1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát thành phần loài mức độ gây hại và diễn biến mật số của côn trùng gây hại trên cây mè tại long xuyên an giang

65 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN THIÊN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN KHẢO SÁT THÀNH PHẦN LOÀI, MỨC ĐỘ GÂY HẠI VÀ DIỄN BIẾN MẬT SỐ CỦA CÔN TRÙNG GÂY HẠI

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN THIÊN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

KHẢO SÁT THÀNH PHẦN LOÀI, MỨC ĐỘ GÂY HẠI VÀ DIỄN BIẾN MẬT SỐ CỦA CÔN TRÙNG GÂY HẠI TRÊN

CÂY MÈ TẠI LONG XUYÊN – AN GIANG

Chủ nhiệm đề tài: KS TRẦN THỊ TUYẾT MAI

Tháng 07, năm 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN THIÊN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

KHẢO SÁT THÀNH PHẦN LOÀI, MỨC ĐỘ GÂY HẠI VÀ DIỄN BIẾN MẬT SỐ CỦA CÔN TRÙNG GÂY HẠI TRÊN

CÂY MÈ TẠI LONG XUYÊN – AN GIANG

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

BAN GIÁM HIỆU LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Trang 3

sự bổ ích về chuyên ngành cho em trong suốt thời gian học tại trường

Em xin chân thành cảm ơn các cô, chú, bác nông dân ở phường Mỹ Thạnh –

TP Long Xuyên đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian làm đề tài nghiên cứu khoa học vừa qua

Đồng thời, xin chân thành cảm ơn các bạn: Hoài Hận, Ngọc Hiếu, Thanh Đệ, Thúy Khoa, Hữu Thọ lớp ĐH9TT đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

TÓM LƯỢC

Việc mở rộng diện tích trồng mè trong những năm gần đây ở TP Long Xuyên-An Giang đã kéo theo thành phần loài, mức độ và số lượng côn trùng gây hại trên cây mè tăng lên Điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho người dân trồng mè ở đây Chính vì lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Khảo sát thành phần loài, mức độ gây hại và diễn biến mật số của côn trùng gây hại trên cây mè tại Long Xuyên An Giang” để giúp cho người dân trồng

mè nhận diện được một số loài côn trùng gây hại phổ biến, đồng thời cũng giúp cho người dân ghi nhận được khả năng, mức độ và mật số của côn trùng gây hại trên ruộng mè Đề tài được thực hiện bằng phương pháp điều tra nông dân và khảo sát thực tế ngoài ruộng về thành phần loài, mức độ gây hại và mật

số của côn trùng gây hại trên ruộng mè từ tháng 2- 4/2012

Trong quá trình điều tra nông dân và khảo sát thực tế ngoài ruộng chúng tôi ghi nhận được:

Có 11 loài gây hại trên ruộng mè, trong đó có 2 loài gây hại quan trọng nhất là sâu keo và sâu xanh da láng Cả 2 loài này đều gây hại trên ruộng mè ở mức

độ nặng Sâu xanh da láng xuất hiện nhiều đứng hàng thứ hai sau ruồi đục lá chiếm tỉ lệ 66,67% Sâu keo có mức độ hiện diện trên ruộng nhiều thứ ba (50%) Trung bình mật số của sâu keo và sâu xanh da láng/m2 khá cao Loài

có mức độ hiện diện ít nhất là rầy xanh (16,67%), mật số trung bình/m2 tương đối cao, gây hại ở mức độ trung bình Ruồi đục lá là loài có mức độ hiện diện (83.33%) và mật số trung bình/m2 nhiều nhất, tuy nhiên mức thiệt hại do dòi đục lá gây ra không đáng kể, chỉ gây hại ở mức độ nhẹ

Bên cạnh đó chúng tôi còn điều tra thêm tình hình canh tác mè của nông dân

và ghi nhận thêm các loài thiên địch trên ruộng mè được chọn khảo sát

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm tạ i

Tóm lược ii

Mục lục iii

Danh sách bảng vi

Danh sách hình vii

Ký hiệu và viết tắt viii

Chương 1 Giới thiệu… 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1

1.3 Giới hạn nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

Chương 2 Lược khảo tài liệu 3

2.1 Nguồn gốc và sự phân bố của cây mè 3

2.2 Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế 3

2.3 Tình hình sản xuất mè trên thế giới và Việt Nam 4

2.3.1 Tình hình sản xuất mè trên thế giới 4

2.3.2 Tình hình sản xuất mè ở Việt Nam 6

2.4 Phân loại giống mè 7

2.5 Đặc điểm sinh học của cây mè 9

2.5.1 Rễ 9

2.5.2 Thân 10

2.5.3 Lá 10

2.5.4 Cành 10

2.5.5 Hoa 11

2.5.6 Quả 11

2.5.7 Hạt 12

2.6 Thu hoạch và bảo quản 12

2.7 Đặc điểm các loài sâu hại trên cây mè 13

2.7.1 Sâu sừng (Sâu sa) 13

2.7.2 Sâu khoang 14

2.7.3 Rệp hại mè 16

2.7.3.1 Rệp bông 16

2.7.3.2 Rệp xanh 16

2.7.4 Bọ xít xanh 17

Trang 6

2.7.5 Câu cấu xanh lớn 17

Chương 3 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 19

3.1 Phương tiện nghiên cứu 19

3.1.1 Thời gian và địa điểm 19

3.1.2 Vật liệu thí nghiệm 19

3.2 Phương pháp nghiên cứu 19

3.2.1 Điều tra nông dân 19

3.2.2 Khảo sát thực tế ngoài ruộng 20

3.2.3 Khảo sát trong phòng thí nghiệm 20

3.2.4 Định danh 20

3.2.5 Xử lý số liệu 20

Chương 4 Kết quả thảo luận 21

4.1 Kết quả điều tra nông dân 21

4.1.1.Đặc điểm của nông hộ canh tác cây mè 21

4.1.2 Kỹ thuật trồng mè của nông hộ 24

4.1.3 Thành phần loài và mức độ gây hại của côn trùng gây hại trên ruộng mè 30

4.1.4 Sự hiểu biết của nông dân về các loại bệnh thường gặp trên ruộng mè

31

4.2 Kết quả khảo sát ngoài đồng 32

4.2.1 Tình hình chung trên các ruộng khảo sát 32

4.2.2 Thành phần loài và mức độ gây hại của côn trùng gây hại trên ruộng mè 34

4.2.3 Mật số của các loài côn trùng gây hại trên ruộng mè theo khảo sát thực tế ngoài ruộng 36

4.2.4 Tập quán sinh sống và cách gây hại của một số loài côn trùng gây hại quan trọng 40

4.2.4.1 Sâu keo 40

4.2.4.2 Sâu xanh da láng 42

4.2.5 Thiên địch trên ruộng mè 42

Chương 5: Kết luận và kiến nghị 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Kiến nghị 46

Tài liệu tham khảo 47

Phụ chương 48

Phụ chương A 48

Trang 7

Phụ chương B 51 Phụ chương C 52

Trang 8

Danh sách bảng

Bảng 1: Diện tích, năng suất và sản lượng mè trên thế giới 1999… 5 Bảng 2: Diện tích, năng suất và sản lượng mè trên các vùng sinh thái nông nghiệp nước ta (năm 2000 – 2004) 7 Bảng 3: Sơ lược về đặc điểm chung của nông hộ canh tác mè tại Phường Mỹ Thạnh-TP.Long Xuyên-An Giang năm 2012 22 Bảng 4: Kỹ Thuật trồng mè của nông hộ Phường Mỹ Thạnh-TP Long Xuyên-

An Giang vụ Xuân Hè 2012 25 Bảng 5: Lượng phân bón hoá học cho cây mè/1000m2/vụ 27 Bảng 6: Các loại thuốc trừ sâu nông dân thường dùng để phòng trừ sâu hại 29 Bảng 7: Các loại thuốc trừ bệnh nông dân thường dùng để phòng trừ bệnh hại……….29 Bảng 8: Các loại thuốc trừ cỏ nông dân Phường Mỹ Thạnh thường sử dụng 30 Bảng 9: Thành phần loài và mức độ gây hại của côn trùng gây hại trên ruộng

mè theo kết quả điều tra nông dân 31 Bảng 10: Các loại bệnh thường gặp trên ruộng mè theo kết quả điều tra nông dân tại Phường Mỹ Thạnh-TP Long Xuyên-An Giang 32 Bảng 11: Thành phần côn trùng hiện diện trên ruộng mè tại Long Xuyên, An Giang năm 2012 33 Bảng 12: Thành phần loài, mức độ gây hại và hiện diện của côn trùng gây hại qua các giai đoạn sinh phát triển của cây mè 34 Bảng 13: Trung bình mật số của côn trùng gây hại trên ruộng mè 40 Bảng 14: Thành phần thiên địch trên ruộng mè 43

Trang 9

Danh sách hình

Hình 1: Tỉ lệ diện tích canh tác mè của nông hộ tại Phường Mỹ Thạnh-TP

Long Xuyên-An Giang… 23

Hình 2: Tỉ lệ số năm kinh nghiệm trồng mè của nông hộ tại Phường Mỹ Thạnh-Tp Long Xuyên-An Giang 23

Hình 3: Tỉ lệ mật độ gieo trồng của nông hộ tại Phường Mỹ Thạnh-TP Long Xuyên-An Giang 28

Hình 4: Tỉ lệ số lần phun thuốc BVTV của nông hộ Phường Mỹ Thạnh/vụ 28

Hình 5: Ruộng mè của chú Phùng Văn Hề ở giai đoạn 42NSS 32

Hình 6: Khảo sát thực tế ngoài ruộng 33

Hình 7: Thành trùng ruồi đục lá 34

Hình 8: Bọ xít xanh 35

Hình 9: Rầy xanh gây hại trên ruộng mè 42NSS 35

Hình 10a: Ấu trùng của sâu nhiếu đọt 36

Hình 10b: Triệu chứng gây hại của sâu nhiếu đọt trên ruộng mè 35NSS 36

Hình 11:Biến động mật số sâu của ruồi đục lá qua 6 lần thu chỉ tiêu 37

Hình 12: Biến động mật số sâu của sâu xanh da láng qua 6 lần thu chỉ tiêu 37

Hình 13: Biến động mật số sâu của sâu keo, bọ xít xanh và bọ xít muỗi qua 6 lần thu chỉ tiêu 38

Hình 14: Biến động mật số sâu của rầy xanh qua 6 lần thu chỉ tiêu 39

Hình 15: Biến động mật số sâu của sâu xanh có lông, sâu nhiếu đọt và bọ rầy qua 6 lần thu chỉ tiêu 39

Hình 16: Sâu keo gây hại trên ruộng mè 41

Hình 17: Nhộng của sâu keo 41

Hình 18: Thành trùng của sâu keo 41

Hình 19: Triệu chứng gây hại của sâu keo trên ruộng mè 14NSS 41

Hình 20: Triệu chứng gây hại của sâu keo trên ruộng mè 28NSS 41

Hình 21: Ấu trùng sâu xanh da láng 42

Hình 22: Triệu chứng gây hại của sâu xanh da láng trên ruộng mè 21NSS 42

Hình 23: Bọ rùa 8 chấm trên ruộng mè 42NSS 43

Hình 24: Ong ký sinh 43

Hình 25: Ong ký sinh đang ký sinh sâu keo 43

Hình 36: Kiến ba khoang trên ruộng mè 42NSS 44

Trang 10

Ký hiệu và viết tắt

- BTB: Bắc Trung Bộ

- BVTV: Bảo vệ thực vật

- DTCT: Diện tích canh tác

- DHNTB: Duyên Hải Nam Trung Bộ

- ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long

Trang 11

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Cây mè (vừng) được dân gian nhắc đến không chỉ dùng làm thực phẩm ngon miệng, bổ dưỡng mà còn được xem như vị thuốc giúp giải độc cơ thể, ngăn ngừa nhiều loại bệnh tật Đặc biệt, mè là loại hạt cho dầu ăn có chất lượng cao,

ổn định, không bị trở mùi ôi Ngạc nhiên là loại thực phẩm quý này lại đang

“sống khỏe” ở nhiều tỉnh ĐBSCL (An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long,…) và giúp nhiều nông dân làm giàu

Cây mè có đặc tính thích nghi rộng, dễ trồng, ít sâu bệnh, chi phí đầu tư thấp nhưng lại cho lợi nhuận kinh tế khá cao

Từ những ưu thế đó, vụ Xuân Hè 2004 Trạm Khuyến nông TP Long Xuyên đã

tổ chức hội thảo phát động trồng mè luân canh với cây lúa trên 100 ha và kết quả vụ đầu tiên rất phấn khởi: Năng suất tương đối cao (1 - 1,2 T/ha)

Đến nay diện tích trồng mè ở TP Long Xuyên đã tăng lên 300 ha tập trung nhiều nhất ở các phường Mỹ Thạnh, Mỹ Thới, Mỹ Hòa và một số phường khác thuộc TP Long Xuyên Việc trồng mè đã đem lại nhiều lợi nhuận cho nông dân, góp phần cải thiện đời sống cho người dân trồng mè ở TP Long Xuyên, An Giang Tuy nhiên trong quá trình canh tác bà con nông dân ở đây gặp nhiều khó khăn trong quá trình quản lý dịch hại do côn trùng cắn phá trên cây mè, làm giảm năng suất cây mè

Để góp phần khắc phục những khó khăn trên chúng tôi đã tiến hành thực hiện

đề tài “Khảo sát thành phần loài, mức độ gây hại và diễn biến mật số của

côn trùng gây hại trên cây mè tại Long Xuyên An Giang” nhằm khảo sát

thành phần loài côn trùng gây hại, các đặc điểm hình thái sinh học có liên quan đến sự gây hại, diễn biến mật số của côn trùng gây hại trên cây mè, tạo

cơ sở cho việc xây dựng và ứng dụng hiệu quả quy trình phòng trừ dịch hại trên cây mè, giúp nông dân sản xuất có thể canh tác mè theo hướng bền vững

và an toàn sinh thái

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát thành phần loài, nhận diện được côn trùng gây hại phổ biến trên cây

Ghi nhận được khả năng, mức độ gây hại và diễn biến mật số của côn trùng gây hại phổ biến trên cây mè

Trang 12

1.3 Giới hạn nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về thành phần loài, mức độ gây hại và diễn biến mật số của côn trùng gây hại trên cây mè tại Long xuyên – An Giang

Trang 13

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Nguồn gốc và sự phân bố của cây mè

cây mè (vừng) có tên khoa học là Sesamum indicum L., thuộc bộ Tubiflorae,

họ Pedaliacea, có 16 chi và khoảng 60 loài, trong đó có một vài loài có thể lai

được với Sesamum indicum và cũng được gieo trồng để lấy hạt (Tạ Quốc Tuấn

và Trần Văn Lợt, 2006)

Theo tài liệu của các nhà sử học, những ghi chép của các nhà buôn và sau đó

là những nghiên cứu khoa học có hệ thống thì cây mè là cây có dầu xưa nhất Quê gốc của mè là ở Nam Phi Tại đây đến nay vẫn còn rất nhiều mè hoang dại cho hạt nhưng có nhiều vị đắng nếu dùng công nghệ xử lí thì tốn kém Sau

đó, theo nhiều con đường khác nhau, mè lan tỏa ra khắp Châu Phi, sang tận Trung Mỹ, Nam Mỹ, miền Trung Á, Ấn Độ, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam Mè có mặt ở các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và một phần ôn đới vào lúc thời tiết chưa bắt đầu giá lạnh (Nguyễn Vy, 2003) Theo Phạm Đức Toàn (2009), nguồn gốc cây mè có từ Châu Phi Sau đó được đưa vào vùng tiểu Á (Babylon) và được di về phía Tây - vào Châu Âu và phía Nam vào Châu Á dần dần được phân bố đến Ấn Độ và một số nước Nam Á, Trung Quốc Ấn Độ được xem như là trung tâm phân bố của cây mè Ở Nam

Mỹ, mè được du nhập qua từ Châu Phi sau khi người Âu Châu khám phá ra ở Châu Mỹ vào năm 1492 (do Chritophecoloms người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) đem mè đi bán

Vùng phân bố chính của cây mè là ở giữa 250 vĩ độ Bắc và 250 vĩ độ Nam Nhưng mè cũng có thể phát triển tới Trung Quốc, Liên Bang Nga, Mỹ và tới

300 vĩ độ Nam ở Úc, và 350 vĩ độ Bắc ở Nam Mỹ Mè trồng phổ biến ở độ cao dưới 1250 m so với mặt biển, nhưng cũng có trường hợp được trồng ở độ cao 1500 m Nếu trồng mè ở những độ cao càng cao so với mặt nước biển thì cây thường nhỏ hơn, sinh trưởng nhanh và ít phân cành, thường chỉ có một hoa trên nách lá và năng suất rất thấp (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

2.2 Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế

Mè là cây ngắn ngày Hạt mè có hàm lượng dầu rất cao, chứa tới 45 – 54% lipid Hàm lượng protein 16 – 18%, trong đó có đủ các axit amin không thay thế Vì vậy hạt mè dùng làm thực phẩm rất tốt Dầu mè cho năng lượng cao,

dễ tiêu, có thể bảo quản trong thời gian dài, là loại dầu ăn chất lượng cao Hạt

mè còn được chế biến làm bánh, kẹo và dùng trong bữa ăn hàng ngày của con người

Trang 14

Trong 100g mè hạt có 560 – 580 calo, 18g protein, 20g hydrat cacbon, 50 – 60g chất béo, 10,5mg sắt, 616mg phốt pho, 720mg kali, 60mg natri, 30 đơn vị Vitamin A, 0,8mg B1, 0,5mg Niacin, 2mg Vitamin C,… Đặc biệt lượng Ca trong mè rất cao, gấp 20 lần lạc và nhiều hơn thịt lợn rất nhiều và có lợi cho bệnh tim mạch, bệnh xốp xương,…(Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007)

Trong đông y, mè được coi là một loại thuốc, mè đen có tên là “Hắc ma chi”, làm thuốc bổ, thuốc nhuận tràng, lợi sữa,… Theo Hải Thượng Lãn Ông thì mè

có vị ngọt tính bình, không độc, đi vào bốn kinh phế, tỳ, gan, thận, nuôi huyết, nhuận tràng, điều hòa ngũ tạng (Phạm Văn Thiều, 2003)

Khô dầu mè có hàm lượng prôtein cao có thể dùng làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi rất tốt, khô dầu mè có chất lượng kém có thể dùng làm phân bón cho cây trồng (Tạ Quốc Tuấn vàTrần Văn Lợt, 2006)

2.3 Tình hình sản xuất mè trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Tình hình sản xuất mè trên thế giới

Tuy cây mè được trồng ở nhiều nước nhưng chủ yếu vẫn là các nước đang phát triển, nơi có nguồn lao động dồi dào với giá rẻ Ở đây người ta trồng chủ yếu do các hộ gia đình nông dân Diện tích trồng mè nhiều gồm một số nước như Ấn Độ, Êquađo, Hundurat, Nicaragoa, Mêxicô Theo FAO STAT thì trong vòng 10 năm gần đây từ năm 1991 – 2000 sản lượng mè của thế giới tăng lên 37%, diện tích thu hoạch lại giảm 1%, còn năng suất bình quân của

mè lại tăng lên 38% từ 530 kg/ha lên 732 kg/ha, năng suất trên diện tích hẹp là

2250 kg/ha (Texas – Mỹ) (Phạm Văn Thiều, 2003)

Hàng năm, trên thế giới có khoảng trên 6 triệu ha mè được gieo trồng và tập trung chủ yếu ở một số nước khu vực Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ với tổng sản lượng gần 2,4 triệu tấn Trong đó, các nước khu vực Châu Á chiếm 55% diện tích và 62% sản lượng, Châu Phi 33,58% diện tích và 21,7% sản lượng, phần còn lại không nhiều được phân bố ở khu vực Châu Mỹ và một số nước khác (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Trang 15

Bảng 1: Diện tích, năng xuất và sản lượng mè trên thế giới năm 1999

Nguồn: Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006

Theo Phạm Đức Toàn, (2009) trước thế chiến thứ hai, diện tích trồng mè từ 5 triệu ha vào năm 1939, đạt sản lượng 1,5 tấn trong đó Ấn Độ là quốc gia trồng nhiều nhất với diện tích 2,5 triệu ha, kế đó là Trung Quốc 1,2 triệu ha, Miến Điện 700.000 ha, Soudan 400.000 ha, Mehicô 200.000 ha Các quốc gia có diện tích trồng < 50.000 ha gồm: Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ouganda, Megéria

Các nước trồng nhiều mè trên thế giới:

- Ấn Độ: Đứng đầu thế giới với sản lượng khoảng 4.000.000 T/năm

- Trung Quốc nước sản xuất lớn thứ 2: 320.000 - 350.000 tấn

Trang 16

- Sudan (Châu Phi): 150 - 200 ngàn tấn

- Mexico (Châu Mỹ): 150 - 180 ngàn tấn

Các nước có sản lượng tương đối lớn khác là: Burma, Pakistan, Thái Lan (Châu Á), Nigiêria, Tanazania, Uganda (Châu Phi), Colombia, Venezuela (Châu Mỹ) (Phạm Đức Toàn, 2009)

2.3.2 Tình hình sản xuất mè ở Việt Nam

Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây mè Song có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, nên so sánh với các cây có dầu ngắn ngày như lạc, đỗ tương,… thì diện tích cây mè của chúng ta còn quá nhỏ bé Thời kỳ từ năm 1989 – 1991 có 43.000 ha, sang giai đoạn từ năm 1991 – 1993 lại giảm xuống chỉ còn 25.000

ha Năng suất mè rất thấp, chỉ từ 300 – 500 kg/ha cho nên sản lượng không nhiều Tuy vậy, nhưng nhiều năm nay chúng ta vẫn có xuất khẩu, mặc dầu lượng còn nhỏ Phần lớn mè của ta là tiêu dùng trong nước như ép dầu, ăn trực tiếp, làm bánh kẹo … (Phạm Văn Thiều, 2003)

Theo tổng cục thống kê năm 2004, diện tích trồng mè cả nước khoảng 40.800

ha, trong đó các tỉnh phía Nam 25.600 ha, phía Bắc 15.200 ha, vùng trồng nhiều nhất là BTB (13.500 ha) Năng suất trung bình cả nước khoảng 0,5 T/ha Tổng sản lượng mè cả nước gần 21.000 tấn Ở nước ta, nhất là ở vùng ĐBSCL, tiềm năng sản xuất mè còn rất lớn, cả về diện tích và năng suất Tuy vậy, suốt trong 2 thập niên qua diện tích mè hầu như không tăng, biến động trong khoảng 30.000 – 40.000 ha, còn rất thấp so với khả năng hình thức canh tác chủ yếu vẫn là quảng canh, năng suất thấp Đầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản suất mè chưa được quan tâm đúng mức (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007)

Về diện tích: Năm 2004, cả nước gieo trồng được 40.800 ha, tăng 4.000 ha so với năm 2000 Diện tích tăng chủ yếu ở vùng ĐBSCL (5.800 ha) và DHNTB (1.100 ha), nhưng diện tích lại giảm mạnh ở khu vực Tây Nguyên (3.000 ha), các vùng khác sự thay đổi về diện tích không nhiều (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Diện tích mè ở các tỉnh ĐBSCL chỉ chiếm khoảng 16,91% diện tích gieo trồng

mè cả nước, nhưng do năng suất trung bình cao, gấp gần 2 lần so với năng suất trung bình cả nước nên tổng sản lượng đạt 6.200 tấn, chiếm gần 30% tổng sản lượng mè cả nước Các tỉnh đang trồng nhiều mè ở ĐBSCL là Cần Thơ (4.700 ha), Đồng Tháp (1.200 ha), An Giang (600 ha), và Long An (400 ha), trong đó

An Giang là tỉnh có năng suất trung bình cao nhất, đạt 1,33 T/ha và Long An

Trang 17

là tỉnh có năng suất trung bình thấp nhất (0,25 T/ha) (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Bảng 2: Diện tích, năng suất và sản lượng mè trên các vùng sinh thái nông

nghiệp nước ta (năm 2000 – 2004)

400

600

300 6500

400

700

600 13500

0,75 0,29 0,17 0,48

300

200

100 6500

3400

2100

2800 700

9000

2300

7400 6900

0,40 0,43 0,43 0,90

3600

1000

3000 6200

Nguồn: niên giám thống kê năm 2000 và 2004

2.4 Phân loại giống mè

Theo Nguyễn Vy (2003), năm 1994 nghiên cứu 6 giống mè trong đó có 3 giống mè Nhật, 1 giống mè Myanma, 1 giống mè Trung Quốc và 1 giống mè Việt Nam, kí hiệu như sau: 9401 – 9402 – 9403 – 9404 – 9405 – 9406

Năm 1995, nghiên cứu với 27 giống mè trong đó có 17 giống mè Nhật, 3 giống mè Myanma, 1 giống mè Uganđa, 1 giống mè Tanzania, 1 giống mè Marốc Số còn lại là giống mè 2 vỏ Việt Nam, kí hiệu là: 9501 – 9502 – 9503 – 9504 – 9505 – 9506 – 9507 – 9508…9527

Năm 1996 nghiên cứu với 40 giống mè trong đó ngoài những giống mè đã nghiên cứu năm 1995 còn có thêm 13 giống mè nữa, kí hiệu như sau: 9601 –

9602 – 9603 – 9604 – 9605 – 9606 – 9607 – 9608 … 9627 … 9630 … 9636

… 9640

Theo Phạm Văn Thiều (2003), cây mè có 2 chủng loại chính:

- Mè đen: Vỏ hạt có màu đen, dễ trồng, cây sinh trưởng khỏe, sai quả Thời gian sinh trưởng khoảng 3,5 – 4 tháng, thích hợp với điều kiện đất đai và khí hậu ở vùng đồi núi Tính chịu rét khá Giá trị xuất khẩu làm dược liệu cao hơn

mè trắng

- Mè trắng: Vỏ hạt có màu vàng hoặc trắng Có loại quả tròn giống mè cối xay Loại này cũng sai quả, lắm hạt nhưng chín sớm hơn mè đen Thời gian sinh trưởng khoảng 2,5 – 3 tháng thích hợp cho việc trồng xen canh, gối vụ

Trang 18

Người ta thường dựa vào những đặc điểm sau đây để phân biệt giống mè:

- Thời gian sinh trưởng

- Mùa vụ gieo trồng

- Số quả/nách lá

- Kiểu sinh trưởng là đơn thân hay phân cành

- Màu sắc và kích thước của thân cây

- Số vách ngăn trong quả

- Hàm lượng dầu

- Màu sắc của hạt

Theo Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt (2006), một số giống mè đang được sử dụng phổ biến ngoài sản xuất tại các tỉnh phía Nam:

- Giống mè V6: Đây là giống được chọn lọc ra từ tập đoàn giống mè do công

ty Mitsui của Nhật Bản đưa vào Nghệ An năm 1994 Nhược điểm cơ bản của giống này là tính kháng bệnh héo xanh do vi khuẩn, kém so với các giống mè địa phương Do vậy, cần lưu ý khi sử dụng hạt giống có nguồn gốc sạch bệnh, luân canh triệt để và không gieo trồng ở vùng có nguồn bệnh này

- Giống mè vàng Châu Phú (An Giang): Đây là một trong những giống mè địa phương có khả năng phân cành nhiều Giống này có thời gian sinh trưởng khoảng 80 ngày, chiều cao cây khoảng 100 – 120 cm, số quả trên cây khá nhiều, năng suất trung bình đạt 0,9 – 1,0 T/ha

- Giống mè đen Đồng Nai: Giống này phân cành ít, thời gian sinh trưởng khoảng 80 ngày, chiều cao cây 110 – 120 cm, năng suất bình quân khoảng 1,0 T/ha, nhưng hàm lượng dầu thấp hơn giống mè vàng

- Ngoài ra còn có một số giống địa phương như: Mè đen Thốt Nốt (Cần Thơ),

mè đen Trà Ôn (Vĩnh Long), mè vàng Bình Minh (Vĩnh Long)…

Theo Phạm Đức Toàn (2009), một số giống được trồng phổ biến hiện nay:

- Nhóm mè vàng:

+ Mè vàng An Giang: Trổ hoa 30 ngày sau khi trồng phân cành ít (2-3 cành trên cây), thân màu xanh, chiều cao khoảng 80cm, thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng 85 ngày Năng suất bình quân 1,2 T/ha, giống này có 6 hoa, trái có 8 khía, trồng phổ biến ở vùng Châu Phú (An Giang)

+ Mè vàng Miền Đông: Trổ hoa 30 ngày sau khi trồng, phân cành trung bình (4 cành/cây), thân màu xanh đậm, chiều cao thấp (70 cm), thời gian sinh trưởng ngắn (80 ngày), năng suất khá cao (1,5 T/ha) Giống trồng phổ biến ở Đồng Nai, Sông Bé trên vùng đất cao, trái có 4 - 8 khía

Trang 19

+ Mè vàng Cồn Khương: Trổ hoa ngày thứ 35 sau khi trồng, phân cành 4-6 cành/cây), chiều cao 90 cm, thời gian sinh trưởng 75 ngày, năng suất 1,4 T/ha Trồng phổ biến ở Cồn Khương (Cần Thơ), trái có 4 - 6 khía

- Nhóm mè đen:

+ Mè đen Trà Ôn: Trổ hoa ngày thứ 35 sau khi gieo, phân cành nhiều (4-6 cành/cây), chiều cao 90 cm, thời gian sinh trưởng 95 ngày, năng suất khá cao (1,4 T/ha) Trồng phổ biến ở Trà Ôn (Vĩnh Long), trái có từ 4 đến 6 khía + Mè đen Campuchia: Nhập từ Ấn Độ, phân cành rất nhiều, có cả cành cấp hai mang trái, chiều cao từ 90 – 100 cm, thời gian sinh trưởng 100 ngày, năng suất cao nhất trong các giống (1,6 T/ha), tuy nhiên hạt có nhiều màu sắc khác nhau (có cả đỏ, trắng, nâu), rất khó khi chọn hạt để xuất khẩu

2.5 Đặc điểm sinh học của cây mè

2.5.1 Rễ

Có hai dạng hình cơ bản được sử dụng để phân biệt hệ thống rễ, đó là hình dạng có thời gian sinh trưởng dài thường được xem như cây lâu năm, có hệ thống rễ phát triển mạnh, và dạng hình có thời gian sinh trưởng ngắn có hệ thống rễ phân bố nông hơn và hẹp hơn (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Nhìn chung, rễ mè là rễ cọc, rễ chính ăn sâu, hệ rễ bên tương đối phát triển, phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt 0 – 25 cm, rễ cái có khả năng ăn sâu giúp cho cây có khả năng chịu hạn tốt, ngược lại khả năng chịu ngập lại rất kém, cây

mè có thể chết nếu bị ngập úng trong thời gian ngắn (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Bên cạnh đó, sự phát triển của hệ thống rễ còn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai và chế độ canh tác (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Kiểu sinh trưởng của bộ rễ mè có mối quan hệ với điều kiện sinh thái, cho nên

bộ rễ sinh trưởng ở vùng khí hậu khô và nóng có khí hậu ẩm có khác nhau, ở vùng khí hậu khô thì hệ thống rễ phát triển nhanh, mạnh nhất đối với kiểu cây

có nhiều cành, còn kiểu cây ít cành, đơn thân thì yếu hơn (Phạm Văn Thiều, 2003)

Sự phát triển của bộ rễ phụ thuộc rất nhiều vào tính chất của đất, ở đất cát thì

bộ rễ phát triển mạnh hơn đất sét Nơi đất có độ ẩm cao thì bộ rễ lại phát triển kém Khi gặp úng mè sẽ chết (Phạm Văn Thiều, 2003)

Tỷ lệ khối lượng khô của rễ so với các bộ phận ở trên mặt đất lớn nhất trong mùa mưa và nhỏ nhất trong mùa khô Loại đất và ẩm độ đất cũng ảnh hưởng rất rõ đến tốc độ sinh trưởng của rễ Vì vậy khi thay đổi điều kiện canh tác, nhất là đất trồng thì các đặc tính của giống cũng thể hiện sự khác biệt rất rõ

Trang 20

Điều này có thể thấy rõ ở những giống mè địa phương trồng trong điều kiện mùa khô và có tưới thì sinh trưởng của các bộ phận trên và dưới mặt đất mạnh hơn rất nhiều so với trồng trong điều kiện mùa mưa (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

2.5.2 Thân

Cây mè thuộc loại thân thảo, thẳng, mặt ngoài thường có nhiều lông Mặt cắt của thân có hình vuông và có bốn rãnh sâu Các rãnh này thay đổi tùy điều kiện ngày dài và mật độ quần thể của cây Nếu quan sát kỹ mặt ngoài của thân cây thì sẽ thấy nó có ba loại khác nhau là loại thân nhẵn, loại cây có lông nhưng thưa và loại có nhiều lông Mật độ thưa, dày của lông trên thân có liên quan mật thiết đến tính chịu hạn của mè (Phạm Văn Thiều, 2003)

Màu sắc của thân cũng thay đổi từ xanh nhạt đến gần tía, nhưng phổ biến nhất

là thân có màu xanh đậm (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Chiều cao của thân có thể biến động từ 60 – 120 cm, nhưng cũng có trường hợp cao tới 300 cm, trong điều kiện hạn thì thân có thể thấp hơn (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Các yếu tố thời tiết có ảnh hưởng đến chiều cao cây là chế độ nhiệt, độ dài ngày Các giống thuộc nhóm chín sớm chịu ảnh hưởng của các yếu tố này nhiều hơn các giống thuộc nhóm chín muộn (Phạm Văn Thiều, 2003)

2.5.3 Lá

Tùy thuộc vào đặc điểm của giống mà các lá có thể mọc đối hay mọc xen kẽ, hoặc ở phần dưới mọc đối, phần trên mọc xen kẽ Sự sắp xếp lá trên thân rất quan trọng vì nó ảnh hưởng tới số hoa sinh ra ở các nách lá và do đó ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất hạt trên cây Các lá sắp xếp đối diện nhau rất thuận lợi cho việc ra nhiều hoa Kích thước lá có thể thay đổi từ 3,0 – 17,5 cm theo chiều dài, từ 1,0 – 1,5 cm theo chiều rộng và cuốn lá có thể thay đổi từ 1,0 – 5,0 cm Trên mặt lá có rất nhiều lông và thường có màu xanh nhạt, nhất

là khi trồng trên các loại đất màu mỡ Hầu hết các phiến lá mè đều có lông và

có chất nhầy, và mật độ lông trên bề mặt lá cũng là đặc tính để phân biệt giữa các giống (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Các khí khổng có trên mặt lá có mật độ khác nhau tùy từng giống Múi lá có

sự thay đổi khác nhau tùy theo độ dài của ngày và thời gian gieo trồng (Phạm Văn Thiều, 2003)

2.5.4 Cành

Xuất phát từ thân chính, cành có thể mọc cách hay mọc đối nhau, cành sẽ mang hoa và trái, trên các cành chính còn có cành cấp hai Sự phân cành trên

Trang 21

thân chính cũng là một yếu tố để phân biệt các giống mè, thường màu của cành trên thân giống như thân chính (Phạm Đức Toàn, 2009)

2.5.5 Hoa

Hoa mè dạng hoa hình chuông, cuống hoa ngắn, tràng hoa có 5 cánh màu trắng hoặc hồng nhạt Hoa mọc ra từ các nách lá thân và cành Hoa thường mọc đơn, cũng có trường hợp mọc thành chùm Ở vị trí thấp cuống hoa dài hơn, hoa lớn hơn so với ở vị trí cao trên thân (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007)

Mè là loại cây có hoa tự thụ phấn, nhưng thụ phấn nhờ côn trùng cũng rất phổ biến và thụ phấn nhờ gió không nhiều Có khoảng 10% hiện tượng thụ phấn chéo, cá biệt có giống thì hiện tượng này đạt tới 50% Hoa thường nở vào buổi sáng sớm, có tới 90% số hoa nở từ 5 – 7giờ sáng và hoa héo sau nửa ngày Hoa thường rụng vào buổi chiều tối tập trung từ 16giờ đến 18giờ trong ngày

Quá trình thụ phấn của hoa mè theo trình tự sau: Bao phấn nở dần theo chiều

dọc và phóng thích các hạt phấn sau khi nở hoa, khoảng thời gian này thay đổi tùy thuộc vào các giống Đầu nhụy là nơi tiếp nhận phấn hoa trước hoặc sau một ngày trước khi hoa nở Ở điều kiện tự nhiên, hạt phấn có thể tồn tại 24 giờ (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Thời gian ra hoa có quan hệ nhiều đến giống, điều kiện thời tiết và ánh sáng Trong thời gian ra hoa nếu gặp mưa kéo dài thì tỷ lệ đậu quả sẽ giảm đi rõ rệt Nhưng lúc ra hoa mà không may gặp hạn hán được tưới nước thì sẽ làm cho năng suất của mè tăng hơn so với việc tưới ở bất kỳ thời kỳ sinh trưởng nào của cây (Phạm Văn Thiều, 2003)

di truyền của giống đồng thời cũng có quan hệ với số hoa trên cây và tỷ lệ đậu quả, có những giống chỉ có 8 – 9 quả trong khi có những giống đến 25 – 28 quả Quả lớn nhanh trong thời gian 9 ngày đầu tiên sau khi hoa thụ tinh và tiếp tục phát triển thêm trong thời gian 24 ngày tiếp theo và đạt được trong lượng khô tối đa ở 27 ngày sau khi hoa nở (Phạm Văn Thiều, 2003)

Quả dài từ 2 – 8 cm, rộng 0,5 – 2 cm, có 4 – 12 ngăn Chiều dài của quả có mối tương quan với số hạt trong quả và mật độ gieo trồng nhưng lại không tương quan với trọng lượng của hạt (Phạm Văn Thiều, 2003)

Trang 22

Quả khi chín sẽ nứt dọc theo các vách ngăn từ đỉnh quả xuống đáy quả hoặc

mở ra 2 lỗ trên phần đỉnh quả Khả năng tách vỏ quả khi chín rất quan trong trong việc chọn tạo giống phù hợp cho việc cơ giới hóa khi thu hoạch Chiều cao đóng quả đầu tiên cũng là một đặc tính rất quan trọng của giống, những quả ở vị trí thấp hơn thường chín trước và những quả gần phần ngọn sẽ chín sau cùng Như vậy khi cây mè bước vào thời kỳ chín thì chỉ cho phép tồn tại một thời gian nhất định trên đồng ruộng Nếu để chín quá có thể làm thất thoát một phần sản lựợng, nhất là đối với những loại hình quả tự nứt khi chín (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

2.5.7 Hạt

Hạt mè nhỏ có hình bầu dục, hơi dẹt và đôi khi ở phần rốn hạt còn mỏng hơn

so với phần đối diện của hạt Khối lượng 1000 hạt biến động từ 2 – 4 gam Số lượng hạt trên quả cũng là một đặc điểm của giống và thường được dùng để phân biệt giữa các giống Bề mặt hạt nhẵn hoặc có rãnh, thường có màu đen, trắng, vàng, nâu đỏ hoặc xám, nhưng cũng có thể có màu xám tối, màu xám ô liu hoặc màu nâu tối Những dạng hạt có màu sáng có thể cho năg suất và chất lượng dầu tốt hơn so với dạng hạt có màu tối, và việc sử dụng cũng phổ biến hơn, giá cũng thường cao hơn so với hạt có màu tối chín (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Hạt mè chứa nhiều dầu và hạt alơrôn Bình thường trong hạt mè có khoảng 50% dầu, 25% protein, 5% khoáng chất, 1% canxi, 3% axit hữu cơ, 4% chất xơ…(Phạm Văn Thiều, 2003)

Do mè có chứa hàm lượng dầu cao vừa khó khăn cho việc bảo quản, dễ mất sức nẩy mầm Nếu thu hoạch thủ công lại được bảo quản trong kho lạnh đủ tiêu chuẩn thì tỷ lệ nẩy mầm hằng năm chỉ giảm mất khoảng 10%, còn nếu thu hoạch bằng máy thì chỉ sau 6 ngày tỷ lệ nẩy mầm đã có thể giảm từ 97% xuống chỉ còn 65% (Phạm Văn Thiều, 2003)

2.6 Thu hoạch và bảo quản

Khi quan sát lá mè đã chuyển từ màu xanh sang vàng, các lá phía dưới gốc đã rụng hết, hạt đã chuyển sang màu của hạt lúc gieo là thu hoạch được Do đặc điểm của mè là hoa ra rãi rác nên quả cũng không chín đồng loạt được, vì thế nếu thu hoạch sớm quá sẽ mất năng suất và thu hoạch muộn quá cũng sẽ giảm năng suất và tỷ lệ dầu cũng sẽ bị giảm (Phạm Văn Thiều, 2003)

Khi thu hoạch chọn ngày nắng ráo và thu hoạch vào buổi sáng hoặc về chiều Dùng liềm cắt ngang gốc và bó lại thành từng bó nhỏ ớ phía gốc Đem về ủ 1 – 2 ngày hoặc phơi ngay ra nắng Khi phơi thì chú ý dựng ngược bó mè cho

Trang 23

Để giữ giống cho năm sau, từng hộ nông dân với số lượng 4 -5 kg trên một hecta có thể đựng trong chai lọ, chum vại sành, thậm chí trong nhiều lớp giấy báo Tuyệt đối không nên bảo quản kín trong túi nilông vì khi thời tiết thay đổi rất dễ bị ngưng tụ hơi nước làm hỏng hạt Định kỳ hàng tháng nên xem lại và hong ra chỗ thoáng rồi lại tiếp tục bảo quản như thế cho đến vụ sau Hết sức lưu ý về vấn đề sâu mọt Cần sàn sảy thật sạch không để tạp chất như mảnh lá, mảnh cành lẫn vào (Nguyễn Vy, 2003)

2.7 Đặc điểm các loại sâu hại trên cây mè

2.7.1 Sâu sừng (Sâu sa)

Theo Nguyễn Văn Huỳnh (2004) và Lê Thị Sen (2004), sâu sa còn gọi là sâu

sừng có tên khoa học là Acherontia lachesis (Fabricius), thuộc họ Ngài Nhộng

Vòi (Sphingidae), bộ Cánh Vảy (Lepidoptera)

- Đặc điểm hình thái:

Sâu non mập cơ thể có nhiều ngấn, có gai nhọn như căn sừng ở phía sau, màu sắc thay đổi từ màu xanh lục sang màu nâu Sâu non đẫy sức dài 7 - 8 cm, hóa nhộng dưới đất, nhộng màu nâu đỏ và có vòi uốn cong Bướm lớn thân dài 40-

50 mm màu nâu và nhiều vân đen (Phạm Đức Toàn, 2008)

Bướm có thân chủ yếu màu nâu, ngực màu xám đậm có một hình giống như

sọ người Cánh sau màu vàng với những băng màu vàng ngang dọc

Trứng màu xanh lá cây, được đẻ rải rác thành từng cái, sau chuyển thành màu vàng cam Thời gian ủ trứng khoảng 5 ngày Ấu trùng màu xanh lá cây với những sọc xiên màu vàng dọc hai bên thân Đốt cuối của bụng cũng có một gai thịt nhô cao như cái đuôi nhưng cong chớ không thẳng như ở Herse (Agrius)

Ấu trùng phát triển khoảng 3 tuần và lớn đủ sức có thể dài từ 10 - 12 cm Nhộng hình thành trong đất và kéo dài khoảng 18 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh

- Tập tính sinh hoạt và cách gây hại:

Sâu non ăn phiến lá thành những lỗ thủng hoặc những khuyết lá Sức ăn rất mạnh, khi mật độ sâu cao có thể ăn trụi cả ruộng trong vài đêm Hóa nhộng trong đất Vòng đời từ 45 – 50 ngày, thời gian sâu non 25- 30 ngày (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007)

Trang 24

- Cách phòng trừ:

Dùng bẫy đèn để thu hút bướm Có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu thông dụng để trị, nhưng nên phát hiện sớm để dùng thuốc khi sâu còn nhỏ, cơ thể còn yếu, dễ giết sâu hơn (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)

Bắt giết sâu non bằng tay hay kẹp tre Khi sâu phát sinh nhiều phun các thuốc Alphatap, Alpha, Alpha cypermetrin, Decis, Regent 2 lúa xanh…(Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

2.7.2 Sâu khoang (sâu ăn tạp)

Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006), sâu khoang có tên khoa học là Spodoptera litura Fabr., thuộc họ Ngài đêm (Noctuidae), bộ Cánh vảy (Lepidoptera)

- Phân bố: Phấn bố rộng khắp thế giới, ở các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á, Bắc Phi Ở nước ta thì có ở khắp nơi

- Ký chủ: Đây là loài đa thực Ước tính phá hại 290 loại cây trồng thuộc 99 họ thực vật: Rau họ thập tự, cà chua, đậu đũa, bầu bí, rau muống, khoai lang, khoai sọ, thuốc lá, bông,…

Theo Braun và Hardy (2001), sâu khoang S Litura đẻ trứng thành từng ổ với

khoảng 350 trứng Trứng có hình dạng và kích thướt khác nhau, có phủ lông mịn Sâu non nở sau 2 – 3 ngày và mất khoảng 2 tuần để đạt tới giai đoạn nhộng Sâu non có 2 vân lưỡi liềm màu đen đặc trưng ở mặt lưng đốt bụng thứ

4 và thứ 10 viền bởi các sọc lưng màu vàng ở mỗi bên

Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006), nhộng của sâu khoang dài 18 – 20 mm, màu nâu tươi hoặc nâu tối, hình ống tròn, mép trước đốt bụng thứ 4 và vòng quanh các đốt bụng thứ 5, 6, 7 có nhiều chấm lõm Cuối bụng có một đôi gai ngắn

- Tập tính sinh hoạt và cách gây hại:

Theo Braun và Hardy (2001), sâu non ưa những nơi ẩm ướt, ban ngày giấu mình trong đất, phá hoại cây vào ban đêm Hóa nhộng ở trong đất Vòng đời kéo dài khoảng 30 ngày Ở vùng nhiệt đới ẩm có thể hình thành 8 thế hệ trong

1 năm Ngài cái giao phối nhiều lần và tạo ra chất dẫn dụ sinh học Ngài đực

Trang 25

rất nhạy cảm với chất dẫn dụ từ ngày thứ sau khi hóa trưởng thành Trưởng thành cái có thể đẻ tới 2000 – 3000 trứng

Sâu non mới nở sống thành từng bầy gặm lớp vỏ trứng và sau đó gặm biểu bì của lá Ở tuổi 2 sâu bắt đầu phân tán và phá rất mạnh, hàng ngày vào buổi sáng hoặc chiều tối sâu bò lên mặt lá ăn từng mảng lớn, khi trời nắng nóng sâu chui xuống đất, ẩn vào khe đất và các lớp lá mục rất khó phát hiện, khi sâu thành dịch không đủ thức ăn thì chúng có thể ăn thịt lẫn nhau Sâu non khi lớn

bò xuống đất nhả nước bọt tạo thành một lớp vỏ bọc và hóa nhộng dưới đất (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Ngài sâu khoang thường vũ hóa vào buổi chiều và lúc chập choạng tối bay ra hoạt động Ban ngày ngài đậu ở mặt dưới lá và những nơi kín trong bụi cây lùm cỏ Thời gian hoạt động từ chập tối đến nửa đêm Ngài có xu tính mạnh với mùi vị chua ngọt và với ánh sáng đèn đặc biệt là đèn có bước sóng ngắn (3650 A0) Trưởng thành đẻ trứng vào đêm thứ 2 sau khi vũ hóa (Nguyễn Đức Khiêm, 2006)

- Cách phòng trừ:

Ngắt bỏ ổ trứng và bắt giết sâu non Phun trừ sâu non bằng thuốc trừ sâu vi sinh Bt, NPV và một số thuốc hóa học khác như Supracid, Pyrinex, Padan, Polytrin,… (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007)

Sử dụng bẫy cây trồng, dùng các loại thức ăn mà sâu ưa thích như cây khoai lang, lá bắp cải già, thân chuối xiêm non chẻ nhỏ để thành từng đống nhỏ rải rác trên đồng ruộng để dẫn dụ sâu tới sau đó rũ bả, giết sâu hoặc sử dụng thuốc hóa học ở nồng độ cao tưới vào đống bả để diệt sâu (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), loài sâu này kháng thuốc rất nhiều nên áp dụng các biện pháp ngăn ngừa sâu trước khi sâu phát sinh thành dịch như sau:

- Trồng đậu vụ sau nên cuốc xới đất hoặc trộn đất với các loại thuốc trừ sâu hay cho ruộng ngập nước từ 2 - 3 ngày để diệt nhộng

- Thường xuyên thăm ruộng đậu để ngắt bỏ ổ trứng hoặc diệt sâu khi mới nở, chưa phân tán đi xa Nếu sâu đã phát sinh nhiều thì ban đêm có thể soi đèn để bắt

- Có thể dùng các loại thuốc trừ sâu thông dụng để trị khi sâu còn nhỏ

Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006), trong một số năm gần đây để phong trừ sâu khoang trên thế giới cũng như ở nước ta và đang sử dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp gồm các biện pháp sau:

- Dùng bẫy đèn (đặc biệt là đèn tia tím) và bẫy chua ngọt để bắt và tiêu diệt

Trang 26

- Bắt sâu tuổi nhỏ lúc chưa phân tán và ngắt ở trứng là biện pháp rất có hiệu quả

- Cày bừa, phơi ải kỹ trước khi trồng

- Trồng cây hướng dương, thầu dầu xung quanh cánh đồng hoặc trồng thành hàng ở giữa cánh đồng để dẫn dụ sâu khoang đến sau đó thu nhặt trứng và sâu non trên cây bẫy để tiêu diệt

- Sử dụng bẫy pheromone

2.7.3 Rệp hại mè

2.7.3.1 Rệp bông (Aphis gossypii)

Cơ thể hình bầu dục, dài từ 1,5 – 2,0 mm, màu sắc thay đổi từ vàng nhạt đến xanh đậm, có thể hại nhiều loại cây trồng Rệp có thể gây hại trực tiếp bằng cách chít hút chất dinh dưỡng của cây và cũng là tác nhân trung gian truyền bệnh vi rút cho cây trồng Rệp sinh sản nhanh, có nhiều lứa trong năm, và cùng phá hại nhiều loại cây trồng trên đồng ruộng trong cùng thời điểm Do vậy việc phòng trừ rệp sẽ gặp nhiều khó khăn hơn (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Tập tính sinh hoạt: Rệp có thể đẻ con hoặc đẻ trứng, ở điều kiện nhiệt độ cao (vùng nhiệt đới) rệp thường đẻ con, một rệp cái có thể đẻ từ 50 – 100 con trong vòng 2 – 3 tuần, mỗi lứa rệp đẻ khoảng 8 – 10 ngày Rệp có hai loại hình

có cánh và không có cánh, loại hình có cánh xuất hiện trong điều kiện khi mật

độ quá dày hoặc thiếu thức ăn để có thể di chuyển đi xa (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Phòng trừ: Vệ sinh đồng ruộng trước khi gieo trồng Làm sạch cỏ dại trong ruộng mè Quan sát các loài thiên địch trên đồng ruộng và sử dụng thuốc khi cần thiết, các loại thuốc có thể sử dụng để trừ rệp trên cây mè là Admire, Applaud, Selectron… (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

2.7.3.2 Rệp xanh (Mysuz persicae)

Là loài rệp phổ biến nhất trên cây mè và gây thiệt hại lớn nhất so với các loài rệp khác (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

Đặc điểm hình thái: Thân hình bầu dục có màu xanh nhạt hoặc màu vàng nhạt với các sọc có màu tối không rõ ràng ở phần bụng, một số trường hợp rệp có thể dài tới 2 mm, có các xúc tu dài bằng cơ thể Rệp hút chất dinh dưỡng và là tác nhân trung gian truyền bệnh vi rút nên người ta có thể phát hiện dễ dàng triệu chứng có rệp trên đồng ruộng như các lá mè khỏe bị nhăn nheo và bị cuốn xuống phía dưới, chồi non bị biến dạng Cây mè bị hại ở thời kỳ cây con, cây có thể bị suy yếu, còi cọc và có thể chết làm giảm mật độ nghiêm trọng,

Trang 27

Phòng trừ: Tương tự như rệp bông nên chú ý các biện pháp phòng trừ tổng hợp, vệ sinh đồng ruộng trước khi gieo trồng Làm sạch cỏ dại trong ruộng

mè Quan sát các loài thiên địch trên đồng ruộng và sử dụng thuốc khi cần thiết, các loại thuốc có thể sử dụng để trừ rệp trên cây mè là Admire, Applaud, Selectron… (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)

2.7.4 Bọ xít xanh (Nezara viridula)

Bọ xít xanh cũng xuất hiện trong thời ký sinh trưởng của cây mè, nó cũng có thể xuất hiện với mật độ cao và gây hại nặng vào giai đoạn sinh trưởng cuối từ khi mè hình thành quả non trở đi (Phạm Văn Thiều, 2003)

Đặc điểm: Bọ xít trưởng thành thân dẹt, hình bầu dục, dài 15 - 16 mm, rộng 8 – 9 mm, màu xanh nhạt Con đực có vết khía hình chữ V và 2 chấm nâu ở mặt dưới cuối phần bụng (con cái không có đặc điểm này) Bọ xít non hình bầu dục giống bọ trưởng thành nhưng không có cánh, thân màu xanh, lưng có nhiều đốm đen và trắng Bọ non mới nở sống tập trung quanh ổ trứng Bọ trưởng thành và bọ non chích hút nhựa lá tạo thành những vết màu nâu sẫm, lá vàng, cây sinh trưởng kém, quả ít Vòng đời từ 30 - 40 ngày (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007)

Phòng trừ: Diệt các ổ bọ xích non mới nở Dùng vợt bắt bọ trưởng thành Phun trừ bằng các thuốc Sherpa, Pyrinex, Vibasu, Bassa, Padan…(Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007)

2.7.5 Câu cấu xanh lớn (Hypomeces squamosus)

Đặc điểm: Sâu trưởng thành là loài cánh cứng, hình bầu dục, dài 7 – 10 mm Cánh và toàn thân màu xanh vàng có ánh kim nhũ, đầu kéo dài như mộy cái vòi, phía ngọn ống đầu là miệng nhai, hai bên đính đôi râu đầu hình gấp khúc Sâu non màu trắng sữa, mình hơi cong, không có chân, đẫy sức dài 12 – 15

mm (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007)

Tập quán sinh sống và cách gây hại: Cả ấu trùng và thành trùng loài này đều gây hại Ấu trùng sinh sống ở dưới đất bằng cách đục phá rễ và gốc cây Thành trùng cắn gặm lá, đôi khi ăn trụi cả lá nếu lá non và mật số cao Sự gây hại của thành trùng làm giảm sức mạnh của cây rất nhiều (Nguyễn Văn Huỳnh

và Lê Thị Sen, 2004)

Câu cấu trưởng thành hoạt động ban đêm và lúc trời mát, ít bay, bò chậm chạp, gặp động chạm thì giả chết rơi xuống đất Đẻ trứng rải rác trên mặt đất Sâu non sống trong đất ăn chất hữu cơ mục nát và rễ cây, hóa nhộng trong đất Tác hại chủ yếu là bọ trưởng thành ăn khuyết lá, ăn ngọn cây và nụ hoa Vòng đời 50 -60 ngày, bọ trưởng thành có thể sống hằng tháng (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007)

Trang 28

Phòng trừ: Dùng tay hoặc vợt bắt bọ trưởng thành Khi sâu phát sinh nhiều phun trừ bằng các thuốc Sherpa, Pyrinex, Polytrin, Padan…(Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007)

Trang 29

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương tiện nghiên cứu

3.1.1 Thời gian và địa điểm

- Thời gian thực hiện: Tháng 2 – 4/2012

- Địa bàn khảo sát: Phường Mỹ Thạnh, TP Long Xuyên, An Giang

3.1.2 Vật liệu thí nghiệm:

+ Máy ảnh chụp ảnh các giai đoạn phát triển của sâu hại, triệu chứng gây hại

+ Kính lúp, kính hiển vi

+ Hộp nhựa, khai nhựa nuôi sâu

+ Lá mè làm thức ăn cho sâu

+ Dây thun, bọc nylon thu mẩu

+ Bút mực, bút chì ghi chú, bút lông ghi nhãn

+ Kéo, thước đo chiều dài sâu

+ Bông gòn dùng để nhúng hóa chất xử lý mẩu

+ Cồn 90o : Bảo quản mẩu

- Nguồn sâu: Được thu từ ruộng khảo sát

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Điều tra nông dân

- Điều tra 30 hộ nông dân trồng mè thuộc địa bàn khảo sát có diện tích trồng

mè tối thiểu là 300 m2

- Mục đích: Biết thêm về kỹ thuật trồng mè của nông dân, thành phần loài côn trùng gây hại trên cây mè và các loài thiên địch Sự hiểu biết của nông dân về các loài côn trùng gây hại trên cây mè và cách mà nông dân phòng trừ

- Nguyên tắc điều tra: Hỏi trực tiếp nông dân

- Nội dung điều tra: Điều tra về thành phần loài côn trùng gây hại, mức độ gây hại và biện pháp phòng trừ (biện pháp sinh học, biện pháp hóa học, biện pháp canh tác)

Trang 30

3.2.2 Khảo sát thực tế ngoài ruộng

Chọn 3 ruộng mè ở Phường Mỹ Thạnh, TP Long Xuyên, An Giang có diện tích trên 300 m2 có cùng giai đoạn sinh trưởng và cùng giống để khảo sát và thu mẩu Hình thức thu mẩu theo 5 điểm đường chéo góc của mỗi ruộng khảo sát với diện tích mỗi điểm 1 m2

- Phương pháp thực hiện:

+ Thu mẩu của từng loài côn trùng gây hại ở 5 điểm trên đường chéo góc với diện tích mỗi điểm là 1 m2 định kỳ 1 lần/tuần.Thu mẩu côn trùng gây hại (trứng, ấu trùng, thành trùng, nhộng) bằng cách ngắt lá có chứa côn trùng gây hại, dùng vợt để bắt thành trùng cho vào hộp nhựa thoáng khí

+ Đếm mật số của từng loài côn trùng gây hại trên 1 m2 định kỳ 1 lần/tuần tại

5 điểm trên đường chéo góc

+ Đếm số cây bị hại trong 1 m2 định kỳ 1 lần/tuần tại 5 điểm trên đường chéo góc để tính tỉ lệ (%) cây bị hại trên 1 m2

+ Khả năng và mức độ gây hại của từng côn trùng gây hại trên cây mè

+ Tập quán sinh sống và cách gây hại của côn trùng gây hại quan trọng trên ruộng mè

3.2.3 Khảo sát trong phòng thí nghiệm

- Phương pháp thực hiện: Thu mẩu của các giai đoạn phát triển của côn trùng gây hại như: Trứng, ấu trùng, nhộng, thành trùng được thu từ ruộng khảo sát đem về phòng thí nghiệm khảo sát và nhân nuôi

- Nội dung khảo sát: Xác định thành phần loài, triệu chứng và cách gây hại của một số loài gây hại quan trọng

- Chỉ tiêu ghi nhận:

+ Thành phần loài của côn trùng gây hại quan trọng

+ Triệu chứng và cách gây hại của côn trùng gây hại quan trọng

Trang 31

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 4.1 Kết quả điều tra nông dân

Qua quá trình khảo sát thực tế tại địa bàn Phường Mỹ Thạnh, ghi nhận được Khóm Đông Thạnh A và Khóm Thới An A là hai khóm có diện tích trồng mè nhiều nhất Và tiến hành điều tra 30 hộ nông dân thuộc hai khóm trên về thành phần loài, mức độ gây hại, sự hiện diện của côn trùng gây hại trên ruộng mè

Bên cạnh đó còn điều tra thêm tình hình canh tác mè của nông hộ

Theo kết quả điều tra nông dân tại Phường Mỹ Thạnh – An Giang cho thấy:

4.1.1 Đặc điểm của nông hộ canh tác cây mè

- Tuổi của nông hộ trồng mè:

Theo kết quả điều tra ở Bảng 3 cho thấy người dân canh tác mè tại phường Mỹ Thạnh thuộc nhóm tuổi từ tuổi lao động trở lên Trong đó nhóm tuổi từ 41-50 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (30%) Kế đến là các nhóm tuổi từ 51- 60 tuổi (20%)

và từ 61-70 tuổi (20%) Nhóm tuổi từ 21 - 30 tuổi, nhóm tuổi trên 80 tuổi tương đương nhau (3,3%) và chiếm tỉ lệ thấp nhất Từ đó cho thấy cây mè đã được người dân Phường Mỹ Thạnh biết đến và được trồng khá sớm

- Trình độ học vấn của nông hộ:

Trình độ học vấn của nông hộ trồng mè ở Phường Mỹ Thạnh, qua Bảng 3 cho thấy phần lớn đã học hết cấp 2 (53,3%) Kế đến là nông hộ học hết cấp 1 (33,3%) và tỉ lệ thấp nhất là số nông hộ học hết cấp 3 (13,3%) Qua đó ta thấy được nông hộ canh tác mè ở đây có trình độ học vấn tương đối cao, phần lớn

đã học hết cấp 2 và không có nông hộ nào bị mù chữ, nên người dân ở đây sẽ tiếp thu những chương trình khuyến nông từ trạm khuyến nông của tỉnh An Giang về kỹ thuật canh tác cây mè được dễ dàng và nhanh hơn

- Số nông hộ được tập huấn khuyến nông và tham gia hội thảo:

+ Tập huấn khuyến nông:

Theo kết quả điều tra ở Bảng 3, phần lớn nông hộ ở phường Mỹ Thạnh tham gia lớp học tập huấn khuyến nông do trạm khuyến nông TP Long Xuyên tổ chức chiếm tỉ lệ cao 66,7% Và số nông hộ không tham gia lớp học tập huấn chiếm tỉ lệ tương đối thấp 33,3%

+ Tham gia hội thảo:

Theo kết quả điều tra ở Bảng 3, số nông hộ tham gia các cuộc hội thảo do các công ty thuốc trừ sâu, bệnh và công ty phân bón chiếm tỉ lệ cao 66,7% Và số nông hộ không tham gia hội thảo chiếm tỉ lệ tương đối thấp 33,3%

Trang 32

Nhìn chung nông dân ở Phường Mỹ Thạnh rất tiến bộ, chịu khó học hỏi những chương trình khuyến nông, các cuộc hội thảo…và áp dụng những tiến bộ khoa học vào sản xuất

Qua quá trình điều tra từ nông dân, số nông hộ không tham gia học các lớp tập huấn khuyến nông, tham gia các cuộc hội thảo chiếm tỉ lệ tương đối thấp Do nông hộ ở đây có diện tích canh tác nhỏ, việc trồng luân canh cây lúa với cây

mè không đáp ứng đủ nhu cầu cuộc sống của gia đình, nên nông hộ phải làm thêm những công việc ngoài ngành nông nghiệp (làm thuê, buôn bán…).Do vậy nên không có thời gian để tham gia học các lớp tập huấn khuyến nông, cũng như tham gia các cuộc hội thảo

Bảng 3: Sơ lược về đặc điểm chung của nông hộ canh tác mè tại Phường

Mỹ Thạnh - TP Long Xuyên - An Giang năm 2012

Số hộ điều tra n = 30

- Diện tích canh tác mè của nông hộ:

Phường Mỹ Thạnh, là một phường tương đối nhỏ trong TP.Long Xuyên, đất hẹp, người đông nên diện tích canh tác của nông hộ tương đối ít

Theo kết quả điều tra nông dân ở Hình 1 ta thấy, nông hộ có diện tích đất từ 0,1-1 ha chiếm tỉ lệ cao nhất (70%) Kế đến là nông hộ có diện tích canh tác từ

Đặc điểm nông hộ Số nông hộ Tỉ lệ (%)

33,3 53,3 13,3

66,7 33,3 66,7 33,3

Ngày đăng: 08/03/2021, 16:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Phạm Đức Toàn. 2009. Kỹ thuật trồng và chăm sóc mè [trực tuyến]. Từ trang wed:http://www2.hcmuaf.edu.vn/contents.php?ids=145&amp;ur=phamductoan (đọc ngày: 10/02/2012) Link
8. Phạm Đức Toàn. 2008. Kỹ thuật trồng mè ở Tây Ninh [trực tuyến]. Từ trang wed:http://www2.hcmuaf.edu.vn/contents.php?ids=944&amp;ur=phamductoan (đọc ngày: 10/02/2012) Link
1. A.R.BRAUN và B.HARDY. 2001. Sâu, bệnh chính hại cây khoai lang. NXB Nông nghiệp. Do Nguyễn Văn Đĩnh và ctv. dịch. Trang 17 - 20 Khác
2. Borror Donald, J., M. Delong Dwight, and A. Triplehorn Charles. 1976. An introduction to the study of insects (fourth edition) Khác
3. Nguyễn Đức Khiêm. 2006. Giáo trình Côn trùng nông nghiệp. NXB Nông Nghiệp Khác
4. Nguyễn Mạnh Chinh – Nguyễn Đăng Nghĩa. 2007. Trồng – chăm sóc &amp; phòng trừ sâu bệnh đậu phộng, mè. TP. HCM. NXB Nông Nghiệp Khác
5. Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen. 2004. Giáo trình côn trùng nông nghiệp phần B: côn trùng gây hại chính ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Tủ sách Đại học Cần Thơ Khác
9. Phạm Văn Thiều. 2003. Cây vừng Kỹ thuật trồng, năng suất và hiệu quả kinh tế. Hà Nội. NXB Nông Nghiệp Khác
10. Tạ Quốc Tuấn - Trần Văn Lợt. 2006. Cây mè (Cây vừng) Kỹ thuật trồng &amp; thâm canh. TP. HCM. NXB Nông Nghiệp Khác
11. Tôn Thất Thịnh - Trạm khuyến nông thành phố Long Xuyên. 2/02/2005. Long Xuyên: Cây mè đen lên ngôi[trực tuyến].Từ trang wed Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w