TÓM LƢỢC Chuyên đề thực hiện nhằm so sánh và đánh giá mức độ, thời điểm xuất hiện triệu chứng xoắn lá, xoắn chóp, rách lá lúa trên giống OM 6976 ở hình thức chủng bệnh cá thể trong điều
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ VÀ THỜI ĐIỂM XUẤT HIỆN TRIỆU CHỨNG ĐẶC TRƯNG LÙN XOẮN LÁ LÚA Ở ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI
TRẦN VĂN THƠ
AN GIANG, THÁNG 08 – NĂM 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ VÀ THỜI ĐIỂM XUẤT HIỆN TRIỆU CHỨNG ĐẶC TRƯNG LÙN XOẮN LÁ LÚA Ở ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI
TRẦN VĂN THƠ MSSV: DTT145442
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ThS NGUYỄN PHÚ DŨNG
AN GIANG, THÁNG 08 – NĂM 2018
Trang 3CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Đề tài nghiên cứu khoa học “Xác định mức độ và thời điểm xuất hiện triệu chứng
đặc trưng lùn xoắn lá lúa ở điều kiện nhà lưới”, do sinh viên Trần Văn Thơ thực
hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Phú Dũng Tác giả đã báo cáo kết quả
nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo thông qua ngày 06/08/2018
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn:
Cha mẹ những người đã nuôi dưỡng dạy dỗ tôi để tôi có được như ngày hôm nay Công ơn đó suốt đời tôi ghi nhớ mãi
Trường Đại học An Giang đặc biệt thầy cô Bộ môn Khoa Học Cây Trồng đã tận tình truyền đạt những kiến thức chuyên môn, những kinh nghiệm bổ ích giúp đỡ tôi rất nhiều trong học tập cũng như công việc sau này
Thầy Nguyễn Phú Dũng đã tận tình hỗ trợ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Thầy Trần Văn Khải và thầy Nguyễn Văn Chương giáo viên phản biện của đề tài này Những ý kiến đóng góp của hai thầy vô cùng hữu ích giúp tôi nhận ra khuyết điểm của đề tài này
Các bạn: Yến, Thạnh, An, Thành và các bạn lớp DH16TT đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi hoàn thành các thí nghiệm
Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn những người đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt chuyên đề này này
An Giang, ngày 20 tháng 8 năm 2018
Người thực hiện
Trần Văn Thơ
Trang 5LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
An Giang, ngày 20 tháng 8 năm 2018
Người thực hiện
Trần Văn Thơ
Trang 6TÓM LƢỢC
Chuyên đề thực hiện nhằm so sánh và đánh giá mức độ, thời điểm xuất hiện triệu chứng xoắn lá, xoắn chóp, rách lá lúa trên giống OM 6976 ở hình thức chủng bệnh cá thể trong điều kiện nhà lưới Các chỉ tiêu ghi nhận như tỷ lệ bệnh, thời gian ủ bệnh và phần trăm triệu chứng biểu hiện bệnh trên từng nghiệm thức Kết quả cho thấy, phương pháp chủng bệnh cá thể cho kết quả chủng lần 3 luôn có tỷ lệ bệnh cao hơn so với chủng bệnh lần 1 và chủng bệnh lần 2 Thời gian ủ bệnh trong cây lúa từ 18,2 – 24,2 ngày ở phương pháp chủng cá thể và không phụ thuộc vào số lần chủng rầy mang virus chích hút truyền bệnh Triệu chứng xoắn chóp có tỷ lệ biệu hiện cao nhất, nhưng lại có thời gian ủ bệnh ngắn nhất và thấp hơn so với triệu chứng rách lá và xoắn lá chỉ khi chủng bệnh cá thể ở lần chủng 3
Từ khóa: Triệu chứng xoắn lá, xoắn chóp và rách lá
Trang 7in rice plants were 18.2 – 24.2 days and did not depend on the number of times inoculation by viruliferous Brown Plant Hopper T he symptom of twisted leaf tip showed the highest incidence of disease, but was the shortest incubation period of RRSV and lower than t he symptom of serrated leaf tissue and twisted leaf when was innoculated of the third
Keywords: Rice Ragged Stunt Virus, twisted leaf, twisted leaf tip and serrated
leaf tissue
Title: Determine the level and the infected stage of t he symptom Rice Ragged Stut Virus in nethouse condition
Trang 8MỤC LỤC Nội dung Trang
Chấp nhận của hội đồng i
Lời cảm tạ ii
Lời cam kết iii
Tóm lược iv
Abstract v
Danh sách hình viii
Danh sách bảng viii
Danh mục từ viết tắt viii
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ RẦY NÂU 3
2.2 BỆNH LÙN XOẮN LÁ 9
2.3 ĐẶC TÍNH GIỐNG THỬ NGHIỆM 12
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 13
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 15
CHƯƠNG 4 KẾT QUÀ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 NGHI NHẬN TỔNG QUAN 16
4.2 CHỈ TIÊU GHI NHẬN Ở NHÀ LƯỚI 16
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 20
5.1 KẾT LUẬN 20
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO 21 PHỤ LỤC 24
Trang 10DANH SÁCH HÌNH Hình Trang
Hình 1: Nhân nuôi rầy 14
Hình 2: Thức ăn nuôi rầy 14
Hình 3: Mẫu cây bệnh 15
Hình 4: Cho rầy lấy virus 15
Hình 5: Trung bình thời gian ủ bệnh trong cây lúa 20
DANH SÁCH BẢNG Bảng Trang Bảng 1: Tỷ lệ (%) cây lúa bị nhiễm bệnh sau khi chủng 20
Bảng 2: Tỷ lệ (%) biểu hiện triệu chứng bệnh ở chủng bệnh cá thể 21
Bảng 3: Tỷ lệ (%) biểu hiện triệu chứng bệnh ở chủng tập thể 21
Bảng 4: Trung bình thời gian (ngày) ủ bệnh ở từng triệu chứng sau khi chủng 22
Bảng 5: Trung bình thời gian (ngày) ủ bệnh ở từng triệu chứng sau khi chủng 23
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Chữ viết đúng
BVTV Bảo vệ thực vật ĐBSCL Đồng Bằng Sông Cửu Long
NN – PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn RGSV Rice Grassy Stunt Virus RRSV Rice Ragged Stunt Virus
Tp HCM Thành phố Hồ Chí Minh
VL – LXL Vàng lùn – Lùn xoắn lá
XC Xoắn chóp lá
RL Rách lá
XL Xoắn lá
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Ở Việt Nam, vào năm 1958 rầy nâu phát sinh thành dịch phá hại lúa chiêm xuân giai đoạn trỗ - chín ở các tỉnh phía Bắc Ở nhiều tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đồng bằng ven biển khu 5 và Thừa Thiên Huế Năm 1974 diện tích lúa bị rầy nâu hại ở các tỉnh phía Nam lên tới 97.860 ha, đặc biệt từ tháng 11/1977, trong suốt 3 tháng 11 – 1, rầy nâu gây thành dịch trên diện tích rộng 200.000 ha Theo Cục Bảo vệ thực vật (BVTV), trong những năm 1999 – 2003, diện tích lúa bị hại do rầy nâu và rầy lưng trắng gây
ra trong cả nước là 408.908 ha trong đó miền Bắc là 213.208 ha, miền Nam là 195.699 ha Năm 2006 ở nước ta đã xuất hiện đại dịch bệnh virus vàng lùn và lùn xoắn lá (VL – LXL) trên lúa đầu tiên ở ĐBSCL Sau đó lan ra nhiều tỉnh khác ở Đông Nam Bộ và miền Trung gây ra thiệt hại hàng nghìn hecta lúa hè thu trên nhiều tỉnh (Nguyễn Thơ, 2007) Bệnh lùn xoắn lá do virus Rice Ragged Stunt Virus (RRSV) và bệnh lùn lúa cỏ (vàng lùn) do virus Rice Grassy Stunt Virus (RGSV) là hai bệnh nghiêm trọng trên cây lúa, rất khó phòng trị và là nỗi lo lắng của người nông dân Hai bệnh trên không lây truyền qua hạt giống, nước, không khí, đất và các tác nhân giới mà chủ yếu là qua môi giới truyền bệnh là rầy nâu (Nguyễn Thị Hà, 2010) Hiện nay chưa có giống kháng tuyệt đối và biện pháp phòng trừ cũng chưa áp dụng một cách đúng đắn nên bệnh vẫn còn xuất hiện một số nơi trên đồng ruộng Bệnh gây hại nghiêm trọng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lúa và thiệt hại về đời sống kinh tế cho bà con
Theo Cục BVTV (2014) tại các tỉnh phía Nam, sâu bệnh phát sinh chủ yếu trên lúa Hè Thu giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng và trỗ bông Đáng chú ý, diện tích nhiễm rầy nâu và đạo ôn lá giảm nhiều so với năm 2013, trong khi bệnh
VL – LXL đang có chiều hướng tăng Tổng diện tích lúa bị nhiễm bệnh VL – LXL là 3.040 ha, tăng 3.000 ha so với năm 2013 Bệnh xuất hiện chủ yếu ở các tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bến Tre, Vũng Tàu và Long An vì
Trang 12Vì vậy để góp phần hạn chế sự lây lan và phát tán của bệnh VL – LXL thì việc biết được biểu hiện của cây nhiễm bệnh, để nhanh chóng xác định cây bị
nhiễm để có biện pháp đối phó là rất quan trọng Do đó đề tài “Xác định mức
độ và thời điểm xuất hiện triệu chứng đặc trưng lùn xoắn lá lúa ở điều kiện nhà lưới” được thực hiện góp phần xác định xu hướng thể hiện chủ đạo trên
cây bị nhiễm bệnh VL – LXL để xác định ngay cây bệnh từ giai đoạn đầu nhằm hạn chế lây lan và phát tán của bệnh, đảm bảo sự sinh trưởng và phát
triển của cây lúa
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
So sánh và đánh giá thời gian ủ bệnh, thời điểm xuất hiện triệu chứng xoắn lá, xoắn chóp, rách lá trên giống OM 6976 ở hình thức chủng bệnh cá thể trong điều kiện nhà lưới
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Thí nghiệm được thực hiện trên đối tượng bệnh lùn xoắn lá, rầy nâu, giống lúa
OM 6976
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
So sánh tỉ lệ (%) mức độ thể hiện triệu chứng xoắn lá, xoắn chóp, rách lá trên giống OM 6976 trong điều kiện nhà lưới
Trang 13CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ RẦY NÂU
2.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố
Rầy nâu được coi là một trong những đối tượng nguy hiểm gây hại trên lúa có
tên khoa học là Nilaparvata lugens Stal thuộc giống Nilaparvata, họ rầy
Delphacidae, bộ nhỏ Fulgoromorpha, bộ phụ Auchenorrhyncha, bộ cánh đều
Homoptera Nilaparvata lugens được đặt tên đầu tiên vào năm 1854 là Delphax lugens Stal Sau đó được đổi thành Nilaparvata lugens bởi Muir và
Giffard vào năm 1924 Rầy nâu là một trong những đối tượng sâu hại lúa quan trọng nhất hiện nay ở hầu hết các vùng trồng lúa ở Việt Nam Hàng năm, hàng ngàn hecta lúa, đặc biệt ở các tỉnh ĐBSCL, đã bị rầy nâu gây hại và làm giảm sản lượng lúa gạo (Lương Minh Châu và ctv, 2006) Ngoài gây hại trực tiếp là rầy non và trưởng thành chích hút dịch lúa, làm cây lúa sinh trưởng phát triển kém, gây cháy rầy (nếu mật độ rầy cao), rầy nâu còn là môi giới truyền bệnh virus lúa vàng lùn, lùn xoắn lá (Phạm Văn Lầm, 2000)
Rầy nâu xuất hiện ở tất cả các nước trồng lúa, nhất là các nước ở đồng bằng nhiệt đới Á châu như Ấn Độ, Bangladesh, Sri-Lanka, Tân Guinea, Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Ở khu vực Nam bộ, hầu hết các vùng trồng lúa đều có sự hiện diện của rầy nâu, đặc biệt là các tỉnh trồng lúa mùa địa phương, là loại giống nhiễm đối với rầy nâu, do vậy hàng năm rầy luôn luôn xuất hiện tại các tỉnh như: Cần Thơ, Bến Tre, Long An, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Tp.HCM Tuy nhiên, các tỉnh trồng lúa ngắn ngày bị nhiễm rầy nâu cũng thấy chúng xuất hiện thường xuyên
Ngoài lúa, rầy nâu còn có thể sống trên lúa hoang Cỏ Leersia japonica, cỏ
gấu, cỏ lồng vực cũng đôi khi bị rầy nâu tấn công nhưng các quần thể rầy nâu này không phát triển được trên cây lúa (Nguyễn văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Rầy nâu có khả năng di chuyển rất xa khi có gió mùa, rầy bốc lên theo các luồng gió và bị cuốn đến những nơi rất xa, có thể đến hàng chục ngàn cây số
từ quần đảo Philippines đến miền Bắc Việt Nam rồi sang Trung Quốc và đáp xuống Nhật Bản (Lương Minh Châu, 2005)
Trang 142.1.2 Đặc điểm sinh học
2.1.2.1 Đặc điểm hình thái
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) Rầy nâu có cơ thể màu vàng nâu, đỉnh đầu nhô ra phía trước Phần gốc có 2 đốt nở to Đốt roi râu dài và nhỏ Cánh trong suốt, giữa phần cạnh sau của mỗi cánh trước có một đốm đen, khi hai cánh xếp lại đốm này chồng lên nhau tạo thành một đốm đen to trên lưng
Rầy đực có cơ thể dài từ 3,6 – 4 mm Rầy cái màu nâu nhạt và kích thước cơ thể to hơn rầy đực, chiều dài cơ thể từ 4 đến 5 mm bụng to tròn, ở khoảng giữa mặt bụng có bộ phận đẻ trứng bén nhọn màu đen
Thành trùng rầy nâu có 2 dạng cánh:
Cánh dài che phủ cả thân và chủ yếu dùng để bay đi tìm thức ăn
Cánh ngắn phủ đến đốt thứ 6 của thân mình, dạng cánh này chỉ phát sinh khi thức ăn đầy đủ, thời tiết thích hợp và có khả năng đẻ trứng rất cao
Đời sống trung bình của thành trùng rầy nâu khoảng từ 10 – 20 ngày, trong thời gian đó một rầy cái cánh dài đẻ khoảng 100 trứng và một rầy cái cánh ngắn đẻ từ 300 đến 400 trứng Nếu điều kiện thích hợp một rầy cái có thể đẻ đến cả ngàn trứng
Trứng rầy nâu được đẻ thành từng hàng vào trong bẹ cây lúa, mỗi hàng có từ 8 – 30 cái Trứng rầy giống hình hạt gạo, dài từ 0,3 – 0,4 mm, mới đẻ màu trắng trong, sắp nở màu vàng Phía trên đầu trứng có bộ phận che lại gọi là nấp trướng Thời gian ủ trứng từ 5 – 14 ngày
Ấu trùng rầy nâu hay còn gọi là rầy cám, khi mới nở rất nhỏ, màu trắng sữa, càng lớn rầy càng chuyển thành màu nâu nhạt Ấu trùng tuổi lớn rất giống thành trùng cánh ngắn nhưng cánh ngắn hơn và đục, trong khi cánh của thành trùng cánh ngắn thì trong suốt với các gân màu đậm Ấu trùng rầy nâu có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 14 – 20 ngày
2.1.2.2 Tập quán sống và cách gây hại
Sau khi vũ hóa từ 3 – 5 ngày, thành trùng cái bắt đầu đẻ trứng bằng cách rạch
bẹ lá hoặc gân chính của phiến lá, gần cổ lá, khi mật số cao, đẻ vào bên trong
mô thành từng hàng Khoảng 3 ngày sau, các vết đẻ trên bẹ lúa có màu nâu do nấm bệnh xâm nhập vào, các vết này dài từ 8 – 10 mm chạy dọc theo bẹ lá Rầy cái tập trung đẻ trứng ở gốc cây lúa, cách mặt nước từ 10 – 15 cm Rầy trưởng thành cách dài bị thu hút nhiều bởi ánh sáng đèn và vào đèn nhiều lúc
Trang 15trăng tròn, bay vào đèn nhiều từ 8 – 11 giờ đêm (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Sự chích hút dinh dưỡng của rầy nâu: rầy nâu gây hại bằng cách dùng vòi chích hút vào mô libe để hút nhựa Trong khi chích hút rầy tiết ra nước bọt phân hủy mô cây, tạo thành một bao chung quanh vòi chích hút, cản trổ sự di chuyển nhựa và nước lên phần trên của cây lúa làm cây bị khô héo, gây hiện tượng “ cháy rầy”
Triệu chứng gây hại do rầy nâu: bộ phận miệng của rầy nâu có cấu tạo theo kiểu chích hút, nên triệu chứng gây hại khác với chiệu trứng gây hại do côn trùng có kiểu miệng nhai gây ra Rầy nâu dùng vòi nhọn cắm vào bẹ lá, lá, thân, hạt non đẻ chích hút dịch dinh dưỡng trong cây lúa, để lại nhiều vết nâu nhỏ trên bộ phận hại, hủy hoại tế bào trong cây Phương thức đẻ trứng của rầy cũng hủy hoại nhiều tế bào của cây lúa Những tác động này của rầy nâu tạo ta
sự thay đổi tế bào trong cây lúa, hủy hoại bó mạch, làm tắc ống dẫn, ảnh hưởng sự vận chuyển dinh dưỡng nuôi cây, làm thay đổi sinh lý hóa của cây,
do đó cây lúa héo vàng và chết Triệu chứng đầu tiên là ở các lá già vàng, sau
đó dần dần đến các lá lúa phía trên trở thành màu nâu và chết, đồng thời hoạt động sinh lý của rễ cây lúa cũng bị giảm Hai tác động cùng lúc lên cây lúa khi
bị rầy nâu phá hại gây trở ngại cơ giới và tiêu hao năng lượng dẫn đến sự trao đổi chất mất bình thường trong cây lúa Quá trình này xảy ra liên tục ngày càng mạnh khi mật độ rầy nâu càng tăng, cây lúa cũng sẽ mất nhiều nước (Nguyễn Phú Dũng, 2011 trích từ Phạm Văn Lầm, 2006)
Ngoài ảnh hưởng gây hại trực tiếp, rầy nâu còn gây hại gián tiến cho cây lúa:
Mô cây tại các vết chích hút và đẻ trứng của rầy trên thân cây lúa bị hư do sự xâm nhập của một số loài nấm, vi khuẩn Phân rầy tiết ra có chất đường thu hút nấm đen tới đóng quanh gốc lá, cản trở quang hợp, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa
Rầy nâu thường truyền các bệnh lúa cỏ (RGSV), và lùn xoắn lá (RRSV) cho cây lúa Mức độ lùn của cây lúa còn tùy thuộc vào thời gian lúa bị nhiễm bệnh:
Nếu cây lúa bị nhiễm bệnh sớm, trong tháng đầu sau khi sạ, bụi lúa lùn hẳn và thất thu hoàn toàn
Nếu cây lúa bị nhiễm bệnh muộn hơn, bụi lúa bị lùn ít và có thể trổ bông nhưng rất ít hoặc đồng lúa không thoát được, hạt bị lép nhiều, năng suất thất thu khoảng 70%
Trang 16Nếu ruộng lúa bị nhiễm bệnh muộn hơn nữa, từ khi lúa tròn mình trở về sau, bụi lúa sẽ không lùn và có thể trổ bông nhưng bông lúa bị lép nhiều và có thể thất thu đến 30% (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
2.1.3 Những thiệt hại do rầy nâu gây ra
Theo nghiên cứu của Yen và Chen (1977) tại Đài Loan trước năm 1960 rầy nâu chỉ xuất hiện rải rác ở vài nơi Nhưng từ 1965 trở đi, chúng trở thành sâu hại chủ yếu trên cây lúa Sự bùng phát rầy nâu đã xảy ra trong suốt vụ lúa thứ hai vào các năm 1966, 1967, 1970, 1974 và 1975 ở trung tâm và phía Nam Đài Loan, xâm nhiễm trên 100.000 ha lúa (Yen và Chen, 1977) Mặc dù được phòng trừ bằng thuốc hóa học nhưng năng suất hằng năm vẫn giảm từ 16.140 tấn năm 1972 đến 55.584 tấn năm 1975 Năm 1975, thiệt hại kinh tế do rầy nâu gây ra lên đến 9.715.000 USD chưa kể đến 28.701.298 USD nông dân đã tiêu tốn cho việc phòng trừ bằng thuốc hóa học
Rầy nâu có thể hại ở tất cả những giai đoạn sinh trưởng của cây lúa, đặc biệt giai đoạn mạ, làm đòng, trỗ và chín Ở giai đoạn lúa làm đòng, rầy trưởng thành và rầy non dùng miệng chích vào cây lúa để hút dịch cây Bị hại nhẹ các lá phía dưới có thể bị héo, hạt lúa bị lửng lép Bị hại nặng gây nên hiện tượng “cháy rầy”, cả ruộng lúa bị khô héo, màu trắng tái hoặc trắng Nếu gặp mưa lúa bị hại có thể bị thối nhũn Năng suất có thể bị giảm tới 50% hoặc mất trắng
Tại Trung Quốc, năm 2005, sự bùng phát rầy nâu nghiêm trọng ở nước này đã đánh dấu sự phát triển tính kháng thuốc của rầy nâu (Cheng và Zhu, 2006) Tại Việt Nam, từ năm 1970 rầy nâu đã trở thành dịch hại nguy hiểm nhất trên cây lúa ở nước ta So với các loài sâu bệnh hại khác trên cây lúa, rầy nâu luôn
là đối tượng xuất hiện thường xuyên và gây hại trên diện rộng Diện tích nhiễm rầy nâu liên tục tăng lên hằng năm từ 35.358 ha (năm 1998) lên đến 572.419 ha (năm 2007) Sự thiệt hại do rầy gây ra là yếu tố chính hạn chế năng suất lúa, tác giả cũng xác định được nguyên nhân của sự bùng phát gây hại và hiện tượng “cháy rầy” trên đồng ruộng là do rầy nâu chứ không phải do rầy
lưng trắng (Sogatella furcifera), hàng nghìn ha lúa bị phá hủy và thiệt hại kinh
tế lên đến 3 triệu USD mỗi năm (Nguyễn Văn Huỳnh, 2012) Những thiệt hại
do rầy nâu gây ra hàng năm làm mất khoảng 10% sản lượng lúa, đôi khi tới 30% hoặc hơn thế nữa Biện pháp để ngăn chặn nạn dịch rầy nâu là sử dụng thuốc diệt côn trùng Tuy nhiên, việc sử dụng tràn lan các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu đã gây ra sự trỗi dậy của loại côn trùng này như kết quả của sự thích nghi có chọn lọc
Trang 17Rầy nâu đã bắt đầu xuất hiện ở ĐBSCL từ những năm 1931 – 1932 cho đến những năm 1968 mà không gây ra một hậu quả nghiêm trọng nào Nhưng từ năm 1971 trở đi rầy nâu trở thành mối đe dọa lớn Năm 1977 – 1978 một trận dịch lớn xảy ra, diện tích lúa bị rầy nâu gây hại trên 1 triệu ha, giảm năng suất
30 – 50%, thiệt hại hơn triệu tấn thóc Ở vụ Đông Xuân 1990 – 1991 rầy phát triển với mật số cao trên 400.000 ha lúa ở các tỉnh ĐBSCL Nhiều nhất là An Giang (tiền thuốc rầy lên tới 15 tỉ) Ở Đồng Tháp, diện tích cần trừ lên tới 100%, thiệt hại 85 tỉ Hầu hết các loại giống kháng rầy biotype 2 đều bị nhiễm nặng như IR42, MTL58, IR66, (Nguyễn Phú Dũng, 2011 trích dẫn từ Nguyễn Mạnh Hùng, 1992)
Từ năm 2005 đến nay, sự bùng phát trở lại của rầy nâu không chỉ gây hại trực tiếp mà còn là môi giới truyền virus gây bệnh lùn xoắn lá và bệnh lúa cỏ cho cây lúa làm giảm sản lượng lúa không chỉ ở ĐBSCL mà còn ở khu vực miền Trung (Nguyễn Văn Đĩnh và Trần Thị Liên, 2005) Bệnh LXL được ghi nhận đầu tiên ở năm 1977 ở Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan, năm
1978 bệnh xuất hiện và gây hại ở Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanka và Đài Loan
và năm 1979 ở Nhật Bản Nguồn gốc xuất hiện virus vẫn chưa rõ ràng Ở các nước đã bị hại, virus rất nhanh phát triển thành dịch Ở những vùng nhiệt đới, mật độ quần thể rầy nâu hay tăng cao bất thường dẫn tới hiện tượng lúa LXL bùng phát thành dịch ở nhiều nước trong khu vực này vào những năm cuối thập kỷ 70
Hè thu 2009, rầy nâu đã gây hại hơn 12.000 ha trong 300.000 ha lúa trong giai đoạn mạ, đẻ nhánh, trổ đòng tại ĐBSCL trong đó có 4.129 ha nhiễm nặng và trung bình Các tỉnh có diện tích lúa bị rầy nâu gây hại nhiều nhất là Bạc Liêu với 4.150 ha, Long An 2.508 ha, Vĩnh Long 1.911 ha, Đồng Tháp 1.280 ha, Tiền Giang 1.202 ha Mật số rầy nâu phổ biến trung bình 750 – 1.500 con/m2
, nơi cao lên đến 4.000 com/m2 Bệnh VL và LXL xuất hiện gây thiệt hại nặng
150 ha tại xã Tân Hòa, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An với mức độ từ 30 – 40% diện tích (Cao Thị Xuân Thẩm, 2012 trích từ Thế Đạt, 2009)
2.1.4 Quản lý rầy nâu
Theo sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Tp.HCM (2008), có một số biện pháp quản lí rầy nâu như sau:
Thời vụ: Biện pháp xác định thời vụ gieo sạ hợp lý là biện pháp hàng đầu trong công tác phòng chống dịch, triệt để áp dụng thời gian gieo sạ tập trung đồng loạt trong thời điểm và tránh (né) rầy di trú, đảm bảo thời gian cách ly giữa 2 vụ lúa ít nhất từ 20 – 30 ngày theo hướng dẫn của ngành BVTV
Trang 18Áp dụng đầy đủ “3 giảm, 3 tăng” trong sản xuất lúa: Không gieo sạ quá dày trên 120 kg lúa giống/ha Đối với lúa cấy có thể che chắn để ngăn sự xâm nhập của rầy nâu Bón phân cân đối: không bón thừa phân đạm, khuyến cáo bón tăng liều lượng kali ở lần thúc lúc cây lúa 40 – 45 ngày sau sạ
Thường xuyên theo dõi, kiểm tra đồng ruộng, theo dõi tình hình sinh vật hại, đặc biệt là tình hình rầy nâu hại lúa, bệnh đạo ôn, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, kịp thời phát hiện và xử lý rầy khi có mật số cao
Về biện pháp sử dụng thuốc BVTV lưu ý dùng thuốc theo đúng hướng dẫn, phải theo “4 đúng”
Đối với việc phòng trừ rầy nâu, trong thời gian qua mặc dù ngành bảo vệ thực vật đã khuyến cáo là đối với lúa dưới 40 ngày tuổi, tuyệt đối cấm dùng thuốc gốc Cúc tổng hợp (Pyrethroids), lân hữu cơ Tuy nhiên vẫn còn một số bà con lại sử dụng (Pyrethroids), lân hữu cơ để trừ rầy trong giai đoạn lúa dưới 40 ngày tuổi vì khi phun xịt các loại thuốc này thấy rầy chết ngay Như vậy là thực hiện không đúng hướng dẫn và sẽ gây bộc phát rầy nâu trong các lứa tiếp theo
Do vậy, nếu dùng thuốc trừ rầy trong giai đoạn lúa dưới 40 ngày tuổi, lưu ý bà con chỉ được sử dụng các loại thuốc thuộc các nhóm khác như:
Các thuốc có gốc hoạt chất Buprofezin như: Aperlaur 100WP, Butyl 10WP, 40WDG, 400SC, Viappla 10BTN, 25BTN Tuy hiệu lực của thuốc thể hiện chậm sau 2 – 3 ngày khi rầy non lột xác mới chết nhưng thời gian duy trì hiệu lực kéo dài, do vậy bà con yên tâm sử dụng và lưu ý Phun thuốc khi rầy non mới nở, rầy tuổi còn nhỏ
Các loại thuốc có gốc hoạt chất Fenobucarb như Bascide 50EC, Bassa 50EC, Bassan 50EC Thuốc diệt rầy non và rầy trưởng thành, không diệt trứng, thuốc
có tác động tiếp xúc tiếp xúc, vị độc, do đó khi phun thuốc phải để nước thuốc tiếp xúc với rầy và gốc lúa nơi rầy sinh sống
Các loại thuốc có gốc hoạt chất Isoprocarb như: Mipcide 20EC, 50WP, Vimipc 20ND, 25BTN, Capcin 20EC, 25WP Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc, do đó khi phun thuốc phải để nước thuốc tiếp xúc với rầy và gốc lúa nơi rầy sinh sống
Các loại thuốc có gốc hoạt chất Imidacloprid như: Admire 50EC; 200 OD, Gaucho 70WS, Armada 50EC các loại thuốc này ngoài tác động tiếp xúc, vị độc còn có tác động lưu dẫn, nên khi phun vào cây thuốc được hấp thu nhanh chóng
Trang 19Các loại thuốc có gốc hoạt chất Thiamethoxam như: Actara 25WG, Asarasuper 250WDG, Vithoxam 350SC Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc
và lưu dẫn Khi phun vào cây thuốc được hấp thu nhanh chóng vào cây
2.2 BỆNH LÙN XOẮN LÁ
2.2.1 Nguồn gốc và sự phân bố
Theo Hồ Xuân Thiện (2006) bệnh lùn xoắn lá được miêu tả đầu tiên năm 1977
(Hibino et al., 1977; Ling, 1977; Shikata et al., 1977) Bệnh xuất hiện chủ yếu trên các loài lúa Oryza spp và được gây ra bởi virus có tên khoa học là Rice
ragged stunt virus (RRSV) Đây là loài chuẩn (type species) của chi
Oryzavirus thuộc họ Reoviridae RRSV xuất hiện tại nhiều nước trồng lúa tại
châu Á như Ấn Độ, Bangladesh, Đài Loan, Indonesia, Malaysia, Nhật Bản, Philippines, Sri Lanka, Thái Lan, Trung quốc (ICTVdB – Management, 2006)
và Việt Nam
Tại ĐBSCL, bệnh được phát hiện đầu tiên vào năm 1977 tại huyện Chơ Gạo (Tiền Giang) Bệnh đã cùng với dịch rầy nâu gây nên dịch đói nghiêm trọng cho 3 tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Long An trong những năm 1978 – 1979 Năm
1978, 3200 ha lúa bị nhiễm bệnh làm giảm đi năng suất nghiêm trọng vì chiều cao cây, chiều dài lá và rễ đều bị giảm đi nhiều, dãnh lúa không hình thành được bông và trổ muộn Bông lúa bị bệnh thường ngắn, ít hạt, tỉ lệ hạt lép cao, nhựng ruộng lúa bị bệnh năng suất giảm từ 48 – 82% tùy theo giống (Cao Thị Xuân Thẩm, 2012 trích từ Võ Thanh Hoàng, 2006)
2.2.2 Triệu chứng
Theo Phạm Văn Kim (2016), bệnh lùn xoắn lá thường xuất hiện với ba hoặc nhiều triệu chứng hoặc nhiều triệu chứng hơn trong tám triệu chứng đặc trưng sau:
- Bụi lúa bệnh bị lùn Mức độ lùn tùy thuộc thời điểm rầy nâu truyền bệnh Bụi lúa bị nhiễm bệnh càng sớm thì bụi lúa càng bị lùn nhiều Rễ của bụi lúa bệnh lùn xoắn lá vẫn bình thường
- Bụi lúa đâm nhiều chồi hơn bình thường
- Lá lúa xanh đậm hơn bình thường Bụi lúa luôn có màu xanh ngay cả đến thời điểm sau khi ruộng lúa được thu hoạch Sau khi ruộng lúa được thu hoạch xong, các bụi lúa bệnh còn sống rất lâu trên đồng
- Lá lúa bị xoắn ở đọt Mức độ xoắn tùy bụi lúa Có lúc đọt lá chỉ hơi xoắn nhẹ, nhưng cũng có trường họp lá xoắn nhiều vòng như lò xo
- Lá lúa bị rách dọc theo rìa lá
- Gân lá bệnh sưng to hoặc có u bướu dọc theo gân lá
- Bụi lúa bệnh có chồi đâm ra từ đốt thân, bên trên mặt đất
- Bông lúa bị nghẹn, không thoát ra khỏi bẹ lá cờ và hạt lúa bị lép