Tuy nhiên trong môn bóng chuyền nói riêng và các môn thể thao khác nói chung thì nền tản sức mạnh đặc trưng của môn thể thao đó là yếu tố vô cùng quan trọng đối với người tập, do đó khi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
AN GIANG, THÁNG 05 NĂM 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
BỘ MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Tên đề tài:
“Ứng dụng một số bài tập nâng cao sức mạnh bột phát cho nam sinh viên khóa 40 ngành Giáo dục thể chất trong giờ học bóng
chuyền trường Đại học An Giang”
Tác giả: ThS Đào Chánh Thức ThS Đinh Thị Kim Loan
Trang 3Đề tài: “Ứng dụng một số bài tập nâng cao sức mạnh bột phát cho nam sinh
viên khóa 40 ngành Giáo dục thể chất trong giờ học bóng chuyền trường Đại học
An Giang”, do ThS Đào Chánh Thức và ThS Đinh Thị Kim Loan, công tác tại Bộ
môn Giáo dục thể chất thực hiện Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Bộ môn thông qua ngày 29/05/2018, và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy (Cô) đang công tác tại Bộ môn giáo dục thể chất, Ban giám hiệu, Hội đồng Khoa học trường, đóng góp ý kiến để chúng tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
An Giang, ngày 30 tháng 05 năm 2018
Người thực hiện
ThS Đào Chánh Thức
Trang 5LỜI CAM KẾT
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất
Trang 6i
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ v
DANH MỤC HÌNH VẼ vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan bóng chuyền thế giới 4
1.1.1 Nguồn gốc 4
1.1.2 Lịch sử phát triển bóng chuyền thế giới 4
1.2 Sơ lược về bóng chuyền Việt Nam 7
1.3 Đặc điểm và tác dụng môn bóng chuyền 8
1.3.1 Đặc điểm môn bóng chuyền 8
1.3.2.Tác dụng của môn bóng chuyền 8
1.4 Ý nghĩa của huấn luyện thể lực trong bóng chuyền 9
1.5 Xu hướng trong huấn luyện các tố chất thể lực của môn bóng chuyền 10
1.6 Lý thuyết chung về huấn luyện sức mạnh 10
1.6.1 Lý thuyết chung 10
1.6.2 Tầm quan trọng huấn luyện sức mạnh trong thể thao 12
1.7 Cơ sở lý luận của huấn luyên sức mạnh bột phát trong môn bóng chuyền 14
1.7.1 Khái niệm về SMBP 14
1.7.2 Vai trò của tập luyện sức mạnh đối với thành tích môn bóng chuyền 15
1.7.3 Một số nguyên tắc và quy luật huấn luyện SMBP 15
1.7.4 Phương pháp huấn luyện sức mạnh bột phát 16
1.8 Đặc điểm tâm sinh lý của tuổi thanh niên 19
1.8.1 Đặc điểm tâm lý 19
1.8.2 Đặc điểm sinh lý lứa tuổi thanh niên 21
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 25
2.1 Các phương pháp nghiên cứu 25
2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu 25
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn 25
2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm 25
2.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 26
2.1.5 Phương pháp toán thống kê 26
2.2 Tổ chức nghiên cứu 27
2.2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 27
2.2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 27
CHƯƠNG 3: KẾT QỦA NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 28
3.1 Nghiên cứu một số test đánh giá sức mạnh bột phát của nam sinh viên chuyên ngành GDTC trong giờ học bóng chuyền 28
3.1.1 Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá sức mạnh bột phát 28
3.1.2 Bàn luận về lựa chọn các test và đánh giá SMBP 34
3.2 Xác định một số bài tập và ứng dụng tập luyện sức mạnh bột phát cho nam sinh viên khóa 40TD trong giờ học bóng chuyền Trường Đại học An Giang 36
3.2.1 Lựa chọn các bài tập phát triển sức mạnh bột phát cho nam sinh viên 40TD 36
3.2.2 Ứng dụng một số bài tập đã được lựa chọn phát triển sức mạnh bột phát cho nam sinh viên khóa 40TD trong giờ học bóng chuyền 41
3.2.3 Bàn luận về việc xác định một số bài tập và ứng dụng thực nghiệm cho nam sinh viên 40TD 44
3.3 Đánh giá hiệu quả thực nghiệm 46
Trang 7ii
3.3.1 Đánh giá sự phát triển sức sức mạnh bột phát nam sinh viên khóa 40TD trong giờ học
bóng chuyền Trường Đại học An Giang 46
3.3.2 Bàn luận về hiệu quả thực nghiệm một số bài tập phát triển SMBP cho nam sinh viên 51 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGH 53
KẾT LUẬN 53
KIẾN NGH 53
TÀI LI U TH M KHẢO 54
Trang 9iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các nước thành viên Liên đoàn bóng chuyền thế giới (FIVB) 6
Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá sức mạnh bột phát cho nam sinh viên 31
Bảng 3.2: Kết quả lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá sức mạnh bột phát cho nam sinh viên (n=30) qua 2 lần phỏng vấn từ 90% 32
Bảng 3.3: Thành tích SMBP đầu năm học của nam sinh viên 40TD 32
Bảng 3.4 So sánh thành tích trung bình trước thực nghiệm của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng 33
Bảng 3.5 Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh bột phát cho nam SV 40TD trong giờ học bóng chuyền 39
Bảng 3.6: Các thông số tập luyện sức mạnh trong từng giai đoạn (theo Tudor Bompa) 42
Bảng 3.7: Hướng dẫn về quảng nghĩ giữa các bài tập, các tổ với các ứng dụng khác nhau (Theo Tudor Bompa) 42
Bảng 3.8: Kế hoạch tập luyện sức mạnh bột phát cho nam sinh viên 40TD 43
Bảng 3.9 Sự tăng trưởng các test của nhóm thực nghiệm trước và sau thực nghiệm 46
Bảng 3.10 Sự tăng trưởng các test của nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm 48
Bảng 3.11 So sánh thành tích trung bình sau thực nghiệm của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng 50
Trang 10v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Đối tượng phỏng vấn 29 Biểu đồ 3.2: So sánh thành tích trung bình trước thực nghiệm của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng 34 Biểu đồ 3.3 Sự tăng trưởng các test sau 12 tuần thực nghiệm của nhóm thực nghiệm 48 Biểu đồ 3.4 Sự tăng trưởng các test sau 12 tuần thực nghiệm của nhóm thực nghiệm 49 Biểu đồ 3.5 So sánh sự tăng trưởng của các test sau 12 tuần thực nghiệm của hai nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng 51
Trang 11vi
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1:William Morganvà quả bóng chuyền đầu tiên 4 Hình 1.2: Bóng chuyền du nhập vào các nước 6 Hình 1.3: Mối quan hệ giữa các tố chất vận động 11
Trang 121
PHẦN MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, để thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Trong thời kỳ này con người đóng vai trò vô cùng quan trọng Vừa
là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới Vì vậy đòi hỏi phải “Lấy việc phát huy nguồn lực con người, làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển, nhanh và bền vững của đất nước” Một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng là xây dựng thế hệ trí thức trẻ, vừa có sức khỏe vừa có năng lực chuyên môn, những người làm chủ vận mệnh đất nước trong tương lai
Về chiến lược phát triển thể dục thể thao của Đảng và Nhà nước ta là phải xây dựng thế hệ trẻ trở thành những con người có đủ bản lĩnh, phẩm chất và năng lực, đảm đương sứ mạng lịch sử của mình, kế thừa và phát huy những thành tựu và truyền thống vẻ vang của dân tộc, đưa đất nước phát triển và hội nhập với cộng đồng quốc tế Chăm lo thế hệ trẻ trong sự nghiệp mới, chính là chăm lo đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tương lai Đó là sự chăm lo toàn diện nhiều mặt trong đó chăm lo về sức khỏe, thể chất là tất yếu Bởi vì sự cường tráng về thể chất không chỉ là nhu cầu bản thân con người, nó còn là vốn quý để tạo ra tài sản vật chất và tinh thần cho xã hội
Theo quan điểm hiện nay con người phải hội đủ những yếu tố:
Cùng với sự phát triển ngày một lớn mạnh, đang từng bước chuyển mình trên mọi lĩnh vực của cả nước: kinh tế, chính trị, giao lưu văn hóa, quốc phòng Thể dục Thể thao trong trường Đại học n Giang là chiếc cầu nối trong lĩnh vực hoạt động
xã hội, tạo sự đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc, các cơ quan ban ngành, các trường ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu long và Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 132
Một trong những khó khăn của giờ dạy GDTC trong trường đại học là phải hình thành được kỹ năng thực hiện cơ bản và tạo ra hứng thú tập luyện trong sinh viên Bóng chuyền là môn thể thao có tính hấp dẫn cao, dễ tập, thích hợp với mọi lứa tuổi, giới tính Ngoài ra bóng chuyền còn được coi như phương tiện hồi phục sức khỏe sau ngày làm việc mệt nhọc Trong bóng chuyền, sự hoàn hảo của VĐV phải hội đủ các tố chất: nhanh, mạnh, bền, khả năng phối hợp vận động, kết hợp với
kỹ thuật điêu luyện
Công tác đào tạo nhằm nâng cao kỹ thuật, thể lực cho sinh viên là nhiệm vụ quan trọng, là quá trình lâu dài cần được quan tâm Tuy nhiên trong môn bóng chuyền nói riêng và các môn thể thao khác nói chung thì nền tản sức mạnh đặc trưng của môn thể thao đó là yếu tố vô cùng quan trọng đối với người tập, do đó khi hướng dẫn tập cho sinh viên đòi hỏi giáo viên phải tìm tòi biện pháp nâng cao sức mạnh trong tập luyện là yếu tố rất quan trọng để phát triển thể thao thành tích cao Trong bóng chuyền hiện đại yếu tố quan trọng tạo nên thành tích cao đó là
nhanh-mạnh-cao Trong đó yếu tố rất quan trọng là “chiều cao + sức mạnh” của vận
động viên để tạo điều kiện thuận lợi cho các bài chiến thuận tấn công cũng như phòng thủ trong trận đấu Chiều cao của VĐV phụ thuộc nhiều vào di truyền, đối với sức mạnh bột phát trong bật nhảy đập cũng như chắn bóng phụ thuộc vào tính hợp lý của bài tập do chuyên gia, huấn luyện viên đưa ra
Đối với sinh viên chuyên ngành GDTC trường Đại học n Giang trong giờ học bóng chuyền nói riêng và các môn khác nói chung thì yếu tố phát triển thể lực chuyên môn, đặc biệt là tố chất sức mạnh ở các môn rất cần thiết, để nâng cao chất lượng của môn học bóng chuyền cũng như kỹ năng kỹ xảo của môn học cho sinh viên làm hành trang khi ra trường được vững vàng Trong thi đấu bóng chuyền VĐV luôn phải bật nhảy đập bóng tấn công và bật nhảy chắn bóng phòng thủ liên tục do đó việc nghiên cứu và ứng dụng một số bài tập phát triển sức mạnh bột phát hợp lý, khoa học là rất cần thiết cho sinh viên trong quá trình học cũng như kiến thức làm hành trang khi ra trường vận dụng trong công tác huấn luyện và giảng dạy hiệu quả
Bản thân là giảng viên bộ môn GDTC của trường, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công tác giảng dạy tại trường, từ yêu cầu muốn nội dung giảng dạy và nội dung tập luyện được phong phú, chương trình giảng dạy cho phù hợp điều kiện thực tiễn nhà trường và sự đáp ứng về chuyên môn nên chúng tôi lựa chọn đề tài:
“Ứng dụng một số bài tập nâng cao sức mạnh bột phát cho nam sinh viên
khóa 40 ngành Giáo dục thể chất trong giờ học bóng chuyền trường Đại học An Giang”
MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Trang 14- 3.3 Đánh giá hiệu quả thực nghiệm
Trang 154
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan bóng chuyền thế giới
1.1.1 Nguồn gốc
- Môn bóng chuyền có nguồn gốc từ Mỹ Hiện nay với người Mỹ nó chỉ mang tính phổ biến, nhưng với thế giới nó là môn thể thao cơ bản Ngày nay có hơn 46 triệu người Mỹ chơi bóng chuyền và trên thế giới có khoảng 800 triệu người chơi bóng chuyền ít nhất một lần trong một tuần
- Theo các nhà sử học vào một ngày mùa thu năm 1895 do thời tiết quá xấu William Morgan 1970-1942 (hình 1 trái), một giáo viên thuộc hiệp hội cơ đốc giáo
ở thành phố Gelok Massachusers Đã quyết định kết hợp các yếu tố cơ bản của các môn bóng rổ-bóng chày-quần vợt-bóng ném để cho ra đời một môn thể thao thích hợp cho học sinh khóa kinh doanh của mình, môn này ít va chạm hơn các môn thể thao trên
Hình 1.1:William Morganvà quả bóng chuyền đầu tiên
- Morgan mượn lưới của môn quần vợt và nâng cao 6 feet 6 inches cao khoảng hơn một đầu người có chiều cao trung bình Với William Morgan trò chơi chuyền bóng quá lưới tương tự như quần vợt cái khác là không dùng vợt mà dùng tay để chuyền, bóng không quá nhỏ mà phải có kích thước lớn (hình 1phải)
- Trong lúc chơi thử, những người chơi chủ yếu dùng tay chuyền bóng qua lại trên lưới nên gọi là bóng chuyền Lúc đầu trò chơi này chưa có luật thi đấu, số người chơi không hạn chế, số lần va chạm bao nhiêu cũng được
1.1.2 Lịch sử phát triển bóng chuyền thế giới
- Ngày 7/7/1896 tại trường Cao đẳng Spring Field trận đấu bóng chuyền lần đầu tiên được tổ chức
- Năm 1900 một loại bóng đặc biệt được thiết kế cho môn bóng chuyền
Trang 165
- Năm 1916 ở Phillippines hình thức phòng thủ của các quả phát và đập bóng bằng cách chắn bóng được giới thiệu
- Năm 1917 đổi từ 21 điểm sang 15 điểm cho một hiệp
- Năm 1920 quy tắc mỗi bên chỉ được chạm bóng 3 lần và tấn công từ hàng sau đã được công nhận
- Năm 1922 giải bóng chuyền YMAC (Hội Thiên Chúa giáo trẻ tuổi) được tổ chức ở New York với 27 đội tham gia từ 11 tiểu bang gọi là giải vô địch quốc gia đầu tiên ở Mỹ
- Năm 1928, nhận thấy lịch thi đấu cũng như các điều lệ cho môn bóng chuyền
là cần thiết nên hiệp hội bóng chuyền Mỹ được thành lập (viết tắt là USVBA, bây giờ là USA Volleyball)
- Năm 1930, môn bóng chuyền bãi biển hai người lần đầu tiên được hình thành
- Năm 1934, công nhận các trọng tài bóng chuyền quốc gia
- Năm 1937, tại một cuộc họp ở Boston, công nhận Hiệp hội bóng chuyền Mỹ
- Năm 1948, tổ chức các cuộc thi đấu bóng chuyền bãi biển 2 người
- Năm 1948, tổ chức lần đầu tiên giải thi đấu bóng chuyền vô địch Châu Âu tại Roma
- Năm 1949, giải vô địch bóng chuyền thế giới tổ chức ở Prague, Czeeouslovakia
- Năm 1952, tổ chức giải thi đấu bóng chuyền nữ thế giới lần đầu tiên tại Moscơva (Nga)
- Năm 1957, bóng chuyền được công nhận là môn thi đấu ở thế vận hội với 16 đội tuyển
- Năm 1964, bóng chuyền được chính thức đưa vào thi đấu tại thế vận hội Olympics tổ chức ở Tokyo
- Năm 1965, Hiệp hội bóng chuyền bãi biển California được thành lập
- Năm 1974, giải vô địch bóng chuyền thế giới tổ chức ở Mexico được truyền hình trực tiếp tại Nhật
Trang 176
- Năm 1975, đội bóng chuyền nữ quốc gia của Mỹ bắt đầu việc tập huấn trọn năm tại Pasadena, Texas (1979 chuyển đến Colorado Spring: Coto de Caza và Fountain Valley, CA; San Diego, CA)
- Năm 1977, đội bóng chuyền nam quốc gia của Mỹ bắt đầu việc tập huấn trọn năm tại Dayton, Ohio (1981: chuyển đến San Diego, CA)
- Năm 1983, Hiệp hội bóng chuyền chuyên nghiệp được thành lập (gọi tắt là AVP)
Năm 1984, đội bóng chuyền Mỹ đạt huy chương đầu tiên tại Olympic tổ chức tại Losangeles với đội nam huy chương vàng (hình 13), nữ huy chương bạc Cũng tại đây Đại hội bóng chuyền thế giới được tiến hành FIVB bầu tiến sĩ Ruben cota người Mexico làm chủ tịch
Tóm lược quá trình phát triển:
- Ngay sau khi ra đời YMAC (Hội Thiên Chúa giáo trẻ tuổi) rất ưa thích môn thể thao này, nó được phát triển mạnh ở Châu Mỹ La-tinh Năm 1900 xuất hiện ở Canada-1906 ở Pucito Rico-1917 ở Bazil-Uruguay
- Bóng chuyền xuất hiện ở Châu Á khoảng 1905-1908, xuất hiện ở Nhật Bản-Trung Quốc theo con đường truyền giáo và thương mại
Philipin Bóng chuyền vào Châu Á theo quân đội Mỹ, đầu tiên vào Pháp 1914; vào
nh năm 1920; năm 1921 vào Liên Xô - Ba Lan - Tiệp Khắc
Hình 1.2: Bóng chuyền du nhập vào các nước
- Đến năm 2007 Liên đoàn bóng chuyền thế giới (FIVB) đã có 220 Liên đoàn bóng chuyền của các quốc gia ở năm châu lục:
Bảng 1.1: Các nước thành viên Liên đoàn bóng chuyền thế giới (FIVB)
Trang 187
thành lập
liên đoàn
Liên đoàn bóng chuyền
châu Phi (CAVB) Cairo, Ai cập 1972 53 Liên đoàn bóng chuyền
châu Á (AVC)
Bắc Kinh, Trung
Liên đoàn bóng chuyền
châu Âu (CEV)
Luxembourg, Luxembourg 1963 55 Liên đoàn bóng chuyền
Nam Mỹ (CSV)
Río de Janeiro, Brasil 1946 12 Liên đoàn bóng chuyền
Bắc Mỹ, Trung Mỹ và
vùng Caribe
(NORCECA) Santo Domingo,
Cộng hòaDominica 1968 42
1.2 Sơ lược về bóng chuyền Việt Nam
Theo các chuyên gia và kết quả nghiên cứu, bóng chuyền du nhập vào nước
ta bằng nhiều con đường khác nhau: Ban đầu là các lái buôn người Ấn Độ, Trung Hoa, Pháp Sau đó là các thành viên của bộ máy cai trị Pháp đưa qua xứ đông Dương Vì vậy nhiều yếu tố chuyên môn như luật chơi và qui định khác đã được định hình Thời kỳ đầu, môn bóng chuyền chỉ phổ biến trong giới học sinh trung hoa ở Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác
Năm 1927, trận đấu bóng chuyền đầu tiên được tổ chức giữa người Hoa ở Hải Phòng Năm 1928, trận đấu giao hữu giữa hai đội Việt Nam và Pháp ở Bắc Kỳ
Và không lâu sau, tháng 6/1961 tổ chức quần chúng có tư cách đại biểu cho môn thể thao chuyên ngành như các nước trên thế giới – Hội BCVN ra đời và là hội viên thứ 156 của Liên đoàn Bóng chuyền Thế giới (FIVB)
Trong những năm tháng đáng nhớ này, BCVN đã thật sự trở thành môn thể thao có số người tham gia tập luyện đông đảo nhất, có một số tổ chức thi đấu ổn định và duy trì truyền thống Bên cạnh đó là đội ngũ HLV, VĐV và trọng tài được đào tạo chính quy và bài bản, đại đa số đều có trình độ trung cấp và đại học hoặc các khoa chuyên ngành do quốc tế mở và công nhận Cùng lúc, một một số các trung tâm đào tạo VĐV trẻ và thành tích cao dần ổn định từ Hà Nội, TP.HCM, đến Thái Bình, Long An, Hải Dương, trong đó phải kể đến Quân đội, Long An – những
Trang 19ở khu vực và châu lục Cũng theo đó, Bóng chuyền Việt Nam tổ chức nhiều giải gắn liền với xã hội hóa, như: Giải Duyên hải miền Bắc, Giải Bông lúa vàng, Cúp Hoa
Lư – Ninh Bình, Cúp Cơ Điện Trần Phú, Giải BC nữ quốc tế VTV, Giải BC nam quốc tế Cúp Sting, Giải BC quốc tế mở rộng Cúp VTV Bình Điền, Cúp VIETSOVPETRO
Công tác đào tạo cũng được nhiều ngành, địa phương quan tâm như: Quân đội, Hà Nội, thành phố HCM, Long An và một số trường thể thao thuộc quản lý của ngành
1.3 Đặc điểm và tác dụng môn bóng chuyền
1.3.1 Đặc điểm môn bóng chuyền
Bóng chuyền là môn thi đấu mang tính đồng đội có tính đối kháng không trực tiếp do lưới ngăn cáh giữa hai bên Đội hình chính của mỗi đội bao gồm 6 người trong đó có 1 VĐV Libero Bản chất thi đấu bóng chuyền là giành phần thắng từng hiệp và cả trận đấu Toàn bộ quá trình thi đấu là sự so tài đấu trí, đấu lực căng thẳng quyết liệt về trình độ kỹ thuật, chiến thuật và thể lực, tâm lý giành cho công thủ có kết quả Muốn đánh thắng đối phương phải có trình độ kỹ thuật, chiến thuật cao, phối hợp đồng đội tốt, đặc biệt là khống chế tâm cao trên lưới Song song với
kỹ thuật, chiến thuật yêu cầu VĐV cần có trình độ thể lực tốt, cơ năng hình thái cơ thể hoàn hảo, tâm lý ổn định, kỹ thuật cá nhân toàn diện, vận dụng sáng tạo thích hợp với mọi tình huống biến hóa, bất ngờ để dành thắng lợi Bên cạnh đó, nhận thức được quy luật không gian thời gian trong thi đấu bóng chuyền rất quan trọng Trong thi đấu bóng chuyền, có các đặc điểm giống môn bóng bàn, quần vợt, cầu mây, cầu lông, đá cầu hai đội tiến hành thi đấu ở hai bên sân trên khung là luật thi đấu, vấn
đề giải pháp mang tính mục đích nguyên tắc là phải tìm được chỗ (điểm) đã thực hiện nó Đó là không gian, cụ thể là không gian trên lưới, vùng tranh chấp gay cấn căng thẳng nhất giữa hai đội để từ đó thực hiện các biện pháp kỹ chiến thuật phối hợp biến hóa giành thắng lợi
1.3.2.Tác dụng của môn bóng chuyền
Bóng chuyền có đặc thù là môn thể thao dễ tổ chức chơi và thi đấu do vạy rất
dễ lấy được cảm tình của người chơi, người mới tập Chính vì vậy bóng chuyền
Trang 209
thường đem lại cho người chơi những cảm giác hứng thú, thoải mái sau những giờ làm việc căng thẳng Là môn tình huống nên đòi hỏi phải có sự tập trung chú ý rất cao, các động tác thực hiện rất phong phú, đa dạng, tính ganh đua quyết liệt thường xuyên xảy ra nên các hoạt động của hệ thần kinh hưng phấn cao, diễn ra trong thời gian dài Do đó, tập luyện bóng chuyền giúp cho hệ thần kinh phát triển tính linh hoạt, sáng tạo hơn, các biểu hiện cơ quan chức năng như, tần số mạch, tần số hô hấp
và dung tích sống của VĐV đều tăng rõ rệt
Ngòai các tác dụng như trên, bóng chuyền là môn thể thao mang tính giáo dục cao, thể hiện qua các chương trình giao lưu, học hỏi giữa một tập thể hay từng
cá nhân, giữa các cơ quan đoàn thể cũng như việc học tâp trao dồi những kiến thức, kinh nghiệm đối với các học sinh, sinh viên, VĐV trong môi trường đào tạo, huấn luyện chuyên ngành thể dục thể thao thể hiện qua công tác đào tạo của các trường đại học, cao đẳng TDTT, không những thế bóng chuyền còn mang tác dụng nêu cao tinh thần đoàn kết, hữu nghị với các bạn bè quốc tế, thông qua chương trình thi đấu các giải thể thao hữu nghị quốc tế, đem lại những tình cảm cao đẹp, tinh thần thượng võ, xứng đáng với truyền thống cách mạng của dân tộc
1.4 Ý nghĩa của huấn luyện thể lực trong bóng chuyền
Huấn luyện thể lực là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong toàn bộ quá trình tập luyện của tất cả các môn thể thao nhằm phát huy tối đa khả năng của cơ thể để đạt được thành tích cao nhất ở từng vận động viên (VĐV) nói riêng và ở toàn đội nói chung Huấn luyện sức mạnh và thể lực là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong quá trình luyện tập cũng như huấn luyện thể thao Cùng với bột phát, sức bền, sức mạnh là một trong ba tố chất vận động cơ bản Mục đích của tập luyện sức mạnh không chỉ làm cho con người khỏe hơn mà còn đáp ứng được các yêu cầu phát triển sức mạnh đặc thù của từng môn thể thao nhất định Phát triển các
tố chất sức mạnh khác nhau nhằm nâng cao thành tích vận động lên trình độ cao nhất, phòng tránh chấn thương, rèn luyện ý chí… (Bompa, 2002)
Trình độ chuẩn bị thể lực và thành tích thể thao luôn đi đôi với nhau Từ kỷ nguyên Olympic hiện đại xuất hiện thì đã có nhiều nỗ lực nghiên cứu để nâng cao trình độ hoạt động các cơ quan của cơ thể, cải thiện trình độ hoạt động của cơ bắp của vận động viên với quan điểm huy động mọi tiềm năng của cơ thể nhằm đạt được thành tích thể thao cao nhất
Nhiều kết quả nghiên cứu (Tiến, 2014; Viên, 2014; Trung 2013) cho thấy việc sử dụng một số phương pháp, bài tập huấn luyện sức mạnh sẽ có kết quả phát triển thành tích thể lực nhanh hơn khi so sánh với quá trình phát triển sức mạnh đơn thuần bằng quá trình tập luyện chuyên môn Một số nghiên cứu đã chứng minh là
Trang 2110
việc tập luyện sức mạnh không chỉ cải thiện được thành tích thi đấu mà còn hữu ích trong quá trình hồi phục chức năng và có tác dụng tích cực trong việc phòng tránh chấn thương (Hiệp & Phượng, 2002)
Xu thế phát triển của bóng chuyền hiện đại ngày càng mang tính tranh đua quyết liệt.Với hoạt động lượng vận động (LVĐ) lớn và đòi hỏi trình độ thể lực của VĐV ngày càng cao Điều đó không chỉ thể hiện ở SMBP mà còn yêu cầu về phản ứng nhanh nhẹn, linh hoạt và biến hóa làm biến đổi đường bóng, lực bóng, tầm bóng… để thực hiện phương châm của bóng chuyền là kỹ- chiến thuật toàn diện, nhanh, cao và chuẩn biến (Giang, 2000)
1.5 Xu hướng trong huấn luyện các tố chất thể lực của môn bóng chuyền
Tập trung huấn luyện tố chất huấn luyện sức mạnh (sức mạnh bột phát và sức mạnh bền ) chủ yếu là các hoạt động bật nhảy Chiều cao bật của các nước tiên tiến trên thế giới đã đạt đến tầm cao lý tưởng: Nữ trung bình 310 cm - cao nhất 336 cm Nam trung bình 345 cm – cao nhất 375 cm Do công tác huấn luyện tâp trung củ yếu vào yếu tố sức mạnh trong bật nhảy tại chỗ và bật nhảy có đà Bên cạnh đó chú
ý đến tố chất khác phát triển sức nhanh, sức bền trong bật nhảy và thi đấu
Lượng vận động tăng, với những đội bóng có trình độ lượng vận động phải được tăng dần, chú ý mối quan hệ cường độ và khối lượng Thời gian các buổi tập
và giờ tập trong tuần cũng tăng dần cho hợp lý, mỗi buổi tập phải đạt từ 120 – 150 phút và mỗi tuần phải đạt 30 giờ cho tập luyện
1.6 Lý thuyết chung về huấn luyện sức mạnh
Các tác giả Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn (2000), Harre (1996), … đã thống nhất quan điểm và cho rằng: sức mạnh là khả năng con người sinh ra lực cơ học bằng nỗ lực cơ bắp Nói cách khác, sức mạnh của con người là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đề kháng lại nó bằng sự nỗ lực của cơ bắp
Tập luyện sức mạnh SM theo một số sẽ dẫn đến những thay đổi sinh lý và cấu trúc trong cơ thể – hay còn gọi là sự thích nghi Mức độ thích nghi được thấy rõ qua kích thước và chất lượng cơ, đồng thời có tỷ lệ trực tiếp với lượng vận động qua các chỉ tiêu như: số lượng, tần số, cường độ
Trang 2211
Trình độ chuẩn bị thể lực và thành tích thể thao luôn đi đôi với nhau Theo nderst W.J.F Eksten, D.M Koceja (1994) “Effects of plyometric and explosive resistance training on lower body power”: Mỗi môn thể thao đều có đặc thù khác nhau, do đó việc phát triển các tố chất thể lực nhằm đáp ứng yêu cầu của môn thể thao cũng nhƣ cấu trúc của thi đấu là rất quan trọng để thành công trong đào tạo, huấn luyện thể thao
Hầu hết các hoạt động thể chất đều kết hợp chặt chẽ một hoặc nhiều yếu tố lực, sức bền, sức mạnh, bột phát và sức bền là các năng lực di truyền, nó mang vai trò quan trọng cho cơ hội đạt thành tích cao của VĐV Nó còn đƣợc gọi là “động cơ trội” (dominant motor) , hoặc là “năng lực sinh cơ học” (biomotor) Khi một động tác, kỹ năng hoặc một môn thể thao đòi hỏi một sự kết hợp từ 1 đến 3 năng lực sinh
cơ học để thực hiện nó, ta có thể nói đó là năng lực nổi trội Chẳng hạn các môn nhƣ bóng rổ, bóng đá, năng lực nổi trội sẽ là công suất (power) theo Kraemer (Bompa.T, 2002)
Hình 1.3: Mối quan hệ giữa các tố chất vận động
Trong hoạt động thể thao, sức mạnh luôn luôn có quan hệ với các tố chất thể lực khác nhƣ sức nhanh và sức bền Do đó, các năng lực SM đƣợc thể hiện qua 3
Sức bền
ƣu khí
Tốc độ tối đa
Khả năng phối hợp tối ƣu
Biên độ tối đa của động tác
Sức mạnh bền
Sức bền tốc độ
Sức nhanh
Khả năng
di động
Sức tốc
độ
Trang 23* Năng lực sức mạnh – nhanh: là khả năng khắc phục các lực cản với bột phát co cơ cao của VĐV SM - nhanh xác định thành tích trong các môn vận động không chu kỳ, như trong nhảy cao và nhảy xa SM - nhanh cũng có ý nghĩa đối với việc đạt được bột phát cao khi đá, ném bóng và dậm nhảy trong các môn bóng, khả năng tăng tốc của các VĐV chạy cự ly ngắn, đua xe đạp cũng như đối với sự xuất phát nhanh và giai đoạn tăng tốc trong thi đấu các môn đua thuyền
* Năng lực sức mạnh – bền: là khả năng chống lại mệt mỏi của VĐV khi hoạt động sức mạnh kéo dài SM bền được đặc trưng bởi một năng lực sức mạnh tương đối cao kết hợp với khả năng sức bền quan trọng Trước hết, SM bền xác định thành tích trong các môn sức bền cần phải khắc phục các lực cản lớn trong một thời gian dài, thí dụ như trong đua thuyền trong thể dục, vật, trong phần lớn các môn bóng và bơi lội…
1.6.2 Tầm quan trọng huấn luyện sức mạnh trong thể thao
(Nguyễn Hiệp và Bùi Trọng Toại, 2003) đã tổng kết những quan điểm sau
Tập luyện sức mạnh với trọng lượng phụ có khả năng phát triển không chỉ sức mạnh chung mà còn liên quan đến sự phát triển SMBP, sức mạnh bền, phòng tránh chấn thương, rèn luyện ý chí, năng lực tập trung, góp phần đáng kể vào việc phát triển thành tích thể thao
Tập luyện sức mạnh đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực vận động, làm tiền đề để phát triển tiềm năng cao nhất của VĐV, cần được tiến hành thường xuyên theo một kế hoạch dài hạn và một số ở tất cả VĐV từ năng khiếu tới trình độ cao
Hiện nay còn có một số quan điểm thiếu căn cứ khoa học cho rằng tập luyện sức mạnh sẽ làm chậm vận động viên, ảnh hưởng xấu đến phát triển sức bền và mềm dẻo Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đã phản bác các quan điểm đó Huấn luyện kết hợp với sức mạnh và sức bền không ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển công suất ưa khí hay sức mạnh cơ bắp Tương tự các trương trình tập luyện sức mạnh không ảnh hưởng xấu tới năng lực mềm dẻo
Trang 2413
Đối với các môn bột phát, sức mạnh đại diện cho nền tảng của việc phát triển SMBP Một VĐV chạy nhanh thì cũng rất mạnh, khả năng tăng tốc nhanh, chuyển động chân tay nhanh và tần số cao là khả năng có thể thực hiện được khi cơ đủ mạnh để co nhanh và mạnh
Mục đích của việc tập luyện sức mạnh là đáp ứng các yêu cầu thể lực đặc thù của từng môn thể thao đó là phát triển sức mạnh chuyên môn nhằm phát triển thành tích thể thao lên mức độ cao nhất
Để tập luyện có hiệu quả, chương trình huyến luyện sức mạnh phải theo quan điểm chu kỳ hoá sức mạnh, với các mục đích, phương pháp đặc trưng cho từng giai đoạn Xây dựng chương trình và lựa chọn các phương pháp cần chú ý đến một số cung cấp năng lượng chính và các cơ chính tham gia hoạt động trong môn thể thao
đó
1.6.3 Một số đặc điểm xây dựng chương trình huấn luyện sức mạnh
Ngoài những yếu tố đã được tổng kết khá đầy đủ trong sách, tài liệu huấn luyện thể thao như: khối lượng vận động: cường độ; số lượng bài tập; thứ tự bài tập;
số lần lặp lại trong một tổ; số tổ; bột phát động tác; quãng nghỉ; hình thức nghỉ…cùng với các nguyên tắc, phương pháp huấn luyện sức mạnh, tính chu kỳ ( sự phân chia giai đoạn tập luyện theo chu kỳ ).Theo (Bompa T, 2002): Để biên soạn một chượng trình huấn luyên sức mạnh có hiệu quả hơn, cần chú ý đến các yếu tố sau:
bổ trợ để tăng cường các nhóm cơ yếu nhất
Để xây dựng một chương trình tập luyện sức mạnh tốt , việc chọn lựa các bài tập và phương pháp tập là rất cần thiết Qua trình quy định bài tập cho một hay
Trang 25Cần chú ý các bước sau để khi chọn bài tập:
- Phân tích kỹ thuật động tác ( hướng, các góc độ, tư thế chân tay )
- Xác định các nhóm cơ chính tham gia thực hiện kỹ thuật
- Chọn lựa các bài tập có liên quan đến các cơ chính trên sự giống nhau về hướng và góc độ co cơ cho từng kỹ thuật
Chọn lựa các phương pháp huấn luyện cho từng giai đoạn, mục đích
huấn luyện
Việc chọn lựa, kết hợp các phương pháp cho từng mục đích phát triển các tố chất sức mạnh khác nhau đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả của chương trình huấn luyện Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu so sánh hiệu quả của các phương pháp huấn luyện khác nhau đối với từng tố chất sức mạnh, nhưng việc xác định phương pháp tối ưu vẫn còn đang bàn cãi Tuy nhiên có thể tổng kết một số phương pháp huấn luyện hiệu quả cho từng tố chất sức mạnh khác nhau
1.7 Cơ sở lý luận của huấn luyên sức mạnh bột phát trong môn bóng chuyền 1.7.1 Khái niệm về SMBP
Trong hoạt động thi đấu thể thao nói chung, bóng chuyền nói riêng có nhiều quan điểm về tố chất SMBP Có thể liệt kê một số quan điểm như sau:
Theo Verkhosanxki, SMBP thể hiện khả năng chống lại lực đối kháng bên ngoài khoảng 40 đến70% khả năng tối đa (Bompa.T, 2002)
Tác giả Jurgen Hartman cho rằng nét đặc trưng cở bản của SMBP đó là sự kết hợp giữa SMBP với lực cản bên ngoài (trọng lượng tạ, dụng cụ,…)
Tiến sĩ D.Harre (1996), cũng có quan điểm cho rằng SMBP là khả năng khắc phục các lực cản với bột phát co cơ cao
Như vậy, có thể khái quát: Sức mạnh bột phát là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh SMBP xác định thành tích môn bóng chuyền trong đập bóng, chắn bóng, bật nhảy…
Như chúng ta đã biết, SMBP (Power) là sản phẩm của tích số giữa lực cơ (Force) và bột phát của chuyển động (Velocity), được thực hiện qua công thức: P=
F x V Hầu hết các công trình nghiên cứu đều cho thấy các chương trình tập luyện sức mạnh đều có thể phát triển cả bột phát và công suất co cơ Các kỹ năng đặc thù của thể thao cũng có thể được cải thiện rõ rệt thông qua tập luyện sức mạnh (Steven
Trang 2615
J Fleck & William Kraemer, 1987) Do đó, bất kỳ sự phát triển nào của SMBP đều
là kết quả của sự phát triển của SM hay bột phát, hay sự kết hợp của hai yếu tố
Trong thi đấu bống chuyền không đòi hỏi sức mạnh của cơ bắp để nâng một vật gì đó mà lực tạo ra dưới dạng bột phát được chuyển thành lực tấn công trong đập bóng, di chuyển, bật nhảy… theo chiến thuật
1.7.2 Vai trò của tập luyện sức mạnh đối với thành tích môn bóng chuyền
Qua nhiều nghiên cứu đặc thù LVĐ của môn bóng chuyền của các tác giả, sức bật cao được thừa nhận là tố chất trội- tố chất thể lực chuyên môn quan trọng nhất của VĐV bóng chuyền Nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy sức bật là tố chất tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó sức mạnh và bột phát thực hiện động tác đóng vai trò quan trọng trong thành tích bật nhảy.Việc phát triển sức bật cho VĐV bóng chuyền luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu, HLV, VĐV trong quá trình tập luyện nhằm nâng cao thành tích thi đấu
Tổng kết một số công trình nghiên cứu về hiệu quả của các chương trình huấn luyện sức mạnh bằng các phương pháp khác nhau: tập sức mạnh với các bài tập SMBP, các bài tập khắc phục- nhượng bộ, các bài tập tạ có trọng lượng lớn với mục đích phát triển năng lực SMBP nói chung và sức bật nói riêng sẽ là rất hữu ích cho các vận động viên, HLV bóng chuyền
Rất nhiều chương trình huấn luyện sức mạnh và thể lực sử dụng các test bật với để đánh giá sự thích nghi sinh lý qua quá trình tập luyện Test bật cao thường được sử dụng để đánh giá mức độ phát triển về sức bật trong các môn thể thao, sức bật đóng vai trò quan trọng trong thành tích thi đấu (như bóng chuyền, bóng rổ, )
và cũng để đánh giá SMBP của phần thân dưới trong các môn thể thao mà đòi hỏi VĐV phải đạt SMBP cao của chân
Các nhóm cơ thuộc phần thân dưới của cơ thể như nhóm cơ duỗi hông, gối
và cổ chân có liên quan tới bật nhảy Trong đó, tỉ lệ tham gia bật nhảy của gối là cao nhất sau đó là hông và cổ chân Ngoài ra thành tích bật nhảy cũng tăng lên nếu có
sự tham gia của động tác tay khi bật nhảy Vì thế, việc xác định các nhóm cơ chủ yếu tham gia vào bật nhảy là cơ sở chọn lựa các bài tập phù hợp để phát triển sức
mạnh các nhóm cơ này cũng như nâng cao thành tích bật nhảy
1.7.3 Một số nguyên tắc và quy luật huấn luyện SMBP
1.7.3.1 Một số nguyên tắc khi huấn luyện SMBP
Theo PGS.TS Bùi Trọng Toại và một số tác giả khác nghiên cứu về tố chất sức mạnh, SMBP đưa ra các nguyên sau đây:
- Nguyên tắc tăng dần lượng vận động
- Nguyên tắc biến đổi
Trang 2716
- Nguyên tắc cá biệt hoá
- Nguyên tắc chuyên môn hoá
- Nguyên tắc đảm bảo quãng nghĩ và thời gian hồi phục
1.7.3.2 Những yếu tố có thể thay đổi, biến hoá khi huấn luyện
- Quãng nghĩ giữa các tổ và bài tập SMBP
- Thời gian nghĩ giữa các buổi tập SMBP
1.7.4 Phương pháp huấn luyện sức mạnh bột phát
1.7.4.1 Phương pháp trọng lượng phụ:
Nỗ lực di chuyển một vật nặng một cách nhanh và mạnh hết sức trong toàn
bộ biên độ động tác là một trong những phương pháp tập luyện SMBP truyền thống Trọng lượng tạ, dụng cụ, cơ thể… sử dụng trong tập luyện đại diện cho lực cản bên ngoài Lực cần thiết để khắc phục lực cản bên ngoài là nội lực Nội lực càng lớn hơn lực cản bên ngoài thì sự tăng tăng tốc càng nhanh Vai trò của sức mạnh tối đa
là quan trọng trong phát triển SMBP (bột phát nâng tạ 90% 1RM và 30% 1RM rõ ràng là khác biệt rất lớn)
Trình độ sức mạnh tối đa cũng cần thiết trong thời điểm bắt đầu chuyển động, phần khó khăn nhất trong việc nâng tạ hay ném một vật với bột phát bột phát chính là phần bắt đầu động tác Để khắc phục sức ỳ (lực cản), phải tạo ra một trương lực lớn trong cơ Do đó, sức mạnh tối đa càng lớn, càng dễ khắc phục sức ỳ
và sẽ bắt đầu chuyển động một cách nhanh hơn Khi bột phát động tác càng cao, càng ít lực để duy trì chuyển động
Để tăng tốc liên tục, bột phát của chi (chân, tay,…) phải tăng liên tục Điều náy chỉ có thể thực hiện khi VĐV có khả năng co cơ nhanh Để phát triển sức mạnh bột phát không chỉ cần đến SM tối đa mà còn có khả năng sử dụng SM tối đa ở bột phát cao, đây chính là mục đích của phương pháp huấn luyện SMBP (Toại & Hiệp, 2003)
Các thông số tập luyện của phương pháp đẳng trương
Trang 28Năng lượng cơ thể có thể sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau và có thể khắc phục những lực cản khác nhau Khi lực cản bên ngoài lớn hơn nội lực thì không có chuyển động xảy ra (đẳng trường) Khi lực cản bên ngoài nhỏ hơn nội lực một chút có chuyển động chậm Nội lực càng lớn hơn lực cản bên ngoài chuyển động càng nhanh
Phương pháp sử dụng ngoại lực nhỏ (tạ nhỏ, dây thun, bóng nhòi,…) để phát triển SMBP được gọi là phương pháp tạo gia tốc
Trong suốt chuyển động của động tác, VĐV phải tạo ra một sức mạnh đáng
kể để tăng tốc chuyển động một cách liên tục và đạt bột phát cao nhất khi kết thúc động tác Sự phát lực nhanh của phương pháp này là kết quả của sự nhanh chóng huy động các sợi cơ nhanh và sự phối hợp hiệu quả các nhóm cơ đồng vận và đối vận
Các thông số tập luyện phương pháp tạo gia tốc
1.7.4.2 Phương pháp plyometric (dùng lực ứng suất đàn hồi)
Hiện nay phương pháp này được xem là phổ biến và hiệu quả nhất để phát triển SMBP Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng một số các phương pháp huấn luyện SM sẽ có kết quả phát triển thể lực nhanh hơn so với phát triển thể lực đơn thuần bằng tập luyện chuyên môn Nó không chỉ hữu ích trong việc cải
Trang 2918
thiện thành tích thi đấu mà còn giúp phòng tránh và hạn chế chấn thương cho vận động viên
Để đạt những thành tích cao hơn trong thể thao như nhanh hơn, mạnh hơn và
xa hơn, SMBP là thiết yếu Trình độ SM chỉ có thể chuyển đổi thành SMBP bằng cách tập luyện các phương pháp SMBP đặc thù Một trong những phương pháp thành công nhất là sử dụng bài tập dùng lực ứng suất đàn hồi Lực ứng suất đàn hồi xuất hiện khi có một chu kỳ giãn dài- co ngắn của cơ, hay có phản xạ khi kéo căng
cơ Nói ngắn gọn, phương pháp plyometric sử dụng các bài tập trong đó cơ phải được kéo dài ra trước khi co lại Các nghiên cứu cho thấy: Cơ được kéo dãn ra (co
cơ ly tâm- cơ dài ra) trước khi co (co cơ hướng tâm – cơ ngắn lại) sẽ co nhanh hơn
và mạnh hơn
Các nghiên cứu đã cho thấy cơ được kéo dãn ra khi co cơ sẽ nhanh hơn và mạnh hơn (Bosco & Komi, 1980; Schimidbleicher, 1984) Phương pháp tập luyện lực ứng suất đàn hồi là một phương pháp phát triển công suất bột phát Nó là thành phần quan trọng của hầu hết hoạt động thi đấu và thành tích của VĐV Trong những năm đầu tiên thập niên 1980, các nhà nghiên cứu Russ Polhemus, Ed Burkhrdt, và một số nhà nghiên cứu khác đưa ra bằng chứng quan trọng, chắc chắn rằng việc kết hợp huấn luyện plyometrics với một chương trình HLSM sẽ nâng cao sự phát triển thể chất tốt hơn là chỉ tập chương trình HLSM riêng rẽ Một chương trình kết hợp tốt có thể nâng cao bột phát và SM, đồng thời phòng tránh chấn thương Các bài tập dùng lực ứng suất đàn hồi hoạt động theo các cơ chế thần kinh phức hợp Hoạt động dùng lực ứng suất đàn hồi dựa trên phản xạ khi kéo căng cơ xuất hiện trong các sợi
cơ Chức năng của phản xạ khi kéo căng cơ là giám sát mức độ kéo căng cơ và ngăn cản sự kéo giãn quá sức Tập dùng lực ứng suất đàn hồi gây ra những biến đổi về thần kinh và cơ bắp, tạo thuận lợi và nâng cao khả năng thực hiện các cử động nhanh và mạnh hơn
Theo (Bomba, 2002) các bài tập Plyometrics được chia làm 5 cường độ, đây
là các thông số dành cho VĐV có nền tảng sức mạnh tốt và VĐV trình độ cao:
Các thông số tập luyện phương pháp Plyometrics
1 Trương lực đột niến, bật
Trang 30Ở tuổi thanh niên, quá trình phát triển tự ý thức diễn ra mạnh mẽ sôi nổi và
có tính đặc thù riêng Thanh niên có nhu cầu tìm hiểu và đánh gái những đặc điểm tâm lý của mình theo những mục đích cuộc sống và hoài bão của mình Chính điều này, khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng (các em hay ghi nhật ký, so sánh mình với nhân vật hộ coi là tấm gương)
Nội dung tự ý tức cũng khá phức tạp Các em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình như thiếu niên, mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, trong tương lai (tôi cần trở thành người như thế nào? Cần làm gì để tốt hơn ?)
Thanh niên không chỉ đánh giá những cử chi hành vi riêng tư, từng thuộc tính riêng biệt, mà biết đánh giá nhân cách nói chung, trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách Đồng thời các em cũng có khuynh hướng độc lập hơn trong việc phân tích và đánh giá bản thân (Hiệp & Phượng, 2002)
Thanh niên mới lớn thường có xu hướng cường điệu trong khi tự đánh giá trên cơ sở tự ý thức phát triển mạnh mẽ, nhu cầu tự giáo dục ở thanh niên cũng được phát triển Tự giáo dục ở các em không chỉ hướng vào việc khắc phục một số thiếu sót trong hành vi hay phát huy những nét tốt nào đó mà còn hướng vào việc hình thành nhân cách nói chung phù hợp với quan điểm khái quát đang được hình
Trang 31Chỉ đến giai đoạn này, khi nhân cách đã được phát triển tương đối cao, thì ở các em mới xuất hiện nhu cầu đưa những tiêu chuẩn những nguyên tắc hành vi đó vào một một số hoàn chỉnh Và cũng do trí tuệ phát triển tương đối cao, các em mới
có điều kiện (khả năng) để hiểu và một số những khái niệm trừu tượng, những qui luật trong tự nhiên, xã hội Một khi đã có được một số quan điểm riêng thì thanh niên không chỉ hiểu về thế giới khách quan mà còn đánh giá được nó, xác định thái
độ của mình đối với thế giới
Sự hình thành thế giới quan được thể hiện ở tính tích cực nhận thức Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan là sự phát triển của hứng thú nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vụ trụ, những qui luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và của sự tồn tại xã hội loài người Các em cố gắng xây dựng quan điểm trong lĩnh vực khoa học đối với các vấn đề xã hội tư tưởng, chính trị, đạo đức Việc hình thành thế giới quan còn thể hiện ở phạm vi nội dung nữa
Thanh niên quan tâm nhiều nhất đến các vấn đề liên quan đén con người, vai trò của con người trong lịch sử, quan hệ giữa con người và xã hội, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa nghĩa vụ và tình cảm Nói chung, các em sống một cuộc sống tích cực vì xã hội, muốn mang lại lợi ích cho người khác, quan tâm đến đời sống tinh thần nhiều hơn là phúc lợi vật chất
Tuy vậy, một số bộ phận thanh thiếu niên ngày nay, chưa được giáo dục đầy
đủ về thế giới quan Thế giới quan của họ còn có những biểu hiện tiêu cực (say mê những phẩm chất “ văn hoá” không lành mạnh, đánh giá cao cuộc sống hưởng thụ ) Hoặc một số bộ phận khác lại chưa chú ý đén việc xây dựng thế giới quan, sống thụ động, ít trách nhiệm…
Giao tiếp với đời sống tình cảm
- Giao tiếp trong nhóm bạn;
Thanh niên quan hệ với bạn cùng tuổi chiếm vị trí lớn hơn hẳn so với quan
hệ với người lớn tuổi hoặc ít tuổi hơn Cùng với sự phát triển nhiều mặt quan hệ dựa dẵm, phụ thuộc vào cha mẹ dần dần cũng được thay thế bằng quan hệ bình đẳng tự lập…
Trang 32Ở lứa tuổi này có sự mở rộng phạm vi giao tiếp, số lượng các nhóm bạn tăng
rõ rệt Việc tham gia vào nhiều nhóm sẽ dẫn đến sự khác nhau bất định về quan điểm, định hướng có giá trị, vai trò…) và có thể xung đột về vai trò nếu cá nhân phải lựa chọn giữa các vai trò khác nhau ở các nhóm
- Đời sống tình cảm:
Đời sống tình cảm thanh thiếu niên rất phong phú Các em có tình cảm đa dạng, có thái độ xúc cảm đối với các mặt khác nhau của đời sống Đặc điểm đó, được thể hiện rất rõ trong tình bạn của các em, vì đây là lứa tuổi mà những hình thức đối xử có lựa chọn đối với mọi người trở nên sâu sắc và mặn nồng Một điều cần chú ý là ở thanh niên mới lớn quan hệ giữa nam và nữ được tích cực hoá một cách rõ rệt Phạm vi bạn bè được mở rộng Bên cạnh nhóm thuần nhất có quá nhiều nhóm pha trộn (có cả nam và nữ) Do vậy nhu cầu về tình bạn khác giới được tăng cường Và ở một số em đã xuất hiện những lôi cuốn đàu tiên khá mạnh mẽ xuất hiện nhu cầu chân chính về tình yêu và tình cảm sâu sắc ở thiếu niên, tình cảm này thường mới chỉ là biểu hiện của mối thiện cảm, sự say mê, quyến luyến ban đầu
Nhưng tình yêu với tư cách là tình cảm sâu sắc, mạnh mẽ thì mới xuất hiện ở đàu tuổi thanh niên Tình yêu ở độ tuổi này thường tươi sáng, hồn nhiên, giàu cảm xúc và khá chân thành Tuy vậy, tình yêu mới nảy sinh này cũng có thể phát triển không bình thường (không được đáp lại hoặc có những hứng thú, rung động không hoàn toàn lành mạnh) có thể khiến các em bị phân tán quá mức, sao lãng học tập
1.8.2 Đặc điểm sinh lý lứa tuổi thanh niên
Tuổi 18-22 cở thể bước vào tuổi trưởng thành (Hiệp & Phượng, 2000) Các
hệ cơ quan chức năng hoạt động có những đặc điểm sau:
Hệ thần kinh: Các biểu hiện cơ bản của hoạt động thần kinh cao cấp hoàn thiện một số tín hiệu thứ hai phát triển mạnh và có ưu thế so với một số tín hiệu thứ nhất Khả năng tư duy phân tích tổng hợp trừu tượng hoá và khả năng giao tiếp ngày càng được hoàn thiện làm sự nhận thức được mở rộng Độ linh hoạt của quá trình thần kinh hưng phấn và ức chế được cân bằng, các loại hình hoạt động thần kinh thể hiện ra rõ rệt Sự phối hợp động tác tới kỹ xảo
Trao đổi chất và năng lượng: Đặc điểm chính của lứa tuổi này là sự phát triển hình thành cơ thể ở lứa tuổi này diễn ra chậm Nhu cầu về đường, đạm mỡ, nước,
Trang 3322
muối khoáng ít hơn so với tuổi dạy thì Sự trao đổi đường tốt hơn, cơ thể người trưởng thành có thể huy động nguồn đường dữ trữ nhanh hơn và duy trì cường độ cao trong hoạt động, tuổi này lượng đường huyết giảm chậm hơn trong tập luyện và thi đấu TT căng thẳng nhu cầu về nước ở tuổi 18 là 40 – 5- g/kg trọng lượng/ ngày Nước chiếm 80% trọng lượng cơ thể trẻ em và giảm dần 69 – 72% ở tuổi trưởng thành Trao đổi năng lượng trong điều kiện tĩnh (chuyển hoá cơ sở) giảm hơn ở trẻ
em bằng 3.5cal/m2 /giờ, 10 tuổi là 4.6cal/m2/giờ, tuổi 15 là 4.2cal/m2/ giờ, 20 tuổi là 3.8cal/m2/ giờ
cơ tăng lên 7-8 lần, sức mạnh tối đa của các nhóm cơ co phát triển chậm hơn các cơ duỗi
Hệ tuần hoàn: Đã phát triển và hoàn thiện buồn tim phát triển tương đối hoàn chỉnh Các kích thước tuyệt đối cũng như tương đối của tim ở mức cao hơn trẻ
em, ví dụ: trẻ em 8-10 tuổitrọng lượng tim tuyệt đối khoảng 96g; 15 tuổi 200g và 18-20 tuổi khoảng 300g Tần số co bóp tim ở người trưởng thành, lứa tuổi 18-20 nam khoảng 70-80 lần/phút và ở nữ khoảng 75-85 lần/phút Phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ rãng nhưng sau vận động lớn mạch và huyết áp hồi phục nhanh chóng Thể tích phút của dòng máu tính trên 1kg trọng lượng (thể tích phút tương đối) giảm dần theo lứa tuổi, khi 15 tuổi chỉ số này vào khoảng 79ml Tuổi trưởng thành giảm xuống 60ml Thể tích tâm thu tối đa ở lứa tuổi trưởng thành là 120-140ml Trong đó hoạt động căng thẳng, thể tích phút của lứa tuổi 18-
22 có thể đạt mức 24-28 lít/phút Huyết áp tăng dần cùng lứa tuổi, khi 15 tuổi sẽ tăng lên khoảng 100-110 mmHg; ở người trưởng thành là 110-130 mmHg Huyết áp tối thiểu đến 15-16 tuổi tăng 80-95mmHg; ở người trưởng thành là khoảng 70-90mmHg sự tăng huyết áp trong hoạt động thể lực của tuổi này tốt hơn so với trẻ
em Hoạt động thể lực làm tăng huyết áp, ví dụ: trong hoạt động công suất tối đa, huyết áp tối đa của trẻ em 10-11 tăng 30-32 mmHg, trong khi lứa tuổi 18-20 trung bình khoảng 50mmHg
Hệ hô hấp: Đã phát triển tương đối hoàn thiện, tần số hô hấp giảm hơn so với trẻ em, tần số hô hấp của trể 7-8 tuổi là 20-25 lần/phút và giảm dần ở tuổi trưởng thành khoảng 16-20 lần độ sâu hô hấp (không khí lưu thông ở trẻ 7-8 tuổi
Trang 3423
vào khoảng 160-280ml, trong khi đó ở tuổi trưởng thành vào khoảng 450-500ml (gấp 2-3 lần) Dung tích sống của nam khoảng 3500ml của nữ vào khoảng 2800ml, cao hơn so với trẻ em Tuy nhiên, nếu tính dung tích sống tương đối tức là dung tích sống/1kg trọng lượng cơ thể thì trẻ em có chỉ số cao hơn người trưởng thành, ví dụ: trẻ em 14 tuổi có dung tích sống tương đối là 120ml/1kg trọng lượng, trong khi người trưởng thành là 80ml/1kg trọng lượng Thông khí phổi tối đa khoảng 9-10 lít Trong hoạt động thông khí phổi tối đa 140-160 lýt/phút, cao hơn so với trẻ em
Hấp thụ oxy khi yên tĩnh ở người trưởng thành cao hơn so với trẻ em Trẻ
em 10-11 tuổi, chịu đựng thiếu oxy kém hơn, vì vậy thời gian nín thở ngắn hơn so với người trưởng thành hấp thụ oxy trong hoạy động thể lực tăng 10 lần so với mức chuyển hoá cơ sở, trong khi người trưởng thành có thể tăng 15-16 lần
Hệ máu: Khối lượng máu tỷ lệ với trọng lượng cơ thể của người trưởng thành thấp hơn trẻ em, lượng máu của nam nhiều hơn nữ, lượng hồng cầu cũng thấp hơn trẻ em, ở trẻ 11 tuổi trong lmm3 máu có khoảng 5-6,5 triệu hồng cầu, sau đó số lượng hồng cầu gaimr dần, lượng hồng cầu của người trưởng thành nam la 5,11 triệu/mm3 máu,ở nữ vào khoảng 4,6 triệu/ mm3 máu Bạch cầu trong máu người trưởng thành cũng ít hơn trẻ em, bạch cầu trong máu của trẻ em sơ sinh khoảng 10.000-15.000/lmm3 máu, sau đó giảm dần ở người trưởng thành vào khoảng 6000-8000/lmm3 Hoạt động cơ bắp làm cho hệ máu có những thay đổi nhất định Sau thời gian tập luyện lâu dài và căng thẳng độ nhớt của máu người trưởng thành thấp hơn so với trẻ em Sau các hoạt động, với thời gian ngắn, lượng hồng cầu của trẻ em
ít tăng hơn (8-13%); Còn sau các hoạt động kéo dài lại giảm đi và hồi phục chậm hơn người trưởng thành
1.9 Các công trình nghiên cứu có liên quan
Trần Đức Phấn (2002), “Nghiên cứu xây dựng một số bài tập nhằm phát
triển năng lực linh hoạt chuyên môn cho nữ VĐV bóng chuyền từ 14-16 tuổi‖ Luận
án Tiến sĩ, Hà Nội
Bùi Trọng Toại (2007), “Nghiên cứu sự phát triển sức mạnh và một số các
bài tập cho vận động viên bóng chuyền‖, Luận án Tiến sĩ, Viện KH TDTT, Hà Nội
Bùi Trọng Toại, Nguyễn Đăng Khánh (2010), “Huấn luyện sức mạnh bột
phát‖, NXB TDTT
Dao Chanh Thuc (2017), “Research and building system developmental
strength exercises system by plyometric method for male students’ major in volleyball of physical education department at An Giang University‖ International
Journal of Physical Education, Sports and Health, 156-158
Trang 3625
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Các phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra chúng tôi sử dụng các phương pháp sau đây
2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu nhằm phân tích, tổng hợp các tài liệu, tư liệu, một số kiến thức liên quan đến vấn đề nghiên cứu, hình thành cơ sở lý luận, xây dựng giả thuyết khoa học, xác định nhiệm
vụ nghiên cứu và bàn luận kết quả trong quá trình thực hiện đề tài Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm thu thập thêm thông tin, số liệu, để xác định một số test đánh giá SMBP cho sinh viên nam khóa 40TD ngành GDTC Trường ĐH G, chọn lựa một số bài tập huấn luyện SMBP cho sinh viên phù hợp Ngoài ra, các dữ liệu khoa học thu được còn sử dụng để thảo luận với các số liệu nghiên cứu của đề tài
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn nhằm tiến hành tham khảo ý kiến các chuyên gia, huấn luyện viên, giảng viên viên… để xác định một số test đánh giá SMBP và một
số bài tập huấn luyện SMBP
2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Phương pháp kiểm tra sư phạm được sử dụng để kiểm tra đánh giá thực trạng SMBP trước và sau thực nghiệm Các test sử dụng gồm:
a) Chạy 30 m xuất phát cao (s)
Mục đích: Đánh giá sức mạnh bột phát toàn thân
Dụng cụ: Đồng hồ bấm giây
Cách thực hiện: Sinh viên đứng sau vạch xuất phát, đứng chân trước chân sau, trọng tâm thấp, ở tư thế xuất phát cao, tay co ở khớp khuỷu, người cúi tự nhiên, bàn chân trước đứng sát vạch giới hạn Khi có hiệu lệnh xuất phát sinh viên chạy bột phát tối đa qua cự ly 30m Kết quả đo được tính bằng giây
b) Nằm sấp chống đẩy 20s (sl)
Mục đích: Đánh giá sức mạnh đôi tay
Dụng cụ: Đồ hồ bấm giây
Cách thực hiện: Từ tư thế nằm sấp, tay chống thân người giữ thẳng Hai chân
ép sát vào nhau, hai tay duỗi thẳng, hai tay cách nhau bằng vai Thực hiện bằng cách gập hai khuỷu tay hạ thân người xuống đến vị trí song song và sát mặt đất sau