Bóng rổ là một môn thể thao tập thể, thi đấu đối kháng trực tiếp cùng sân, khi thi đấu bóng rổ đòi h i vận động viên phải có các tố chất sức mạnh, nhanh, bền, dẻo, khả n ng phối hợp vận
Trang 1HỌC BÓNG RỔ TỰ CHỌN
ThS ĐÀO CHÁNH THỨC
AN GIANG, THÁNG 05 NĂM 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
BỘ MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Tên đề tài:
“ỨNG DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP NÂNG CAO
SỨC MẠNH CHUNG CHO NAM SINH VIÊN HỆ KHÔNG CHUYÊN GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG TRONG GIỜ
HỌC BÓNG RỔ TỰ CHỌN”
Tác giả: ThS ĐÀO CHÁNH THỨC
AN GIANG, THÁNG 05 NĂM 2019
Trang 3Đề tài: “Ứng dụng một số bài tập nâng cao sức mạnh chung cho nam sinh viên
hệ không chuyên Giáo dục thể chất trường Đại học An Giang trong giờ học bóng rổ tự
chọn”, do ThS Đào Chánh Thức, công tác tại Bộ môn Giáo dục thể chất thực hiện
Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Bộ môn thông qua ngày 20/05/2019, và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học
An Giang thông qua
Trang 4TÓM TẮT
Nghiên cứu này là kết quả của ứng dụng hệ thống bài tập nâng cao sức mạnh chung cho nam sinh viên trường Đại học An Giang trong giờ học Bóng rổ tự chọn Bằng các phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu, phương pháp thực nghiệm, phương pháp kiểm tra, phương pháp phỏng vấn các chuyên gia và nhà khoa học trong lĩnh vực này để lựa chọn
và phương pháp thống kê toán
Kết quả nghiên cứu, đề tài đã lựa chọn được 12 bài tập phát triển sức mạnh và 6 test đánh giá sức mạnh chung cho nam sinh viên trong giờ học bóng rổ tự chọn Qua quá trình ứng dụng 12 bài tập đã lựa chọn thực nghiệm cho thấy hệ thống bài tập có hiệu quả cao trong việc phát triển sức mạnh qua 6 test đánh giá của nam sinh viên không chuyên ngành Giáo dục thể chất trường đại học An Giang trong giờ học bóng rổ tự chọn Với việc phát triển sức mạnh chung vượt trội của nhóm thực nghiệm so với nhóm đối chứng, kết quả kiểm tra 6/6 test có ý nghĩa thống
kê với P <0.001 của nhóm thực nghiệm Điều này khẳng định rằng hiệu quả của hệ thống bài tập được lựa chọn có khoa học, mang lại hiệu quả cao cho nhóm thực nghiệm
Từ khóa: Bài tập sức mạnh, bóng rổ, sinh viên không chuyên Giáo
dục thể chất, giờ bóng rổ tự chọn
Trang 5ABSTRACT
This study is the result of a selected exercise system that enhances the strength of male student's at An Giang University hour the optional Basketball lessons By methods of analyzing and synthesizing materials, empirical methods, testing methods, methods of interviewing experts and scientists in this field for selection and mathematical statistical methods The results of the study have selected 12 strength development exercises and 6 general strength assessment tests for male students hour the optional basketball lessons Through the process of applying 12 selected exercises, it shows that the system of exercises is highly effective
in developing strength through 6 evaluation tests of non-specialized male student's in Physical Education of An Giang University hour the basketball lesson With the development of superior general strength of experimental group compared to control group, 6/6 test results were statistically significant with P <0.001 of experimental group This confirms that the effectiveness of the selected exercise system is scientific, highly effective for the experimental group
Keywords: Strength exercises, basketball, non-professional students
of physical education, basketball time hour
Trang 6LỜI CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy (Cô) đang công tác tại Bộ môn giáo dục thể chất, Ban giám hiệu, Hội đồng Khoa học trường, đóng góp ý kiến để chúng tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
An Giang, ngày 29 tháng 05 năm 2019
Người thực hiện
ThS Đào Chánh Thức
Trang 7LỜI CAM KẾT
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
An Giang, ngày 29 tháng 05 năm 2019
Tác giả
ThS Đào Chánh Thức
Trang 8MỤC LỤC
DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 ĐẶC ĐIỂM THI ĐẤU MÔN BÓNG RỔ 3
1.1.1 Đặc điểm chung về môn bóng rổ 3
1.1.2 Đặc điểm bóng rổ hiện đại: 4
1.2 L THUYẾT CHUNG VỀ HUẤN LUY N SỨC M NH: 5
1.2.1 Lịch sử nghiên cứu về huấn luyện sức mạnh: 5
1.2.2 Lý thuyết chung: 6
1.2.3 Tầm quan trọng của các hình thức HLSM trong thể thao: 9
1.2.4 Chu kỳ hoá huấn luyện sức mạnh: 11
1.3 CÁC CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA HUẤN LUY N SỨC M NH 14
1.3.1 Tập luyện sức mạnh và sự thích nghi cơ thể 14
1.3.2 Một số nguyên tắc chủ yếu trong tập luyện sức mạnh 14
1.3.3 Phương pháp huấn luyện sức mạnh với trọng lượng tạ tối đa 16
1.3.4 Một số đặc điểm xây dựng chương trình HLSM 16
1.3.5 Chọn lựa các phương pháp huấn luyện cho từng giai đoạn 17
1.4 CÁC VẤN ĐỀ KHÁC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 19
1.4.1 Cấu tạo bộ máy thần kinh cơ 19
1.4.2 Vận chuyển xung động thần kinh cơ 21
1.4.3 Đơn vị vận động 22
1.4.4 Quá trình hưng phấn và ức chế của cơ 27
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 31
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: 31
2.1.2 Phương pháp điều tra xã hội học: 31
2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm: 31
2.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: 31
2.1.5 Phương pháp toán học thống kê: 31
2.2 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU: 33
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: 33
2.2.2 Khách thể nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu: 33
2.2.3 Kế hoạch nghiên cứu: 33
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 34
3.1 LỰA CHỌN ỨNG DỤNG M T S BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC M NH CHUNG CHO NAM SINH VIÊN TRƯ NG ĐHAG TRONG GI HỌC BÓNG RỔ TỰ CHỌN: 34
Trang 93.1.2 Xây dựng kế hoạch tập luyện sức mạnh chung 38
3.1.3 Bàn luận nhiệm vụ 1: 40
3.2 ĐÁNH GIÁ HI U QUẢ THỰC NGHI M 42
3.2.1 Xác định hệ thống test đánh giá sức mạnh chung cho nam sinh viên trường ĐHAG trong giờ học Bóng rổ tự chọn 42
3.2.2 Đánh giá sự phát triển sức mạnh của nam sinh viên trường ĐHAG trong giờ học Bóng rổ tự chọn 44
3.2.3 Bàn luận nhiệm vụ 2 49
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51
A KẾT LUẬN: 51
B KIẾN NGHỊ 52
TÀI LI U THAM KHẢO 53
Trang 10DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 : Kết quả ph ng vấn lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh chung cho nam sinh viên trường ĐHAG trong giờ học Bóng rổ tự chọn 36 Bảng 3.2: Kết quả kiểm định Wilconxon giữa 2 lần ph ng vấn bài tập 37 Bảng 3.3 : Kết quả ph ng vấn lựa chọn test đánh giá sức mạnh chung cho nam sinh viên trường ĐHAG trong giờ học Bóng rổ tự chọn 43 Bảng 3.4: Kết quả kiểm định Wilconxon giữa 2 lần ph ng vấn lựa chọn test _ 44 Bảng 3.5 : Các ch tiêu sức mạnh của nhóm TN và ĐC trước TN 45 Bảng 3.6 : Nhịp t ng trưởng các ch tiêu sau thực nghiệm của nhóm ĐC 45 Bảng 3.7 : So sánh các ch tiêu sức mạnh nhóm TN sau TN _ 46 Bảng 3.8: So sánh sự t ng trưởng của nhóm ĐC và TN sau TN 48
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các tố chất vận động 8
Hình 1.2: Cấu tạo sợi cơ 20
Hình 1.3: Nơron vận động 20
Hình 1.4: Sự co của sợi nguyên cơ 29
Hình 1.5: Co cơ đẳng trường 30
Hình 1.6: Co cơ hướng tâm 30
Hình 1.7: Co cơ ly tâm 30
Biểu đồ 3.1: So sánh sự t ng trưởng các ch tiêu SM của nhóm ĐC và TN sau TN 48
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
Bóng rổ ra đời n m 1891 do Dr James Naismith – giáo viên giáo dục thể chất ở học viên Springfield thuộc bang Massachusetts – Mỹ Bóng rổ là một môn thể thao tập thể, thi đấu đối kháng trực tiếp cùng sân, khi thi đấu bóng rổ đòi h i vận động viên phải có các tố chất sức mạnh, nhanh, bền, dẻo, khả n ng phối hợp vận đông…Trong đó sức mạnh được xem là tố chất thể lực nền tảng (Bompa,1996)
Xu thế bóng rổ hiện đại đòi h i vận động viên phải mạnh hơn, nhanh hơn, biến hóa và chuẩn xác hơn…, trận đấu trở nên quyết liệt, điểm số ngày càng cao hơn, thu hút được hàng triệu người tập luyện và thi đấu trên toàn thế giới Vì vậy
mà n m 1936 lần đầu tiên bóng rổ được đưa vào thi đấu ở đại hội thể thao Olympic quốc tế và luôn được thi đấu chính thức ở các kỳ đại hội thể thao Châu Á (Asiad), Đông Nam Á (SEA Games)…
Bompa (1999) cho rằng khi huấn luyện sức mạnh cần thiết phải theo chu kỳ -
đề cập đến sự áp dụng các chương trình tập luyện khác nhau ở các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ dài hạn, nhằm đạt được kết quả khả quan nhất trong việc phát triển các tố chất SM khác nhau (SM tối đa, SM tốc độ, SM bền …) tùy theo mục đích phát triển của từng giai đoạn Mục đích của huấn luyện sức mạnh theo chu kỳ
là tối ưu hoá quá trình huấn luyện trong từng giai đoạn ngắn (tuần, tháng…) cũng như trong suốt 1 chu kỳ dài (n m, nhiều n m…) Đặc biệt với VĐV trình độ cao, huấn luyện theo chu kỳ còn có mục đích đạt được trình độ chuẩn bị thể lực tốt nhất vào thời điểm thi đấu nhằm đạt được thành tích cao nhất
Cho đến nay ở nước ta đã có một số nhà khoa học đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực bóng rổ như tác giả Đặng Hà Việt “Nghiên cứu ứng dụng một số tiêu chuẩn tuyển chọn vận động viên bóng rổ nam (13 - 17 tuổi) ở thành phố Hồ Chí Minh”,
n m 1999, tác giả Nguyễn Ngọc Hải “Nghiên cứu phát triển tố chất sức mạnh của vận động viên đội tuyển bóng rổ nữ thành phố Hồ Chí Minh”, n m 2004, Nguyễn
Lê Phạm Huỳnh “Nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập phát triển sức mạnh cho đội tuyển bóng rổ nữ quốc gia” n m 2005; tác giả Lê Vũ Kiều Hoa “Bước đầu đánh giá thực trạng sức mạnh chuyên môn của đội tuyển bóng rổ nữ quốc gia” n m 2007, quyển sách chu kỳ huấn luyện sức mạnh Bompa do Lâm Quang Thành, Bùi Trọng Toại biên dịch…Tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu xây dựng một cách có hệ thống các bài tập để phát triển các tố chất sức mạnh
Đối với sinh viên Đại học An Giang, đặc biệt là môn học Bóng rổ tự chọn trong giờ học chính khóa, thì sinh viên ít có điều kiện tập luyện và thi đấu thường
Trang 13xuyên Điều này dẫn đến việc không được duy trì tập luyện thường xuyên để tích lũy kỹ thuật cũng như thể lực.…, để phát triển các tố chất thể lực đặc biệt là tố chất sức mạnh cho nam sinh viên Trường Đại học An Giang trong giờ học Bóng rổ tự chọn
Qua kinh nghiệm thực tế giảng dạy, dựa trên những phân tích đánh giá chung của các chuyên gia bóng rổ, huấn luyện viên, giáo viên, các nhà nghiên cứu chúng
tôi nhận thấy việc thực hiện đề tài “Ứng dụng một số bài tập nâng cao sức mạnh
chung cho nam sinh viên hệ không chuyên Giáo dục thể chất trường Đại học An Giang trong giờ học bóng rổ tự chọn” là vấn đề cấp thiết
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Mục tiêu nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng một số bài tập phát triển sức mạnh chung cho nam sinh viên trường ĐHAG trong giờ học bóng rổ tự chọn
Mục tiêu 1: Lựa chọn ứng dụng một số bài tập phát triển sức mạnh chung cho nam sinh viên Trường ĐHAG trong giờ học Bóng rổ tự chọn
Mục tiêu 2: Đánh giá hiệu quả một số bài tập đã lựa chọn
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 ĐẶC ĐIỂM THI ĐẤU MÔN BÓNG RỔ
1.1.1 Đặc điểm chung về môn bóng rổ
Bóng rổ là môn thể thao tập thể mang tính chất đối kháng trực tiếp và cùng sân Trận đấu được tổ chức thi đấu trên sân có kích thước 28m x 15m giữa hai đội, mỗi đội gồm 5 người thi đấu trực tiếp trên sân, được thay đổi ra vào sân không hạn chế về số lần
Trận thi đấu bóng rổ kéo dài trong 4 hiệp, mỗi hiệp 10 phút Thời gian ngh giữa hiệp 1 và hiệp 2, ngh giữa hiệp 3 và hiệp 4 và giữa các hiệp phụ là 2 phút Thời gian ngh giữa hiệp 2 và hiệp 3 là 15 phút Mỗi lượt tấn công ch có 24 giây để kết thúc rổ (hay ném rổ) vì thế trận đấu diễn ra nhanh hơn, số lần tấn công nhiều hơn đồng nghĩa với tỷ số sẽ ngày càng cao hơn, trung bình từ 80 – 85 điểm/trận đấu
Tần số thay đổi các kết quả trung gian lớn (trung bình 24 giây thay đổi tỷ số
Hiệu quả của các hoạt động thi đấu gắn liền với các ch số phản xạ của các
cơ quan cảm thụ vận động “Cảm giác về thời gian” là ch số cảm giác vận động tổng hợp nhất và có thể xem như thành phần của khả n ng chuyên môn của VĐV bóng rổ Hoạt động tổng hợp của các cơ quan phân tích là cơ sở của sự phát triển
“cảm giác về thời gian”, vì cảm nhận thời gian gắn liền với cảm nhận về không gian
VĐV môn bóng rổ cần có n ng lực nhạy cảm tinh tế và phán đoán chuẩn xác Các cơ quan cảm giác có vai trò lớn, các cơ quan phân tích thị giác và các cơ quan cảm giác bản thể cũng đóng vai trò quan trọng
Tác giả Trung Quốc – Mã Thụ Lực đã tiến hành đo ngưỡng cảm giác khớp
cổ tay của VĐV bóng rổ có trình độ huấn luyện khác nhau đã phát hiện ngưỡng cảm giác có liên quan đến trình độ huấn luyện của VĐV bóng rổ
Về n ng lực cảm giác và hệ thần kinh: Thi đấu bóng rổ yêu cầu VĐV phải phán đoán chính xác với tình huống thi đấu trên sân thay đổi bất ngờ và nhanh
Trang 15chóng tìm các biện pháp thay đổi nhịp độ hoặc phương hướng động tác VĐV luôn phải tập trung sự chú ý cao, thần kinh rất c ng thẳng, n ng lực điều tiết của hệ thần kinh đối với chức n ng vận động phải được huấn luyện tốt Đồng thời các quá trình của hệ thần kinh v não phải nâng cao tính linh hoạt và ổn định Kết quả nghiên cứu phản xạ vận động đơn giản cho thấy sau khi tiến hành huấn luyện VĐV bóng rổ thì thời kỳ tiềm phục về phản xạ ánh sáng và âm thanh giảm xuống đáng kể
Nghiên cứu điện - cơ đồ thấy rằng: so sánh điện cơ hoạt động của VĐV có tập bóng rổ và người không tập, khi cho các đội viên trong đội thực hiện động tác giả, VĐV bóng rổ điện – cơ không thay đổi, còn người không tập luyện có sự biến đổi điện - cơ rõ rệt Điều đó nói lên VĐV bóng rổ có n ng lực phân hóa chính xác hơn
Hoạt động của VĐV bóng rổ trong thi đấu không đơn thuần là tổng hợp các động tác tấn công và phòng thủ riêng biệt, mà là tập hợp những hành động được hợp nhất vào một hệ thống linh hoạt duy nhất bởi mục đích chung
1.1.2 Đặc điểm bóng rổ hiện đại:
Để có thể đạt thành tích cao trong thi đấu, bóng rổ hiện đại đòi h i rất nhiều đặc điểm, bao gồm:
- Chiều cao và ưu thế khống chế trên không: Trong thi đấu bóng rổ hiện đại, chiều cao và cân nặng là 2 ch tiêu quan trọng có tương quan đến thành tích Khi thi đấu, các đội thường sử dụng trung phong cao to tạo áp lực mạnh khu vực cận rổ để tranh bóng và kết thúc rổ hiệu quả, đồng thời thu hút hàng thủ để tạo không gian thuận lợi cho VĐV bên ngoài kết thúc rổ Các VĐV có sức bật tốt sẽ mở rộng thêm
ưu thế khống chế về không gian và tranh cướp bóng, cũng như phòng thủ
- Tốc độ: Tốc độ là một trong những nhân tố cấu thành thành tích thể thao, phát huy được tốc độ chính là giành được quyền chủ động trong thi đấu
- T ng độ chuẩn xác: Có được các ưu thế chiều cao và cân nặng như trên là điều kiện cần, ngoài ra phải chuẩn xác trong động tác và khi kết thúc mới có thể giành thắng lợi, đó là mục đích của trận đấu Tính chuẩn xác này thể hiện qua hiệu quả chuyền bóng và hiệu quả ném rổ chuẩn xác
- Nắm vững và tinh thông kỹ - chiến thuật
+ Chiến thuật tấn công (tấn công nhanh, tấn công chiến thuật …)
+ Chiến thuật phòng thủ (khu vực, kèm người, ½ sân, toàn sân … )
Kỹ thuật là cơ sở của chiến thuật, nhưng chiến thuật phải nhằm vận dụng và phát huy có hiệu quả các động tác kỹ thuật VĐV cấp cao cần có kỹ thuật toàn diện,
Trang 16điêu luyện và chuẩn xác để có thể thích ứng và đạt hiệu quả cao trong mọi tình huống thi đấu, hình thức chiến thuật
Thi đấu bóng rổ là hoạt động không liên tục (cách quãng) với mật độ hoạt động cường độ cao rất lớn Theo Brittenham (1996), trong một hiệp tỷ lệ giữa hoạt động và ngh ngơi của VĐV thi đấu là 1:1 hay ít hơn, nếu xem xét trong toàn trận đấu, tỷ lệ này khác biệt hơn nữa (1:1 đến 1:3)
LVĐ yêu cầu trong thi đấu bóng rổ: Khối lượng vận động trong thi đấu bóng
rổ đ nh cao rất lớn, các VĐV phải di chuyển tổng cộng 5000 – 7000m, phải thực hiện 130 – 140 lần bật nhảy, 120 – 150 lần chạy biến tốc và dừng nhanh Riêng hoạt động di chuyển phòng thủ trong thi đấu đã lên khoảng 1340 – 2430 m (Blake, 1941)
Trong thi đấu bóng rổ hiện đại, tiến trình tấn công và phòng thủ được thay đổi liên tục Các VĐV khi thì lấy bóng bật bảng, khi ném rổ, chuyền bóng, dẫn bóng, đột phá, kèm người… Riêng về hoạt động di chuyển, nghiên cứu của Mclnnes (1995) đã đầu tiên phân thành 8 loại (Chạy: t ng tốc, giảm tốc, chuyển hướng và dừng nhanh; trượt phòng thủ: tiến về trước, lùi và sang ngang; bật nhảy)
và thống kê tỷ lệ thời gian thực hiện các hoạt động đó trong thi đấu bóng rổ đ nh cao Di động bước trượt phòng thủ được quan sát chiếm 34,6%; chạy chiếm 31,2%
và bật nhảy chiếm 4.6%; ngược lại hoạt động đứng và đi bộ chiếm 29.6% thời gian thi đấu Tần số thay đổi về các hoạt động trong thi đấu bóng rổ là 997 ±183 (khoảng 2s thì có 1 thay đổi) Điều này cho thấy các hoạt động trong thi đấu bóng rổ rất đa dạng và liên tục thay đổi, ngay trong 1 khoảng thời gian ngắn đã có nhiều chuyển đổi qua lại giữa các dạng hoạt động, chạy tốc độ – trượt phòng thủ nhanh – bật nhảy Do đó yêu cầu về tính linh hoạt trong thi đấu bóng rổ rất cao, chúng ta cần khảo sát và nghiên cứu một cách cẩn thận để không ngừng nâng cao n ng lực này cho VĐV bóng rổ
1.2 THU ẾT CHUNG VỀ HUẤN U N SỨC M NH:
1.2.1 Lịch sử nghiên cứu về huấn luyện sức mạnh:
Nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử tập luyện phát triển sức mạnh
(SM) cơ đã xác định việc huấn luyện sức mạnh có từ rất lâu và đã được con
người sử dụng để phục vụ trong nhiều lĩnh vực khác nhau Từ thời cổ đại,
nó được người Trung Hoa, Hy Lạp và La Mã sử dụng để luyện quân nhằm chuẩn bị cho các cuộc chiến tranh; ở thế vận hội Olympic lần đầu tiên vào
Trang 17n m 776 trước công nguyên, các VĐV đã biết kết hợp các bài tập phát triển
SM cơ với các bài tập chuyên môn khác trong chương trình tập luyện n m
để chuẩn bị tham gia thi đấu
Tài liệu hiện đại đầu tiên về huấn luyện sức mạnh là của Sir Thomas Elyot Trong luận thuyết của mình, ông đã trình bày chi tiết những nghiên cứu về chương trình huấn luyện cũng như tầm quan trọng của việc tập luyện
để nâng cao n ng lực thể chất, hoàn thiện cơ thể cho con người Vào đầu
thập niên 1840, cử tạ trở thành môn thể thao trong các cuộc thi đấu “Người
đàn ông khỏe mạnh” ở Mỹ Vào thập niên 1860, Archibald Maclaren đã
biên soạn hệ thống huấn luyện phát triển thể chất đầu tiên với tạ tay và tạ đòn cho quân đội Anh Quốc Vào giữa thập niên 1880, đo lường sức mạnh
cơ là một phương pháp đánh giá n ng lực thể chất của các học sinh trung học và cao đẳng ở Mỹ
Vào giữa thập niên 1900, các chuyên gia giáo dục thể chất, VĐV thể dục thể hình, VĐV cử tạ, VĐV điền kinh và một số VĐV vật đã bắt đầu luyện tập với tạ Trong khi đó, đa số các VĐV ở các môn thể thao khác rất hạn chế tập với trọng lượng phụ vì họ sợ giảm độ mềm dẻo và linh hoạt khớp Những nghiên cứu vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960
đã chứng minh rằng việc tập luyện với trọng lượng phụ không làm giảm
độ mềm dẻo khớp mà còn t ng tốc độ và công suất cơ bắp (Frank S.P,
1997) Cũng vào thời gian này nhờ có sự phát triển vượt bậc của ngành giải
phẫu, sinh lý học mà con người đã vén được bức màn bí mật về cấu trúc cơ, động học và chuyển hóa n ng lượng, khả n ng thích ứng của cơ bắp Những điều này tạo cơ sở cho công tác nghiên cứu và xây dựng các bài tập cũng như xây dựng chương trình huấn luyện phát triển sức mạnh cơ ngày càng tiến bộ hơn
1.2.2 Lý thuyết chung:
Theo Bompa: Huấn luyện sức mạnh là một trong những yếu tố quan
trọng của quá trình huấn luyện thể thao Cùng với sức nhanh và sức bền,
SM là một trong ba tố chất vận động cơ bản Mục đích chính của tập luyện
SM trong thể thao là đáp ứng được những yêu cầu SM đặc thù của từng môn thể thao nhất định nhằm nâng thành tích vận động lên trình độ cao nhất, huy động toàn bộ tiềm năng vận động của VĐV
Trang 18Các tác giả Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn (2000), Harre (1996),
… đã thống nhất quan điểm và cho rằng: sức mạnh là khả năng con người
sinh ra lực cơ học bằng nỗ lực cơ bắp Nói cách khác, sức mạnh của con
người là khả n ng khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đề kháng lại nó bằng sự nỗ lực của cơ bắp
Tập luyện sức mạnh SM theo hệ thống sẽ dẫn đến những thay đổi sinh
lý và cấu trúc trong cơ thể – hay còn gọi là sự thích nghi Mức độ thích nghi được thấy rõ qua kích thước và chất lượng cơ, đồng thời có tỷ lệ trực tiếp với lượng vận động qua các ch tiêu như: số lượng, tần số, cường độ
Trình độ chuẩn bị thể lực và thành tích thể thao luôn đi đôi với nhau
Theo Anderst W.J.F Eksten, D.M Koceja (1994) “Effects of plyometric and explosive resistance training on lower body power”: Mỗi môn thể thao
đều có đặc thù khác nhau, do đó việc phát triển các tố chất thể lực nhằm đáp ứng yêu cầu của môn thể thao cũng như cấu trúc của thi đấu là rất quan trọng để thành công trong đào tạo, huấn luyện thể thao
Hầu hết các hoạt động thể chất đều kết hợp chặt chẽ một hoặc nhiều yếu tố lực, sức bền, sức mạnh, tốc độ và sức bền là các n ng lực di truyền,
nó mang vai trò quan trọng cho cơ hội đạt thành tích cao của VĐV Nó còn
được gọi là “động cơ trội” (dominant motor) , hoặc là “năng lực sinh cơ
học” (biomotor) 1 Khi một động tác, kỹ n ng hoặc một môn thể thao đòi
h i một sự kết hợp từ 1 đến 3 n ng lực sinh cơ học để thực hiện nó, ta có thể nói đó là n ng lực nổi trội Chẳng hạn các môn như bóng rổ, bóng đá, n ng
lực nổi trội sẽ là công suất (power) theo Kraemer
Trang 19Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các tố chất vận động
Trong hoạt động thể thao, sức mạnh luôn luôn có quan hệ với các tố chất thể lực khác nhƣ sức nhanh và sức bền Do đó, các n ng lực SM đƣợc thể hiện qua 3 hình thức chính: (1) n ng lực sức mạnh tối đa, (2) n ng lực
sức mạnh – nhanh và (3) n ng lực sức mạnh – bền
* Năng lực sức mạnh tối đa: là SM cao nhất mà VĐV có thể
thực hiện khi co cơ tối đa Các VĐV cần giá trị tuyệt đối cao nhất về n ng lực sức mạnh cho các môn thể thao phải khắc phục lực cản bên ngoài lớn nhƣ cử tạ, vật, bóng rổ… nghĩa của n ng lực SM tối đa với thành tích thể thao càng nh nếu lực cản cần khắc phục càng nh và lƣợng vận động
(LVĐ) trong thi đấu càng kéo dài Do đó, VĐV chạy cự ly ngắn trong điền
kinh cần SM tối đa nhiều hơn VĐV chạy Maratông
* Năng lực sức mạnh – nhanh: là khả n ng khắc phục các lực cản với
tốc độ co cơ cao của VĐV SM - nhanh xác định thành tích trong các môn
Sức mạnh
– bền
Sức bền tốc độ
Sức bền
ƣa khí
Tốc độ tối đa
Khả năng phối hợp tối ƣu
Biên độ tối
đa của động tác
Sức mạnh
tối đa
Sức mạnh Sức bền Tốc độ Khả năng phối hợp Mềm dẻo
Trang 20vận động không chu kỳ, như trong nhảy cao và nhảy xa SM - nhanh cũng
có ý nghĩa đối với việc đạt được tốc độ cao khi đá, ném bóng và dậm nhảy trong các môn bóng, khả n ng t ng tốc của các VĐV chạy cự ly ngắn, đua
xe đạp cũng như đối với sự xuất phát nhanh và giai đoạn t ng tốc trong thi đấu các môn đua thuyền
* Năng lực sức mạnh – bền: là khả n ng chống lại mệt m i của VĐV
khi hoạt động sức mạnh kéo dài SM bền được đặc trưng bởi một n ng lực sức mạnh tương đối cao kết hợp với khả n ng sức bền quan trọng Trước hết,
SM bền xác định thành tích trong các môn sức bền cần phải khắc phục các lực cản lớn trong một thời gian dài, thí dụ như trong đua thuyền trong thể dục, vật, trong phần lớn các môn bóng và bơi lội…
1.2.3 Tầm quan trọng của các hình thức HLSM trong thể thao:
(Bompa 2002, Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, 2000),
+ Sức mạnh chung:
Sức mạnh chung là nền tảng của toàn bộ chương trình huấn luyện sức
mạnh, tập trung huấn luyện trong giai đoạn huấn luyện ban đầu (thích nghi
giải phẫu)
+ Sức mạnh chuyên môn
Là sức mạnh của một số nhóm cơ (chủ yếu là các cơ chính) tham gia
hoạt động của môn thể thao Loại sức mạnh này mang tính đặc thù cho từng môn thể thao, đối với VĐV trình độ cao sức mạnh chuyên môn phải đạt mức cao nhất vào cuối giai đoạn chuẩn bị
+ Sức mạnh tối đa
- Là lực lớn nhất có thể sản sinh ra bởi hệ thống thần kinh cơ trong 1 lần co cơ tối đa, nó thể hiện bằng trọng lượng tối đa mà VĐV có thể nâng được 1 lần Được biểu thị bằng 100% của tối đa hay 1 lần lặp lại tối đa
(1RM), biết được sức mạnh tối đa của VĐV trong các bài tập là nền tảng để
tính toán trọng lượng cho từng giai đoạn huấn luyện sức mạnh
+ Sức mạnh tốc độ:
- Là sự kết hợp của hai n ng lực là SM và tốc độ, khả n ng phát lực tối đa trong thời gian ngắn nhất
+ Sức mạnh dự trữ:
- Là sự chênh lệch giữa sức mạnh tuyệt đối và ch số SM cần thiết để thực hiện một kỹ thuật trong điều kiện thi đấu
Trang 21- Dùng các kỹ thuật đo đạc SM để đánh giá SM max của VĐV, VĐV nào có SM dự trữ cao hơn sẽ có khả n ng đạt thành tích cao hơn
+ Sức mạnh tăng tốc:
- Là khả n ng đạt được sự t ng tốc cao Tốc độ chạy hay sự t ng tốc phụ thuộc vào SM và sức nhanh của sự co cơ để tay, chân đạt đến tần số bước chạy lớn nhất, thời gian chân tiếp xúc mặt đất ngắn nhất, lực đạp đất mạnh nhất đẩy người về trước Khả n ng t ng tốc của VĐV phụ thuộc vào
cả lực chân và lực tay Phát triển sức mạnh t ng tốc là cần thiết đối nhiều môn thể thao, trong đó có bóng đá
+ Sức mạnh tốc độ xuất phát:
- Rất quan trọng đối với các môn đòi h i tốc độ cao để vượt qua 1 khoảng cách nhất định trong thời gian ngắn nhất, VĐV phải có khả n ng sản sinh lực tối đa vào thời điểm bắt đầu co cơ nhằm tạo ra tốc độ xuất phát cao Xuất phát nhanh như xuất phát thấp trong chạy cự ly ngắn; hay từ tư thế phòng thủ trong quần vợt chuyển sang tư thế chạy,… tất cả đều phụ thuộc vào thời gian phản xạ và sức mạnh tốc độ mà VĐV có thể phát ra vào thời điểm xuất phát
+ Sức mạnh tuyệt đối và sức mạnh tương đối:
- Trương lực được sản sinh khi một cơ bắp nào đó co cơ với mức độ lớn nhất, đó chính là SM tuyệt đối của cơ bắp đó SM tuyệt đối của cơ bắp
có quan hệ chặt chẽ với diện tích mặt cắt ngang của cơ bắp Diện tích mặt cắt ngang của cơ bắp càng lớn thì SM tuyệt đối của cơ đó càng lớn SM tuyệt đối ch phản ánh mức độ lớn nh của SM cơ bắp mà không thể phản ánh mức độ lớn nh của SM mỗi sợi cơ trong cơ bắp
SM tương đối của cơ là sức mạnh có được của mỗi một đơn vị diện tích mặt cắt ngang cơ bắp
Trong tình huống nói chung, trọng lượng tối đa mà một người có thể nâng lên được thì được gọi là SM tuyệt đối của người đó Mức độ lớn nh của sức mạnh tuyệt đối có quan hệ tới trọng lượng cơ thể, trong tình huống nói chung thì trọng lượng cơ thể càng lớn SM tuyệt đối cũng sẽ càng lớn Nếu đem SM tuyệt đối của một người nào đó chia cho trọng lượng cơ thể của họ sẽ có thể tìm được SM tương đối của họ SM tương đối chính là SM
Trang 22cơ bắp của mỗi kg trọng lượng cơ thể Vì vậy, SM tương đối có thể đánh giá tốt hơn tố chất SM của vận động viên
Theo Bompa sự kết hợp sức mạnh, sức nhanh và sức bền theo đặc thù môn thể thao như sau:
+ Các hình thức sức mạnh bền:
- Sức mạnh bền trong thời gian ngắn (40 giây – 2 phút)
- Sức mạnh bền trong thời gian trung bình (2- 5 phút)
- Soul mạnh bền trong thời gian dài (trên 6 – 10 phút)
+ Các hình thức sức mạnh tốc độ:
- Sức mạnh tốc độ trong động tác rơi xuống (tiếp đất)
- Sức mạnh bật lên (công suất phát lực)
- Sức mạnh tốc độ ném đẩy – Lực phát ra trong động tác ném
- Sức mạnh bật nhảy
- Sức mạnh tốc độ xuất phát, rất quan trọng trong các môn đòi h i tốc
độ cao để vượt qua một khoảng cách nhất định trong thời gian ngắn nhất
- Sức mạnh t ng tốc – Khả n ng đạt được sự t ng tốc cao
- Sức mạnh giảm tốc, rất quan trọng trong các môn bóng đá, bóng rổ, hốc cây,…
1.2.4 Chu kỳ hoá huấn luyện sức mạnh:
Hệ thống chu kỳ được thiết lập nhằm phòng tránh chấn thương, huấn luyện quá sức và liên tục nâng cao thành tích VĐV Chu kỳ huấn luyện được phát minh bởi nhà khoa học thể thao Leo P Matveyev từ lý thuyết về các biểu hiện thích nghi chung của nhà sinh học và nội tiết học người Canadian Hans Selye
Chu kỳ huấn luyện bao gồm chu kỳ lớn kéo dài từ vài tháng lên tới 4
n m (cho VĐV Olympic), trong chu kỳ lớn có 2 hay nhiều chu kỳ trung bình
kéo dài từ vài tuần tới nhiều tháng và chu kỳ trung bình được chia ra 2 hay nhiều chu kỳ nh kéo dài 1 tuần lên tới 4 tuần
Theo Matveyev, chu kỳ huấn luyện được chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn thi đấu và giai đoạn chuyển tiếp Sau đó là Stone
Trang 23và O’Bryant đã thêm 1 pha riêng biệt vào giữa giai đoạn chuẩn bị và giai đoạn thi đấu gọi là giai đoạn chuyển tiếp 1 hay giai đoạn chuẩn bị thi đấu Theo tài liệu biên dịch của TS Lâm Quang Thành và TS Bùi Trọng Toại, chu kỳ hoá SM, với đặc thù của nó trong giai đoạn tập luyện, là phương pháp tốt nhất để không ch hoàn thiện SM mà còn hoàn thiện cả công suất
và sức bền cơ bắp tuỳ theo yêu cầu của từng môn thể thao Việc chu kỳ hoá
tập luyện SM theo tính chu kỳ của SM được phân chia thành 5 giai đoạn như
sau:
Giai đoạn 1: Thích nghi về giải phẫu
1 Chuẩn bị cho các cơ, dây chằng, gân và khớp chịu được giai đoạn tập luyện c ng thẳng và kéo dài Nó liên quan đến hầu hết các nhóm cơ
2 Khi chuẩn bị cho VĐV, đặc biệt là các VĐV trẻ, chương trình tập luyện SM phải luôn bắt đầu phát triển các phần trọng tâm của cơ thể sau đó mới tập chân tay Nói cách khác, trước khi phát triển SM chân và tay, phải tập trung phát triển các điểm nối giữa chúng – cột sống và thân người
Giai đoạn 2: Nở cơ
1 Phát triển khối lượng cơ bắp, khối lượng cơ bắp càng lớn, SM càng lớn , vì lực phụ thuộc vào tiết diện và chất lượng của cơ
2 Tập các nhóm cơ hoạt động chính theo đặc thù của môn thể thao chứ không phải là tất cả các nhóm cơ
Giai đoạn 3: Sức mạnh tối đa
1 Sức mạnh tối đa (SM max) đóng một vai trò quan trọng trong việc
tạo ra SM đặc thù của môn thể thao Khả n ng sản sinh SM max phụ thuộc nhiều vào đường kính hay kích thước ngang của sợi cơ có liên quan, đặc biệt là đường kính của các sợi myosin, bao gồm cả cầu nối của chúng; khả
n ng huy động các sợi cơ nhanh; và khả n ng đồng bộ hoá tất cả các nhóm
cơ vào một hoạt động
2 Kích thước sợi cơ phụ thuộc chủ yếu vào độ dài của giai đoạn tập
nở cơ, trong khi đường kính sợi myosin và sự t ng trưởng về hàm lượng protein trong các cầu nối lại phụ thuộc vào khối lượng và độ dài của giai đoạn tập SM max Khả n ng huy động các sợi cơ nhanh phụ thuộc và nội dung tập luyện, trong đó trọng lượng tối đa và công suất bộc phát nên chiếm
ưu thế
Trang 24 Giai đoạn 4: giai đoạn chuyển đổi – chuyển sang SMTĐ (công
suất phát lực)
1 Tập luyện SMTĐ với đặc điểm nhanh và bộc phát là tập luyện cho
hệ thần kinh Sự t ng tiến về thành tích thi đấu có thể dựa trên những thay đổi về thần kinh, giúp cho bản thân các cơ đạt được khả n ng thực hiện một
công suất lớn hơn (Sale, 1986) Điều này được thực hiện bằng cách rút ngắn
thời gian huy động các đơn vị vận động, đặc biệt là các sợi cơ nhanh, và
t ng cường khả n ng chịu đựng của các dây thần kinh vận động đối với tần
số kích thích ngày càng t ng (Hakkinen, 1986; Hakkinen & Komi, 1983)
2 Sự thích nghi thần kinh cơ: huy động các đơn vị vận động và kích hoạt các đơn vị vận động tốt hơn; các cơ có thể thả l ng một số lượng sợi cơ lớn hơn trong thời gian ngắn; tạo ra sự phối hợp bên trong sợi cơ cũng như
giữa các nhóm cơ sẽ tốt hơn (nhiều đơn vị thần kinh cơ hoạt động đồng bộ
để thực hiện một chuyển động) Khi sự phối hợp của nhiều cơ được cải thiện
sẽ phát triển khả n ng co một số cơ đồng thời thả l ng các cơ khác, hay thả
l ng các cơ đối kháng, điều này sẽ dẫn đến tốc độ co của các cơ hoạt động chính sẽ nhanh hơn
3 Chương trình tập luyện SMTĐ đặc thù cho môn thể thao phải mang tính đặc thù cho môn chuyên sâu và sử dụng những bài tập càng giống với kỹ thuật chính của môn đó càng tốt Khi các nhóm cơ tập SMTĐ càng
mang tính đặc thù, sự phối hợp bên trong cơ (các đơn vị thần kinh vận động
cơ) càng hiệu quả, và kỹ thuật trở nên chính xác, uyển chuyển và nhanh
hơn Toàn bộ chương trình ch nên có 1 mục đích di chuyển đường cong lực – thời gian về bên trái càng nhiều càng tốt, có nghĩa là cơ co với lực bộc phát cao hơn
4 Trong giai đoạn chuyển đổi SM max sang SMTĐ, ch chọn lựa các phương pháp đáp ứng được yêu cầu phát triển SMTĐ Những yêu cầu này là phát triển sức nhanh và khả n ng phát lực bộc phát, làm cơ phản ứng nhanh với các hoạt động vận động
Giai đoạn 5: giai đoạn chuyển đổi sang sức bền cơ – SM bền
1 Lượng vận động gần giống với lực cản mà VĐV phải khắc phục trong thi đấu, với đặc điểm trương lực cơ tương đối thấp và số lần lặp lại lớn giống với các hoạt động trong thời gian dài của môn thể thao Giúp VĐV
Trang 25đối phó với sự mệt m i đặc thù của môn và huy động các kích thích đồng bộ
cả SM và sức bền đặc thù của môn
2 Chương trình phát triển SM bền nhấn mạnh vào số lần lặp lại lớn
và phù hợp, dẫn đến kết quả là sự thích nghi mong muốn đối với các yêu cầu về sinh lý của môn thể thao
1.3 CÁC CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA HUẤN LUY N SỨC M NH
1.3.1 Tập luyện sức mạnh và sự thích nghi cơ thể
Tập luyên sức mạnh một cách hệ thống sẽ dẫn đến những thay đổi về sinh lý
và cấu trúc cơ, hay là sự thích nghi trong cơ thể Mức độ thích nghi được thấy rõ qua kích thước và chất lượng cơ, đồng thời có t lệ trực tiếp với lượng vận động qua các thông số như: khối lượng, tần số và cường độ sự phát triển thông qua tập luyện ch tiếp tục khi cơ thể buộc phải thích nghi với áp lực của lượng vận động
Nói cách khác nếu cơ thể buộc phải thực hiện một lượng vận động lớn hơn lượng vận động đã quen thuộc, thì cơ thể phải thích nghi với áp lực mới bằng cách trở nên mạnh hơn Khi lượng vận động không còn kích thích ngưỡng thích nghi của
cơ thể, thì hiệu quả tập luyện bằng không – hay thấp nhất –và không có sự thích nghi xảy ra
1.3.2 Một số nguyên tắc chủ yếu trong tập luyện sức mạnh
1.3.2.1 Nguyên tắc tăng dần lượng vận động
Thành tích phát triển là kết quả trực tiếp của quá trình tập luyện có chất lượng Từ giai đoạn ban đầu đến giai đoạn đạt thành tích cao nhất, lượng vận động phải t ng dần tùy theo khả n ng sinh lý và tâm lý của từng vận động viên Về sinh
lý, t ng dần lượng vận động sẽ phát triển hiệu quả các chức n ng của cơ thể, t ng
n ng lực vận động của chúng Bất kỳ sự t ng tiến mạnh mẽ nào về thành tích đều đòi h i sự tập luyện và thích nghi trong thời gian dài.Cơ thể luôn phản ứng về mặt tâm lý và sinh lý đối với lượng vận động Tương tự là các phản ứng về thần kinh và chức n ng, sự phối hợp thần kinh cơ, n ng lực tâm lý…để đối phó với các tác động
t ng dần Toàn bộ quá trình đòi h i thời gian và sự hoàn thiện kỹ thuật thi đấu
Phương pháp bậc thang có hiệu quả hơn để dần t ng lượng vận động Khả
n ng chịu đựng lượng vận động lớn của vận động viên là kết quả của sự thích nghi với các tác động trong tập luyện sức Phương pháp bậc thang yêu cầu lượng vận động tập luyện phải t ng lên sau một chu kỳ ổn định để cơ thể thích nghi và chuẩn
bị cho một lượng vận động cao hơn.Tần số t ng tiến của lượng vận động được
Trang 26quyết định bởi các yêu cầu của từng cá thể, mức độ thích nghi và lịch thi đấu Nếu
t ng đột ngột có thể vượt quá khả n ng thích nghi của vận động viên, tác động đến
sự cân bằng về sinh lý.T lệ t ng thành tích của vận động viên sẽ quyết định mức độ
t ng của lượng vận động T lệ phát triển thành tích càng nhanh thì yêu cầu t ng lượng vận động càng lớn
Phương pháp bậc thang không có nghĩa t ng đều lượng vận động trong từng buổi tập thông qua phép cộng số học về số lượng trong lượng vận động Một buổi tập không đủ gây ra sự thay đổi trong cơ thể Để đạt được sự thích nghi thì phải lặp lai cùng một lượng vận động nhiều lần Thông thường các giáo án tập theo cùng một phương pháp được thực hiện trong suốt tuần, sau đó mới t ng lượng vận động Đây chính là phương pháp được vận dụng trong chương trình thực nghiệm của đề tài
1.3.2.2 Nguyên tắc chuyên môn hóa:
Để đạt được hiệu quả và sự thích nghi tốt hơn, chương trình tập luyện phải được xây dựng để phát triển sức mạnh đặc thù của môn thể thao Chương trình huấn luyện sức mạnh và các phương pháp tập luyện có chọn lọc nên chú ý đến hệ thống
n ng lượng chính và các cơ chính tham gia hoạt động của môn thể thao Các bài tập nên giống với các kỹ thuật chính và các hình thức chuyển động chủ yếu của môn thể thao Thông thường việc phát triển công suất sẽ chuyển sang phát triển kỹ n ng vận động
Chuyên môn hóa các bài tập trong huấn luyện sức mạnh.Đây là nguyên tắc được vận dụng để xây dựng chương trình thực nghiệm của đề tài
Việc mô ph ng các kỹ thuật vận động của từng môn thể thao vào các bài tập sức mạnh là rất khó, vì vậy huấn luyện viên phải cố gắng mô ph ng cấu trúc “động lực” của các kỹ thuật cũng như về phương hướng không gian, hay tư thế của cơ thể Huấn luyện viên nên lựa chọn các bài tập mà tư thế thân người và các góc độ khớp giống với tư thế thực hiện động tác
Góc độ của chân và tay, các khớp sẽ tác động đến các hình thức co cơ và các nhóm cơ thực hiện động tác Để tập luyện hiệu quả các nhóm cơ chính thì phải nắm vững lĩnh vực này Thí dụ: Bài tập nằm gập than là bài tập cơ bụng thong dụng, tuy nhiên khi thay đổi tư thế, thân mình thì sẽ có những tác động khác nhau lên cơ bụng; ở tư thế nằm ngửa xuống sàn gập thân sẽ tác động các cơ bụng trên Nằm tư thế chéo đầu thấp hơn chân sẽ tác động đến gần cơ bụng giữa, vì chuyển động được thực hiên với biên độ lớn nhất Nếu cố định thân, chân gập thì vai trò của bụng sẽ
Trang 27giảm xuống và hoạt động chủ yếu là cơ gập của hông Tư thế tối ưu để tập cơ bụng
là cố định hông, để than chuyển động bằng cách co nhóm cơ thẳng bụng ( tư thế nằm chéo, hay gác chân lên ghế, tường,…).Để đạt hiệu quả tối đa trong huấn luyện chuyên môn bài tập phải mô ph ng các góc độ, các khớp giống như khi thực hiện động tác kỹ thuật của môn thê thao
1.3.3 Phương pháp huấn luyện sức mạnh với trọng lượng tạ tối đa
Theo Bompa, trong chu kỳ hóa của sức mạnh, sự phát triển sức mạnh tối đa bằng phương pháp trọng lượng tối đa có thể là yếu tố quyết định trong việc phát triển sức mạnh đặc thù của môn thể thao Việc sử dụng phương pháp trọng lượng tối đa để phát triển sức mạnh tối đa có những ưu điểm sau:
T ng cường sự hoạt hóa đơn vị vận động, dẫn đến việc huy động cao các sợi
cơ nhanh
Đại diện yếu tố quyết định trong việc phát triển sức mạnh tốc độ.Vì vây, nó
có hiệu suất thần kinh cao cho các môn thể thao tốc độ và công suất chiếm ưu thế
Là yếu tố quan trọng trong việc phát triển sức mạnh bền, đặc biệt là sức mạnh bền trong thời gian ngắn và trung bình
Rất quan trọng trong các môn thể thao mà sức mạnh tuơng đối đóng vai trò quan trọng, như trong các môn thể thao võ thuật, quyền anh,vật, các môn nhảy, và hầu hết các môn bóng, vì phương pháp này có kết quả nở cơ tối thiểu
Nhằm cải thiện sự phối hợp hài hòa các nhóm cơ trong khi vận động Phương pháp trọng lượng tối đa còn là một quá trình làm quen,vì trong các hoạt động thể chất, các cơ liên quan với nhau theo một trật tự nhất định.Các nhóm cơ tham gia vào hoạt động cùng phối hợp hài hòa và đồng bộ với nhau thì chúng càng quen với việc huy động các sợi cơ nhanh và đạt thành tích cao
Phương pháp trọng lượng tối đa có ảnh hưởng tích cực đến các môn thể thao tốc độ - công suất thông qua sự phát triển đường kính sợi myosin của sợi cơ nhanh
và huy động được nhiều cơ nhanh hơn Phương pháp trọng lượng tối đa có thể đạt được sức mạnh tối đa gấp 3 lần so với nở cơ Cho dù sự phát triển kích thước là rõ rệt ở các vận động viên bắt đầu tập luyện với phương pháp trọng lượng tối đa, nhưng sự phát triển kích thước cơ này lại ít thấy hơn ở các vận động viên có quá trình tập luyện lâu hơn Việc đạt được sức mạnh tối đa là là kết quả của sự đồng bộ hóa và sự huy động các sợi cơ nhanh tốt hơn
1.3.4 Một số đặc điểm xây dựng chương trình HLSM
Trang 28Ngoài những yếu tố đã được tổng kết khá đầy đủ trong sách, tài liệu huấn luyện thể thao như: khối lượng vận động: cường độ; số lượng bài tập; thứ tự bài tập;
số lần lặp lại trong một tổ; số tổ; tốc độ động tác; quãng ngh ; hình thức ngh …cùng với các nguyên tắc, phương pháp huấn luyện sức mạnh, tính chu kỳ (sự phân chia giai đoạn tập luyện theo chu kỳ ).Theo Bompa: Để biên soạn một chượng trình huấn luyên sức mạnh có hiệu quả hơn, cần chú ý đến các yếu tố sau:
1.3.4.1 Chọn lựa sức mạnh cần thiết
Loại sức mạnh hay tố chất thể lực đặc thù của môn thể thao được chọn lựa
c n cứ trên quan điểm chu kỳ hóa và đặc thù của giai đoạn huấn luyện
Điều này giúp huấn luyện viên quyết định chương trình huấn luyện, mục đích của giai đoan huấn luyện, phương pháp, bài tập,…cho phù hợp
1.3.4.2 Chọn lựa các bài tập
Chọn lựa các bài tập phụ thuộc vào đặc điểm của môn thể thao, các yêu cầu của vận động viên và giai đoạn huấn luyện Các hoạt động chính trong mỗi kỹ n ng vận động đều có thể khác nhau trong các môn khác nhau, phụ thuộc vào các kỹ
n ng đặc thù riêng Do đó, trước tiên phải xác định các cơ hoạt động chính, sau đó lựa các bài tập sức mạnh phù hợp nhất cho các nhóm cơ đó Những điều này phụ thuộc vào nền tảng thể lực, tố chất cá nhân và các điểm hạn chế của người tập Vì điểm yếu nhất trong một chuỗi luôn bị phá vỡ trước tiên, nên chọn lựa các bài tập
bổ trợ để t ng cường các nhóm cơ yếu nhất
Để xây dựng một chương trình tập luyện sức mạnh tốt, việc chọn lựa các bài tập và phương pháp tập là rất cần thiết Qua trình quy định bài tập cho một hay nhiều nhóm cơ nhất định nào đó phải dựa trên mục đích của từng giai đoạn Trong giai đoạn thích nghi giải phẫu, phải chọn các bài tập phát triển toàn diện các nhóm
cơ, cả cơ chính và cơ đối kháng, nhằm xây dựng một nền tảng vững chắc cho giai đoạn tập luyện sau này Khi giai đoạn thi đấu gần đến, các bài tập phải mạng tính chuyên môn hóa cao, chủ yếu tập trung vào các cơ chính
Cần chú ý các bước sau để khi chọn bài tập:
1 Phân tích kỹ thuật động tác ( hướng, các góc độ, tư thế chân tay )
2 Xác định các nhóm cơ chính tham gia thực hiện kỹ thuật
3 Chọn lựa các bài tập có liên quan đến các cơ chính trên sự giống nhau về hướng và góc độ co cơ cho từng kỹ thuật
1.3.5 Chọn lựa các phương pháp huấn luyện cho từng giai đoạn
Trang 29Việc chọn lựa, kết hợp các phương pháp cho từng mục đích phát triển các tố chất sức mạnh khác nhau đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả của chương trình huấn luyện Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu so sánh hiệu quả của các phương pháp huấn luyện khác nhau đối với từng tố chất sức mạnh, nhưng việc xác định phương pháp tối ưu vẫn còn đang bàn cãi Tuy nhiên có thể tổng kết một số phương pháp huấn luyện hiệu quả cho từng tố chất sức mạnh khác nhau
Nguyễn Đ ng Khánh và Bùi Trọng Toại, (2010) đã tổng kết một số quan điểm sau:
Tập luyện sức manh với trọng lượng phụ có khả n ng phát triển không ch sức mạnh chung mà còn liên quan đến sự phát triển sức mạnh tốc độ, sức mạnh bền, công suất bền, phòng tránh chấn thương, rèn luyện ý chí, n ng lực tập trung … góp phần đáng kể vào việc phát triển thành tích thể thao
Tập luyện sức mạnh đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển n ng lực vận động, làm tiền đề để phát triển tiềm n ng cao nhất của vận động viên, cần được tiến hành thường xuyên theo một kế hoạch dài hạn và hệ thống ở tất cả vận động viên từ
n ng khiếu đến trình độ cao
Hiện nay vẫn còn có một số quan điểm thiếu c ng cứ khoa học cho rằng: Tập luyện sức mạnh sẽ làm chậm vận động viên, ảnh hưởng hưởng xấu đến phát triển sức bền và mềm dẻo Các nghiên cứu gần đây đã phản bác các lý luận đó ( Micheli, 1998; Nelson et al, 1990; Sale et al, 1990 ) Huấn luyện kết hợp sức mạnh và sức bền không ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển công suất ưa khí hay sức mạnh cơ bắp Tương tự các chương trình tập luyện sức mạnh không ảnh hưởng xấu tới n ng lực mềm dẻo
Đối với các môn tốc độ, sức mạnh tốc độ đại diện cho nền tảng của việc phát triển sức mạnh tốc độ Một vận động viên chạy nhanh thì cũng rất mạnh Khả n ng
t ng tốc nhanh, chuyển động chân tay nhanh và tần số cao là khả n ng có thể thực hiện khi cơ đủ mạnh để co nhanh và mạnh
Steven J Fleck và William Kraemer (1990) tổng kết: hầu hết các công trình nghiên cứu đều cho thấy: các chương trình tập luyện sức mạnh đều có thể phát triển
cả tốc độ và công suất co cơ Các kỹ n ng đặc thù của thể thao cũng có thể được được cải thiện rõ rệt thông qua tập luyện sức mạnh
Trang 30 Mục đích tập luyện sức mạnh là đáp ứng các yêu cầu thể lực đặc thù của từng môn thể thao ( phát triển sức mạnh chuyên môn) nhằm phát triển thành tích thể thao lên mức độ cao nhất
Để tập luyện có hiệu quả, chương trình huấn luyện sức mạnh phải theo quan điểm chu kỳ hóa sức mạnh, với các mục đích, phương pháp đặc trưng cho từng giai đoạn Khi xây dựng chương trình và lựa chọn các phương pháp cần chú ý đến hệ thống cung cấp n ng lượng chính và các cơ chính tham gia hoạt động trong môn thể thao
1.4 CÁC VẤN ĐỀ KHÁC IÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.4.1 Cấu tạo bộ máy thần kinh cơ
Bộ máy vận động hay còn gọi là bộ máy thần kinh cơ là thành phần quan trọng và trực tiếp quyết định khả n ng hoạt động thể lực nói chung và khả n ng hoạt động thể thao nói riêng của con người
Khi có xung động thần kinh từ nơron vận động đi đến cơ thì cơ sẽ co lại Khi đến cơ, các sợi trục đó phân nhánh nhiều lần tạo thành nhánh tận cùng Mỗi nhánh tận cùng kết hợp với một sợi cơ qua xinap thần kinh cơ Các sợi cơ chịu sự điều khiển của cùng một nơron vận động hoạt động thống nhất với nhau Nơron vận động cùng với sợi trục và các sợi cơ mà nó điều khiển sẽ tạo thành một đơn vị vận động Đơn vị vận động là thành phần chức n ng cơ bản của bộ máy thần kinh cơ Hay nói một cách khác, bộ máy thần kinh cơ chính là tổ hợp của các đơn vị vận động
Mỗi đơn vị vận động cũng như bộ máy thần kinh cơ nói chung gồm ba bộ phận chính:
a Sợi cơ
Cơ vân được cấu tạo từ các tế bào cơ (sợi cơ) Sợi cơ là một tế bào mảnh và dài, có nhiều nhân Sợi cơ có màng bao bọc Trong sợi cơ có chứa cơ tương, là một chất dịch có đạm, các ion và các chất hòa tan khác
Trang 31Hình 1.2: Cấu tạo sợi cơ
Sự vận động được thực hiện nhờ vào sự co rút hoặc c ng cơ Các cơ trong cơ thể rất đa dạng theo hình dáng, cấu tạo, kích thước, vị trí, chỗ bám và động tác Tất
cả các sợi cơ nằm trong thành phần của một ĐVVĐ có cùng tính chất như nhau (ĐVVĐ chậm bao gồm các sợi cơ chậm, ĐVVĐ nhanh – các sợi cơ nhanh), sức nhanh, tốc độ cao, sức bền, do đặc điểm hình thái và sinh hóa của các sợi cơ quyết định
b Tế bào thần kinh vận động
Tế bào thần kinh vận động bao gồm 3 bộ phận chính Thân nơron vận động
có chứa nhân với các cấu trúc khác nhau, đuôi gai có nhiệm vụ tiếp nhận tín hiệu đi tới từ các nơron khác, còn vai trò chủ yếu của sợi trục là truyền hưng phấn đến sợi
cơ dưới dạng sóng điện và điều tiết các chất truyền đạt thần kinh
Hình 1.3: Nơron vận động
c Liên kết (khớp, xinap) thần kinh cơ
Trang 32Xinap thần kinh cơ, cũng như các xinap khác, là cấu trúc liên kết thực hiện chức n ng dẫn truyền thông tin, cụ thể là xung thần kinh đi từ nơron vận động đến sợi cơ
Cấu trúc của xinap thần kinh cơ gồm 3 thành phần: phần trước xinap; phần sau xinap; ng n cách giữa hai phần này là một khe hẹp gọi là khe xinap
Khi xung động thần kinh cơ ở nơron vận động lan truyền theo sợi trục đến xynap thần kinh cơ làm điện thế màng tĩnh thay đổi Ở khu vực bị kích thích, tính thấm của tế bào t ng lên làm cho ion natri dễ dàng chạy vào trong tế bào Dòng ion natri tích điện dương chạy vào làm giảm hiệu điện thế trong màng, được gọi là sự khử cực của màng Nếu kích thích đủ mạnh thì sự khử cực sẽ đạt tới mức tới hạn (mức ngưỡng của sự khử cực) và phát sinh điện thế động Điện thế động chính là bản chất của quá trình hưng phấn
Sự khử cực xảy ra trong thời gian rất ngắn (0.5 – 2 miligiây (ms)) và khi đạt đến mức 100 – 120mV, tính thấm của màng tế bào đối với ion natri giảm mạnh, các kênh dẫn natri đóng lại Thời điểm này tính thấm của ion kali đạt mức cao nhất, các ion kali dồn ra ngoài, khôi phục lại sự không đối xứng phân cực ban đầu giữa hai phía của màng tế bào, lập lại điện thế tĩnh: bên ngoài màng tích điện dương, bên trong màng tích điện âm Giai đoạn từ khi tính thấm đối với ion natri giảm và
“bơm” kali bắt đầu hoạt động, được gọi là giai đoạn tái cực
Trong thời gian điện thế động của màng phát triển, khu vực màng tế bào mất khả n ng hưng phấn hoàn toàn, được gọi là trạng thái trơ tuyệt đối, giúp loại trừ khả
n ng phát triển lập lại điện thế động Thời kỳ tiếp theo là thời kỳ trơ tương đối, là thời kỳ tổ chức có khả n ng đáp lại kích thích bằng sự phát triển một điện thế động mới nếu kích thích đó rất mạnh Và dần dần tính hưng phấn sẽ phục hồi về mức ban đầu
Thời kỳ trơ quyết đinh một đặc trưng quan trọng của tổ chức là tính linh hoạt chức n ng, được xác định bởi một số lần điện thế động tối đa mà nó có thể phát ra trong một giây Thời kỳ trơ càng ngắn bao nhiêu thì tính linh hoạt chức n ng của tổ chức càng cao bấy nhiêu
Các bộ phận của bộ máy thần kinh cơ hoạt động độc lập với những đặc điểm cấu trúc và chức n ng riêng, tuy nhiên vẫn đồng bộ với những bộ phận khác để tạo nên một bộ mặt thống nhất để thực hiện chức n ng vận động của cơ thể
1.4.2 Vận chuyển xung động thần kinh cơ
Trang 33Trên cơ sở cấu trúc của bộ máy thần kinh cơ chúng ta có thể nghiên cứu quá trình dẫn truyền xung động thần kinh từ nơron vận động đến sợi cơ Quá trình đó được Mc Comas (1977) mô tả như sau:
Điện thế động Xâm nhập của Ca++ Phá hủy các túi tận cùng Tiết xuất Ach (Axetylcholin) Kết hợp Ach với thụ quan T ng tính thấm với Na+
và K+ Phân cực ở tấm tận cùng Điện thế động
Sau khi phát sinh ở thân nơron vận động dưới ảnh hưởng của các tổ chức thần kinh trong thần kinh trung ương, xung động thần kinh, dưới hình thức điện thế động, được truyền đến cúc tận cùng của sợi trục Tại cúc tận cùng, xung thần kinh
sẽ kích thích các ion Ca++ xâm nhập vào các túi chứa chất dẫn truyền thần kinh, phá hủy chúng làm cho Ach được tiết ra và khuyếch tán vào khe xinap Tại khe xinap Ach sẽ kết hợp với các thụ quan ở màng sau xinap của sợi cơ, làm t ng tính thấm của màng đối với các ion Na+ và K+ và như vậy làm phát sinh điện thế động sau xinap để tiếp tục truyền đi Mỗi một giai đoạn nêu trên xảy ra ở một bộ phận nhất định với những biến đổi chức n ng đặc biệt
1.4.3 Đơn vị vận động
a Cấu tạo:
Mỗi một nơron vận động có thể điều khiển một số sợi cơ thông qua các nhánh tận cùng mà sợi trục của nó đã phân chia ra Một nơron vận động riêng lẻ và các sợi cơ mà nó điều khiển tạo nên một cấu trúc chức n ng gọi là đơn vị vận động Mỗi sợi cơ ch được kích thích bởi một nơron vận động, nhưng mỗi nơron vận động
có thể kích thích đến vài ngàn sợi cơ, tùy thuộc vào chức n ng của sợi cơ Các cơ điều khiển những chuyển động chuyên biệt, chẳng hạn như điều khiển mắt, mỗi nơron vận động ch kích thích một số lượng nh sợi cơ Đối với các cơ đảm nhiệm nhiều chức n ng, mỗi nơron vận động kích thích nhiều sợi cơ
Những cơ điều khiển sự chuyển động của mắt có tỷ lệ kích thích 1:15, có nghĩa là một nơron vận động ch kích thích 15 sợi cơ Ngược lại, cơ bắp chân và cơ xương chày trước có tỷ lệ kích thích gần 1: 2000
ĐVVĐ nh bao gồm các nơron vận động tương đối nh với sợi trục m ng có
số nhánh tận cùng không lớn và điều khiển một số ít sợi cơ tương ứng (không quá
10 – 12 sợi cơ) ĐVVĐ nh nằm trong thành phần cấu tạo của tất cả các cơ nh của
cơ mặt, cơ ngón tay, chân, bàn tay và một phần ở các cơ lớn của thân mình và tứ