoá
Trên thế giới, hầu như nước nào cũng chú ý quan tâm đến vấn đề chơi của sinh viên Xu hướng chung hiện nay là khai thác, hệ thống hoá và cải tiến những hình thức vui chơi có tính dân tộc để sử dụng kết hợp với những trò chơi thi đấu hiện đại trong việc giáo dục trò chơi cho sinh viên Theo nhiều nhà nghiên cứu
về TDTT như Yôtmóhy (Nhật Bản), Lưu Tân (Trung Quốc), M.Kleva (Mỹ) v.v TDTT nói chung trong đó có TCVĐ đã có vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy sự phát triển của bộ phận cơ thể như:
- Thúc đẩy sự phát triển của hệ xương, cơ, khớp
- Thúc đẩy việc tuần hoàn máu
- Thúc đẩy sự phát triển của hệ hô hấp
- Thúc đẩy nhanh qúa trình cân bằng của hệ thần kinh
- Thúc đẩy các hệ thống tiêu hoá nội tiết
Do tác dụng quan trọng đó của TDTT (trong đó có TCVĐ), mà TDTT cũng như trò chơi đã góp phần tăng cường thể chất cho người chơi
Mặt khác trò chơi là một hoạt động tập thể, trò chơi có chủ đề tư tưởng và chủ đích giáo dục cụ thể nên trong qúa trình chơi trò chơi có thể giáo dục cho sinh viên những đức tính tốt đẹp như tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần dũng cảm cũng như những phẩm chất tốt đẹp khác
Trang 15Chính do tác dụng to lớn đó mà nhiều chuyên gia giáo dục đã đánh giá TCVĐ là một phần rất quan trọng và to lớn chẳng những để hoạt động thể chất
mà còn để giáo dục nhân cách cho sinh viên
Ở nước ta, từ những năm 1960 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu
về trò chơi cho trẻ được công bố Vào những năm đầu của thập niên 70, một vài khoá Trung học và Đai học TDTT TW I đã được học môn lý luận và phương pháp TCVĐ Từ thập niên 80 đến nay TCVĐ đã trở thành môn học chính thức của các trường TDTT
- Việc khai thác và áp dụng các loại trò chơi, nhất là TCVĐ và dân gian Việt Nam còn chưa đầy đủ và toàn diện đối với giảng dạy trò chơi và tinh thần cho sinh viên
Từ những nhận định trên, để góp phần thực hiện chiến lược giáo dục trò chơi cho sinh viên, trước hết là sinh viên các lớp sư phạm và mầm non, cần nghiên cứu và vận dụng đa dạng các trò chơi vào giờ học TDTT nhằm mục đích phát triển thể chất cho các em và là kiến thức cho các em khi ra trường có thể dận dụng vào thực tế
Vui chơi vừa là hoạt động đặc trưng, vừa là hoạt động mang ý nghĩa giáo dục Ở nước ta, trong những năm qua việc vui chơi đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội và các lĩnh vực khoa học khác nhau Ngành Giáo dục - Đào tạo đã chủ trì chương trình “lồng ghép” phát triển toàn diện v.v…Đó là những định hướng chương trình đúng và rất cần thiết
Từ thực trạng trên, nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các TCVĐ cho sinh viên trong giờ học GDTC là công việc hết sức cần thiết Mục đích của đề tài này
là khai thác hiệu quả nội dung tổ chức các TCVĐ, nhằm nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên, đa dạng hoá các loại hình hoạt động TDTT trong nhà trường, để thực hiện chương trình mục tiêu: “Cải tiến nâng cao chất lượng thể chất, sức khoẻ, phát triển bồi dưỡng tài năng thể thao cho sinh viên trong các trường Đại học”
Trang 161.5 Đặc điểm, phân loại và phương pháp giảng dạy TCVĐ
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý của nữ sinh viên :
Lứa tuổi 18 - 20 cơ thể các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, các bộ phận tiếp tục lớn lên, nhưng chậm dần Chức năng sinh lý đã tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các cơ quan, bộ phận của cơ thể được nâng cao hơn Cơ thể của các em phát triển theo chiều cao nhiều hơn, nhưng đến lứa tuổi này lại phát triển theo chiều ngang nhiều hơn, tuy chiều cao vẫn phát triển nhưng chậm dần
* Đặc điểm giải phẫu sinh lý:
- Hệ thần kinh: Các tổ chức thần kinh của lứa tuổi 18 - 20 đang tiếp tục phát triển để đi đến hoàn thiện Tuy nhiên tổng khối lượng của vỏ não không tăng mấy, chủ yếu cấu tạo bên trong phức tạp hơn, khả năng tư duy, nhất là khả năng phân tích, tổng hợp trừu tượng hoá phát triển rất thuận lợi cho hình thành phản xạ có điều kiện Ngoài ra ở các lứa tuổi này, do sự hoạt động của tuyến giáp trạng, tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế, giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng làm ảnh hưởng đến hoạt động GDTC, nhất là nữ sinh, khiến các em không khống chế được bản thân, tính nhịp điệu giảm sút, khả năng chịu đựng bị ảnh hưởng theo
- Hệ vận động: Xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển, sụn ở hai đầu xương vẫn dài, nhưng sụn chuyển dần thành xương ít, mỗi năm nữ cao thêm 0,5
- 1cm, nam cao thêm từ 1 - 3cm Nếu như không rèn luyện thân thể thì nữ sau 20 tuổi và nam sau 25 tuổi hầu như không cao hơn nữa, các xương nhỏ như xương
cổ tay, bàn tay đẫ kết thành xương, cột sống đã ổn định hình dáng, nhưng vẫn chưa được củng cố, vẫn dễ bị cong vẹo Riêng các em nữ xương xốp hơn nam Xương chậu của nữ to và yếu hơn nam, nếu chấn động mạnh dễ ảnh hưởng đến các cơ quan nằm trong khung chậu như dạ con, buồng trứng Vì thế không thể
để các em nữ tập luyện với cường độ khối lượng lớn như nam
- Cơ: Đặc điểm cơ bắp của lứa tuổi này là cơ co vẫn tương đối yếu, các bắp cơ lớn phát triển tương đối nhanh (như cơ đùi, cơ cánh tay) còn các cơ nhỏ như cơ bàn tay, cơ ngón tay, các cơ xoay ngoài, xoay trong phát triển chậm hơn
Trang 17Các cơ co phát triển sớm hơn các cơ duỗi, của nữ lại càng yếu hơn Đặc biệt vào khoảng 16 tuổi, các tổ chức mỡ dưới da của nữ phát triển mạnh do đó phần nào ảnh hưởng đến sức mạnh cơ thể Nói chung, sức mạnh của nữ yếu hơn sức mạnh của nam
- Hệ tuần hoàn: Đang phát triển và hoàn thiện, tim của nam mỗi phút đập
70 - 80 lần, của nữ 75 - 85 lần, cung cấp số lượng máu tương đương với tuổi trưởng thành
- Hệ tuần hoàn: Tần số thở giống như người lớn, khoảng 10 - 20 lần một phút Tuy nhiên, các cơ vẫn còn yếu, sức co giãn của lồng ngực ít Cần chú ý rèn luyện để cho các cơ ngực, cơ lườn, cơ mình phát triển, nên tập thở, hít sâu
* Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực:
- Khéo léo: ở tuổi sinh viên, khả năng phối hợp các động tác được nâng lên rõ rệt, thể hiện ở những bài tập đòi hỏi phải có sự phối hợp động tác cao, các bài tập được tập trong những bài tập phức tạp, các môn bóng…
Khả năng định hướng trong không gian ở tuổi 18 - 20 sẽ đạt ở mức người lớn, khả năng điều khiển lực của động tác đến 18 - 20 tuổi đạt mức hoàn chỉnh
- Sức nhanh: giai đoạn 18 - 20 tuổi sẽ rất khó nâng cao thêm, ở lứa tuổi này cần tăng cường tập luyện sức nhanh để bổ sung và duy trì sự phát triển đó Ngoài ra lứa tuổi này sức mạnh tăng lên nhanh chóng cũng góp phần thúc đẩy sức nhanh phát triển hơn Tốc độ của động tác đơn lẻ cũng biến đổi rõ rệt trong quá trình phát triển, đến tuổi 20 - 30 lại tăng lên, nếu được tập luyện, tốc độ của động tác đơn lẻ phát triển tốt hơn
So với các em trai khả năng thành tích đạt được trong các bài tập về tốc
độ của các en gái thấp hơn Tập chạy 80m và 100m, chạy tiếp sức 4100m… là những bài tập điển hình để phát triển tốc độ cho các em sinh viên lớn tuổi
- Sức mạnh: Sức mạnh cơ bắp phát triển với nhịp độ nhanh trong giai đoạn đến 18 - 20 tuổi Các năm sau đó, sức mạnh phát triển chậm lại
- Sức bền: Sức bền ưa khí phát triển ở tuổi 18 - 20 Các em có tập luyện sức bền phát triển khác hẳn so với các em không tập luyện Ở lứa tuổi 18 - 20 sự khác biệt ấy đạt tới mức 50%
Trang 18Ở các em sinh viên lớn tuổi, sự phát triển có tính quy luật của các chỉ số nói lên mức độ phát triển sức bền
Các em gái thể hiện tố chất này kém hơn so với các em sinh viên nam Những biện pháp tập chạy đều, tập chạy biến tốc và tập chạy lặp lại, kết hợp với nghỉ và chạy việt dã, tập các bài tập thể dục đòi hỏi sức bền, mạnh đều có tác dụng giáo dục sức bền
- Mềm dẻo: Tuổi sinh viên 18 - 20, mềm dẻo trong các khớp giảm đi, tốt nhất nên thường xuyên tập các bài tâp chuyên môn có hiệu quả hơn để phát triển mềm dẻo, là những bài tập có biên độ lớn, có thể kết thúc bằng hai ba lần chạy
nhẹ nhàng…
* Đặc điểm tâm lý:
Trí tuệ của sinh viên mang tính chất nhạy bén và phát triển đến trình độ tương đối cao Tư duy của thanh niên tỏ ra chặt chẽ và nhất quán, phân biệt được bản chất và hiện tượng, tư duy trở nên sâu sắc hơn nhờ khả năng khái quát hoá, trừu tượng hoá được phát triển cao Thanh niên lại tỏ ra có đầu óc nhạy bén với cái mới, có khi còn biết đặt những giả thiết táo bạo, họ rất nhạy cảm với chính trị và Triết học Tuy nhiên, tâm lý thích suy luận, thích triết lý lại dẫn thanh niên tới hay kết luận vội vàng, thiếu khái quát cơ sở thực tế nên dẫn đến tình trạng xa rời giữa lý thuyết và thực hành
Ngôn ngữ của sinh viên phát triển gắn chặt với sự phát triển của tư duy Trí nhớ của các em sinh viên cũng có những chất lượng mới thiên về nhớ có ý nghĩa, thường không ghi nhớ một cách máy móc Khi học bài, thanh niên thường chú ý đến chủ đề, vạch ra dàn bài, rút ra những ý chính gạnh dưới, xây dựng sơ đồ tóm tắt…Đồng thời, thanh niên cũng có nhược điểm như nhớ chung chung, ít cụ thể, thiếu chính xác Tưởng tượng của thanh niên phát triển mạnh, mang tính sáng tạo, khoáng đạt nhưng kại gắn liền với hiện thực Đó là cơ sở cho những sáng tạo của thanh niên
- Sự hình thành thế giới quan: Đến tuổi thanh niên, thế giới quan về cơ bản được phát triển hoàn chỉnh, đã hình thành hệ thống các quan điểm xã hội, về
tự nhiên, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử Phần lớn thanh niên của chúng ta
Trang 19bắt đầu hình thành thế giới quan duy vật biện chứng và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa Ngược lại, còn một số thanh niên có thế giới quan sai lầm, phản khoa học, thậm chí rất lạc hậu và đầy mâu thuẫn
- Xu hướng về tương lai: Là nét nổi bật của thanh niên Họ đang có khát vọng tiến lên phía trước, phấn đấu cho một ngày mai sáng lạn hơn Do đó, họ có những ước mơ táo bạo và muốn làm những việc có ý nghĩa xã hội lớn lao Đây
là thời kỳ mà thanh niên rất khát khao lý tưởng và muốn xây dựng cho mình một
lý tưởng tốt đẹp Họ biết gắn hình ảnh lý tưởng với con đường đấu tranh để thực hiện lý tưởng, gắn với sự tu dưỡng bản thân và do đó tự ý thức phát triển mạnh
Xu hướng về tương lai gắn liền với nghề nghiệp, cần phải gắn chặt công tác hướng nhgiệp cho thanh niên với việc giáo dục lý tưởng của họ
- Đời sống tình cảm: Thanh niên có một đời sống tình cảm phong phú và sâu sắc hơn tất cả các lứa tuổi trước Tình cảm thanh niên rộng lớn hơn, có cơ sở
lý trí vững chắc Sinh viên rất nhảy cảm về đạo đức, họ phát hiện rất nhanh sự dối trá, bất công cũng như sự công bằng, trung thực Vấn đề nổi bật trong đời sống của thanh niên là tình bạn, tình yêu, tình đồng chí Sinh viên có nhu cầu bạn bè rất tha thiết, họ khao khát có bạn thân để tâm tình, chia xẻ, trao đổi về quan niệm sống, về hạnh phúc, tương lai Họ rất mong muốn những người thân của mình có những phẩm chất cao quý và muốn tìm thấy ở đó mặt mà mình chưa có, nên ở thanh niên cũng thường hiện những “tình bạn tương phản”, trái ngược nhau về tính cách Tuy nhiên, ở lứa tuổi này vẫn có tình bạn vị kỷ xuất hiện, cần phải theo dõi, ngăn ngừa những kiểu tình bạn như vậy Trong quan hệ với bạn khác giới, bên cạnh tình bạn, tình yêu cũng đã xuất hiện Tình yêu nam
nữ có một tính chất đặc biệt, đó là những mối quan hệ mang tính chất thuần khiết, lý tưởng và chưa rõ ràng, chưa dứt khoát ranh giới giữa tình bạn và tình yêu Các nhà tâm lý học gọi tình cảm này là tình yêu đương bạn bè Tuổi thanh niên là tuổi yêu đương nhưng tình yêu của thanh niên cũng rất phức tạp, chứa đựng bao niềm vui cũng như nỗi buồn, lo âu Tình yêu cũng là nguồn động viên thanh niên trong học tập và công tác nhưng tình yêu cũng chiếm nhiều thời gian của họ, có khi mang nhiều ảnh hưởng tiêu cực Trong tình cảm của thanh niên
Trang 20cũng có những nét đặc sắc như tình yêu đối với cái mới, cái đẹp Sinh viên rất nhạy bén với cái mới nên tình yêu cái mới, cái đẹp khơi dậy ở Sinh viên niềm khát vọng sáng tạo khoa học, lao động và trong đấu tranh
Họ đã trở thành những người tiên tiến, dám nghĩ dám làm những việc táo bạo Khi hướng về cái mới, Sinh viên dễ có một thái độ lựa chọn, biết gạt bỏ những yếu tố tiêu cực trong cái cũ Tình yêu cái đẹp thể hiện sự phát triển tình cảm của thẩm mỹ, Sinh viên rất nhạy cảm và háo hức cái mới, cái dẹp Họ khát khao được đưa cái đẹp vào cuộc sống Cần làm cho Sinh viên thấy được cái đẹp hoàn thiện chỉ xuất hiện khi ở nó có sự kết hợp hài hoà giữa cái đẹp bên trong và cái đẹp bên ngoài
- Tính độc lập: Sự hình thành tính độc lập là đặc trưng biểu hiện của Sinh viên, biểu hiện ở sự tìm hiểu đào sâu giải quyết mọi việc theo ý riêng của mình, tính độc lập của Sinh viên còn biểu hiện năng lực tự kìm chế Họ luôn kiểm tra mình một cách chặt chẽ và tự đặt mình ngang hàng với người lớn Trong mọi việc họ thường tỏ ra chủ động sáng tạo
- Tính kiên quyết và quả cảm: Cũng là nét tiêu biểu của tính cách Sinh viên Nó gắn liền với tính cách độc lập Nhờ đó, Sinh viên có thái độ rứt khoát trong hoạt động, tăng cường sự nỗ lực ý chí để vượt qua mọi khó khăn trở ngại trong bước đường đi lên của mình, khó khăn trở ngại thường hấp dẫn họ, thôi thúc họ lập chiến công
Khi đánh giá hai phẩm chất kiên quyết và quả cảm của Sinh viên cần nêu
rõ những nhược điểm trong đó như sự vội vàng hấp tấp, không phải bao giờ Sinh viên cũng suy tính trong mội hoàn cảnh, lường hết khó khăn trở ngại có thể nảy sinh và nhiều khi họ cũng không đánh giá đúng sức lực của mình thậm chí
có khi còn nôn nóng và liều mạng
- Tính thẳng thắn: Sinh viên nghĩ thế nào nói thế đó, họ thẳng thắn nói suy nghĩ của mình về người khác Họ không nể nang, lấp lửng, không cư xử xảo quyệt hai mặt Họ muốn cho lời nói và việc làm hoàn toàn phù hợp với nhau
Tuổi Sinh viên có một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời người Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất về thể chất và tinh thần, được coi là mùa xuân
Trang 21của cuộc đời Họ chuẩn bị khẩn trương bước vào đời với nhiều khát vọng về tương lai và hứa hẹn một sự cống hiến lớn cho tổ quốc Gia đình, nhà trường và
xã hội cần có sự quan tâm đặc biệt với lứa tuổi này, giáo dục, bồi dưỡng họ trở thành người có đạo đức, có tài kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, của
nhân dân
1.5.2 Đặc điểm và phân loại trò chơi
Theo nhiều tác giả thì trò chơi là một nội dung, phương tiện, phương pháp giáo dục rèn luyện sinh viên nhanh nhất và có hiệu quả nhất
Hầu hết những TCVĐ được sử dụng trong GDTC ở trường học đã mang tính mục đích rõ ràng Trong quá trình chơi, sinh viên tiếp xúc với nhau, cá nhân phải hoàn thành nhiệm vụ của mình trước tập thể ở mức độ cao, tập thể có trách nhiệm động viên, giúp đỡ cá nhân hoàn thành nhiệm vụ của mình Vì vậy tình bạn, lòng nhân ái, tinh thần tập thể v.v…được hình thành, cũng trong quá trình chơi, đã xây dựng cho sinh viên tác phong khẩn trương, nhanh nhẹn, tính kỷ luật, sự sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao…góp phần giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho sinh viên Do vậy, có thể nói trò chơi mang tính giáo dục tư tưởng rất cao
Trong quá trình tham gia trò chơi, các em biểu lộ tình cảm rất rõ ràng, như niềm vui khi thắng lợi và buồn khi thất bại, vui mừng khi thấy đồng đội hoàn thành nhiệm vụ, bản thân thấy có lỗi khi không làm tốt phần việc của mình v.v…Vì tập thể mà các em phải khắc phục khó khăn, phấn đấu hết khả năng để mang lại thắng lợi cho đội của mình Đây chính là đặc tính thi đua rất cao của TCVĐ
Mỗi trò chơi thường có quy tắc, luật lệ nhất định, nhưng cách thức để đạt được mục đích lại rất đa dạng Trong khi đó, bản thân trò chơi lại mang tính thi đua và sự tự giác rất cao Vì vậy, khi đã tham gia trò chơi sinh viên thường vận dụng hết khả năng về sức lực, sự tập trung ý chí, trí thông minh và sự sáng tạo của mình Những điều trên là rất tốt, nhưng cũng có một khía cạnh mà các nhà
sư phạm của quan tâm, đó là tránh để các em ham chơi quá, chơi đến mức độ quá sức dẫn đến mệt mỏi Trong trường hợp như vậy, chơi không những không
Trang 22có lợi về mặt sức khoẻ mà ngược lại còn có hại cho sức khoẻ Đây là một đặc điểm quan trọng theo khía cạnh không có lợi, mà giáo viên phải rất chú ý khi tổ chức cho sinh viên chơi ở trường và hướng dẫn cho các em chơi ở gia đình sao cho hợp lý Ngày nay, trò chơi rất phong phú, đa dạng và được sử dụng vào mục đích khác nhau, đặc biệt trong giáo dục nói chung, trong đó có GDTC sinh viên
Do sự đa dạng và phong phú của trò chơi nên việc phân loại rất phức tạp
và khó khăn, người ta chia toàn bộ trò chơi ra làm ba nhóm chính: Trò chơi sáng tạo, TCVĐ và trò chơi thể thao (các môn bóng) Dưới đây chỉ đi sâu vào nhóm thứ hai: TCVĐ Riêng ở nhóm trò chơi này cũng rất phong phú, đa dạng, do đó
có nhiều cách phân loại khác nhau dựa trên những quan điểm khác nhau Sau đây là một số cách phân loại:
- Cách phân loại căn cứ vào những động tác cơ bản trong qúa trình chơi một trò chơi: Trò chơi về chạy, nhảy, ném, leo trèo, mang vác…và những trò chơi phối hợp hai hay nhiều những hoạt động trên Mục đích của cách phân loại này là để cho người dạy dễ chon lọc và sử dụng trong việc rèn luyện những kỹ năng vận động cơ bản cho sinh viên
- Cách phân loại dựa vào sự phát triển của các tố chất thể lực trong quá trình chơi: như trò chơi rèn luyện sức mạnh, trò chơi rèn luyện sức bền, trò chơi rèn luyện sức nhanh Tuy nhiên, cách phân loại này chỉ mang tính chất tương đối, bởi một trò chơi không chỉ rèn luyện một tố chất cơ bản, mà có khi hai, ba
tố chất Do đó cách phân loại này thường dùng cho các huấn luyện viên trong huấn luyện TDTT
- Cách phân loại căn cứ vào khối lượng vận động như một trò chơi có khối lượng vận động không đáng kể được xếp vào trò chơi giải trí, trò chơi tĩnh
Ví dụ một số trò chơi: Bịt mắt bắt dê, Bỏ khăn…Một số trò chơi có khối lượng vận động trung bình được xếp vào loại trò chơi động Ví như chơi chạy tiếp sức: Tiếp sức chuyển khăn, Chạy đổi chỗ, Chạy thoi…Tuy nhiên, cách phân loại này cũng chỉ có ý nghĩa tương đối bởi cường độ, khối lượng vận động của một trò chơi có thể tăng, giảm do cách tổ chức tài năng của người điều khiển trò chơi
Trang 23- Cách phân loại trò chơi thành hai nhóm chính và một nhóm phụ: Trò chơi chia đội, không chia đội và một nhóm chuyển tiếp ở giữa
Trò chơi không chia đội lại có thể chia ra: loại có người điều khiển và loại không có người điều khiển Trong đó, lại có thể chia ra hai loại: Loại tất cả mọi người tham dự cuộc chơi đều phải tham gia vào trò chơi một lúc và loại số người tham gia chơi lần lượt, thứ tự Đặc điểm của trò chơi không chia đội là người chơi không cùng mục đích, mà mỗi người chơi độc lập, cá nhân chịu trách nhiệm về công việc của mình Ví dụ: Ném trúng đích, Đá cầu, Nhảy dây Bịt mắt thổi còi…
Trò chơi chia thành đội được tiến hành chơi với điều kiện số người chơi
của các đội phải ngang nhau, thậm chí tỷ lệ các em nữ cùng tham gia trong đội
1.5.3 Phương pháp giảng dạy trò chơi cho nữ sinh viên trong giờ học Bóng chuyền tự chọn:
Trên cơ sở đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên, để tổ chức, hướng dẫn trò chơi cho các em hiệu quả và an toàn, người giáo viên cần chú ý thực hiện tốt các nội dung sau:
- Để giảng dạy cho sinh viên một trò chơi, công việc đầu tiên của người giáo viên là chọn trò chơi (trừ những trò chơi đã được quy định trong chương trình và sách hưỡng dẫn giảng dạy) Muốn chọn trò chơi đúng với yêu cầu, cần xác định được mục đích, yêu cầu của trò chơi định chọn Ví dụ, trong một buổi hoạt động ngoại khoá ở ngoài trời, giáo viên có một hoạt động sôi nổi, hấp dẫn
có thể lôi cuốn được tất cả sinh viên vào hoạt động thi đua giữa tổ này với tổ khác hay lớp này với lớp khác Như vậy là giáo viên đã xác định được mục đích, yêu cầu để chọn trò chơi Trong trường hợp này, giáo viên có thể chọn trò chơi
“Chạy tiếp sức”, “Tiếp sức chuyển vật” hoặc “Lò cò tiếp sức”…
Khi chọn trò chơi, giáo viên còn cần phải chú ý đến trình độ và sức khoẻ của sinh viên Ngoài ra, giáo viên còn phải chú ý đặc điểm, giới tính, địa điểm định tổ chức cho sinh viên rộng hay hẹp, có đảm bảo an toàn không, phương tiện
tổ chức cho sinh viên có đầy đủ để tổ chức được trò chơi đó hay không…
Trang 24- Về phương tiện cần phải chia ra những phương tiện giáo viên cần chuẩn
bị và phương tiện nào sinh viên cần chuẩn bị Ví dụ “Nhảy dây cá nhân”, thì sinh viên phải tự chuẩn bị dây, muốn vậy giáo viên cần phải nhắc các em trong giờ học trước để các em chuẩn bị, thậm chí ngày hôm sau có giờ Thể dục, thì hôm trước đó giáo viên lại nhắc lại một lần nữa để các em nhớ Đối với giáo viên, thì phương tiện để tổ chức cho sinh viên cần chuẩn bị trước khi đến giờ tổ chức cho các em chơi như: làm vật mốc, mua bóng v.v…; và loại thứ hai kẻ vẽ sân chơi để chơi, thì có thể tiến hành chuẩn bị trước nếu kẻ vẽ bằng vôi nước, sơn v.v…còn nếu vẽ bằng phấn thì đợi đến giờ học mới kẻ vẽ
- Về địa điểm, sau khi chọn địa điểm, giáo viên cho sinh viên thu nhặt các vật gây nguy hiểm và có thể phải quét dọn nơi chơi cho đảm bảo môi trường sư phạm
- Sau khi đã chọn được trò chơi, giáo viên cần biên soạn thành giáo án giảng dạy từng bước cho các em từ chỗ chưa biết đến biết, từ chỗ chỉ biết tham gia trò chơi một cách thành thạo, thụ động đến biết tham gia trò chơi một cách hoàn toàn chủ động và có thể sáng tạo Ví dụ, khi chọn trò chơi “Mèo đuổi chuột” thì các bước tiến hành cho sinh viên biết cách chơi là: Chuột chạy đường nào Mèo chạy đường đó, tiếp theo dạy cho sinh viên biết cách đọc câu đồng dao trước và sau khi chơi Sau đó, nâng mức độ cao hơn nữa có thể đổi một phần cách chơi như trong quy định: Mèo không phải cứ đuổi theo đúng đường mà Chuột đã chạy, mà Mèo có thể chạy đón đầu…
- Tổ chức đội hình cho sinh viên chơi, được quy định trong một số nhiệm
vụ sau: Tập hợp sinh viên theo các đội hình khác nhau và ổn định tổ chức, phân chia đội (nếu trò chơi phải chia đội), chọn vị trí đứng của giáo viên để giải thích
và điều khiển chơi, chọn đội trưởng cho từng đội hoặc những người tham gia đóng vai trò trong cuộc chơi ví dụ như: “mèo”, “chuột” v.v…Tuỳ theo tính chất cảu trò chơi, giáo viên có thể tổ chức trò chơi theo nhiều đội hình khác nhau: Đội hình hàng dọc hay hàng ngang, đội hình một hay hai vòng tròn v.v…ở mỗi đội hình như vậy, thì vị trí đứng của giáo viên cũng khác nhau Tuy nhiên, có một nguyên tắc phải chú ý làm sao cho sinh viên phải nghe rõ được lời giáo viên
Trang 25nói, nhìn rõ được giáo viên làm mẫu và giáo viên phải quan sát được toàn bộ sinh viên và tiến trình cộc chơi, nhưng không gây cản trở cuộc chơi của các em
- Giới thiệu và giải thích trò chơi có thể tiến hành theo nhiều cách khác nhau, phụ thuộc vào tình hình thực tiễn và sự hiẻu biết của đối tượng: Nếu các
em chưa biết trò chơi đó, thì cần giới thiệu, giải thích, làm mẫu tỷ mỉ, nhưng nếu các em đã biết hoặc đã nắm vững trò chơi rồi thì cách giới thiệu và giải thích trò chơi nên tiến hành theo mấy bước sau: Gọi tên trò chơi, luật lệ và cách chơi, yêu cầu về tổ chức lỷ luật, cách đánh giá thắng bại (phân thắng thua) và những điều cần chú ý khác Chú ý, khi giải thích trò chơi giáo viên nói gắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu nhưng phải làm sao cho tất cả sinh viên đều nghe và nắm được cách chơi
- Đối với những trò chơi các em đã hiểu luật lệ chơi, giáo viên không cần giải thích trò chơi nữa, mà thêm một số yêu cầu Có thể đưa ra một số yêu cầu cao, chặt chẽ hơn lần chơi trước, đòi hỏi sinh viên phải cố gắng mới hoàn thành được Có như vậy, các em mới hào hứng, hăng hái phát huy hết khả năng sức lực, trí tuệ và óc sáng tạo của mình
Giới thiệu và giải thích trò chơi hấp dẫn, lôi cuốn được sự chú ý và khích
lệ được sinh viên tham gia chơi một cách thực sự, là một nghệ thuật của người điều khiển Vì vậy, mỗi giáo viên cần tích luỹ những kinh nghiệm và không nên coi thường khâu giới thiệu và giải thích trò chơi
- Khi các em chính thức bước vào chơi là lúc người điều khiển phải đóng vai trò như một trọng tài trong một trận thi đấu Một tình huống như vi phạm luật, thống kê điểm thắng và thua của từng đội để rồi phân loại thắng thua, giải thích các vấn đề kiện cáo v.v…đều do người điều khiển giải thích Vì vậy, người điều khiển phải nắm vững tiến trình và theo dõi trò chơi thật chặt chẽ
Theo kinh nghiệm của nhiều nhà sư phạm, lúc cho sinh viên chơi trò chơi mới, thì thường cho các em chơi thử một đến hai, ba lần…Sau mỗi lần giáo viên cần nhận xét và bổ sung thêm về luật để các em nắm vững luật, sau đó mới tiến hành cho các em chơi chính thức có thi đua
Thông thường người điều khiển phải làm một số việc sau:
Trang 26+ Cho sinh viên làm một số động tác khởi động (có thể cho sinh viên khởi động trước khi tổ chức đội hình chơi)
+ Cho các em bắt đầu chơi
+ Theo dõi và nắm vững các hoạt động của từng cá nhân hoặc tập thể những sinh viên tham gia chơi
+ Điều chỉnh khối lượng vận động của trò chơi
+ Đề phòng chấn thương (bảo hiểm) ở những chỗ cần thiết
+ Khi điều khiển trò chơi, giáo viên có thể điều chính khối lượng vận động cho các em bằng nhiều cách như sau:
1 Dùng tiếng vỗ tay, tiếng trống, tiếng reo hò để tăng nhịp điệu trò chơi Rút ngắn hoặc tăng thời gian của trò chơi
2 Thay đổi phạm vi hoạt động của trò chơi (rút ngắn hoặc tưng cự ly, giảm hoặc tăng trọng vật…)
3 Thay đổi số lượng trò chơi
4 Thay đổi yêu cầu, mục đích hoặc luật lệ chơi
5 Nghỉ giải lao (nếu cần giảm khối lượng vận động)
Khi điều khiển trò chơi, giáo viên cần phải chú ý bảo hiểm cho các em và tìm các biện pháp phòng ngừa chấn thương có thể xảy ra Cần nhắc nhở và giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, vì đây là một trong những biện pháp phòng ngừa chấn thương có hiệu quả nhất
- Sau mỗi lần hoặc một số lần cho sinh viên chơi, giáo viên cần nhận xét, đánh giá kết quả cuộc chơi Để đánh giá đúng thực chất của trò chơi, giáo viên phải thống kê được nững ưu điểm, khuyết điểm của từng đội, cụ thể: Về thời gian đội nào hoàn thành trước, nhiều hay ít người vi phạm luật lệ, đội hình đội ngũ có trật tự kỷ luật không v.v…Dựa vào yêu cầu, nội quy chơi, kết quả cuộc chơi mà giáo viên đánh giá cuộc chơi thật công bằng, rõ ràng Giáo viên phải hết sức lưu ý vấn đề này, vì đôi khi có giáo viên nêu yêu cầu và luật lệ chơi rất khắt khe, nhưng khi đánh giá kết quả cuộc chơi lại đại khái, không chính xác hoặc không công bằng Vì vậy, đã làm cho sinh viên mất hứng khởi, đôi khi các em biểu lộ sự phản đối với sự đánh giá đó và không chấp nhận kết luận của người